Có ý kiến cho rằng: “Chị Dậu và lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám”.. 0.5 Bàn luận về ý nghĩa của câu ch
Trang 1ĐỀ THI HSG MÔN NGỮ VĂN 8 – HUYỆN CHIÊM HÓA
NĂM HỌC 2017-2018 Thời gian: 150 phút
Câu 1 (3.0 điểm) Đọc đoạn thơ sau:
Cha lại dắt con đi trên cát mịn Ánh nắng chảy đầy vai
Cha trầm ngâm nhìn mãi cuối chân trời.
Con lại trỏ cánh buồm nói khẽ:
Cha mượn cho con cánh buồm trắng nhé,
Để con đi
(Những cánh buồm – Hoàng Trung Thông)
Cho biết: Hình ảnh ánh nắng được diễn tả qua câu thơ nào? Cách diễn tả ấy có gì độc đáo?
Câu 2 (7.0 điểm) Suy nghĩ của em về nội dung câu chuyện sau:
NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi Ông chìa tay xin tôi
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết Ông vẫn đợi tôi Tôi chẳng biết làm thế nào Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi
Khi ấy, tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được cái gì đó của ông
(Tuốc-ghê-nhép, dẫn theo Ngữ văn 9, tập Một, NXB Giáo dục,
Hà Nội, 2005, trang 22)
Câu 3 (10.0 điểm) Có ý kiến cho rằng: “Chị Dậu và lão Hạc là những hình tượng tiêu
biểu cho phẩm chất và số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám” Qua đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Ngô Tất Tố) và “Lão Hạc” (Nam Cao), em hãy
làm sáng tỏ nhận định trên
- Hết
-Họ và tên thí sinh……….Số báo danh………
(Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm)
Trang 2ĐỀ THI HSG MÔN NGỮ VĂN 8 – HUYỆN CHIÊM HÓA
NĂM HỌC 2017-2018 Thời gian: 150 phút HƯỚNG DẪN CHẤM
* Hình ảnh ánh nắng được diễn tả qua câu thơ “Ánh nắng chảy đầy vai”
* Cách diễn đạt ấy độc đáo Bởi ánh nắng thường được cảm nhận qua mắt
nhìn (thị giác) Trong câu thơ trên, ánh nắng lại được cảm nhận qua đôi
vai “chảy đầy vai” (xúc giác)
Qua cách miêu tả ấy, ánh nắng hiện ra thật mềm mại, dịu dàng
1.0 1.0
1.0
* Yêu cầu kỹ năng:
Biết cách làm bài nghị luận Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
0.5
* Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần
thể hiện những suy nghĩ chân thành làm nổi bật trọng tâm vấn đề
a Mở bài:
- Giới thiệu vấn đề nghị luận
- Giới thiệu câu chuyện “Người ăn xin” 0.5
b.Thân bài:
Khái quát nội dung câu chuyện:
- Truyện “Người ăn xin” kể về việc “cho” và “nhận” của anh thanh niên và người ăn xin
0.5
Bàn luận về ý nghĩa của câu chuyện:
- Từ hành động cho và nhận của anh thanh niên và người ăn xin,
truyện đã ngợi ca cách ứng xử cao đẹp, nhân ái giữa con người với con
người trong cuộc sống
- Câu chuyện “Người ăn xin” là lời khuyên về cách sống, thái độ
sống của mỗi con người trong cuộc đời:
+ Sự đồng cảm, tình yêu thương chân thành và cách ứng xử lịch sự
là món quà quý giá mà ta tặng cho người khác
+ Và khi trao món quà tinh thần ấy cho người khác thì ta cũng nhận được món quà quí giá như vậy
1.5
Trang 3- Bàn luận mở rộng (đặt câu hỏi nêu vấn đề): Câu chuyện gợi suy cho
chúng ta suy nghĩ gì về cuộc sống và cách ứng xử của con người trong xã
hội hiện tại?
+ Biểu hiện đẹp: Con người biết yêu thương, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
trong cuộc sống (truyền thống tương thân, tương ái, đức hi sinh, biết sống
vì người khác, có trách nhiệm…)
+ Bên cạnh đó có một bộ phận cá nhân trong xã hội còn thờ ơ, vô cảm,
thiếu trách nhiệm, sống hưởng thụ hoặc có thái độ khinh miệt đối với
những con người nghèo khổ trong xã hội -> cần lên án loại bỏ những
hành động và suy nghĩ đó
2.0
- Lời khuyên về cách sống và thái độ sống đối với mọi người:
+ Đồng cảm, sẻ chia, học cách quan tâm và ứng xử tốt đẹp, có văn hoá để cuộc sống tốt đẹp hơn
+ Câu chuyện có tác dụng giáo dục lòng nhân ái cho mỗi chúng ta
1.0
Bài học nhận thức và hành động:
- Truyện gợi cho ta nhiều suy ngẫm về việc cho và nhận trong cuộc sống:
Cái cho và nhận là gì? Đâu phải chỉ là vật chất, có thể là giá trị tinh thần, có
khi chỉ là một câu nói, một cử chỉ hành động hoặc việc làm, một lời động
viên chân thành nhưng có ý nghĩa vô cùng lớn lao… nhưng quan trọng nhất
chính là thái độ khi cho và nhận cần phải chân thành, có văn hoá.
- Liên hệ bản thân: Xác định thái độ sống và cách ứng xử của bản thân:
tôn trọng, quan tâm, chia sẻ với mọi người…
0.5
c Kết bài:
- Đánh giá nội dung câu chuyện: có ý nghĩa sâu sắc, như một thông điệp về cách ứng xử của con người trong cuộc sống
- Mở rộng nâng cao vấn đề: Câu chuyện là bài học về kĩ năng sống, hàng
trang cho mỗi người về cách “cho” và “nhận” (đặc biệt là thế hệ trẻ - qua
cách ứng xử của anh thanh niên trong câu chuyện)
0 5
* Yêu cầu kỹ năng:
Biết cách làm bài văn nghị luận chứng minh; lập luận chặt chẽ, luận
điểm rõ ràng, lí lẽ thuyết phục, diễn đạt mạch lạc, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ
1.0
* Yêu cầu về kiến thức:
1 Mở bài:
Dẫn dắt và nêu được vấn đề nghị luận: Chị Dậu và Lão Hạc
là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất và số phận của người nông
dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám
Trang 42 Thân bài:
a Chị Dậu và Lão Hạc là những hình tượng tiêu biểu cho phẩm
chất tốt đẹp của người nông dân Việt Nam trước cách mạng:
* Chị Dậu: là một hình ảnh vừa gần gũi, vừa cao đẹp tượng trưng cho
người phụ nữ
nông thôn Việt Nam thời kì trước cách mạng:
- Là một người vợ giàu tình yêu thương (dẫn chứng)
- Là người phụ nữ cứng cỏi, dũng cảm bảo vệ chồng (dẫn chứng)
* Lão Hạc: tiêu biểu cho phẩm chất người nông dân:
- Là một lão nông chất phát, hiền lành, nhân hậu (dẫn chứng)
- Là một lão nông nghèo khổ mà trong sạch, giàu lòng tự trọng (dẫn chứng)
b Họ là những hình tượng tiêu biểu cho số phận đau khổ, bi thảm
của người nông dân Việt Nam trước cách mạng:
* Chị Dậu: Số phận điêu đứng: nghèo khổ, bị bóc lột đến tận xương tủy,
chồng ốm, có thể bị bắt, bị đánh…
* Lão Hạc: Số phận đau khổ, bi thảm: nhà nghèo, vợ mất sớm, con trai
không cưới được vợ bỏ làng đi làm đồn điền cao su, lão thui thủi sống
một mình cô đơn làm bạn với cậu vàng
- Tai họa dồn dập đổ xuống cuộc đời lão, phải bán cậu vàng, sống trong đau khổ, cuối cùng chọn bả chó để tự tử – một cái chết vô cùng đau
đớn và dữ dội
c Bức chân dung của chị Dậu và lão Hạc đã tô đậm giá trị hiện thực
và nhân đạo của hai tác phẩm:
- Nó bộc lộ cách nhìn về nông dân của hai tác giả Cả hai nhà văn đều có
sự đồng cảm, xót thương đối với bi kịch của người nông dân; đau đớn
phê phán xã hội bất công, tàn nhẫn Chính xã hội ấy đã đẩy người nông
dân vào hoàn cảnh bần cùng, bi kịch Tuy vậy, mỗi nhà văn cũng có cách
nhìn riêng: Ngô Tất Tố có thiên hướng nhìn người nông dân trên góc độ
đấu tranh giai cấp còn Nam Cao chủ yếu đi sâu vào phản ánh sự thức tỉnh
trong nhận thức về nhân cách một con người…
3 Kết bài: Khẳng định lại vấn đề
Lưu ý :
1 Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn, bài làm của thí sinh cần được đánh giá tổng quát, tránh đếm ý cho điểm.
2 Chỉ cho điểm tối đa theo thang điểm với những bài viết đáp ứng đầy đủ những yêu cầu
đã nêu ở mỗi câu, đồng thời phải chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, có cảm xúc.
3 Khuyến khích những bài viết có sáng tạo Bài viết có thể không giống đáp án, có những ý ngoài đáp án, nhưng phải hợp lý.
4 Không cho điểm cao đối với những bài chỉ nêu chung chung, sáo rỗng.
Hết