1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu chiêm hóa tuyên quang và ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch

77 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước thực tế hiện nay, các nghiên cứu về sản xuất tinh trâu đông lạnh nói chung và tinh trâu dạng cọng rạ nói riêng mới chỉ dừng lại ở bước đầu xác định khả năng sản xuất tinh của một s

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Huê Viên

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa được sử dụng cho một học vị nào, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đều đã được cảm ơn và các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này được chỉ rõ nguồn gốc trong phần phụ lục

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2019

Tác giả

Đinh Thị Hồng Chiêm

Trang 4

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi luôn nhận được sự quan tâm hướng dẫn và chỉ bảo của các thầy cô Phòng Đào tạo, các thầy cô Khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên đã giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS Trần Huê Viên, người thầy đã dành nhiều công sức, thời gian hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, cán bộ, công nhân viên của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái Nguyên, ngày tháng 12 năm 2019

Tác giả

Đinh Thị Hồng Chiêm

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của trâu Việt Nam 4

1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của trâu đực 6

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tinh dịch trâu 10

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch 12

1.1.5 Kỹ thuật đông lạnh và giải đông tinh dịch trâu 15

1.1.6 Giới thiệu môi trường pha loãng, đông lạnh tinh dịch trâu dùng trong nghiên cứu 17

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 22

1.2.3 Tình hình chăn nuôi trâu tại tỉnh Tuyên Quang 23

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 25

Trang 6

2.3.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa 25

2.3.2 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ và chất lượng của tinh cọng rạ sau giải đông 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa và ảnh hưởng của cá thể, mùa vụ đến một số chỉ tiêu sản xuất của tinh dịch 26

2.4.2 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ và chất lượng của tinh cọng rạ sau giải đông 29

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa 31

3.1.1 Ảnh hưởng của cá thể đến khả năng sản xuất tinh dịch 31

3.1.2 Ảnh hưởng của mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh trâu đực giống Chiêm Hóa 43

3.2 Khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ, chất lượng của tinh cọng rạ sau giải đông và sau thời gian bảo quản đông lạnh 6, 12 tháng 51

3.2.1 Số lượng tinh cọng rạ được sản xuất 51

3.2.2 Chất lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu đực giống Chiêm Hóa sau giải đông và sau thời gian bảo quản 6, 12 tháng 53

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Trang 7

Chữ viết tắt Ý nghĩa của chữ viết tắt

A : Activity (Hoạt lực)

ADN : Acid Deoxyribo Nucleic

ATP : Adenosin triphosphat

C : Concentration (Nồng độ tinh trùng)

cs : Cộng sự

ĐTC : Đạt tiêu chuẩn

FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations:

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc FSH : Follicle-stimulating hormone

K% : Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình

LH : Luteinizing hormone

SD : Standard Deviation: Độ lệch chuẩn

Sg% : Tỷ lệ tinh trùng sống

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TTNT : Thụ tinh nhân tạo

V : Volume (Thể tích tinh dịch)

VAC : Tổng số tinh trùng sống tiến thẳng

Trang 8

Bảng 3.1 Lượng xuất tinh của từng cá thể trâu Chiêm Hóa 32

Bảng 3.2 pH tinh dịch của từng cá thể trâu Chiêm Hóa 33

Bảng 3.3 Hoạt lực tinh trùng của từng cá thể trâu Chiêm Hóa 35

Bảng 3.4 Nồng độ tinh trùng của từng cá thể trâu Chiêm Hóa 38

Bảng 3.5 Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình của từng cá thể trâu Chiêm Hóa 40

Bảng 3.6 Tỷ lệ tinh trùng sống của từng cá thể trâu đực giống Chiêm Hóa 42

Bảng 3.7 Lượng xuất tinh của trâu đực giống Chiêm Hóa theo mùa vụ trong năm 44

Bảng 3.8 pH của tinh dịch trâu đực giống Chiêm Hóa theo mùa vụ trong năm 46

Bảng 3.9 Hoạt lực tinh trùng của trâu đực giống Chiêm Hóa theo mùa vụ trong năm 47

Bảng 3.10 Nồng độ tinh trùng của trâu đực giống Chiêm Hóa theo mùa vụ trong năm 48

Bảng 3.12 Tỷ lệ tinh trùng sống của trâu đực giống Chiêm Hóa theo mùa vụ trong năm 50

Bảng 3.13 Số lượng cọng rạ sản xuất của trâu đực giống Chiêm Hóa 52

Bảng 3.14 Hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu đực Chiêm Hóa 54

Bảng 3.15 Hoạt lực tinh trùng sau giải đông của trâu Chiêm Hóa 55

Bảng 3.16 Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu của trâu đực giống Chiêm Hóa 56

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các loài vật nuôi, chăn nuôi trâu mang lại nhiều lợi ích: Trâu cung cấp sức kéo trên đồng ruộng, sử dụng để vận chuyển hàng hoá ở các vùng nông thôn, miền núi, cung cấp phân bón cho sản xuất cây trồng, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp Sữa trâu là loại sữa thơm ngon, nhiều bơ, ít cholesteron Thịt trâu là nguồn thực phẩm có chất lượng cao và ngày nay đang được coi là đặc sản Trâu còn có lợi thế là con vật rất dễ nuôi, phàm ăn và sức chống chịu bệnh tật tốt hơn bò Nước ta là một nước nông nghiệp, nghề chăn nuôi trâu ở nước ta đã có từ lâu, tuy nhiên chăn nuôi trâu ở nước ta vẫn chưa phát triển, chăn nuôi trâu vẫn còn mang tính quảng canh, manh mún và phân tán; việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi trâu đang còn nhiều hạn chế

Theo các nguồn tài liệu, trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa là giống trâu quý, có năng suất và chất lượng thịt cao Tuy nhiên, theo báo cáo của tỉnh Tuyên Quang, hiện nay số lượng đàn trâu của tỉnh đang giảm dần, xu hướng cận huyết đàn trâu từ 12,25 đến 31,25% dẫn đến đàn trâu bị suy thoái nghiêm trọng Những nghiên cứu bước đầu trong thời gian qua cho thấy trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa đang bị khai thác quá mức bởi nhu cầu của thị trường ngày càng cao do giá trị kinh tế cũng như chất lượng sản phẩm thịt trâu ngày càng đựợc người tiêu dùng lựa chọn Các kết quả nghiên cứu trong thời gian qua cũng cho thấy, việc khai thác đàn trâu khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa hiện nay hầu hết mang tính tự phát, thiếu khoa học, đã và đang gây ra nhiều bất cập: Số trâu mang ra chợ bán và thương lái chọn lọc thu gom để sử dụng làm trâu chọi thường là những con trâu to, có chất lượng giống tốt Số đực giống có ngoại hình cân đối (đạt 500-700kg) hầu như không được chọn giữ làm giống, số đực khác

Trang 10

kém hơn được để lại làm giống và tiêu thụ nội bộ Việc bán hoặc thịt đi một số lượng lớn trâu có chất lượng giống tốt, việc giao phối đồng huyết, cận huyết kéo dài và quá trình chọn lọc giống không đảm bảo đã gây suy thoái đàn trâu giống còn lại của địa phương

Để khai thác và phát triển bền vững, có hiệu quả nguồn gen trâu khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa, biện pháp kỹ thuật được áp dụng rộng rãi hiện nay là cải thiện khả năng sinh sản của trâu thông qua kỹ thuật thụ tinh nhân tạo Việc

sử dụng những con đực giống ưu tú để khai thác sản xuất tinh và áp dụng phương pháp thụ tinh nhân tạo cho đàn trâu cái sẽ giúp tăng cường tốc độ cải tiến di truyền, góp phần thúc đẩy quá trình chọn giống đàn trâu địa phương một cách bền vững

Trước thực tế hiện nay, các nghiên cứu về sản xuất tinh trâu đông lạnh nói chung và tinh trâu dạng cọng rạ nói riêng mới chỉ dừng lại ở bước đầu xác định khả năng sản xuất tinh của một số ít trâu đực thí nghiệm, tinh đông lạnh sản xuất chỉ được sử dụng trong phạm vi hẹp hoặc trong khuôn khổ nội dung của các đề tài nghiên cứu và có xu hướng nghiên cứu nhiều trên đối tượng trâu Murrah Do vậy, việc nghiên cứu số lượng, chất lượng tinh dịch, kỹ thuật đông lạnh tinh trùng và đánh giá chất lượng tinh đông lạnh trâu tại một số vùng trâu giống tốt của Việt Nam là cần thiết

Trước nhu cầu thực tế trên, với mong muốn góp phần từng bước nâng

cao chất lượng đàn trâu địa phương, chúng tôi triển khai đề tài “Nghiên cứu

khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang và ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch”

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Xác định được khả năng sản xuất tinh dịch của một số cá thể trâu đực giống Chiêm Hóa và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong hỗ trợ sinh sản, góp phần nâng cao năng suất sinh sản và chất lượng đàn trâu của địa phương

Trang 11

+ Kết quả của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng cũng như cơ sở chăn nuôi trâu đực giống

- Ý nghĩa thực tiễn

+ Sản xuất được tinh trâu đực giống Chiêm Hóa đông lạnh dạng cọng rạ đạt chất lượng tiêu chuẩn phục vụ chủ động được công tác truyền giống nhân tạo trâu ở Chiêm Hóa - Tuyên Quang và các vùng phụ cận, góp phần cải tạo nâng cao số lượng và chất lượng đàn trâu địa phương

+ Thông qua nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất tinh của trâu Chiêm Hóa, giúp cơ sở chăn nuôi điều chỉnh các giải pháp nhằm khai thác tối đa tiềm năng của các trâu đực giống

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Nguồn gốc và đặc điểm của trâu Việt Nam

1.1.1.1 Nguồn gốc của trâu Việt Nam

Trâu là gia súc lớn nhai lại, thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis)

Trâu đã được thuần hóa cách đây khoảng 5.000 năm, muộn hơn so với việc thuần dưỡng bò (khoảng 10.000 năm trước) (Borghese và Mazzi, 2005)

Ở châu Á, trâu được thuần dưỡng ở vùng sông Ấn và vùng Lưỡng Hà (Irắc)

từ giữa thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên (khoảng 30 thế kỷ trước công nguyên), trâu nhà được nuôi ở Trung Quốc từ 2.000 năm trước công nguyên

và có lẽ được đưa từ phương Nam tới

Dựa trên những đặc điểm kiểu hình, tập tính và số lượng bộ nhiễm sắc thể, trâu nuôi được phân thành 2 nhóm chính đó là trâu sông (River buffalo)

và trâu đầm lầy (Swamp buffalo) Trâu sông có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, phân bố chủ yếu ở Ấn Độ, Trung đông và phía Đông Châu Âu Trâu đầm lầy thường có tầm vóc nhỏ hơn và khả năng sản xuất kém hơn khi so sánh với trâu sông và được nuôi chủ yếu tại các nước Đông Nam Á (Presicce., 2007) Ở đây chúng được sử dụng chủ yếu để cung cấp sức kéo và nguồn thịt cho nhu cầu địa phương và chúng có khả năng thích nghi tốt với việc sử dụng thức ăn thô xanh và được nuôi tại các khu vực miền núi xa xôi Trâu đầm lầy có bộ nhiễm sắc thể 2n = 48, phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Bangladesh, Đông Nam Châu Á và vùng đông bắc Ấn Độ

Trâu tại Việt Nam thuộc loại trâu đầm lầy và được các nhà khoa học chia thành 4 nhóm quần thể lớn, gồm trâu Chiêm Hóa, trâu Thanh Chương, trâu Bảo Yên và trâu Lang Biang Mỗi nhóm đều có đặc điểm đặc trưng riêng, có

Trang 13

phân bố địa lý riêng và đặc biệt khi phân tích sai khác di truyền cho thấy các quần thể trâu có sự sai khác nhất định (Nguyễn Ngọc Tấn và Cs., 2019)

1.1.1.2 Một số đặc điểm chung của trâu Việt Nam

a Đặc điểm ngoại hình

Trâu nước ta nhìn chung có lông da dày, màu xám tro sẫm, có khoang trắng

ở cổ, tầm vóc trung bình, chân cao vừa, mình ngắn, ngực sâu và bụng to, là kết quả chọn lọc của ông cha ta cho cày kéo từ ngàn năm tạo nên (Phạm Văn Giới

b Khả năng sản xuất

Đặc điểm chung của trâu nội ở các địa phương nước ta là sinh trưởng chậm Trâu Việt Nam có khối lượng trưởng thành nhỏ, khối lượng trâu đực trưởng thành trung bình là 400-450 kg/con, trâu cái trung bình 330-

350 kg/con và tỷ lệ thịt xẻ 43-45% Do chăn nuôi đặc biệt là công tác giống hầu như chưa được quan tâm đúng mức nên tầm vóc trâu đang trong xu thế giảm Số liệu điều tra từ năm 1985 đến 2010 cho thấy tầm vóc trâu đực đã giảm 11,3%: từ 476 kg/con xuống còn 422,3 kg/con và trâu cái giảm 14,6%:

từ 406 kg/con xuống còn 346,5 kg/con Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình trạng suy thoái giống trâu Việt Nam (Cục Chăn nuôi, 2010)

Trần Quang Hân và Hoàng Quang Duy (2011) khi nghiên cứu sinh trưởng của trâu tại tỉnh Đắc Lắc cho kết quả khối lượng sơ sinh đạt 24,61 kg ở con đực và 23,10 kg ở con cái Lúc 36 tháng tuổi khối lượng tương ứng ở con đực là 313,76 kg và ở con cái là 304,73 kg

Trang 14

Đinh Văn Cải (2013) cho biết nghé đực sinh ra từ đực chọn lọc có khối lượng lúc 6 tháng tuổi và 12 tháng tuổi cao hơn 7,2% và 9,3% tương ứng, tăng khối lượng từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi cao hơn 10% so với nghé nội sinh ra từ đực địa phương chưa được chọn lọc

Đặng Văn Quát (2016) khi nghiên cứu trên quần thể trâu Thanh Chương cho biết, trâu Thanh Chương có khối lượng tương đối lớn: Khối lượng nghé

sơ sinh đạt 27,79 kg/con ở nghé đực và 24,7 kg ở nghé cái Khối lượng trưởng thành của trâu đực 513,1-541,9 kg/con, của trâu cái 439,0-482,0 kg/con Kích thước một số chiều đo của trâu trưởng thành, trâu cái CV: 123,8-124,3 cm, DTC: 136,0-143,3 cm, VN: 191,0-195,5 cm; trâu đực CV: 130,2-133,0 cm, DTC: 145,7-148,2 cm, VN: 199,5-203,4cm Tỷ lệ thịt xẻ trung bình ở trâu cái

là 42,83%, trâu đực là 47,6%; tỷ lệ thịt tinh của trâu cái là 31, 3% và của trâu đực là 32,08%

Phạm Văn Giới và Cs., (2017) cho biết, trâu Việt Nam có chỉ số cao vây 119-121 cm (cái) và 123-129 cm (đực) Khối lượng trưởng thành trâu cái 332-

427 kg, trâu đực 357-506 kg, đực thiến 402-505 kg

Khả năng sinh sản của trâu cái tương đối tốt: trâu cái 24-30 tháng tuổi đã bắt đầu động dục và có khả năng phối giống, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ trên 14 tháng chiếm 50% (có 28% dưới 14 tháng và 22,% trên 12 tháng) (Đặng Văn Quát, 2016) Tỷ lệ đẻ của trâu cái sinh sản đạt 36%/năm Khả năng sản xuất sữa trung bình khoảng 1400-2000 kg/chu kỳ, tỷ lệ mỡ sữa cao 7% Tỷ lệ thịt xẻ

khoảng 48-52% (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007)

1.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của trâu đực

1.1.2.1 Cấu tạo giải phẫu cơ quan sinh dục trâu đực

Cơ quan sinh dục của trâu đực có nhiều nét tương đồng như của bò Các

bộ phận chính của cơ quan sinh dục trâu đực bao gồm bao dịch hoàn, dịch hoàn, phụ dịch hoàn, ống dẫn tinh, các tuyến sinh dục phụ và dương vật… (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007), cụ thể:

Trang 15

Dịch hoàn: Bao dịch hoàn là một túi ngoài của da trong vùng bẹn, là nơi

chứa dịch hoàn Bao dịch hoàn trâu dài và thõng, cổ thon và có rãnh giữa rõ khi không co rút Bao dịch hoàn có cổ ngắn hoặc thót lại là không tốt (Nguyễn Tấn Anh và Nguyễn Duy Hoan, 1998)

Dịch hoàn được xem là cơ quan nguyên thủy vì chúng sản sinh giao tử đực (tinh trùng) và các hormone tính dục đực (androgen) Dịch hoàn trâu đực dài 10-13cm, rộng 5-6cm và nặng 300-400g Những ống sinh tinh uốn khúc (trong đó tinh trùng được sản sinh) được hình thành từ những thừng giới tính nguyên thủy Chúng có chứa những tế bào mầm (tinh nguyên bào) và những tế bào nuôi dưỡng (tế bào Sertoli) Các tế bào Leydig (tế bào kẽ) có trong mô mềm của dịch hoàn giữa những ống sinh tinh uốn khúc Ống sinh tinh dùng để vận chuyển tinh trùng từ đuôi dịch hoàn phụ ra niệu quản vùng chậu Phần tận cùng của ống tinh ra có thành dày và được gọi là phồng ống Đôi phồng ống, cùng với ống tiết của tinh nang, đổ vào niệu quản ngay phía sau cổ bóng đái

Thừng dịch hoàn kéo dài từ vòng bẹn đến các dịch hoàn Nó gồm có các

động mạch dịch hoàn, các tĩnh mạch dịch hoàn, các mạch lympho, thần kinh, ống dẫn tinh ra, cơ bao dịch hoàn ngoài và một số lớp áo ngoài Qua cổ bao dịch hoàn có thể sờ được thừng dịch hoàn Động mạch dịch hoàn uốn khúc rất nhiều phía trên dịch hoàn trong một khu vực được gọi là đám rối tĩnh mạch, rồi tiếp tục đi xuống dưới phía sau dịch hoàn rồi tỏa nhánh để phân bố mạch máu cho dịch hoàn

Dịch hoàn phụ là ống dẫn tinh ra ngoài đầu tiên từ dịch hoàn lượn theo

chiều dài của bề mặt dịch hoàn, được bọc trong một lớp giáp mạc với dịch hoàn Đầu dịch hoàn phụ là khu vực gồ lên ở đỉnh của dịch hoàn, tại đây có 12-15 ống nhỏ, chúng dồn vào một ống dẫn tinh ra

Dương vật là cơ quan giao cấu ở con đực Dương vật trâu đực có một

đoạn cong chữ S, nhờ đó dương vật có thể co rụt hoàn hoàn vào bên trong khi

Trang 16

không giao cấu (Kunitada, 1992) Quy đầu là đầu mút tự do của dương vật, có nhiều thần kinh cảm giác và nó tương đương với âm vật ở con cái Mô cương

là mô hổng (xốp) nằm ở hai vùng của dương vật Mô xốp dương vật là mô hổng bao quanh niệu quản Những lỗ hổng này chứa đầy máu khi kích thích tính dục, làm duỗi dương vật ra (cương) tạo điệu kiện dễ dàng cho quá trình phóng tinh

Bao dương vật (còn gọi là “bao bì”) là cái túi do da thụt vào, túi này

chứa toàn bộ quy đầu Nó chia thành nếp gấp ngoài và nếp gấp trong Miệng của bao dương vật được bao quanh bằng một túm lông dài và mịn

1.1.2.2 Sinh lý sinh dục của trâu đực

Quá trình sinh tinh và thành thục của tinh trùng diễn ra liên tục kể từ khi con đực thành thục về tính dục Tuy nhiên, cường độ có thay đổi chút ít theo mùa Quá trình tạo tinh bắt đầu từ khi phân chia tinh nguyên bào cho đến khi bài tiết tinh trùng vào xoang ống dẫn tinh, thường kéo dài từ 48-50 ngày Các tinh nguyên bào phân chia và biệt hóa qua quá trình phân bào, cuối cùng hình thành nên tinh trùng Khi tinh trùng được hình thành đầy đủ chúng sẽ được đẩy ra hầu như tự do trong xoang ống sinh tinh (Hà Văn Chiêu,1999)

Trâu đực có khả năng giao phối lúc 3 năm tuổi, thời gian sử dụng tốt nhất là 4-5 năm, tuy nhiên có thể khai thác tinh dịch tới hai chục năm nhưng tính hăng và kết quả phối giống sẽ giảm dần khi đực giống về già Một trâu đực có thể sử dụng phối giống trực tiếp cho 30-50 trâu cái, nhưng tỷ lệ ghép thích hợp là 1 đực 20 cái, tối đa không quá 30 cái Mỗi lần phóng tinh trâu đực xuất 2,5-3 ml tinh dịch, hoạt lực 70-80%, nồng độ 0,8-1 tỷ/ml Tần số phối giống tốt là 2-3 lần trong một tuần, nếu nhiều hơn thì phẩm chất tinh sẽ kém và tỷ lệ thụ thai thấp hơn Trâu đực không có chu kỳ tính dục nhưng phẩm chất tinh dịch cũng phần nào bị ảnh hưởng bởi mùa vụ, phẩm chất tinh trâu tốt nhất vào mùa thu so với các mùa khác trong năm do ảnh hưởng của thức ăn tốt trong mùa mưa (Nguyễn Văn Bình, Trần Văn Tường, 2007)

Trang 17

1.1.2.3 Hình thái và hoạt động của tinh trùng trâu

a Hình thái và kích thước của tinh trùng

Tinh trùng trâu hình dạng giống con “nòng nọc” có chiều dài từ 68-80

µm, có thể chia làm 4 phần chính gồm đầu, cổ, đoạn giữa và đuôi (Trần Tiến Dũng và cs, 2002), cụ thể:

Đầu tinh trùng: Có hình Ovan dài từ 8,0 đến 9,5 µm, rộng từ 3,3 đến 5,5

µm, dày 2 µm, chứa nhân tế bào nơi có ADN - là vật chất di truyền các đặc điểm của con đực Bao lấy phần chỏm là thể đỉnh chứa enzyme hyaluronidaza có chức năng phá vỡ màng ngoài (Mucopolysaccarit) của tế bào trứng để mở đường cho nhân tinh trùng vào dung hợp với nhân của trứng Sự nguyên vẹn của thể đỉnh giữ vai trò quan trọng như là chỉ số đánh giá về khả năng thụ tinh của tinh trùng

Cổ tinh trùng: là phần rất ngắn cắm vào hõm của đáy ở đầu, dễ dàng bị

gãy Cổ chứa hai trung tử, trung tử gần nhân và trung tử xa nhân, là nơi bắt nguồn của bó trục của đuôi tinh trùng

Đoạn giữa: đoạn này được nối vào cổ và dày hơn đuôi, có chiều dài

14,8µm, đường kính trong khoảng từ 0,7 đến 1,0µm Đoạn giữa có một tập hợp sợi trục (2 sợi trục chính và 9 sợi vòng), bọc quanh là một bao ty thể xoắn

và màng tế bào chất Phía cuối của đoạn giữa là một vòng nhẫn, giàu phospholipids, chứa nhiều oxydase và cung cấp năng lượng cho tinh trùng

Đuôi tinh trùng: Là đoạn còn lại cho đến hết chót đuôi, có chiều dài từ

45 đến 60µm, đường kính từ 0,3 đến 0,7µm, gồm hai phần là đoạn chính và chót đuôi Đoạn chính có 9 sợi trục nối vào vòng nhẫn, bao quanh là một bó sợi trục coi như nguyên sinh chất Chót đuôi là phần tận cùng của đuôi, chỉ gồm hai sợi trung tâm, được bao bọc bằng màng tế bào

Nếu phân đoạn theo chức năng của từng bộ phận thì tinh trùng có thể chia thành hai phần chính: Phần đầu lưu giữ yếu tố di truyền và các men liên quan đến năng lực thụ tinh của tinh trùng; Phần đuôi là cơ quan có chức năng vận động bằng nguồn năng lượng của ty thể và cấu trúc của đuôi

Trang 18

b Hoạt động của tinh trùng

Trạng thái hoạt động của tinh trùng thể hiện chất lượng tinh dịch Nếu tinh trùng hoạt động càng mạnh thì chất lượng càng tốt Tinh trùng có 3 hình thức vận động cơ bản:

Vận động tiến thẳng: là vận động của những tinh trùng có khả năng thụ thai Vận động xoay tròn: là tinh trùng này thường không có khả năng thụ thai Vận động tại chỗ: là hình thức vận động của tinh trùng non, dị tật, chỉ

lắc lư tại chỗ Những tinh trùng này không có khả năng thụ thai

1.1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tinh dịch trâu

Tinh dịch trâu được khai thác bằng một số phương pháp: sử dụng âm đạo giả khai thác vào buổi sáng trước khi cho trâu ăn, bằng máy xung điện (electroejaculator), mát xa qua trực tràng hoặc lấy ra từ âm đạo của con cái sau khi cho con đực xuất tinh vào Tuy nhiên khai thác tinh bằng âm đạo giả được sử dụng phổ biến hơn bởi tính an toàn và phù hợp với tập tính sinh dục, các phương pháp còn lại hoặc có chất lượng tinh dịch thấp hoặc có những phản ứng phụ không tốt cho vật nuôi

Một số chỉ tiêu thường dùng đánh giá phẩm chất tinh dịch là lượng tinh (thể tích tinh dịch - ml), nồng độ tinh trùng (tỷ/ml), hoạt lực tinh trùng (%), pH tinh dịch, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%), tỷ lệ tinh trùng sống (%) và tổng số tinh trùng tiến thẳng/lần xuất tinh (tỷ/lần xuất tinh)

1.1.3.1 Lượng tinh (V - ml)

Lượng tinh (thể tích tinh dịch) là số lượng tinh dịch (ml) khai thác được trong một lần lấy tinh Lượng tinh dịch có liên quan chặt chẽ tới giống, tuổi, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, kích thước dịch hoàn, mùa vụ, mức độ kích thích tính dục trước khi lấy tinh, phản xạ nhảy giá và kỹ thuật khai thác tinh

1.1.3.2 Hoạt lực tinh trùng (A)

Hoạt lực tinh trùng là chỉ số phản ánh số lượng tinh trùng hoạt động tiến thẳng trong tinh dịch và được đánh giá bằng ước tính trực quan theo tỷ lệ

Trang 19

phần trăm Tinh trùng tiến thẳng được là nhờ cấu trúc đặc biệt của đuôi và nguồn năng lượng từ lò xo ty thể Hoạt lực tinh trùng là một trong những chỉ tiêu quan trọng và là chỉ tiêu chủ yếu trong đánh giá chất lượng của tinh dịch Nếu chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng không đạt tiêu chuẩn sẽ không thể sản xuất được tinh đông lạnh có chất lượng tốt, cho dù các chỉ tiêu khác của tinh dịch vẫn đảm bảo tiêu chuẩn

1.1.3.3 Nồng độ tinh trùng (C - tỷ/ml)

Nồng độ tinh trùng là số lượng tinh trùng có trong một ml tinh dịch Nồng độ tinh trùng thường được tính bằng đơn vị tỷ/ml Tinh dịch có nồng độ tinh trùng càng cao phản ánh chất lượng tinh dịch càng tốt Nồng độ tinh dịch cùng với lượng xuất tinh được dùng để xác định lượng môi trường pha loãng

và số lượng tinh đông lạnh sản xuất được

1.1.3.4 Độ pH tinh dịch

pH tinh dịch phản ánh nồng độ [H+] có trong tinh dịch quyết định pH của tinh dịch liên quan đến năng lực đệm, sức sống và năng lực thụ tinh của tinh trùng, đồng thời phản ánh chế độ dinh dưỡng cũng như trạng thái bệnh lý của cơ quan sinh dục đực

1.1.3.5 Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K - %)

Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K) được tính bằng (%), được xác định bằng cách đếm tinh trùng có hình dạng bất thường so với tổng số tinh trùng (có bất thường và không bất thường) trên kính hiển vi Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giống, điều kiện nuôi dưỡng, thời tiết, bệnh tật di truyền và kỹ thuật sử lý tinh dịch (Trần Tiến Dũng và Cs., 2002) Tỷ lệ kỳ hình càng lớn cho thấy phẩm chất tinh dịch càng kém Ở điều kiện bình thường, tinh trùng có hình dạng đặc trưng cho mỗi loài Khi điều kiện sống, dinh dưỡng bất thường hoặc bệnh lý có thể làm tăng số lượng tinh trùng kỳ hình Những tinh trùng kỳ hình không có khả năng thụ tinh

Trang 20

Tinh trùng kỳ hình là trong quá trình sinh tinh hoặc đông lạnh tinh trùng,

mà hình dạng tinh trùng có thể bị thay đổi hình thái như khuyết tật ở đầu hoặc đuôi, khuyết tật acrosom, có giọt bào tương bám vào, gẫy đuôi, vỡ Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá hình thái tinh trùng ở gia súc nói chung và trâu nói riêng như cố định bằng formalin, nhuộm bằng eosin - nigrosin và sau đó soi bằng kính hiển vi thường hoặc kính hiển vi điện tử Đối với tinh trùng đã được đông lạnh, sự nhuộm màu có thể bị ảnh hưởng tiêu cực của lòng đỏ trứng và glycerol, do vậy cần rửa tinh trùng trước khi đánh giá tỷ lệ kỳ hình

1.1.3.6 Tỷ lệ tinh trùng sống (Sg-%)

Tỷ lệ tinh trùng sống là chỉ tiêu quan trọng trong đánh giá chất lượng tinh dịch, vì nó liên quan khá chặt chẽ với khả năng sinh sản của gia súc Tỷ lệ tinh trùng sống phản ánh số tinh trùng sống trong liều tinh

1.1.3.7 Tổng số tinh trùng tiến thẳng/lần xuất tinh (V.A.C - tỷ)

Tổng số tinh trùng tiến thẳng là tích của của 3 chỉ tiêu V.A.C, là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất tinh dịch trong một lần xuất tinh hoặc trong một liều tinh VAC càng lớn phản ánh sức sản xuất của con đực càng cao hoặc chất lượng liều tinh càng tốt

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch

Các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch có mối tương quan với nhau

và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như giống, cá thể, lứa tuổi, mùa vụ, dinh dưỡng, chăm sóc, quản lý

1.1.4.1 Giống, cá thể và độ tuổi

Tuỳ từng giống, tầm vóc to hay nhỏ, cường độ trao đổi chất mạnh hay yếu, khả năng thích nghi với thời tiết khí hậu tốt hay không mà có số lượng và chất lượng tinh sản xuất khác nhau

Nghiên cứu so sánh trâu địa phương, trâu Murrah và trâu Surti ở Sri Lanka, Rajamahendran và Manickavadivale (1981) thấy rằng, lượng xuất tinh

Trang 21

và nồng độ tinh trùng đạt cao nhất ở trâu Murrah Trâu địa phương có lượng xuất tinh và tỷ lệ tinh trùng kỳ hình lớn hơn trâu Surti nhưng có nồng độ tinh trùng nhỏ hơn

Quá trình sinh tinh ở trâu đực bắt đầu khá sớm, từ 6 tháng tuổi đã có thể quan sát thấy sự phát triển của các tế bào sertoli trong ống sinh tinh, đến 12 tháng tuổi xuất hiện các các tế bào sertoli hoàn chỉnh, từ 15 tháng tuổi trở đi bắt đầu có tế bào tinh trùng trong ống sinh tinh, đến 29 tháng tuổi trâu có tinh trùng hoàn chỉnh, nhưng đến 32 tháng tuổi các ống sinh tinh mới phát triển hoàn thiện (Nordin và cs., 1985; Ahmad và cs., 2010)

Champawat và cs., (1999) thấy rằng trâu Surti có tuổi dậy thì ở 16-18 tháng tuổi và có thể thành thục tính dục vào 24 tháng tuổi Nhưng ở trâu đầm lầy, tuổi dậy thì đạt được 24 tháng tuổi và thành thục tính dục ở giai đoạn từ 30 đến 33 tháng tuổi (McCool và Entwistle, 1989)

Tác giả Jainudeen và cs., (1982) cho biết, lượng xuất tinh tăng theo tuổi ở trâu đầm lầy Nordin và cs (1990), Koonjaenak và cs., (2007a) và Nasir và cs., (2012) thấy rằng, hoạt lực tinh trùng của trâu đầm lầy có sự khác nhau giữa các

độ tuổi Theo Koonjaenak và cs., (2007b), tuổi ảnh hưởng đến dạng tinh trùng

kỳ hình có giọt bào tương ở trâu đầm lầy Còn ở trâu sông, Javed và cs., (2000) quan sát thấy có sự khác biệt đáng kể lượng xuất tinh giữa các trâu có

độ tuổi khác nhau Những trâu già kém hơn trâu trẻ ở chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng (Younis, 1996) và nồng độ tinh trùng (Javed và cs., 2000)

Chu vi dịch hoàn tăng nhanh từ 3,5 đến 4,5 năm tuổi và sau đó tăng trưởng chậm lại, lượng xuất tinh và nồng độ tinh trùng tăng tuyến tính đến 6 năm tuổi và sau đó có xu hướng giảm đi (Suryaprakasam và cs., 1993) Mức

độ testosterone huyết thanh của trâu có mối tương quan thuận (r = 0,414, p < 0,05) với chu vi dịch hoàn và lượng xuất tinh (r = 0,348) (Sajjad và cs., 2007) Đây là lý do ham muốn tình dục của con đực trưởng thành cao hơn so với con đực già hay trẻ (Younis và cs., 2003)

Trang 22

1.1.4.2 Yếu tố ngoại cảnh

a Mùa vụ

Như mọi cơ thể sống khác, trâu đực chịu tác động trực tiếp của môi trường, chủ yếu là các yếu tố tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng vv Theo quy luật giới hạn sinh thái mỗi loài hoặc mỗi cơ thể đều có một khoảng thích hợp của một yếu tố khí hậu nào đó Nếu ngoài giới hạn thích hợp sẽ làm giảm khả năng sống của cơ thể và bị tác động cộng hưởng bởi các yếu tố môi trường

Vale (1997) cho rằng thời gian chiếu sáng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng khả năng sinh sản và hoạt động tình dục của trâu đực Ở các khu vực ôn đới, tinh dịch gia súc có chất lượng tốt ở mùa đông và mùa xuân (Mohan và Sahni, 1990; Galli và cs., 1993) Ở vùng nhiệt đới như Brazil, từ tháng Giêng đến tháng Sáu, trâu có số lượng, chất lượng tinh tốt nhất (Vale, 1994b) Mandal

và cs., (2000) cho biết, hoạt lực tinh trùng trâu trong mùa xuân và mùa mưa là tốt hơn trong mùa hạ nóng ẩm

Ở các nước ôn đới chất lượng tinh dịch kém nhất vào mùa đông, tốt nhất vào mùa hè và mùa thu Nguyên nhân chủ yếu là do ánh sáng Nhưng ở nước

ta tinh dịch thường kém nhất vào mùa hè do nắng nóng Tinh dịch tốt nhất là

vụ đông - Xuân, mùa Hè giảm nhiều, mùa Thu lại tăng lên (Nguyễn Xuân Trạch và cs., 2006) Sự giảm chất lượng tinh dịch trong mùa hè có liên quan tới sự gia tăng của nhiệt độ môi trường xung quanh trong những tháng nóng dẫn đến xáo trộn trong hoạt động sinh sản của trâu

b Thức ăn

Thức ăn có vai trò đặc biệt quan trọng trong sinh trưởng phát triển và sinh sản của gia súc, là một trong những yếu tố quyết định đến số lượng, chất lượng tinh dịch của con đực

Việc thiếu hụt dinh dưỡng vitamin, khoáng chất đa lượng và vi lượng

đã làm giảm chất lượng tinh dịch Vitamin A và E có liên quan trực tiếp đến chất lượng của tinh dịch trong tất cả các loài vật nuôi Thiếu hụt selen

Trang 23

làm tăng kỳ hình đuôi tinh trùng Các axit amin cũng có tác dụng cải thiện chất lượng tinh dịch, việc bổ sung lysine và methionine vào thức ăn cho trâu giúp tăng số lượng, chất lượng tinh dịch và chất lượng tinh đông lạnh (Singh và cs., 2000a)

Việc phun nước làm mát cho trâu trong những tháng mùa hạ nóng làm giữ

ổn định chất lượng tinh dịch trong năm (Jainudeen và cs, 1982) Kỹ thuật kích thích hưng phấn nhảy giá khai thác tinh ở trâu đực làm tăng nồng độ tinh trùng Koonjaenak và cs (2007) thấy rằng, tần suất khai thác tinh ảnh hưởng đến các dạng kỳ hình về kích thước đầu tinh trùng, kỳ hình đuôi có mảng bám

và đuôi cong Ngoài ra, việc tiêm phòng bệnh truyền nhiễm, một mặt giúp gia súc tránh được bệnh dịch nhưng mặt khác cũng làm ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng tinh dịch vì tiêm phòng vắc xin gây phản ứng sốt sau tiêm chủng Khai thác tinh một lần trong một tuần là hợp lý nhất cho gia súc có độ tuổi từ 2 đến 3 năm Việc thực hiện tốt kỹ năng kích thích hưng phấn nhảy giá và kỹ thuật lấy tinh bằng âm đạo giả của người khai thác tinh gia súc sẽ giúp thu được số lượng tinh dịch nhiều hơn

1.1.5 Kỹ thuật đông lạnh và giải đông tinh dịch trâu

1.1.5.1 Kỹ thuật đông lạnh tinh dịch trâu

Sau khi pha loãng với môi trường, tinh dịch được làm lạnh đến nhiệt độ 4-50C, đây là khoảng thời gian để tinh trùng thích nghi với quá trình giảm trao

Trang 24

đổi chất, tránh sốc lạnh làm tổn thương màng tế bào Quá trình làm mát chậm, tốc độ mất nước trong tế bào tinh trùng đảm bảo điểm cân bằng thẩm thấu nội ngoại bào, quá trình làm mát nhanh khiến cho nước bên trong tế bào không thoát

ra ngoài kịp thời dẫn đến hình thành tinh thể băng trong quá trình đông lạnh làm tổn hại tế bào tinh trùng Andrabi (2009) cho biết, tốc độ làm mát từ 0,20C/phút đến 0,40C/phút được khuyến khích trong khi đông lạnh tinh dịch trâu

Trong giai đoạn cân bằng, glycerol thâm nhập vào tế bào tinh trùng và đảm bảo sự cân bằng nội ngoại bào Tuli và cs., (1981) thấy rằng, chất lượng tinh sau giải đông khi cân bằng glycerol trong 4 giờ tốt hơn so với 2 giờ hoặc 6 giờ Theo Dhami và Sahni (1994) cho rằng thời gian cân bằng tinh dịch trong khoảng 2-4 giờ Tuy nhiên, các tác giả đều nhận định chung tinh dịch trâu nên để ở 50C trong khoảng thời gian từ 2 đến 6 giờ trước khi đông lạnh

Sau khi cân bằng lạnh, tinh dịch được đóng gói dưới dạng cọng rạ hoặc dạng viên Nhưng hiện nay, tinh trâu đông lạnh được đóng gói trong cọng rạ 0,25 ml hoặc 0,5 ml và được cân bằng glycerol trước khi đưa vào đông lạnh trong hơi nitơ lỏng Cọng rạ 0,25ml được sử dụng nhiều do chi phí sản xuất thấp hơn, tiết kiệm được môi trường pha loãng tinh dịch và không gian lưu trữ tinh đông lạnh Theo Ansari và cs., (2011), hoạt lực sau giải đông cũng bị tác động bởi thể tích cọng rạ, sử dụng loại cọng rạ 0,25ml để đông lạnh tinh trùng trâu cho kết quả hoạt lực tinh trùng cao hơn so với loại cọng rạ 0,5ml (P<0,05)

Đông lạnh trong hơi nitơ lỏng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một hộp đẳng nhiệt đơn giản Các ống hút được treo ở vị trí ngang 1cm đến 4

cm trên nitơ lỏng trong 10-20 phút, sau đó cho ngập trong nitơ lỏng ở nhiệt độ -1960C (El-Sisy và cs., 2010; Ansari và cs., 2011)

Hiện nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc đông lạnh tinh trâu bằng hệ thống máy móc chuyên dụng được lập trình sẵn góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất tinh Vale (1997) đã tiến hành giảm nhiệt độ

Trang 25

tinh dịch trâu với tốc độ 180C/phút trong giai đoạn từ +40C xuống -400C, sau

đó tiếp tục giảm nhiệt độ xuống -1400C với tốc độ 80C/phút cho kết quả tốt Sukhato và cs., (2001) cho biết, hoạt lực tinh trùng trâu tốt hơn khi đông lạnh tinh trâu bằng phương pháp giảm nhiệt độ từ 40C xuống -1200C với tốc độ

200C/phút hoặc 300C/phút

1.1.5.2 Kỹ thuật giải đông tinh trâu đông lạnh

Kỹ thuật giải đông tinh đông lạnh có ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng sau giải đông Quá trình giải đông cần làm tan băng nhanh để ngăn chặn

sự tái kết tinh bên trong tế bào, phục hồi trạng thái cân bằng nội ngoại bào tốt hơn Việc giải đông chậm dễ xảy ra những rối loạn pH, biến tính protein do nhiệt độ cao và gây chết tế bào Dhami và cs., (1994) thí nghiệm giải đông tinh trâu ở 40C trong 5 phút, 400C trong 1 phút hoặc 600C trong 15 giây Kết quả cho thấy, giải đông tinh trâu ở 600C trong 15 giây giúp chất lượng tinh trùng tốt hơn Trong một nghiên cứu khác của Dhami và Sahni (1994) nhằm so sánh các phương pháp cân bằng lạnh (làm mát) tinh trùng trâu Murrah khác nhau, kết quả cho thấy tỷ lệ thụ thai cao nhất đạt 68,1% đối với cho tinh dịch được cân bằng lạnh với tốc độ 0,20C/phút

1.1.6 Giới thiệu môi trường pha loãng, đông lạnh tinh dịch trâu dùng trong nghiên cứu

Môi trường pha loãng, đông lạnh tinh dịch trâu là môi trường của Nhật Bản (Vũ Đình Ngoan và cs., 2010)

a) Thành phần môi trường như sau:

Axit Citric 0,762g Fructose 0,375 g Lactose 1,500 g Raffinose 2,700 g Penicillin G 100.000 UI

Trang 26

Streptomycin 100 mg Lòng đỏ trứng gà 20%

Glycerin 7,5 % Nước cất vừa đủ 100 ml b) Vai trò và cơ chế tác dụng của các thành phần có trong môi trường:

- Tris có tác dụng làm tăng thêm sức đệm cho môi trường, duy trì áp lực thẩm thấu

- Axit Citric (hydroxymethyl-amino-methane) là một hóa chất quan trọng trong quá trình đông lạnh tinh dịch gia súc (Rasul và cs., 2001, Barbas

và Mascarenhas, 2009) Dhami và cs (1994) thấy rằng tris giúp hoạt lực sau giải đông của tinh trùng trâu đạt kết quả tốt hơn so với citrate và axit citric Một nghiên cứu của tác giả Singh và cs., (2000b) cũng cho biết, tris giúp hoạt lực tinh trùng trâu sau giải đông tốt hơn so với 2 môi trường của hãng IMV (Pháp) là Laiciphos và Biociphos

- Glycerol là chất bảo vệ lạnh được sử dụng nhiều nhất trong các môi trường pha loãng tinh dịch Glycerol có khả năng tạo liên kết hydrô với nước

và thấm qua màng tế bào, không độc hại trong quá trình tiếp xúc với các tế bào trong nồng độ giữa khoảng 1 mol/lít đến 5 mol/lít, tùy thuộc vào loại tế bào và điều kiện tiếp xúc (Fuller và Paynter, 2004) Tác dụng bảo vệ tinh trùng trong quá trình đông lạnh của glycerol do nó tăng áp suất thẩm thấu của dịch ngoại bào để kéo nước trong tế bào ra ngoài, qua đó làm giảm nguy cơ hình thành tinh thể băng trong tế bào, hạ thấp điểm đóng băng của nước trong

tế bào (Holt, 2000b; Medeiros và cs., 2002; Lemma, 2011)

- Lòng đỏ trứng gà là một thành phần phổ biến trong các môi trường đông lạnh tinh dịch cho hầu hết các loài vật nuôi, bao gồm cả trâu (Sansone và cs., 2000) Thành phần lipoprotein (low density lipoproteins - LDL) có trong lòng đỏ trứng là yếu tố quan trọng bảo vệ tinh trùng trong

Trang 27

quá trình đông lạnh LDL bảo đảm tính ổn định của màng tinh trùng, các phospholipid có trong LDL tạo một lớp màng bảo vệ bề mặt tinh trùng hoặc thay thế các màng phospholipid của tinh trùng bị tổn thương trong quá trình đông lạnh (Foulkes và cs., 1980; Graham và Foote, 1987) Ngoài

ra, LDL còn có tác dụng bắt giữ những protein có hại trong bào tương của tinh trùng, do vậy nâng cao khả năng chịu lạnh của tinh trùng (Bergeron

và Manjunath, 2006) Nồng độ lòng đỏ trứng cho đông lạnh tinh dịch trâu cần đạt 20% lượng môi trường pha loãng tinh dịch (Sansone và cs., 2000; Andrabi và cs., 2008b)

- Fructose, Lactose, Raffinose là chất cung cấp năng lượng cho tinh trùng, bảo vệ màng tinh trùng và giải độc cho tinh trùng

- Penicillin G, Streptomycin là chất kháng khuẩn để hạn chế tác hại của

vi khuẩn với tinh trùng

Các loại đường đa phân tử không có khả năng khuếch tán qua màng tế bào như lactose, fructose, sucrose, raffinose, trehalose hoặc dextrans là thành phần bảo vệ lạnh trong môi trường pha loãng Đường tạo ra một áp suất thẩm thấu, gây mất nước trong tế bào, do vậy giảm tỷ lệ nước đóng băng trong tế bào Các loại đường cũng tương tác với các phospholipid trong màng tế bào giúp cho màng tế bào ít bị tác động xấu trong quá trình đông lạnh

Trong tinh dịch trâu có các loại vi sinh vật khác nhau như một số loại vi

khuẩn Staphylococcus spp., Pseudomonas aeruginosa, Escherichia coli, nấm

men… (Ramaswamy và cs., 2002; Kapoor, 2003), chúng làm giảm khả năng vận động của tinh trùng (Panangala và cs., 1981), tổn thương acrosome (El- Mulla và cs., 1996), tiết độc tố gây hại tinh trùng (Morrell, 2006), do vậy các loại kháng sinh được bổ sung vào môi trường pha loãng tinh dịch để tiêu diệt các vi khuẩn có trong tinh dịch nhưng không ảnh hưởng xấu đến chất lượng tinh trùng

Trang 28

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Công nghệ thụ tinh nhân tạo trâu đã được bắt đầu nghiên cứu từ năm

1940 với thành công được ghi nhận là con nghé đầu tiên ra đời vào năm 1943 tại Ấn Độ (Ranjian và Pathak, 1993) Thời gian đầu, tinh dịch được lấy ra, pha loãng để tăng liều phối Một bước đột phá trong bảo quản tinh trùng là việc sử dụng thành công glycerol bảo quản lạnh tinh trùng động vật (Polge và cs., 1949) Sau đó là sự chuyển đổi từ phương pháp bảo tồn tinh trùng bằng cách đông lạnh sâu trên băng CO2 (-790C) sang công nghệ bảo tồn tinh trùng trong ni-tơ lỏng (-1960C) trong những năm 1950 (Foote, 2002)

Sau này khi khoa học công nghệ phát triển, tinh dịch được pha loãng, đông lạnh, bảo quản và thụ tinh nhân tạo cho trâu cái Từ năm 1972, việc nghiên cứu đông lạnh, bảo quản, giải đông và phối giống cho trâu cái đã thành công ở Pakistan, Ấn Độ, Bulgary (trích Alexiev, 2008 ) Hiện nay, thụ tinh nhân tạo trâu

đã phát triển ở nhiều nước những tỷ lệ thành công còn thấp hơn so với phối giống trực tiếp Theo Agarwal và Shankar (2007) thì phối giống trực tiếp, tỷ lệ

có chửa khoảng 60%, trong khi đó thụ tinh nhân tạo đạt được 50% Hàng năm đã

có hàng trăm ngàn nghé con sinh ra từ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo

Các nghiên cứu về công nghệ sản xuất tinh trâu đông lạnh đã được công bố với các công bố của Dhami, Sahni và cs (1996); Fabbrocini, Del Serbo, Fasano (2000) Ngày nay, công nghệ sản xuất, bảo quản và sử dụng tinh trâu đông lạnh

để thụ tinh nhân tạo cho trâu đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới

Một bước quan trọng để phát triển được sản xuất đại trà tinh trâu đông

lạnh trên thế giới là việc thực hiện chương trình “Bảo quản tinh trâu đông lạnh trong nitơ lỏng -196 0 C” triển khai ở Pakistan, với sự hợp tác của các nhà khoa học của Đức, Mỹ và FAO, từ đó đã đưa ra được các chất pha loãng khác nhau để sử dụng trong đông lạnh sâu tinh dịch trâu ở tất cả các nước trên thế giới (Heuer, 1980)

Trang 29

Nghiên cứu về ảnh hưởng của các giống trâu đến chất lượng tinh dịch, theo Nordin và cs (1990) nhận thấy, trâu đầm lầy trưởng thành có tỷ lệ tinh trùng sống đạt 69,9%; trong khi đó trâu Murrah tỷ lệ tinh trùng sống đạt 77,77% (Capitan và cs., 1990)

Brazil phát triển TTNT trâu từ những năm 80 (thế kỷ XX) và đã thực hiện thành công việc đông lạnh tinh trâu đạt tỷ lệ thụ thai trong TTNT là 50%, sau đó với nhiều nghiên cứu tiếp tục cải tiến để tăng tỷ lệ thụ thai lên tới 70% Ngày nay, việc sản xuất tinh trâu đông lạnh ở Brahzil đã và đang góp phần thúc đẩy chăn nuôi trâu phát triển, đáp ứng một phần nhu cầu sữa, thịt trâu trong nước và xuất khẩu (Vale, 2010)

McCool và Entwistle (1989) cho biết, tuổi dậy thì của trâu đầm lầy trung bình ở 24 tháng tuổi, thành thục tính dục ở giai đoạn từ 30 đến 33 tháng tuổi và lượng xuất tinh tăng theo tuổi (Jainudeen và cs, 1982) Javed và cs (2000) quan sát thấy ở trâu sông, có sự khác biệt đáng kể lượng xuất tinh giữa các trâu có độ tuổi khác nhau

Trâu đã được nhập vào với Argentina từ Brazil từ những năm 1900 nhưng số lượng tổng đàn chỉ khoảng 15.000 con và tập trung chủ yếu ở tỉnh tỉnh Corrientes (chiếm 60%) Do vậy, mức độ giao phối cận huyết của đàn trâu là rất cao, làm giảm khả năng sinh sản của trâu Nhờ kỹ thuật TTNT với việc sử dụng tinh trâu đông lạnh sâu mà Argentina đã khắc phục được hạn chế này với đàn trâu trong nước Tỷ lệ phối giống lần 1 có chửa trong TTNT trâu đạt 56,8% Tỷ lệ đậu thai của toàn đàn đạt 71,8%, sử dụng 1,88 liều tinh/1 trâu cái có chửa (Crudeli, 1999)

Trung Quốc đã sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ từ những năm

1980 để phục vụ công tác TTNT, cải tiến các giống trâu nội Do đó, Trung Quốc đã lai tạo thành công con lai 3 giống giữa trâu địa phương với trâu Murrah và trâu Nili-Ravi cho sản lượng thịt, sữa cao hơn nhiều so với trâu địa phương (Liang và cs., 2004)

Trang 30

Thái Lan đã phát triển công tác TTNT trâu từ năm 1956 với sự trợ giúp của FAO Các trung tâm TTNT được mở ra ở nhiều khu vực trong cả nước Tinh dịch trâu có hoạt lực tinh trùng không nhỏ hơn 70% được pha loãng với môi trường Tris - Lòng đỏ trứng gà, có bổ sung 8% glycerol và đưa vào đông lạnh (Koonjaenak, 2006)

Là nước có quần thể trâu đầm lầy lớn trong vùng Đông Nam Á, Philippin

đã thực hiện chương trình phát triển thụ tinh nhân tạo trâu với quy mô lớn nhằm lai tạo và cải thiện di truyền cho đàn trâu nội Hệ thống sản xuất tinh có thể cung cấp 55.000 cọng rạ/năm phục vụ cho công tác TTNT trâu, chiếm khoảng 5% đàn trâu cái nội (Cruz, 2006)

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Tổng cục thống kê (2017), số lượng đàn trâu trong cả nước đang có

xu hướng giảm sút về cả số lượng và chất lượng (năm 2014 là 2.559.213 con, năm 2015 là 2.548.976 con và năm 2016 là 2.519.015 con - năm 2016 đàn trâu giảm khoảng 1,6% so với năm 2014) Sự phân bố đàn trâu ở các vùng rất khác nhau, Trung du và Miền núi phía Bắc luôn cao nhất, chiếm 55,12% tổng đàn, tiếp theo đến Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 31,65%, còn lại các vùng khác đều chiếm rất ít: Đồng bằng sông Hồng 5,14%, Tây nguyên 3,67%, Đông Nam bộ 2,13% và Đồng bằng sông Cửu long 1,56% Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, nguyên nhân giảm sút về số lượng và chất lượng đàn trâu hiện nay là do việc trao đổi hàng hoá, người dân bán, giết thịt những con phẩm chất tốt, ngoại hình lớn và công tác giống chưa được quan tâm, tình trạng thiếu trâu đực giống có ở nhiều nơi, hiện tượng cận huyết khá phổ biến (Nguyễn Quang Tuyên và Cs., 2006; Đỗ Kim Tuyên và Hoàng Kim Giao, 2009)

Trước thực tế trên, việc sử dụng trâu đực giống khối lượng lớn với sự hỗ trợ của TTNT giúp đàn trâu địa phương nâng cao tốc độ sinh trưởng và tầm vóc, khối lượng nghé từ sơ sinh đến 36 tháng tuổi tăng từ 8,5% đến 21,1% (Mai Văn Sánh, 2006; Mai Văn Sánh và Cs., 2008)

Trang 31

Hiện nay, ở nước ta những nghiên cứu về số lượng, chất lượng tinh dịch,

kỹ thuật đông lạnh tinh và TTNT chủ yếu thực hiện trên bò sữa, bò thịt và đã mang lại những kết quả to lớn trong công tác phát triển chăn nuôi bò (Phùng Thế Hải, 2013) Tuy nhiên, TTNT cho trâu chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều, đến nay mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về sinh sản của trâu, TTNT cho trâu, lai tạo trâu và đông lạnh tinh trâu

Lưu Kỷ (1979), Vũ Ngọc Tý và Lưu Kỷ (1979) đã thành công trong nghiên cứu đông lạnh tinh dịch trâu trên mặt hơi nitơ lỏng (tinh viên), hoạt lực sau giải đông đạt 30%, tỷ lệ thụ thai khi phối TTNT đạt khoảng 50% khi phối kép

Các tác giả Lê Viết Ly và Võ Sinh Huy (1982), Cao Xuân Thìn (1987), Mai Văn Sánh (1996) nghiên cứu bảo tồn tinh trâu trong môi trường lỏng gồm: Citrat natri H2O, glycacol, trilon B, tetracycline, lòng đỏ trứng gà và nước cất Kết quả bảo tồn tinh trâu được 2 ngày, hoạt lực tinh trùng đạt 55,2% đến 61%, tỷ lệ thụ thai khi phối TTNT đạt 53,65% khi tiến hành phối kép Trịnh Thị Kim Thoa và cs., (2005) nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng viên, mỗi viên chứa hơn 40 triệu tinh trùng và có hoạt lực sau giải đông đạt 30,64 % Môi trường pha loãng gồm Superoxide dismutase, Tris, axit citric, fructoza, lòng đỏ trứng gà, glycerol, penicillin, streptomycin và nước cất

1.2.3 Tình hình chăn nuôi trâu tại tỉnh Tuyên Quang

Tuyên Quang là một tỉnh miền núi, số dân sống dựa và sản xuất nông nghiệp chiếm 78% nên phát triển chăn nuôi nói chung và chăn nuôi trâu nói riêng là một nghề truyền thống lâu đời của nhân dân các dân tộc của tỉnh

Qua số liệu thống kê, số lượng đàn trâu của tỉnh từ năm 2011 đến 2017

có tốc độ giảm bình quân 7,0%/năm; chất lượng đàn trâu trên địa bàn tỉnh ngày càng giảm sút Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khối lượng trung bình của trâu Tuyên Quang khá lớn: trâu đực trung bình đạt 457 kg/con, trâu cái trung bình đạt 394 kg/con Đến nay, khối lượng trung bình của đàn trâu nuôi tại địa phương đã giảm: trâu đực trung bình chỉ còn 371 kg/con, trâu cái trung bình

Trang 32

chỉ còn 354 kg/con Tỷ lệ đẻ của trâu cái sinh sản chỉ đạt 36%/năm Tuy nhiên, vẫn còn những trâu có khối lượng lớn đạt tới 600-700 kg đối với con đực và 450-500 kg đối với con cái

Ở Tuyên Quang, trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa là giống trâu quý, có năng suất và chất lượng thịt cao Tuy nhiên, do thời gian qua nguồn gen trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa đang bị khai thác quá mức bởi nhu cầu của thị trường ngày càng cao, giá trị kinh tế cũng như chất lượng sản phẩm thịt trâu ngày càng được người tiêu dùng lựa chọn Các kết quả nghiên cứu trong thời gian qua cũng cho thấy, việc khai thác nguồn gen trâu có khối lượng lớn nuôi tại Chiêm Hóa hiện nay hầu hết mang tính tự phát, thiếu khoa học, đã gây ra một số vấn đề bất cập Số trâu mang ra chợ bán và sử dụng làm trâu chọi thường là những con trâu to, có sản lượng thịt lớn Số đực giống có ngoại hình cân đối (đạt 500-700kg) hầu như không được chọn giữ làm giống, do tập quán nên người dân thường nuôi nhốt và coi đó như một tài sản có giá trị thể hiện sự giàu có của gia đình mình Số đực khác kém hơn được để lại làm giống và tiêu thụ nội bộ Việc bán hoặc thịt đi một

số lượng trâu có giá trị phẩm giống tốt - kết quả của sự chọn giống ngược đã gây suy thoái chất lượng đàn trâu của địa phương

Như vậy, việc triển khai đề tài "Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang và ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến chất lượng tinh dịch" là một hướng đi đúng, vừa có ý nghĩa khoa học vừa

có ý nghĩa thực tiễn cao Kết quả đề tài sẽ làm tăng năng suất và hiệu quả chăn nuôi cho các hộ dân và các doanh nghiệp chăn nuôi trâu ở địa phương; chắc chắn khối lượng bình quân của nghé thế hệ sau sẽ tăng lên, tương ứng với giá trị kinh tế từ đó được tăng thêm; thời gian chăn nuôi trâu thương phẩm được rút ngắn do có trâu giống tốt; thương hiệu trâu đực giống Chiêm Hóa được khẳng định giúp cho người chăn nuôi có thị trường tiêu thụ ổn định, góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế bền vững

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- 05 trâu đực giống được tuyển chọn từ đàn trâu Chiêm Hóa, được đưa về nuôi tập trung tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi, có khối lượng bình quân 650 kg/con, độ tuổi trung bình 4,5 tuổi

Đàn trâu cái địa phương là trâu đang được nuôi tại huyện Chiêm Hóa và các địa phương lân cận, các trâu cái có khả năng sinh sản bình thường, đã đẻ 1 lứa và chưa được phối giống

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: + Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch trâu (khai thác,

pha chế, bảo quản tinh dịch) tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi miền núi - Viện Chăn nuôi

+ Nghiên cứu khả năng thụ thai của đàn trâu cái nội được phối giống bằng tinh trâu đực giống Chiêm Hóa đông lạnh tại Tuyên Quang và Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/6/2018 đến tháng 31/10/2019

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa

Nghiên cứu ảnh hưởng của cá thể, mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng

và chất lượng tinh dịch của trâu Chiêm Hóa

2.3.2 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ và chất lượng của tinh cọng rạ sau giải đông

Kiểm tra đánh giá chất lượng tinh cọng rạ đông lạnh trâu đực giống Chiêm Hóa và xác định tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu bằng tinh đông lạnh cọng

rạ của các trâu đực Chiêm Hóa với đàn trâu cái địa phương

Trang 34

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu khả năng sản xuất tinh dịch của trâu Chiêm Hóa và ảnh hưởng của cá thể, mùa vụ đến một số chỉ tiêu sản xuất của tinh dịch

- Nghiên cứu khả năng sản xuất, ảnh hưởng của cá thể đến một số chỉ tiêu sản xuất (lượng tinh, phẩm chất tinh) của 5 trâu đực giống Chiêm Hóa được nuôi nhốt và có khẩu phần ăn như nhau

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến một số chỉ tiêu sản xuất (lượng tinh, phẩm chất tinh) của trâu Chiêm Hóa

Mỗi vụ lấy kiểm tra 25 mẫu/trâu Lấy trong 2 vụ (xuân - hạ, thu - đông)

- Mỗi cá thể trâu đực được nuôi trong một ô chuồng riêng với diện tích là 45m2, trong đó gồm 20m2 chuồng có mái che và 25m2 sân chơi không mái, có máng ăn và máng uống riêng cho từng con Quản lý cá thể và phòng bệnh cho đàn trâu được thực hiện nghiêm ngặt, kiểm tra thú y định kỳ 2 lần/năm Trâu đực giống trong nghiên cứu được cho ăn cùng chế độ dinh dưỡng tính sẵn cho từng cá thể theo tiêu chuẩn cơ sở dựa trên tiêu chuẩn của Kearl (1982) Các loại thức ăn thô được ăn tự do gồm có cỏ Alfalfa, cỏ pangola, cỏ ghinê và thức ăn tinh có tỷ lệ protein không nhỏ hơn 16%, nước uống đầy đủ, ngoài ra còn bổ sung khoáng bằng đá liếm

2.4.1.1 Phương pháp khai thác tinh dịch trâu Chiêm Hóa

Thời gian khai thác tinh: từ 7 giờ đến 8 giờ sáng

Tần suất khai thác tinh dịch: 3-4 ngày/lần (2 lần/1 tuần)

- Chuẩn bị âm đạo giả: Các bộ phận của âm đạo giả được khử trùng rồi

lắp ráp và bảo quản trong tủ ấm 420C trước khi lấy tinh

- Chuẩn bị trâu đực: Trâu đực đến ngày khai thác tinh được tắm sạch sẽ

và thụt rửa bao dương vật trước khi khai thác tinh 30 phút bằng nước muối sinh lý 0,9%

- Chuẩn bị trâu làm giá: Chọn trâu làm giá có tầm vóc thích hợp, vệ sinh

cơ thể trâu sạch sẽ và cho vào giá

Trang 35

- Khai thác tinh: Kích thích cho trâu đực hưng phấn rồi cho trâu đực

nhảy trâu giá và lấy tinh bằng âm đạo giả

Mẫu tinh dịch khai thác được đưa ngay vào phòng thí nghiệm và đặt trong bể nước ấm 350C để kiểm tra các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch

2.4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của cá thể mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng của tinh trâu

Các chỉ tiêu nghiên cứu gồm:

* Độ pH của tinh dịch: được xác định bằng giấy đo pH

Dùng đũa thủy tinh lấy 1 giọt tinh dịch nhỏ lên giấy pH và sau 3 giây thì

so sánh màu của giấy với bảng màu chuẩn

* Hoạt lực của tinh trùng (A, %):

Hoạt lực của tinh trùng là tổng số tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch trên vi trường quan sát

Dùng micropipét hút 0,01 ml tinh dịch + 0,09 ml dung dịch A (môi trường pha loãng tinh dịch không có glycerol) rồi nhỏ lên phiến kính chuyên dụng và được giữ ấm ở nhiệt độ 380C Dùng lamen khô, sạch đậy lên giọt tinh sao cho giọt tinh dịch quét đều bốn cạnh của lamen Đưa phiến kính lên soi dưới kính hiển vi với độ phóng đại 200 lần Ước lượng tỷ lệ phần trăm số tinh trùng tiến thẳng so

Trang 36

với tổng số tinh trùng có trong vi trường mà ta quan sát được Việc đánh giá cho điểm được tiến hành theo thang điểm 10 của Milovanov

* Nồng độ tinh trùng (C,tỷ/ml): Trong thí nghiệm này, chúng tôi sử

dụng phương pháp xác định nồng độ tinh trùng bằng buồng đếm Newbower Lắp lamelle kính đã được làm sạch, khô lên mặt buồng đếm Dùng ống pha loãng hồng cầu để hút tinh dịch đến vạch 0,5 sau đó hút tiếp dung dịch NaCl 3% đến vạch 11 Chú ý: không được để có bọt khí trong ống pha loãng hồng cầu trong quá trình hút Nếu có bọt khí phải súc rửa sạch ống pha loãng

và làm lại Bịt hai đầu ống pha loãng bằng ngón tay cái và ngón tay giữa, lắc nhẹ từ 5-6 lần cho tinh dịch trộn đều với dung dịch NaCl Mức độ pha loãng

200 lần Bỏ đi vài giọt dung dịch ở phần ống dưới, nhỏ hỗn hợp này vào trong buồng đếm, đưa lên kính hiển vi có độ phóng đại 200-400 lần để đếm

* Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K, %): được xác định bằng phương pháp của

Chemineau (1991), cụ thể:

+ Phết tiêu bản: Lấy một phiến kính A khô sạch, không có vết xước trên mặt Ghi số hiệu đực giống, ngày kiểm tra ở một đầu phiến kính, lấy một giọt tinh dịch kéo ngang trên phiến kính Đặt chiều rộng lam kính B trùng khít với cạnh ngang tinh dịch và nghiêng phiến kính A một góc 450, kéo xuôi nhẹ một lần sao cho tinh dịch dàn đều trên phiến kính A

+ Cố định: Để phiến kính có tinh dịch dàn đều tự khô trong không khí hoặc hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để tinh trùng dính chặt trên lam kính, cố định 2-3 phút sau đó cho vòi nước chảy nhẹ vào lam kính (tránh tinh trùng bị trôi mất), vẩy khô

+ Nhuộm: Dùng xanh Methylen 5% nhỏ lên phiến kính để trong 5 phút, sau

đó từng giọt nước trôi thật nhẹ nhàng trên lamen bằng nước sạch, vẩy khô

+ Quan sát trên kính hiển vi và đếm: Đặt phiến kính lên kính hiển vi với

độ phóng đại 400 lần, đếm số tinh trùng kỳ hình và tổng số tinh trùng có trong

vi trường

Trang 37

+ Đếm hết tinh trùng trong vi trường này xong mới chuyển sang vi trường khác cho đủ tổng số tinh trùng trong khoảng 300-500 Nếu vi trường

có tinh trùng quá dầy thì chọn vi trường khác để đếm

Công thức tính như sau:

K (%) = Số lượng tinh trùng kỳ hình x 100

500

* Tỷ lệ tinh trùng sống (Sg %): Xác định theo phương pháp của Blom

(1950) , bằng cách nhỏ 1 giọt tinh dịch lên lam kính lõm và 2 giọt Eos5%, đảo nhẹ, sau đó nhỏ 4 giọt Nigrosin 10%, đảo nhẹ, để ấm 370C trong 30 giây Lấy

1 giọt tinh dịch đã nhuộm phết kính dàn mỏng đều đưa lên kính hiển vi với độ phóng đại 400 lần Đếm tổng số 500 tinh trùng gồm cả tinh trùng sống và tinh trùng chết (tinh trùng chết là những tinh trùng bắt màu đỏ Eosin) Tính tỷ lệ tinh trùng sống bằng công thức sau:

Tỷ lệ tinh trùng sống (%) = Số lượng tinh trùng sống x 100

500

lượng của tinh cọng rạ sau giải đông

Các chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch đạt tiêu chuẩn, số lượng tinh sản xuất và số lượng tinh cọng rạ sản xuất đạt tiêu chuẩn được tính toán theo từng cá thể, bằng phép tính số học thường quy sau khi đưa mẫu tinh dịch trâu đạt tiêu chuẩn vào sản xuất tinh đông lạnh

Hoạt lực tinh trùng sau giải đông (%) được xác định sau khi bảo quản tinh đông lạnh 24 giờ, kiểm tra ngẫu nhiên 1 cọng rạ của từng lô tinh cọng rạ của từng lần khai thác tinh đạt tiêu chuẩn của từng trâu đực, giải đông ở nhiệt độ 37°C trong 30 giây, kiểm tra hoạt lực tinh trùng trên kính hiển vi, nếu hoạt lực A ≥ 40% thì đạt tiêu chuẩn

Trang 38

2.4.2.3 Phương pháp đánh giá hoạt lực tinh trùng sau thời gian bảo quản 6 tháng và 12 tháng

Tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ được bảo quản trong ni tơ lỏng

-1960C, được đánh số cá thể, ngày sản xuất và sau thời gian bảo quản 6

tháng-12 tháng được lấy ngẫu nhiên các cọng tinh của mỗi cá thể trâu và tiến hành giải đông tinh ở nhiệt độ 37°C trong 30 giây, kiểm tra hoạt lực tinh trùng trên kính hiển vi và đánh giá hoạt lực A (%) theo phương pháp đánh giá mục

Xác định thời điểm phối giống thích hợp từ thông tin các cá thể trâu, quan sát bằng mắt thường, xác định thời điểm phối giống thích hợp là lúc lúc niêm dịch tiết ra nhiều có màu đục và đặc, kéo dài khó đứt, âm hộ ướt, niêm mạc âm đạo chuyển từ mầu hồng tươi sang mầu tím sẫm Thời gian phối giống thích hợp là khoảng thời gian 10-12h kể từ khi trâu cái bắt đầu chịu đực

Phương pháp phối giống kép: 1 liều vào thời điểm phối giống thích hợp 12h kể từ khi trâu cái bắt đầu chịu đực; phối lặp lại sau 6 giờ kể từ khi phối tinh lần 1

10-Phương pháp pha loãng, phân liều, đóng gói, đông lạnh tinh dịch, sau khi đánh giá các chỉ tiêu (V.A.C) của tinh dịch đảm bảo tiêu chuẩn tiến hành pha loãng tinh dịch đảm bảo nồng độ tinh trùng từ 80-100 triệu tinh trùng/1

Tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu (%) = Số trâu cái có chửa x 100

Tổng số trâu cái phối lần một

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu thu được từ nghiên cứu được xử lý theo phương pháp thông

kê sinh học (Nguyễn Văn Thiện, 2002) trên phần mềm Exel và Minitab 16

Ngày đăng: 11/05/2020, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w