Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa TQ (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Huê Viên
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng cho một học vị nào Mọi sự giúp
đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này được ghi nguồn gốc trong phần phụ lục
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự lỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân, đơn vị và tập thể khác
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể các thầy,
cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Huê Viên người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt thời gian thực tập, giúp tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ, công nhân viên tại trạm chăn nuôi và thú y huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, Ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chăn nuôi Miền núi và
toàn bộ công nhân viên của Trung tâm đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt thời gian
thực tập
Qua đây, tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 11 năm 2019
Tác giả
Phạm Thùy Linh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC BIỂU viii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở di truyền của các tính trạng 3
1.2 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng 4
1.2.1 Khái niệm về sự sinh trưởng 4
1.2.2 Các quy luật sinh trưởng của trâu 5
1.2.3 Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá sinh trưởng 7
1.3 Sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng 7
1.3.1 Đặc điểm hệ sinh sản của trâu 8
1.3.2 Hoạt động sinh dục của trâu đực 8
1.3.3 Hoạt động sinh dục của trâu cái 9
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con trâu 11
1.3.4.6 Tính mùa vụ trong sinh sản của trâu 15
1.4 Khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Chiêm Hóa 16
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 16
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
Trang 51.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Đánh giá hiện trạng đàn trâu nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang 24
2.3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của trâu 24
2.3.2 Đánh giá khả năng sinh sản của trâu 25
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Thực trạng đàn trâu của huyện Chiêm Hóa - Tuyên Quang 29
3.1.1 Số lượng và sự phân bố đàn 29
3.1.2 Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ tại huyện Chiêm Hóa 31
3.1.3 Thực trạng tình hình chăn nuôi đàn trâu tại huyện Chiêm Hóa 33
3.2 Khả năng sinh trưởng của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang 36
3.2.1 Khối lượng và kích thước một số chiều đo của trâu ở các tháng tuổi 36
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của trâu ở các giai đoạn tuổi 41
3.2.3 Sinh trưởng tương đối của trâu ở các giai đoạn tuổi 42
3.2.4 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của trâu Chiêm Hóa 44
3.3 Khả năng sinh sản của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang 46
3.3.1 Khả năng sinh sản của trâu cái 46
3.3.2 Khả năng sinh sản của trâu đực 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CSDT : Chỉ số dài thân CSKL : Chỉ số khối lượng CSTM : Chỉ số tròn mình CSTX : Chỉ số to xương DTC : Dài thân chéo ĐVT : Đơn vị tính
KS : Khảo sát Nxb : Nhà xuất bản
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tuổi thành thục về tính của một số loài gia súc (tháng
tuổi) 11
Bảng 1.2 Tuổi đẻ lứa đầu 12
Bảng 1.3 Nhịp đẻ của trâu 13
Bảng 1.4 Khối lượng sơ sinh của nghé qua 10 lứa đẻ trên 6 trâu cái đẻ 14
Bảng 3.1 Số lượng và sự phân bố đàn trâu qua các năm 29
Bảng 3.2 Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ 31
Bảng 3.3 Nguồn thức ăn sử dụng cho trâu tại các nông hộ 33
Bảng 3.4 Chuồng trại và các biện pháp thú y cho chăn nuôi trâu 35
Bảng 3.5 Khối lượng và kích thước một số chiều đo của trâu 37
Bảng 3.6 Sinh trưởng tuyệt đối của trâu ở các giai đoạn 41
Bảng 3.7 Sinh trưởng tương đối của trâu ở các giai đoạn 43
Bảng 3.8 Một số chỉ số cấu tạo thể hình của trâu Chiêm Hóa 44
Bảng 3.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của trâu cái 47
Bảng 3.10 Khả năng thụ thai 49
Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của trâu đực 50
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU
Hình 3.1: Số lượng và sự phân bố đàn trâu qua các năm 30
Hình 3.2: Quy mô đàn trâu nuôi trong nông hộ 32
Hình 3.3: Khối lượng của trâu ở các tháng tuổi 38
Hình 3.4 Sinh trưởng tuyệt đối của trâu ở các giai đoạn 42
Hình 3.5: Sinh trưởng tương đối của trâu ở các giai đoạn 44
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”, câu châm ngôn từ xa xưa đó đã nói lên đầy
đủ và phong phú sự gắn bó khăng khít giữa con trâu với đời sống người nông dân Việt Nam trên đồng ruộng cùng với nền văn minh lúa nước ở nước ta Người nông dân Việt Nam nuôi trâu chủ yếu để cày bừa làm đất nông nghiệp, cung cấp phân bón cho cây trồng và làm sức kéo cho các ngành vận tải khác Nguồn thức ăn chính của trâu lại là cỏ tươi và các phụ phẩm nông nghiệp như: rơm rạ, thân cây ngô đã thu bắp và dây lang, dây lạc Vì vậy mà người ta thường nói rằng con trâu “ăn giả, làm thật”
Song ngày nay, cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nông nghiệp, vai trò của con trâu trong sản xuất nông nghiệp đã dần dần có sự thay đổi Mặc dù vậy con trâu vẫn là nguồn sức kéo chính trong nông nghiệp ở một số vùng Ngày nay để thích ứng với xu thế phát triển mới trong nông nghiệp
là sản xuất hàng hoá, nông dân đã có sự điều chỉnh về phương thức trong sản xuất nói chung và trong chăn nuôi trâu bò nói riêng Nó đã tăng nguồn thu nhập đáng kể và góp phần thực hiện chủ trương “xoá đói giảm nghèo” của Đảng và Nhà nước
Chăn nuôi trâu là một nghề truyền thống lâu đời của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang nói chung và của huyện Chiêm Hóa nói riêng Ở địa phương, con trâu đã trở thành con vật thân thiết với người nông dân, con trâu
là tài sản quý đối với mỗi người nông dân vì nó không những mang lại giá trị kinh tế cao, vừa cung cấp sức kéo và phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Trong những năm gần đây đàn trâu của địa phương đang có xu hướng phát triển giảm Do đặc điểm tập quán chăn nuôi và công tác quản lý giống trên địa bàn chưa chặt chẽ, việc giao phối tự do dẫn đến tình trạng đồng huyết, cận huyết ngày càng nhiều Đàn trâu của địa phương đang có nguy cơ bị thoái hoá giống nghiêm trọng
Trang 11Để khai thác và phát triển có hiệu quả nguồn gen trâu Chiêm Hóa, việc nghiên cứu để có được các thông tin tổng quát về hiện trạng và tiềm năng của trâu Chiêm Hóa góp phần tích cực nâng cao số lượng và chất lượng đàn trâu
của địa phương, chúng tôi triển khai đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm sinh
trưởng và sinh sản của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang"
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu lâu dài
Xác định được khả năng sản xuất của trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang làm cơ sở cho các nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật góp phần nâng cao
số lượng và chất lượng đàn trâu của địa phương
* Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được của một số đặc điểm sinh trưởng và sinh sản trâu Chiêm Hóa - Tuyên Quang
3 Ý nghĩa của đề tài
Cung cấp những thông tin khoa học về đặc điểm của trâu Chiêm Hóa, góp phần vào việc chọn lọc, khai thác, phát triển tốt nguồn gen vật nuôi quý của Việt Nam
Kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thu được sẽ là nền tảng cơ bản để xây dựng nên các quy trình chọn giống cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y cho đàn giống
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở di truyền của các tính trạng
Cũng như các loài gia súc khác đặc điểm di truyền các tính trạng chất lượng và số lượng ở trâu cũng tuân theo các quy luật di truyền của Mendel Các tính trạng như: Màu sắc lông, da (trắng, đen) là những tính trạng chất lượng, còn các tính trạng như: Tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, nhịp để, tỷ lệ nuôi sống, thuộc nhóm tính trạng số lượng, là những tính trạng do nhiều đôi gen quy định và chịu sự tác động của ngoại cảnh với nhiều mức độ khác nhau
Giá trị kiểu hình của 1 tính trạng được ký hiệu là P (Phenotype)
Giá trị kiểu gen được ký hiệu là G (Genotype) và sai lệch môi trường được ký hiệu bằng E (Environment)
Quan hệ này được biểu thị bằng công thức: P = G + E
Giá trị kiểu gen (G) của giá trị số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ
(Minorgene) cấu tạo thành Đó là các gen có hiệu ứng riêng biệt của từng gen
thì rất nhỏ, nhưng tập hợp nhiều gen nhỏ sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng
nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiện tượng đa gen (Polygen) Các minorgene
này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và át gen Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G = A + D + I Trong đó: G: Giá trị kiểu gen
A: Giá trị cộng gộp D: Giá trị sai lệch trội I: Giá trị sai lệch tương tác
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác định được và di truyền cho đời sau Hai thành phần D và I cũng có vai trò quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con đường thực nghiệm
Trang 13Theo kết quả nghiên cứu của các nhà di truyền học: Những tính trạng có
hệ số di truyền (h2) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng có hệ số
di truyền trung bình Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ số di truyền cao và cho hiệu quả chọn lọc cao
Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở vật nuôi nói chung và ở trâu nói riêng là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu tố môi trường Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn Vì thế trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc có giống tốt có năng suất chất lượng cao cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật
1.2 Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng
1.2.1 Khái niệm về sự sinh trưởng
Sinh trưởng của gia súc là sự tăng kích thước của tế bào mô hay bộ phận đến một hình dáng nhất định Đó là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng hoá và dị hoá của gia súc tạo ra
Sự sinh trưởng được đặc trưng bởi tốc độ sinh trưởng, độ dài sinh trưởng
và được phản ánh chung ở khối lượng, kích thước các chiều đo cơ thể
Sự sinh trưởng (biến đổi về số lượng) cùng với sự phân hoá (biến đổi về chất lượng) đã tạo nên sự phát triển của cơ thể gia súc từ khi nó mới hoàn thành đến lúc chết, sự phát triển này được thể hiện như là kết quả của những mối liên
hệ phức tạp giữa đặc điểm di truyền và điều kiện ngoại cảnh
Sự phát triển của cơ thể nghé cũng như các gia súc khác đều tuân theo quy luật nhất định Tìm hiểu quy luật này, ta có thể chủ động nuôi dưỡng nghé theo giai đoạn để có được những con trâu sau này có những phẩm chất cao và sức sản xuất tốt
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Các quy luật sinh trưởng của trâu
Quá trình phát triển của cơ thể từ khi còn là bào thai đến khi sinh ra, trưởng thành và già cỗi đều tuân theo quy luật tự nhiên của sinh vật
Nhiều tác giả bỏ nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, tìm tòi nhằm mục đích tìm ra các quy luật để từ đó tìm ra các tác động vao từng giai đoạn phát triển của cơ thể gia súc làm cho năng suất sản phẩm vật nuôi tăng lên, phục vụ lợi ích kinh tế của người chăn nuôi, sau nhiều năm nghiên cứu người ta đã tìm
ra quy luật sau:
1.2.2.1 Quy luật sinh trưởng phát triển không đều
Điểm nổi bật nhất trong sự phát triển của cơ thể gia súc là sự sinh trưởng, phát dục không đều Đặc điểm đó thường thể hiện ở sự thay đổi rõ rệt về tốc độ sinh trưởng và cường độ tăng trọng của cơ thể tuỳ theo tuổi Sự phát triển không đều còn thể hiện ở thể vóc, trao đổi chất…
- Thể vóc chủ yếu do hệ cơ và hệ xương tạo nên Trong giai đoạn bào thai mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, còn sau khi sơ sinh tốc độ phát triển của mô xương giảm xuống nh-ng mô cơ lại tăng lên
Ví dụ: Từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi thể trọng bê nghé tăng 16 lần, khối lượng xương tăng 8,7 lần còn cơ tăng 18,6 lần
- Trao đổi chất: Cơ thể non có cường độ tổng hợp protein mạnh Tuổi càng tăng thì khả năng này càng giảm xuống cùng với sự thay đổi cơ cấu của các loại protein ở con vật non nucleoprotein chiếm tỉ trọng lớn, khi tuổi tăng lên cơ thể tích luỹ nhiều các proteit có chức năng đặc hiệu với khả năng tự đổi mới thấp
1.2.2.2 Sinh trưởng theo giai đoạn
Cũng như các gia súc khác, đặc điểm cơ bản sinh trưởng của trâu là quy luật phát triển không đồng đều giữa các giai đoạn và giữa các bộ phận khác nhau trong cơ thể Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, sự phát triển diễn ra nhanh nhất ở thời kỳ mới sinh, sau đó giảm dần đến khi trưởng thành và giảm mạnh khi già Sinh trưởng theo giai đoạn không chỉ là đặc trưng của cơ thể nói chung
mà còn là của từng bộ phận, từng hệ thống cơ quan trong cơ thể
Trang 15Sinh trưởng của gia súc nhìn chung có thể chia làm hai giai đoạn chính như sau:
+ Giai đoạn bào thai (Trong cơ thể mẹ) và giai đoạn sau bào thai (ngoài cơ thể mẹ) Giai đoạn bào thai lại chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ bú sữa và thời kỳ cai sữa Sự tăng trưởng của giai đoạn bào thai chịu ảnh h-ởng nhiều của mẹ, còn giai đoạn sau bào thai chịu ảnh h-ởng nhiều của yếu tố di truyền và ngoại cảnh
Sinh trưởng theo giai đoạn có mối liên hệ mật thiết với sự sinh trưởng của các bộ phận cơ thể ở giai đoạn đầu xương phát triển sớm nhất sau đó đến thịt và mỡ, giai đoạn này xương chiếm tới 30% khối lượng thịt xẻ ở tuổi sơ sinh Giai đoạn tiếp theo cơ thể phát triển mạnh nhất sau đó đến mỡ Ở giai đoạn sau sự tích luỹ tăng lên rõ rệt khi trâu gần đạt đến tuổi thành thục về thể vóc và tăng nhanh khi trưởng thành, giai đoạn này mỡ phát triển nhanh nhất sau đó đến thịt và xương
Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn và các yếu tố ảnh hưởng có một ý nghĩa quan trọng trong chăn nuôi Để thu được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất, người chăn nuôi cần phải hiểu được điều này để từ đó đưa ra các biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhất vào mỗi giai đoạn của vật nuôi
1.2.2.3 Quy luật tính chu kỳ
Sự phát triển cơ thể của gia súc và của từng bộ phận trong cơ thể gia súc qua các thời kỳ có những đặc điểm khác nhau Tính chất không đồng đều của nhịp độ phát triển rất phù hợp với hoạt động hưng phấn và ức chế của hệ thần kinh, với sự đồng hoá dị hoá, có thời kỳ diễn ra mạnh, co thời kỳ yếu của cơ thể, và cũng từ tính chất không đồng đều của hệ thần kinh và quá trình trao đổi chất mà sự sinh trưởng của gia súc chịu ảnh h-ởng cũng đi theo nhịp độ lúc yếu lúc mạnh Biểu hiện rõ nhất là tốc độ tăng trọng lượng của cơ thể Có những thời kỳ đói với gia suc mức tăng trọng hàng ngày cao nhưng sau đó lại thấp Tăng trọng nhiều hay ít chính là do sự cân bằng của quá trình oxy hoá khử trong
sự trao đổi chất có đều hay không Chu kỳ động dục của con cái cũng tuân theo tính chu kỳ sau một thời gian nhất định chu kỳ động dục lại được lặp lại
1.2.2.4 Hiện tượng sinh trưởng bù
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Hiện tượng sinh trưởng bù xảy ra ở một giai đoạn nào đó mà sự phát triển của con vật bị kìm hãm do cung cấp thức ăn hạn chế Sau đó con vật nhận được khẩu phần dinh dưỡng tốt hơn, cường độ sinh trưởng tăng cao, cơ thể không bị
ức chế và đạt khối lượng cùng lúc với những con vật cùng tuổi Đó là hiện tượng sinh trưởng bù
1.2.2.5 Khả năng sinh trưởng của trâu
Khả năng sinh trưởng của trâu ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau Trâu sinh trưởng nhanh vào vài tháng đầu sau khi được sinh ra, sau đó tốc độ tăng trưởng giảm dần Theo Nguyễn Đức Thạc, nghé từ sơ sinh đến 1 năm tuổi trong điều kiện dựa vào sữa mẹ và chăn thả tự nhiên, bình quân đàn nghé tăng trọng 127 - 439g/ngày Nếu bổ sung thức ăn tinh (Cám gạo, khoai sắn ), một ngày tăng trọng 500-600g/ ngày Trong tháng tuổi thứ nhất và thứ 2 có thể tăng trọng 1000g/ngày Theo Lê Đăng Đảnh, thì trâu có tốc độ tăng trưởng khởi đầu trung bình là 650g/ngày, tăng trọng giảm dần xuống còn 300g/ ngày khi trâu được 1 năm tuổi, lúc 2 năm tuổi là 200g/ngày và giảm xuống 100g/ngày khi trâu được 3 năm tuổi
Khả năng sinh trưởng của trâu phụ thuộc vào độ tuổi, khối lượng lúc trưởng thành của giống và cả tính biệt của chúng Trâu Việt Nam thường đạt tầm vóc trưởng thành lúc 6 - 7 tuổi với khối lượng cơ thể trung bình là 300-400kg với trâu cái, trâu đực đạt khoảng 350 - 450 Đặc biệt có những con cái nặng trên 600 và con đực nặng trên 800kg
1.2.3 Một số chỉ tiêu và phương pháp đánh giá sinh trưởng
Để đánh giá khả năng sinh trưởng của trâu chúng ta thường dùng các công cụ xác định khối lượng, kích thước (như: cân, thước đo) Các chỉ tiêu đánh
giá gồm:
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là sự tăng khối lượng, kích thước của các chiều
cơ thể bình quân đạt được trong một khoảng thời gian xác định
- Sinh trưởng tương đối: Là mức tăng trưởng đạt được tính theo tỷ lệ % tăng lên của lần khảo sát sinh trưởng sau so với lần trước đó
1.3 Sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 17Sinh sản là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chăn nuôi đại gia súc Các biện pháp nâng cao sức sinh sản của gia súc đã được quan tâm nghiên cứu nhiều Để tìm ra biện pháp kỹ thuật tác động vào quá trình sinh sản cũng như
áp dụng nó vào thực tế, thì việc đầu tiên là ta phải hiểu được cơ chế sinh lý sinh sản của chúng Với con trâu, nó vừa mang đặc điểm sinh sản chung của loài động vật có vú, lại vừa mang đặc điểm riêng của nó
Trâu thành thục muộn hơn bò Bò 5 tuổi đã thay xong răng sữa, trâu
6 tuổi mới thay xong, là đại gia súc có sừng cấu tạo bộ máy sinh dục và hoạt động sinh dục của trâu và bò nhìn chung giống nhau, tuy vậy có điểm khác nhau
1.3.1 Đặc điểm hệ sinh sản của trâu
Macgregor (1941) đã so sánh cơ quan sinh dục của trâu đực với bò đực
và đã đưa ra nhận xét như sau: So với bò đực thì cơ quan sinh dục của trâu đực kém phát triển hơn Ở trâu, cơ quan sinh dục chiếm 0,22 - 0,25% trọng lượng
cơ thể, tỉ lệ này ở bò là 0,25 - 0,35% Trâu đực có dương vật gắn chặt vào bụng hơn, bao dịch hoàn ngắn và không có cổ ngay cả khi giãn Ở trâu sông mặc dù
có dịch hoàn và bao dịch hoàn lớn hơn và có cổ rõ, nó vẫn nhỏ hơn so với các giống bò Châu Âu Dịch hoàn của trâu nhỏ hơn và nó chỉ được chuyển xuống bao dịch hoàn khi nghé được 6 tháng tuổi Dương vật trâu ngắn, túi tinh dịch
và tiền liệt tuyến nhỏ hơn hẳn so với bò
Ở trâu cái, theo tác giả Hadi và Sane (1965), Luktuk và Rao (1962), Bhalla cùng cộng sự (1964) trích dẫn bởi Tiến Hồng Phúc (2002) thì tử cung trâu ngắn hơn, sừng tử cung uốn khúc nhiều và dày hơn so với tử cung bò Buồng trứng nhỏ hơn, thể vàng màu xám, hơi hồng với các tĩnh mạch đỏ, sau trở thành màu xám, ở bất kỳ giai đoạn nào thể vàng của trâu cũng không có màu vàng Giữa các loại hình trâu, các giống trâu có sự sai khác chút ít ở cấu tạo cơ quan sinh dục
1.3.2 Hoạt động sinh dục của trâu đực
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nghé đực 3 - 4 tháng đã có phản xạ nhảy (nhảy ôm lên những con nghé khác) 1 năm tuổi đã theo riết những trâu cái động hớn, biết chồm lên cái và làm động tác giao phối nhưng lúc này dương vật chưa nhú ra khỏi đầu bao dương vật hoặc có thể nhú ra nhưng rất ít Một năm rưỡi nghé đực đã có khả năm giao phối với cái Theo Nguyễn Đức Thạc (2006), kiểm tra tinh dịch nghé đực tại trại Ngọc Thanh thấy 18 tháng tuổi nghé đã có tinh trùng đầy đủ, có nghĩa là, nếu giao phối có thể thụ thai được Tuy nhiên lượng tinh trùng của trâu phóng
ra thường ít hơn bò, một lần phóng tinh trâu cho 3CC và mật độ tinh trùng trong 1CC thường trên dưới 1 tỉ Số liệu này ở bò thường 4 - 5CC và mật độ tinh trùng 1 - 1,5 tỉ trong 1CC
Như vậy 18 tháng tuổi nghé đực đã có thể nhảy cái nhưng phải trên 2 tuổi chất lượng tinh mới tốt Khả năng truyền giống tốt nhất của trâu đực vào tuổi từ 3 - 6 Nuôi dưỡng và sử dụng hợp lý, trâu đực 10 tuổi vẫn nhảy tốt Nuôi dưỡng thiếu, sử dụng không hợp lý, trâu đực 9 tuổi, sức nhảy đã kém
1.3.3 Hoạt động sinh dục của trâu cái
Trâu cái có hoạt động sinh dục mang tính chu kỳ, ta gọi là chu kỳ tính Chu kỳ tính của trâu trung bình là 21 - 22 ngày và biến động trong khoảng 15-
35 ngày và được chia làm các giai đoạn:
Thứ nhất: giai đoạn trước động dục Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục ở giai đoạn này trứng phát triển và chín Cuối giai đoạn này noãn bào chín và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Song song với quá trình ấy còn có những biến đổi ở đường sinh dục để tạo điều kiện thuận lợi cho tinh trùng sống, thụ thai và sự làm tổ của hợp tử sau khi thụ thai
Thứ hai: giai đoạn động dục ở trâu thường có biểu hiện động dục thầm lặng Chỉ một số ít có những biến đổi về tâm, sinh lý Khi đó con vật có biểu hiện tâm lý hưng phấn như: bỏ ăn, ngơ ngác, bỏ đàn, chạy đi tìm đực, trên bãi chăn có nhiều trâu đực theo Cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi như: Âm hộ sung huyết, căng mẩy, niêm mạc âm đạo trơn bóng láng, niêm dịch chảy nhiều
và dính vào hai bên mông
Giai đoạn này trâu có thời kỳ hưng phấn cao độ – thời kỳ chịu đực Theo
Trang 19tác giả Mai Văn Sánh (kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật chăn nuôi 1994 -
1995 viện chăn nuôi, trang 174) thì trâu cái Murrah có thời gian chịu đực khoảng 18,3 ± 3,01 giờ Vào thời kỳ này trâu cái chịu đực, khi có trâu đực tới trâu cái đứng im, cong đuôi, dạng chân chuẩn bị tư thế giao phối Đồng thời lúc này cổ tử cung của trâu mở to nhất, cuối giai đoạn động dục xung huyết, hưng phấn giảm dần, cổ tử cung khép dần lại Tỷ lệ trâu có sự thay đổi về tính tình như trên chỉ chiếm khoảng 28%, còn lại là có biểu hiện động dục thầm lặng Đây là nguyên nhân chính làm cho tỷ lệ sinh sản của trâu đạt thấp Trứng được rụng trong giai đoạn này và nếu được phối giống đúng thời điểm trứng sẽ được thụ tinh Chu kỳ của trâu dừng ở giai đoạn này, gia súc bước vào giai đoạn mang thai Nếu trứng không được thụ thai, chu kỳ tính của trâu bước sang giai đoạn tiếp theo
Trong thực tiễn sản xuất, nông dân ta có rất ít kinh nghiệm phát hiện trâu cái động dục và điều này đã làm cho năng suất sinh sản của đàn trâu đạt thấp Các nhà khoa học đã đề ra nhiều phương pháp phát hiện trâu cái động dục như:
sử dụng đực thí tình, đo điện trở âm đạo, quan sát niêm dịch Mặc dù vậy khả năng áp dụng các biện pháp ấy vào thực tiễn sản xuất còn hạn chế
Thứ ba: giai đoạn sau động dục Giai đoạn này con trâu dần trở về trạng thái bình thường Cơ quan sinh dục của trâu không còn sung huyết, cổ tử cung đóng lại, trâu ăn uống bình thường Thể vàng hình thành và bắt đầu hoạt động tiết hoóc môn Cơ quan sinh dục dần bước sang giai đoạn nghỉ ngơi
Thứ tư: giai đoạn nghỉ ngơi Nhờ hoạt động của thể vàng, hệ sinh dục của trâu ở tình trạng nghỉ ngơi hoàn toàn, tạo điều kiện cho nó bình phục và chuẩn bị chu kỳ hoạt động mới Cuối giai đoạn này, thể vàng tiêu biến, hoóc môn LH, FSH từ tuyến yên được giải phóng và nó tác động thúc đẩy buồng trứng hoạt động Hoạt động sinh dục bước sang chu kỳ tiếp theo Khi đã mang thai thể vàng sẽ tồn tại suốt quá trình mang thai và nó chỉ tiêu biến trước khi gia súc đẻ một thời gian
Trong các giai đoạn của chu kỳ tính, giai đoạn động dục có ý nghĩa quan
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
trọng nhất và thời kỳ chịu đực là có ý nghĩa nhất Đã có nhiều công trình nghiên cứu xác định thời điểm phối giống thích hợp cho trâu Theo Mai Văn Sánh (1996) thì phối giống cho trâu vào cuối thời kỳ chịu đực và sau khi kết thúc chịu đực 0 - 4 giờ cho tỷ lệ thụ thai cao nhất
1.3.4 Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất của con trâu
1.3.4.1 Tuổi thành thục về tính
Tuổi thành thục về tính là khoảng thời gian được tính bằng ngày, tháng tuổi mà ở đó gia súc bắt đầu có hoạt động sinh dục và có biểu hiện muốn giao phối lần đầu Đây được xem là một chỉ tiêu đánh giá tính mắn đẻ của giống Gia súc nói chung là có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Chính vì thế mà mặc dù đã có khả năng hoạt động sinh sản ở tuổi thành thục về tính, nhiều tác giả vẫn cho rằng không nên sử dụng chúng ngay Nếu ta sử dụng trâu đực ngay ở thời điểm này, chất lượng tinh dịch sẽ kém, dẫn tới tỷ lệ thụ thai thấp, sức sống của đàn con sinh ra kém và thời gian sử dụng trâu đực bị giảm sút Với trâu cái, nếu được phối giống và mang thai vào thời điểm này thì tỷ lệ sảy thai sẽ cao hơn, tỷ lệ đẻ khó tăng lên, sản lượng sữa thấp, con non sinh ra yếu, sinh trưởng chậm và khả năng làm việc của trâu giảm xuống Tuy nhiên, nếu phối giống cho trâu quá muộn sẽ làm cho năng suất sinh sản vốn có của trâu cũng như khả năng tiết sữa của trâu bị giảm sút Các ý kiến cho rằng: phối giống cho trâu tốt nhất là vào lúc nó đạt 70% khối lượng trưởng thành
Tuổi thành thục về tính của trâu phụ thuộc vào loại hình, giống trâu và đặc biệt là chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng nghé trước và sau khi tách mẹ
Theo tác giả Mai Văn Sánh (1996) thì trâu Murrah nuôi tại Sông Bé - Việt Nam có tuổi thành thục sinh dục là 33,81 tháng
Nguyên Đức Thạc (1977) cho biết trâu cái F1 (Murrah x Nội) có tuổi thành thục về tính sớm hơn trâu thuần, trung bình là 34 tháng tuổi Như vậy trâu là loài gia súc có tuổi thành thục về tính muộn hơn so với các loài gia súc khác
Bảng 1.1 Tuổi thành thục về tính của một số loài gia súc (tháng tuổi)
Trang 21Loài gia súc Con đực Con cái
giống
Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về chỉ tiêu sinh sản này của trâu và
đã có các công bố khác nhau về vấn đề này Tác giả Sethi và cộng sự (1996) qua theo dõi 615 trâu Murrah từ năm 1971 - 1994 kết luận rằng: tuổi đẻ lứa đầu trung bình của chúng là 52,9 tháng Còn Ashfag (1954) lại cho biết tuổi đẻ lứa đầu của trâu ấn Độ là 48 tháng, ở Pakistan là 47 tháng (dao động từ 32 - 70 tháng) Khire và cộng sự (1977) trích dẫn bởi Nguyễn Đức Thạc (1983) nghiên cứu trên giống trâu Nagpuri của ấn Độ cho thấy tuổi đẻ lứa đầu của giống trâu này là 1634 ngày tương đương với khoảng 53 tháng
Ở Việt Nam Nguyễn Đức Thạc và cộng sự (1985) đã theo dõi trên đàn trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thanh cho biết, tuổi đẻ lứa đầu củ trâu là 43 tháng Mai Văn Sánh cũng cho biết, tuổi đẻ lứa đầu của trâu Murrah là 45,21 tháng, còn trâu lai F1 (Murrah x cái Nội) là 49,1 tháng Nguyễn Văn Thanh (1995) cho biết tuổi đẻ lứa đầu của trâu miền Bắc Việt Nam tập trung vào giai đoạn 49
- 60 tháng tuổi (59,3%)
Lê Viết Ly, Lê Tư, Đào Lan Nhi (1994) cho biết tuổi đẻ lứa đầu và tỷ lệ
đẻ của trâu ở một số xã miền núi tỉnh Tuyên Quang như sau:
Bảng 1.2 Tuổi đẻ lứa đầu
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tổng số 3 - 4 tuổi 4 - 5 tuổi 5 - 6 tuổi > 6 tuổi
524 57 10.8 178 33.9 177 33.7 112 1.3
1.3.4.3 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Đây là chỉ tiêu được tính bằng khoảng thời gian từ khi trâu đẻ lứa trước tới khi đẻ lứa tiếp theo Nó là chỉ tiêu quan trọng đánh giá năng suất sinh sản của trâu Chỉ tiêu này phụ thuộc thời gian mang thai và thời gian phối lại sau khi đẻ Trong đó, thời gian mang thai là đặc trưng của loài và
ít biến động Chính vì thế khoảng cách lứa đẻ chủ yếu phụ thuộc thời gian phối lại sau khi đẻ và kết quả phối giống Tức là phụ thuộc nhiều nhất vào chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng và khả năng phát hiện động dục cũng như kỹ thuật phối giống
Đã có nhiều công bố nghiên cứu về chỉ tiêu này trên con trâu Alim và Ahmed (1954) cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ của trâu là 550 ± 25,6 ngày Ishap và Shah (1975) trích dẫn bởi Tiến Hồng Phúc (2002) công bố chỉ tiêu ấy trên trâu NiLi - RaVi nuôi tại Pakistan là 524 ngày Theo Nguyễn Đức Thạc và Nguyễn Văn Vực (1985) thì trâu Murrah nuôi tại Ngọc Thanh có khoảng cách lứa đẻ là 632 ngày
Theo Lê Viết Ly, Lê Tư, Đào Lan Nhi (1994) cho biết khoảng cách giữa hai lứa đẻ của trâu Tuyên Quang như sau:
Trang 23Nuôi dưỡng tốt, đủ đực giống, cho phối kịp thời, bình quân một trâu cái cho 8 – 9 nghé Tại trại Ngọc Thanh, nhiều trâu cái 15 - 16 tuổi cho 10 - 11 nghé Trong nhân dân có trâu cái 22 tuổi đẻ được 17 nghé (Lạng Sơn) hoặc 15 nghé (Thanh Hoá, Tuyên Quang)
Nhưng trong thức tế, qua điều tra 3247 trâu cái ở Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thanh Hoá, đa số chỉ đẻ 5 - 6 nghé, số đẻ 8 - 9 con rất ít Lý do là trâu 4 -
5 tuổi mới đẻ, 15 - 16 tuổi đã loại và nhịp đẻ bình quân chỉ 2 năm một lứa, hoặc dài hơn
Sức đẻ của trâu tốt từ lứa 3 duy trì tới lứa 7 - 8, sau đó giảm dần Như vậy, nên lấy đến tuổi 13 - 14 Tuổi sử dụng này tăng hay giảm phụ thuộc vào điều kiện nuôi dưỡng tốt hay xấu
Theo dõi khối lượng sơ sinh nghé qua 10 lứa đẻ trên 6 trâu cái, có số liệu sau
Bảng 1.4 Khối lượng sơ sinh của nghé qua 10 lứa đẻ trên 6 trâu cái đẻ
Tuổi mẹ (năm, tháng) 3,4 4,8 6,2 7,8 9,4 10,8 12 13,4 14,9 16,3 Bình quân trọng lượng
27
30,3 33,2
29
32,5
39 28,5
30,4 36,3
1.3.4.5 Nhịp đẻ và tỉ lệ đẻ
Đẻ nhiều hay ít, mau hay thưa do đặc điểm sinh lý và tác động của ngoại cảnh quyết định Trâu đẻ thưa hơn bò Nuôi dưỡng tốt, đẻ mau hơn,
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ở trâu ta, phân ra 3 loại nhịp đẻ: nhịp đẻ mau (đẻ năm một nghé hoặc hai năm rưỡi đôi), nhịp đẻ trung bình (ba năm đôi), nhịp đẻ thưa (hai năm và trên hai năm một nghé)
Nhịp đẻ mau hay thưa quyết định tỉ lệ đẻ cao hay thấp của đàn trâu hàng năm
Tính tỉ lệ đẻ cũng có cách khác nhau, ở đây chúng ta tính tỉ lệ đẻ của trâu hàng năm theo cách lấy số trâu cái đẻ trong năm chia cho tổng số trâu cái đến tuổi đẻ
Qua điều tra trên 5 tỉnh miền Bắc (Yên Bái, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Nghệ An), trong 17 điểm với 6055 trâu cái từ 2 răng hoặc 5424 trâu cái từ 4 răng cho thấy:
- Tỷ lệ đẻ của trâu bình quân là 43% nếu tính trên trâu từ 2 răng và 48% nếu tính từ trâu cái từ 4 răng
- Vùng có tỉ lệ đẻ cao là 57 - 63,39% như vùng Hưng Nguyên, Thanh Chương, Thạch Thành, Hàm Yên; cùng có tỉ lệ đẻ thấp, dưới 45% như vùng Lộc Bình, Ôn Châu, Tràng Định, Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá
Tuy vậy, nơi có đồng cỏ tốt, có tập quán nuôi trâu sinh sản, thì trâu có nhịp
đẻ mau nhiều hơn và tỉ lệ đẻ hàng năm cao hơn Ví dụ xã Thành Trực (Thạch Thành - Thanh Hóa), xã Vĩnh Yên (Lục Yên - Yên Bái), nhịp đẻ mau chiếm 45 - 55% và bình quân một trâu cái 2 năm rưỡi đến 3 năm cho 2 nghé
1.3.4.6 Tính mùa vụ trong sinh sản của trâu
Hoạt động sinh sản của trâu đực diễn ra liên tục, không mang tính chu
kỳ và tính thời vụ Tuy nhiên chất lượng tinh dịch của trâu có sự khác nhau giữa các mùa trong năm Vào mùa thu chất lượng tinh dịch của trâu là tốt nhất
Đó là do ảnh hưởng của nguồn thức ăn tốt, dồi dào trong mùa hè
Với trâu cái thì hoạt động sinh sản mang tính thời vụ rất rõ ràng Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này và các tác giả đã chỉ ra rằng trâu cái thường động dục vào mùa Đông, Xuân và đẻ nhiều nhất vào mùa Thu, Đông
Trang 25Theo Rife (1959) thì vào những tháng nóng nực trâu cái thường không động dục, Villegas (1958) chỉ ra rằng hoạt động sinh dục thường xảy ra mạnh vào các tháng mùa mưa, mát mẻ và vì thế trâu ở Philippin có khuynh hướng sinh sản theo mùa rõ ràng
Tác giả Mai Văn Sánh (1996) cũng chỉ ra rằng trâu Murrah nuôi tại Sông Bé động dục tập trung vào thời gian từ tháng 10 tới tháng 3 năm sau (70,27%) và chúng đẻ nhiều vào các tháng mùa Thu và Đông Cũng có nhiều tác giả cho rằng vụ đẻ có ảnh hưởng tới khoảng cách lứa đẻ của trâu
Những trâu đẻ vào mùa mưa (tháng 7 - 10) hàng năm có khoảng cách lứa
đẻ ngắn hơn (461 ngày), nếu đẻ vào mùa hè nóng nực thì khoảng cách ấy là
529 ngày
1.4 Khái quát điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội của huyện Chiêm Hóa
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1 Vị trí địa lý
Chiêm Hoá là huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Tuyên Quang Phía Đông, Đông - Bắc giáp huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn) và huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang); phía Tây - Bắc giáp huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang); phía Tây- Nam giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang); phía Nam giáp huyện Yên Sơn, phía Bắc giáp huyện Lâm Bình Huyện lỵ đặt tại thị trấn Vĩnh Lộc, cách trung tâm tỉnh Tuyên Quang 67 km Diện tích cả huyện là 127.882,3ha, trong đó có 14.965,19 ha đất sản xuất nông nghiệp và 105.126,2 ha đất lâm nghiệp Toàn huyện có 378 thôn, tổ nhân dân, dân số trên 132.000 người với 18 dân tộc cùng chung sống, mật độ dân số trung bình là 102 người/km2
1.4.1.2 Điều kiện khí hậu
Chiêm Hoá thuộc vùng khí hậu nhiệt đới thấp, được phân chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, thường có nhiều mưa và mưa rào tập trung từ tháng 5 đến tháng 8, mùa này thường hay xẩy ra lũ lụt; mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau, thường có gió mùa Đông Bắc, sương mù và sương muối
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Sông, suối của Chiêm Hoá có độ dốc cao, hướng chảy khá tập trung, các con suối, ngòi đều đổ dồn về sông Gâm và sông Lô Con sông lớn nhất là sông Gâm, bắt nguồn từ Trung Quốc, chảy qua tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, huyện Na Hang, chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km và là đường thuỷ duy nhất nối huyện với tỉnh lỵ Tuyên Quang và các tỉnh trung du, đồng bằng Bắc Bộ Cùng với các con suối lớn, nhiều khe nhỏ tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú, cung cấp nước, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân và là con đường giao thông, vận tải khá quan trọng
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
1.4.2.1 Tiềm năng kinh tế
Chiêm Hóa có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, như quặng mangan, quặng ăngtimoan; các mỏ đá vôi, cát sỏi lòng sông, mỏ đất sét với trữ lượng lớn, chất lượng tốt; nguồn nước tự nhiên dồi dào tạo nguồn thủy năng tốt cho phát triển thủy điện vừa và nhỏ… Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện khá lớn, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng như lạc, mía, cam… Cùng với đó là thế mạnh về lâm nghiệp Hàng năm, huyện trồng mới trung bình trên 2.000 ha, khai thác trung bình 115 nghìn m3 gỗ phục
Trang 27vụ cho các nhà máy chế biến lâm sản, cung cấp nguyên liệu cho phát triển tiểu thủ công nghiệp, hàng thủ công mỹ nghệ, góp phần xóa đói giảm nghèo
Huyện Chiêm Hóa còn có tiềm năng phát triển kinh tế du lịch nhờ có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh thắng, di sản văn hóa được xếp hạng Toàn huyện có 145 di tích, trong đó có 47 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 67 di tích được xếp hạng cấp tỉnh Đặc biệt, huyện có Cụm công nghiệp An Thịnh với diện tích 78 ha, nằm hai bên trục đường ĐT 190, cách thị trấn huyện lỵ 8
km, rất thuận lợi về giao thông
Kinh tế của huyện tập trung phát triển nông, lâm nghiệp, thủy sản là thế mạnh; bên cạnh đó sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, phát triển du lịch trong những năm gần đây được huyện phát huy lợi thế để đẩy mạnh phát triển Dự kiến đến hết năm 2018, thu nhập bình quân toàn huyện đạt 27,05 triệu đồng/người
1.4.2.2 Văn hoá, xã hội
Đời sống văn hoá của nhân dân các dân tộc khá phong phú, từ xa xưa đã sớm biết tạo nên những đường nét hoa văn tinh xảo, thể hiện trình độ nghệ thuật cao trên trang phục và các đồ trang sức Vào các ngày lễ, tết, đồng bào thường
tụ họp theo làng, bản cùng nhau ném còn, hát then, hát cọi Những điệu hát chứa đựng nhiều nội dung phong phú, trong sáng và đầy sức thuyết phục của một nền nghệ thuật văn hoá dân tộc giầu sức sống Ngày nay, cứ vào ngày mùng
8 tháng Giêng âm lịch hàng năm, Lễ hội Lồng Tông lại được tổ chức tại trung tâm huyện với nhiều loại hình văn hoá, thể thao đã thực sự trở thành ngày hội văn hoá của nhân dân các dân tộc trong huyện
1.5 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Tổng cục thống kê năm 2016, tổng đàn trâu cả nước ước tính khoảng 2.519.411 con Nhìn tổng thể, trong những năm gần đây, tổng đàn trâu có xu hướng giảm Số liệu thống kế cho thấy, đàn trâu của nước ta năm 2011 là
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2.712.025 con, năm 2012 là 2.627.813 con (giảm 3,1% so với năm 2001), năm 2013 là 2.559.539 con (giảm 2,6% so với năm 2012), năm 2014 là 2.511.909 con (giảm 1,86% so với năm 2013), năm 2015 là 2.523.660 con (tăng 0,47%
so với năm 2014) và năm 2016 là 2.519.411 con (giảm 0,19% so với năm 2015)
Số lượng đàn trâu phân bố không đều: vùng trung du miền núi phía Bắc ước tính khoảng 1,415 triệu con, chiếm 56,14% tổng đàn, tiếp đến là vùng Bắc trung
bộ và Duyên hải miền Trung chiếm 32,15%, còn lại các vùng khác đều chiếm
tỷ lệ thấp: Đồng bằng sông Hồng 5,39%, Tây nguyên 3,63%, Đông Nam bộ 2,07% và Đồng bằng sông Cửu long 1,52% tổng đàn (Tổng cục thống kê, 2016)
Đặc điểm chung của trâu nội ở các địa phương nước ta là tầm vóc nhỏ, sinh trưởng chậm và thành thục muộn Khối lượng trưởng thành của trâu nội thấp: trâu đực 400-450 kg/con; trâu cái 330-350 kg/con Do chăn nuôi trâu không được đầu
tư đúng mức và công tác giống chưa được quan tâm đúng mức, nên tầm vóc trâu
có xu hướng giảm: Từ năm 1985 đến năm 2000, tầm vóc của trâu đực đã giảm 11,3% (từ 476 kg/con xuống còn 422,3 kg/con) và trâu cái giảm 14,6% (từ 406 kg/con xuống còn 346,5 kg/con) (Cục Chăn nuôi, 2010) Đây là vấn đề rất đáng báo động về tình trạng suy thoái giống trâu Việt Nam
Chăn nuôi trâu hiện nay chủ yếu vẫn theo phương thức truyền thống, quảng canh, tận dụng sản phụ trong nông nghiệp để lấy sức kéo và phân bón Quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán trong nông hộ, sử dụng thức ăn tận dụng (cỏ tự nhiên trên bờ đê, bờ ruộng, rơm rạ và một số vùng có sử dụng thức ăn ủ xanh, ủ urê ) và lao động phụ trong gia đình (chiếm 90% ở vùng đồng bằng) Chăn nuôi trang trại với quy mô trên 10 trâu sinh sản chỉ tập trung ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang), Bắc Trung Bộ (Nghệ An, Thanh Hóa) và phía Nam (Bình Phước, Long An, Tây Ninh)
Công tác điều tra đánh giá thực trạng tình hình phát triển chăn nuôi trâu
đã được nhiều tác giả thực hiện Vũ Duy Giảng và cs (1999) đã điều tra về khối
Trang 29lượng trâu đực, cái ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội) và Phổ Yên (Thái Nguyên) Mai Văn Sánh (2008) điều tra hiện trạng đàn trâu ở một số địa phương đại diện cho các vùng trong cả nước
Một số tác giả khác cho biết: Trâu Việt Nam có tuổi đẻ lứa đầu dưới 4 năm tuổi là 10,8%, trên 6 năm tuổi là 21,5% (Lê Viết Ly và cs., 1994), trung bình 49 tháng (Mai Văn Sánh và cs., 1995) và trâu đẻ lứa đầu tập trung vào 4-
5 tuổi Mai Thị Thơm (2003) cho biết, trâu ở thị xã Sông Công (Thái Nguyên)
có tuổi đẻ lứa đầu của trâu chủ yếu là 3–4 năm tuổi, chiếm 46,72% và 4 -5 tuổi chiếm 29,51% Nguyễn Đức Thạc (1983) cho biết, đàn trâu của trại thí nghiệm trâu Ngọc Thanh có khoảng cách giữa hai lứa đẻ từ 12–15 tháng là 21,51%; 16–18 tháng là 37,13%, và trâu có khoảng cách giữa hai lứa đẻ trên 19 tháng là 39,54% Nguyễn Quang Tuyên và cs (2006) cho biết, đàn trâu ở các huyện Định Hóa, Đại Từ, Võ Nhai (Thái Nguyên) có khối lượng giảm so với trước đây; trâu cái có khoảng cách giữa 2 lứa đẻ khá thưa: 23,54% trâu cái có khoảng cách lứa
đẻ 12-15 tháng, 31,27% trâu có khoảng cách lứa đẻ 16-18 tháng; 25,96% trâu
có khoảng cách lứa đẻ 19-24 tháng và 19,23% trâu có khoảng cách lứa đẻ trên
24 tháng
Trâu đầm lầy có kết cấu ngoại hình với mục đích kéo cày là chủ yếu Màu đặc trưng màu tro sẫm, lông thưa, da dày khô Đại bộ phận có vạch loang cắt ngang qua phía dưới cổ họng và một hình chữ V thấp hơn chạy ngang qua phía trên ngực Ít khi có trâu màu trắng Đầu to ngắn, sừng dài, đen, nhọn và cong về phía sau; mắt sâu, lông mi dài; tai to, rộng, bên trong có nhiều lông; cổ dài thẳng, có nhiều nếp nhăn; vai vạm vỡ khỏe mạnh; ngực lép; bụng to tròn; lưng dốc về phía sau Mông thường phát triển tốt; đuôi ngắn; vú nhỏ và lùi về phía sau
Trâu Ngố: Có nguồn gốc ở miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc như vùng Lục Yên thuộc Yên Bái, vùng Hàm Yên thuộc Tuyên
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Quang và huyện vùng cao Chiêm Hóa, Tuyên Quang vốn nổi tiếng có giống trâu ngố vóc dáng to, khỏe Giống trâu ngố Lục Yên là giống trâu tốt, có tầm vóc to, khỏe
Trâu cái có khả năng giao phối lúc khoảng từ 30- 36 tháng tuổi, tuổi đẻ lứa đầu khoảng 4 năm tuổi Chu kỳ động dục của trâu 22- 25 ngày Thời gian mang thai 320 -325 ngày Thời gian động dục lại sau đẻ khoảng sáu tháng, nhịp
đẻ thường 3 năm 2 nghé hoặc 2 năm 1 nghé Mùa sinh sản của trâu tập trung chủ yếu từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau
* Khả năng sinh sản của trâu đực: Trâu đực có khả năng giao phối lúc
3 năm tuổi, thời gian sử dụng tốt nhất là 4-6 năm tuổi, càng về sau tuy trâu vẫn còn khả năng giao phối nhưng tính hăng và kết quả phối giống sẽ giảm dần Mỗi lần phóng tinh trâu đực xuất 3-4ml tinh dịch, hoạt lực 70-80%, nồng độ 0,8-1 tỷ/ml Khả năng phối giống của trâu đực phụ thuộc vào cá thể, mùa vụ, điều kiện nuôi dưỡng và sử dụng
Cho phối giống khi trâu đực giống đạt ≥ 36 tháng tuổi, thời gian sử dụng không quá 6 năm, với phương thức chăn thả sau 3 năm phải chu chuyển khỏi vùng Bố trí mỗi trâu đực giống phụ trách 40-50 trâu cái sinh sản, phối giống đạt 20 trâu cái có chửa/năm Số lần phối giống tốt là 2-3 lần trong một tuần, nếu nhiều hơn thì phẩm chất tinh sẽ kém và tỷ lệ thụ thai thấp hơn
* Khả năng sản xuất của trâu cái: Trâu cái có tuổi động dục lần đầu lúc
3 tuổi, lúc đó khối lượng cơ thế mới đạt 70-75% khối lượng lúc trưởng thành Tuổi đẻ lứa đầu của trâu là khoảng 4 tuổi, khối lượng cơ thể đạt 80-85% khối lượng lúc trưởng thành Chu kỳ động dục của trâu dao động khá lớn, từ 15-35 ngày, thời gian kéo dài động dục là 15-20 giờ và phần lớn trâu cái biểu hiện động dục không rõ ràng (động dục ngầm) Thời gian mang thai của trâu nội là 320-325 ngày Thời gian động dục lại sau khi đẻ 6 tháng, dẫn đến nhịp đẻ thường 3 năm 2 nghé hoặc 2 năm 1 nghé Trâu là động vật đơn thai, rất ít trường
Trang 31hợp sinh đôi (dưới 1%) Sự sinh sản của trâu mang tính mùa vụ khá rõ rệt, trâu động dục tập trung vào mùa thu đông (từ tháng 8 đến tháng 2 dương lịch năm sau), còn mùa hè nóng nực thì tỷ lệ động dục rất thấp
* Khả năng sinh trưởng: Nguyễn Công Định (2012) cho biết, kết quả
điều tra đàn trâu địa phương ở 3 tỉnh thành Hà Nội, Hưng Yên và Nghệ An cho thấy, trâu đực ở 24 tháng tuổi có khối lượng trung bình đạt 234,79kg, ở
36 tháng tuổi có khối lượng trung bình đạt 301,43kg và trâu đực trưởng thành
có khối lượng trung bình đạt 385,52kg Tác giả sử dụng trâu đực khối lượng lớn phối với trâu cái tơ đã được cải tạo qua 2 thế hệ, kết quả cho thấy trâu đực thế hệ 2 có khối lượng trung bình đạt 271,68kg ở 24 tháng tuổi và 346,79kg
ở 36 tháng tuổi
1.5.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Chăn nuôi trâu trên thế giới ngày càng được phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của thị trường Tốc độ tăng đàn bình quân của đàn trâu trên thế giới tính từ năm 2004 đến năm 2011 là 1,05% Số lượng trâu thế giới năm 2004 là 174 triệu con, năm 2009 là 190 triệu con, năm 2010 là 193 triệu con và năm 2011 là 195 triệu con (FAO, 2013) Số lượng trâu này được phân
bố ở 50 quốc gia, tập trung chủ yếu ở châu Á (97,07%), ở châu Phi (gần 2,12%),
ở châu Âu (khoảng 0,18 %) và ở châu Mỹ (khoảng 0,62%) Năm 2011, quốc gia có số lượng trâu lớn nhất là Ấn Độ (57,82% tương ứng với 112,91 triệu con), sau đó đến Pakixtan (16,25% tương ứng 31,73 triệu con) và Trung Quốc (11,97% tương ứng với 23,38 triệu con), sau đó là các nước Nê Pan, Ai Cập, Philippin, Indonexia, Myanma và Việt Nam, trong đó số lượng trâu của Việt Nam chiếm 1,39% tương ứng 2,71 triệu con và đứng thứ 8 trên thế giới (FAO, 2013)
Trâu đầm lầy thường có tầm vóc nhỏ hơn và khả năng sản xuất kém hơn khi so sánh với trâu sông và được nuôi chủ yếu tại các nước Đông Nam Á
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
(Presicce, 2007) Ở đây, chúng được sử dụng chủ yếu để cung cấp sức kéo và nguồn thịt cho nhu cầu địa phương, và chúng có khả năng thích nghi tốt với việc
sử dụng thức ăn thô xanh và được nuôi tại các khu vực miền núi xa xôi
Ở Pakistan con trâu đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế nông nghiệp Trâu cũng là một nguồn thịt quan trọng (Suhail và cs., 2009) Ở Pakistan, đánh giá khối lượng cơ thể trâu cũng rất cấn thiết để tính toán nhu cầu thức ăn, theo dõi tăng trưởng, xác định tuổi sinh sản
Khối lượng cơ thể phụ thuộc vào di truyền khác nhau và nhân tố môi trường; kích thước cơ thể và các đặc điểm hình thái khác cũng có liên quan với năng suất (Shankar và Mandal, 2010) Các phép đo hình thái rất đơn giản
và dễ dàng tiến hành và cho phép ước tính động vật BW với độ chính xác hợp
lý Tuy nhiên, những cách xác định dễ bị lỗi trong các điểm tham chiếu và có thể bị sai lệch do biến dạng giải phẫu của động vật (Sowande và Sobola, 2008)
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn trâu nuôi tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Địa điểm nghiên cứu: Tại 6 xã là Yên Nguyên, Hòa Phú, Vinh Quang, Phúc Thịnh, Tân Thịnh và Vĩnh Lộc thuộc huyện Chiêm Hóa
- Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ tháng 07 năm 2018 đến tháng 06 năm 2019
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng đàn trâu nuôi tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn trâu nuôi tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá khả năng sinh sản của đàn trâu nuôi tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá hiện trạng đàn trâu nuôi tại Chiêm Hóa - Tuyên Quang
- Thông tin được thu thập từ các báo cáo hoạt động chăn nuôi của các cơ
quan quản lý và chuyên môn của địa phương
- Thông tin được thu thập thông qua Phiếu khảo sát (304 phiếu cho 304
hộ dân chăn nuôi trâu tại 6 xã là Yên Nguyên, Hòa Phú, Vinh Quang, Phúc Thịnh, Tân Thịnh và Vĩnh Lộc thuộc huyện Chiêm Hóa )
2.3.2 Đánh giá khả năng sinh trưởng của trâu
2.3.2.1 Phương pháp xác định khối lượng
- Xác định khối lượng nghé bằng cách cân trực tiếp
- Khối lượng của trâu được tính dựa trên số liệu kích thước các chiều đo theo công thức do Viện Chăn nuôi xây dựng năm 1980:
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
P(kg) = 88,4 x VN2 x DTC Trong đó:
P: Khối lượng của trâu (kg) VN: Kích thước vòng ngực (m)
DTC: Kích thước dài thân chéo (m)
2.3.2.2 Phương pháp xác định kích thước các chiều đo
- Dài thân chéo (DTC): Khoảng cách từ chỗ lồi phía trước của xương bả vai đến phía sau của xương u ngồi (dùng thước dây)
- Vòng ngực (VN): Chu vi quanh ngực tiếp giáp với phía sau xương bả vai, sát nách chân trước (dùng thước dây)
- Cao vây (CV): Khoảng cách từ mặt đất đến điểm cao nhất của u vai (dùng thước gậy)
- Vòng ống (VO): Là chu vi 1/3 phía trên của xương bàn chân trước, bên trái chỗ nhỏ nhất (dùng thước dây)
2.3.2 Đánh giá khả năng sinh sản của trâu
2.3.2.1 Các chỉ tiêu sinh sản ở trâu cái
- Tuổi phối giống lần đầu được tính từ khi trâu cái sinh ra tới khi phối giống lần đầu (thời gian tính bằng tháng )
- Tuổi đẻ lứa đầu được tính từ khi trâu cái sinh ra tới khi đẻ lứa đầu tiên (thời gian tính bằng tháng)
100
x CV
DTC
100
x CV
VN
100
x DTC
VN
100
x CV VO
Trang 35- Khoảng cách lứa đẻ là khoảng thời gian từ ngày đẻ lứa trước đến ngày
đẻ lứa sau (thời gian tính bằng tháng)
- Tỷ lệ thụ thai lần phối đầu (TLTT LPĐ) là tỷ lệ (%) giữa số trâu có thai
ở lần phối đầu với tổng số trâu cái được phối trong năm
TLTT LPĐ (%) =
Số trâu cái có thai ở lần phối đầu
100 Tổng số trâu được phối trong năm
- Hệ số phối (HSP): là tần số lần phối cho một lần có chửa, được tính
bằng tỷ số giữa tổng lần phối với số lần trâu có chửa
HSP = Tổng số lần phối
Số lần trâu có chửa
2.3.2.2 Các chỉ tiêu sinh sản ở trâu đực ( số lượng 05 trâu đực)
* Lượng tinh (thể tích tinh dịch trong một lần xuất tinh - V, ml): là lượng
tinh dịch khai thác được trong 1 lần trâu đực xuất tinh, được xác định bằng ống nhựa có chia vạch khắc ml, đặt thăng bằng ngang tầm mắt Đọc kết quả theo mặt cong của mặt thoáng tinh dịch
* Độ pH của tinh dịch: được xác định bằng giấy đo pH
Dùng đũa thủy tinh lấy 1 giọt tinh dịch nhỏ lên giấy pH và sau 3 giây thì
so sánh màu của giấy với bảng màu chuẩn
* Hoạt lực của tinh trùng (A, %):
Hoạt lực của tinh trùng là tổng số tinh trùng tiến thẳng so với tổng số tinh trùng có trong tinh dịch trên vi trường quan sát
Dùng micropipét hút 0,01 ml tinh dịch + 0,09 ml dung dịch A (môi trường pha loãng tinh dịch không có glycerol) rồi nhỏ lên phiến kính chuyên dụng và được giữ ấm ở nhiệt độ 380C Dùng lamen khô, sạch đậy lên giọt tinh sao cho giọt tinh dịch quét đều bốn cạnh của lamen Đưa phiến kính lên soi dưới kính hiển vi với độ phóng đại 200 lần Ước lượng tỷ lệ phần trăm số tinh trùng tiến thẳng so
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
với tổng số tinh trùng có trong vi trường mà ta quan sát được Việc đánh giá cho điểm được tiến hành theo thang điểm 10 của Milovanov
* Nồng độ tinh trùng (C,tỷ/ml): Trong thí nghiệm này, chúng tôi sử dụng
phương pháp xác định nồng độ tinh trùng bằng buồng đếm Newbower
Lắp lamelle kính đã được làm sạch, khô lên mặt buồng đếm Dùng ống pha loãng hồng cầu để hút tinh dịch đến vạch 0,5 sau đó hút tiếp dung dịch NaCl 3% đến vạch 11 Chú ý: không được để có bọt khí trong ống pha loãng hồng cầu trong quá trình hút Nếu có bọt khí phải súc rửa sạch ống pha loãng
và làm lại Bịt hai đầu ống pha loãng bằng ngón tay cái và ngón tay giữa, lắc nhẹ từ 5-6 lần cho tinh dịch trộn đều với dung dịch NaCl Mức độ pha loãng
200 lần Bỏ đi vài giọt dung dịch ở phần ống dưới, nhỏ hỗn hợp này vào trong buồng đếm, đưa lên kính hiển vi có độ phóng đại 200-400 lần để đếm
* Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (K, %): được xác định bằng phương pháp của
Chemineau (1991), cụ thể:
+ Phết tiêu bản: Lấy một phiến kính A khô sạch, không có vết xước trên mặt Ghi số hiệu đực giống, ngày kiểm tra ở một đầu phiến kính, lấy một giọt tinh dịch kéo ngang trên phiến kính Đặt chiều rộng lam kính B trùng khít với cạnh ngang tinh dịch và nghiêng phiến kính A một góc 450, kéo xuôi nhẹ một lần sao cho tinh dịch dàn đều trên phiến kính A
+ Cố định: Để phiến kính có tinh dịch dàn đều tự khô trong không khí hoặc hơ nhẹ trên ngọn lửa đèn cồn để tinh trùng dính chặt trên lam kính, cố định 2 - 3 phút sau đó cho vòi nước chảy nhẹ vào lam kính (tránh tinh trùng bị trôi mất), vẩy khô
+ Nhuộm: Dùng Methylen 5% hoặc đá Fucxin 5% hoặc Rosa bengad 5% nhỏ lên phiến kính để trong 5 phút, sau đó từng giọt nước trôi thật nhẹ nhàng trên lamen bằng nước sạch, vẩy khô