Bên cạnh đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện nay của huyện khai thác và sử dụng đạt hiệu quả kinh tế chưa cao, đất đai ngày càng suy giảm về chất lượng, rửa trôi và xói mòn diễn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG THỊ HUYỀN TRANG
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số ngành: 8 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐẶNG VĂN MINH
Thái Nguyên – 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng mình tôi, các số liệu, kết quả đã nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tôi xin cam đoan, rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2019
Tác giả luận văn Hoàng Thị Huyền Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi đã nhận được sự
quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể, cá nhân
đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến GS.TS Đặng Văn Minh
đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Quản lý tài nguyên, Phòng Đào tạo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã luôn tạo điều kiện cho tôi để thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo UBND huyện Chiêm Hóa, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chiêm Hóa, Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Chiêm Hóa, Phòng Nông nghiệp, UBND các xã vùng nghiên cứu… đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài trên địa bàn và đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt đề tài
Tôi xin cảm ơn sự góp ý chân thành của các cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, người thân đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Hoàng Thị Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 3
1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 4
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 9
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 12
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc) 16
1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam 17
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới 17
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Phạm vi, đối tượng, thời gian nghiên cứu 21
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu: 21
Trang 52.1.2 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 21
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 26
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chiêm Hóa 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Đánh giá thực trạng sử dụng đất huyện Chiêm Hóa 32
3.2 Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất 37
3.2.1 Xác định các loại hình và kiểu sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính của huyện Chiêm Hóa 37
3.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa 42
3.3 Nghiên cứu và đề xuất giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa 58
3.3.1 Đề xuất các loại hình sử dụng đất có triển vọng của huyện 58
3.3.2 Một số đề xuất và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Đề nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
PHỤ LỤC 70
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp GTNCLĐ Giá trị ngày công lao động
TTCN-CN Tiểu thủ công nghiệp-công nghiệp
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Chiêm Hóa giai đoạn 2014-2018 31
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Chiêm Hóa 32
Bảng 3.4: Các loại hình sử dụng đất chính của huyện Chiêm Hóa 38
Bảng 3.5 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 1 44
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 2 47
Bảng 3.7: Hiệu quả kinh tế các LUT tiểu vùng 3 49
Bảng 3.8 Mức đầu tư lao động của các kiểu sử dụng đất tại 3 tiểu vùng 51
Bảng 3.9 Mức độ đầu tư phân bón của một số loại cây trồng trên địa bàn huyện 54
Bảng 3.10 Phân cấp chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả của các loại hình sử dụng đất 56
Bảng 3.11: Đánh giá hiệu quả LUT có hiệu quả bền vững 57
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực thực phẩm nuôi sống con người Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai
Ở nước ta, vai trò đặc biệt của đất đai đã được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 của Quốc hội tại chương III, tại các điều 53, 54 đã quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý và tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” và “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật” Để đảm bảo quản lý và sử dụng đất đai hợp lý trong nhiều năm qua Đảng, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm tới vấn đề sử dụng hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp Chúng ta đã từng bước thực hiện việc giao đất nông lâm nghiệp, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các hộ gia đình, các tổ chức và
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, có các chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân sử dụng đất hiệu quả
Trong những năm gần đây, nền kinh tế - xã hội của huyện Chiêm Hóa có bước phát triển mạnh, đã làm tăng áp lực đối với đất đai Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015 cho thấy chưa khoanh định được diện tích đất
Trang 9trồng lúa cần bảo vệ; đối với đất lâm nghiệp chưa thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; với đất phi nông nghiệp, việc quy hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu thống nhất đặc biệt là đất nông nghiệp diện tích ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục đích sang các loại đất khác, việc bù đắp lại diện tích đất trồng lúa bị mất là vô cùng khó khăn Bên cạnh đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp hiện nay của huyện khai thác và sử dụng đạt hiệu quả kinh tế chưa cao, đất đai ngày càng suy giảm về chất lượng, rửa trôi và xói mòn diễn ra khá mạnh do người dân chưa có các phương thức canh tác vừa cải tạo vừa chống xói mòn đất Vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới
Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu
quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang"
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế,
xã hội và môi trường) huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Đề xuất được các giải pháp sử dụng đất sản xuât nông nghiệp hợp lý, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp ứng yêu cầu tiến tới công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phát triển nông nghiệp bền vững
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền của huyện Chiêm Hóa trong việc quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất sẽ cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu
quả cao
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Một số lý luận về sử dụng đất nông nghiệp
Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dưới nó là
đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì, khí quyển Là lớp mặt tươi xốp của lục địa có khả năng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng Là lớp phủ thổ nhưỡng, thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguồn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển Sự tác động qua lại của bốn quyển trên
và thổ quyển có tính thường xuyên và cơ bản
Luật đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác” (Quốc hội, 2013)
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Khi nói đất nông nghiệp ng-ười ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính) Bởi vậy:
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đầy đủ, hợp lý
- Đất nông nghiệp phải được sử dụng đạt hiệu quả cao Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất phải thực hiện tốt, đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và
Trang 11chính sách kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an toàn về lượng thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu (Nguyễn Xuân Quát, 1996)
- Đất nông nghiệp cần phải được quản lý và sử dụng một cách bền vững
Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về số lượng và chất lượng, có nghĩa là đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà còn cho thế hệ tương lai
Như vậy, để sử dụng đất triệt để và có hiệu quả, đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng với mỗi quốc gia
1.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam
2.1.2.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trên thế giới, mỗi quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận và hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp Vì vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ
và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, đất
bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn… gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản
Trang 12Theo P.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới có khoảng 3,3 tỉ
ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng 78%, tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào sản xuất nông nghiệp Trong tổng số 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác
Đất nông nghiệp là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông, lâm nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển ở trình độ không giống nhau, nhưng tầm quan trọng của nông nghiệp đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng phải thừa nhận Trên thế giới các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số tăng nhanh thì nhu cầu về lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn
Để đảm bảo an ninh lương thực, loài người phải tăng cường khai hoang để thêm đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp Thêm nữa, đất đai lại bị khai thác triệt để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất
Nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp là đất đai Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do đó, đã phá
vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Mặt khác, cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến
Trang 13kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn
và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra (Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng, 1995)
Trên thế giới đất đai được phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các châu lục khác nhưng Châu Á lại
có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn 5 Độ Đối với ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt
và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam
Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại
Đất canh tác trên thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng
do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm
1.1.2.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam
Việt Nam là nước có diện tích tự nhiên nhỏ so với các nước khác trên thế giới, Việt Nam đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người chỉ xếp vào hàng
Trang 14thứ 9 trong khu vực Theo số liệu của kết quả kiểm kê đất đai năm 2014, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.069.731 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 26.822.953 nghìn ha, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp
là 2.956,38 m2/ người (Nguyễn Văn Bộ, 2014) Diện tích đất bình quân đầu người ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới Ngày nay với áp lực về dân
số và tốc độ đô thị hóa diện tích đất đai nước ta ngày càng giảm, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp
Trong những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang dần từng bước xóa bỏ tính tự cung, tự cấp, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và phục vụ xuất khẩu Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý, sử dụng đất quan tâm
Trên thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá, cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở nước ta có nhiều biến động Đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp Diện tích đất đai càng ngày bị xói mòn, thoái hóa do việc phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên Đáng báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn, sa mạc, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá, thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm… suy thoái chất lượng đất dẫn đến giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học
và nhiều hậu quả khác Những tác động tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta (Lê Thái Bạt, 2009)
Trang 15Kết quả nghiên cứu của Lê Thái Bạt (2009), đã thống kê ở nước ta có 15,7 triệu ha đất bị xói mòn, rửa trôi, đất chua, có 9 triệu ha đất có tầng mỏng
và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hoá, 1,9 triệu ha đất bị phèn hoá và mặn hoá Ngoài ra còn các tình trạng ô nhiễm do phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất dịch vụ, chất độc hoá học để lại sau chiến tranh cũng gây ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và thách thức lớn đối với nước ta hiện nay
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của nước ta chỉ chiếm khoảng 28,38% diện tích tự nhiên, gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng So với một số nước trên thế giới, nước ta có
tỷ lệ đất nông nghiệp rất thấp
Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng đất để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu thì cần phải biết cách khai thác hợp lý đất đai, tiết kiệm và sử dụng đất có hiệu quả
Tỉnh Tuyên Quang là một tỉnh miền núi có phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía Tây - Nam giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Yên Bái
Tuyên Quang có tổng diện tích tự nhiên là 5.867,9 Km2 bao gồm: 1 thành phố và 6 huyện chính là Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương, Chiêm Hóa,
Na Hang, Lâm Bình Trong đó:
Huyện Chiêm Hóa có đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng diện tích tự nhiên: Đất nông nghiệp chiếm 92,84 % tổng diện tích tự nhiên (tỷ lệ chung của cả tỉnh là 90,66%, của
cả vùng Đông Bắc là 81,84%) Trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao với 82,20% Đất rừng sản xuất hiện đang chiếm tỷ lệ cao nhất trong đất lâm
Trang 16nghiệp với 52,5% (Tỷ lệ chung của tỉnh là 43,96%); đất chưa sử dụng chiếm 2,13 % tổng diện tích tự nhiên (tỷ lệ chung của tỉnh là 2,01%, của vùng Đông Bắc là 9,97%) Đây là sự bố trí đúng đắn, thích hợp trong điều kiện hiện tại phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện Điều đó được thể hiện ở các mặt sau:
- Khai thác tối đa quỹ đất đai vào sản xuất nông, lâm nghiệp
- Sử dụng có hiệu quả nguồn lao động tại chỗ
- Sử dụng đất sản xuất nông, lâm nghiệp tạo ra nhiều loại sản phẩm, với số lượng lớn đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đồng thời tạo ra nguồn sản phẩm hàng hoá, tạo nguồn nguyên liệu, thúc đẩy ngành công nghiệp chế biến
- Đất trồng lúa tương đối ổn định về quy mô diện tích, địa bàn và đang được đầu tư nâng cao về năng suất, chất lượng góp phần ổn định mục tiêu an toàn lương thực
1.2 Đánh giá hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng, là yếu tố hàng đầu của ngành sản xuất nông nghiệp Đất nông nghiệp không chỉ là chỗ dựa của lao động mà còn cung cấp thức ăn cho cây trồng, mọi tác động của con người vào cây trồng đều dựa vào đất đai Đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
Trên thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng từ 3 - 5 tỷ ha Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá Để giải quyết nhu cầu
về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp Việc điều tra, nghiên
Trang 17cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản
đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch
sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm (Viện Điều tra Quy hoạch, 1998)
Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất
mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả
3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là một việc hết sức cần thiết, nó sẽ giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng vùng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia ra làm 3 nhóm như sau:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như đất
đai, vi, sinh vật, khí hậu, thời tiết, nước, luôn có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp, vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên sẽ là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng (Ngô Thế Dân, 2001)
- Khí hậu: đây là nhóm yếu tố ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, điều kiện sinh hoạt của con người Tổng tích ôn nhiều hay ít, nhiệt độ cao hay thấp, sự sai khác về nhiệt độ và thời gian, không gian, biên
độ tối cao hay tối thấp giữa ngày và đêm trực tiếp ảnh hưởng đến sự phân
bố sinh trưởng và phát triển của cây trồng
- Điều kiện về lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, khả năng cung cấp nước cho các cây sinh trưởng và phát triển (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)
Trang 18- Về đất đai sự khác nhau về địa hình địa mạo, độ cao, độ dốc và hướng dốc thì cũng sẽ dẫn đến khí hậu, đất đai khác nhau vì vậy sẽ ảnh hưởng đến sản xuất và sự phân bố của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp Địa hình và
độ dốc sẽ ảnh hưởng tới phương thức của sử dụng đất nông nghiệp, và việc lựa chọn cây trồng hợp lí
Tùy từng khu vực địa lí khác nhau sẽ có những điều kiện khác nhau về nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, gió, mưa, nước và các điều kiện khác của tự nhiên Chính vì thế các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng, hiệu quả của việc sử dụng đất
* Biện pháp kỹ thuật canh tác
Mọi biện pháp kỹ thuật canh tác là chính các tác động của con người vào đất đai, vật nuôi, cây trồng nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật (1994), thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, thời tiết, điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh, sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra
Đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế Vì vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu
và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (Ngô Thế Dân, 2001)
* Nhân tố kinh tế - xã hội: Thường bao gồm rất nhiều nhân tố như chế
độ xã hội, dân số, chính sách, cơ sở hạ tầng, môi trường Các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả của việc sử dụng đất
Chính vì như vậy 3 nhóm yếu tố trên tạo ra rất nhiều ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Tuy nhiên mỗi yếu tố lại có một sự tác động khác nhau vào hiệu quả sử dụng đất, bởi vậy chúng ta cần căn cứ vào các yếu tố này để tìm
Trang 19ra những yếu tố thuận lợi cho cây trồng và những yếu tố khó khăn trong việc
sử dụng đất để khắc phục
1.2.3 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả Trước kia nhận thức con người còn hạn chế, nên người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả chỉ là một Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn người ta
đã thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại
Vậy hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả
có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian (Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội, là thể hiện hiệu quả của lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác sử dụng đất Đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về mặt giá trị qua giá trị sản lượng và hiệu quả về mặt sử dụng sức lao động của nông dân, công nhân, trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu được, nhất là các loại nông sản
cơ bản, có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu, nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp chế biến ) để bảo đảm sự ổn định về kinh tế và
xã hội của đất nước (Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Vậy hiệu quả sử dụng đất là: kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học - kĩ thuật, quản lí kinh tế và phát huy các lợi thế,
Trang 20khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên; trong những hoàn cảnh thực tế nhất định, còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế (Viện từ điển học và Bách khoa toàn thư Việt Nam)
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả thường thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới, nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn
là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao Đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển nông nghiệp hướng hàng hóa có tính ổn định và bền vững
Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau
là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả sử dụng đất là:
Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác” (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)
Đất nông nghiệp sử dụng có hiệu quả cao hay không là thông qua việc
bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Trang 21Hiện nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2006)
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể
là quy luật tiết kiệm thời gian, phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà khoa học kinh tế Samuelson Nordhuas "Hiệu quả có nghĩa là không lãng phí" Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội, "Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác" Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của
xã hội
HQKT là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả, nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hoá, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu
HQKT được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào
HQKT là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kinh tế
và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều
Trang 22kiện cần, chưa phải là điều kiện đủ để đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc
sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Bởi vậy, bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội (Hội khoa học đất, Đất Việt Nam, 2000)
Vậy hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
+ Một là: mọi hoạt động sản xuất của con người đều tuân theo quy luật
"tiết kiệm thời gian"
+ Hai là: hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm lý thuyết
hệ thống
+ Ba là: hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người
HQKT được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được
và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995)
* Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Ở đây, hiệu quả xã hội phản ánh những khía cạnh và mối quan hệ xã hội giữa con người với con người như vấn đề công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội
Hiệu quả xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp đang được nhiều nhà khoa học đặc biệt quan tâm
Trang 23Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn
vị diện tích đất nông nghiệp Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Việc lựa chọn các loại hình sử dụng đất phải phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương thì sử dụng đất sẽ bền vững hơn
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sử dụng đất là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được đặc biệt quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất Điều này có nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 1995)
1.3 Đánh giá loại hình sử dụng đất theo phương pháp đánh giá đất của FAO (tổ chức lương thực và nông nghiệp của liên hợp quốc)
* Loại hình sử dụng đất
Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa vào nội dung các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất
là một đối tượng dùng trong đánh giá đất
Loại hình Sử dụng đất (Land Use Types-LUT): Là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định (Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998)
Trang 24* Nội dung chính của đáng giá các loại hình sử dụng đất
- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại;
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại trên ba mặt:
+ Hiệu quả về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận;
+ Hiệu quả về môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên;
+ Hiệu quả về xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng: Lựa chọn các loại hình sử dụng đất để có thể duy trì và phát triển trong tương lai cần thoả mãn các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường Nói chung nếu có hiệu quả kinh tế cao thì phải được người dân chấp nhận và môi trường đất, nước và không khí không bị suy giảm
1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Đến nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hoá Nhưng tuỳ thuộc vào điều kiện, trình
độ và phương thức sử dụng đất ở mỗi nước mà có sự đánh giá khác nhau
Hằng năm, các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước trên thế giới đều nghiên cứu và đưa ra được một số giống cây trồng mới, giúp cho việc tạo ra được một số loại hình sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả hơn Viện lúa quốc tế IRRI đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa, hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí " Farming Japan" của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất, điển hình là của Nhật Nhà Khoa học Nhật Bản Otak Tanakad đã nêu lên
Trang 25những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế- xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cường
độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hoá của sản phẩm Trung tâm Từ điển Ngôn ngữ (1992)
Ở Trung Quốc thì việc khai thác, sử dụng đất là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa
ra các chính sách quản lý sử dụng đất đai ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất đã thúc đẩy kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện về mọi mặt và nâng cao được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Ở Thái Lan, Uỷ ban chính sách Quốc gia đã có nhiều nhiều quy chế mới ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp với đất nhằm quản lý và bảo vệ đất tốt hơn
Một trong những chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là chính sách đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD (chiếm 28,3% trong tổng thu nhập nông nghiệp), Canada tương ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Otraylia 1,7 tỉ USD (chiếm 14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%)
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nước trong khu vực đã có sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu quả
xã hội với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững
1.4.2 Những nghiên cứu trong nước
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình nghiên cứu về sử dụng đất Các nhà khoa học đã chú trọng đến công tác lai tạo
Trang 26và chọn lọc giống cây trồng mới cho năng suất cao, chất lượng tốt hơn để đưa vào sản xuất Làm phong phú hơn hệ thống cây trồng, góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các công trình nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của TS Đỗ Thị Lan, TS Đỗ Anh Tài (2007), Giáo trình Kinh tế tài nguyên đất; Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995); đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái
và phát triển lâu bền; phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng; Đánh giá kinh tế đất lúa vùng đồng bằng Sông Hồng, Quyền Đình
Hà, (1993)
Các đề tài nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì
đã tiến hành nghiên cứu hệ thống cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng miền núi, vùng trung du và vùng đồng bằng nhằm đánh giá hiệu quả cây trồng trên từng vùng đất đó Từ đó định hướng cho việc khai thác tiềm năng đất đai của từng vùng sao cho phù hợp với quy hoạch chung của nền nông nghiệp cả nước, phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng
Vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng nguồn lợi đất đai, khí hậu để bố trí hệ thống cây trồng thích hợp cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập như Ngô Thế Dân
Tình hình nghiên cứu sử dụng đất của tỉnh Tuyên Quang trong thời gian gần đây: đã có một số tác giả nghiên cứu về tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang trong thời gian gần đây như: Luận văn “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện Yên Sơn, Tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Hoàng Mạnh Huy năm 2014; luận văn “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Hàm Yên - tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Hà Thị Phương năm 2014: Các đề tài này đã đánh giá được hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Yên Sơn và huyện Hàm Yên tỉnh Tuyên Quang, qua đó đã đề xuất hướng sử dụng đất nông nghiệp hợp lý tại địa bàn nghiên cứu; luận văn “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại xã
Trang 27An Tường, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” của tác giả Dương Nguyễn Phương Thảo năm 2013 Các đề tài này đã đánh giá được hiệu quả kinh
tế của các kiểu sử dụng đất trên các vùng khác nhau của tỉnh Tuyên Quang
Tuy nhiên, các đánh giá về thực trạng đất nông nghiệp ở trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang còn chưa nhiều Vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp của huyện Chiêm Hóa trong những năm tới theo hướng phát triển bền vững là rất cần thiết, có ý nghĩa trong phát triển kinh tế xã hội của huyện và có thể thực hiện được Đây chính là lý do thúc đẩy tôi đi sâu
vào nghiên cứu đề tài "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông tại huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang" góp phần vào việc nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp của huyện nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phạm vi, đối tượng, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Phạm vi nghiên cứu:
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, lâu năm) trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018
+ Đánh giá tập trung vào các tiêu chí chính: Kinh tế, xã hội, môi trường
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
+ Đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng cây hàng năm, lâu năm)
+ Thực trạng các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của huyện Chiêm Hóa
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019
- Địa điểm nghiên cứu: đề tài được thực hiện tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
2.3 Nội dung nghiên cứu
* Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chiêm Hóa
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, địa hình, nguồn nước, tài nguyên đất đai
- Điều kiện kinh tế - xã hội: dân số, lao động, việc làm, trình độ lao động, tình hình phát triển các ngành kinh tế
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất của huyện Chiêm Hóa và biến động đất sản xuất nông nghiệp của huyện
* Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản suất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất
+ Xác định các loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất chủ yếu của từng tiểu vùng nghiên cứu
Trang 29+ Đánh giá hiệu quả trên cả 3 khía cạnh:
Hiệu quả kinh tế: Đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp: năng suất, sản lượng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, giá trị ngày công, hiệu quả đồng vốn…
Hiệu quả xã hội: Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp thông qua các tiêu chí: mức thu hút lao động, sử dụng lao động tạo việc làm, tăng thu nhập, đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm, trình độ dân trí, hiểu biết xã hội, phù hợp với năng lực nông hộ, được cộng đồng chấp nhận
Hiệu quả môi trường: đánh giá hiệu quả về mặt môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp qua các chỉ tiêu như: bảo vệ nguồn nước, nâng cao đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tự nhiên
* Nghiên cứu đề xuất và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp huyện Chiêm Hóa
- Đề xuất một số mô hình sử dụng đất
- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
2.4 Phương pháp nghiên cứu
* Phân vùng nghiên cứu:
Để lựa chọn được vùng nghiên cứu ta dựa trên những tiêu chí sau đây:
- Thể hiện tính đại diện của vùng nghiên cứu
- Đa dạng về các loại hình sử dụng đất
- Đa dạng về chủ thể tham gia sử dụng đất
- Trên địa bàn huyện Chiêm Hóa được phân thành 3 vùng chính để phục
vụ nghiên cứu như sau:
+ Vùng 1: Trung tâm bao gồm các xã, thị trấn của huyện nằm trung tâm huyện và ở phía Tây Nam huyện (Thị Trấn Chiêm Hóa “TT Vĩnh Lộc”, Yên Nguyên, Hoà Phú, Tân Thịnh, Phúc Thịnh, Hoà An, Nhân Lý, Trung Hoà) Thực hiện nghiên cứu tại 2 xã Hòa Phú, Yên Nguyên
+ Vùng 2: Núi cao, bao gồm các xã nằm ở phía Đông và Đông Bắc của huyện: (Tân An, Hà Lang, Trung Hà, Xuân Quang, Tân Mỹ , Hùng Mỹ, Phúc Sơn, Minh Quang) Thực hiện nghiên cứu tại 2 xã Tân Mỹ, Minh Quang
Trang 30+ Vùng 3: Trung du, đồi núi thấp bao gồm các xã nằm ở phía Đông nam
và Nam của huyện (Ngọc Hội, Phú Bình, Bình Phú, Yên Lập, Kiên Đài, Vinh Quang, Kim Bình, Linh Phú, Tri Phú, Bình Nhân) Thực hiện nghiên cứu tại 2
xã Vinh Quang, Kim Bình
* Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
- Thu thập các thông tin số liệu thứ cấp: tiến hành thu thập toàn bộ các tài liệu có liên quan từ các nguồn khác nhau tại Sở Tài nguyên và Môi trường,
Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, các xã
- Tổng hợp, phân tích, xử lý, đánh giá các loại số liệu có liên quan
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp (số liệu điều tra)
- Thu thập các thông tin số liệu sơ cấp sử dụng các phương pháp điều tra nhanh nông thôn: tiến hành đi thực địa, điều tra nhanh và phương pháp điều tra
có sự tham gia của người dân, điều tra theo câu hỏi chuẩn bị sẵn, tổ chức thảo luận nhóm Điều tra 180 hộ thuộc 06 xã nghiên cứu, ở các thôn khác nhau, mỗi
xã chọn điều tra 30 hộ
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn các hộ gia đình theo bộ câu hỏi (phụ lục) + Vùng 1 phỏng vấn 60 hộ gia đình trong các thôn tại xã Hòa Phú và Yên Nguyên (mỗi xã sẽ phỏng vấn từ 30 hộ gia đình)
+ Vùng 2 phỏng vấn 60 hộ gia đình trong các thôn tại xã Tân Mỹ và Minh Quang (mỗi xã phỏng vấn từ 30 hộ gia đình)
+ Vùng 3 phỏng vấn 60 hộ gia đình trong các thôn tại xã Vinh Quang và Kim Bình (mỗi xã phỏng vấn từ 30 hộ gia đình)
* Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp so sánh
- So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội
đã được lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau:
- Biểu hiện bằng số: Số lần hay phần trăm
Trang 31- Phương pháp so sánh gồm các dạng:
+ So sánh các nhiệm vụ kế hoạch
+ So sánh qua các giai đoạn khác nhau
+ So sánh các đối tượng tương tự
Phương pháp so sánh nhằm nghiên cứu và xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích So sánh số liệu kỳ này với các số liệu kỳ trước để thấy rõ xu hướng tăng trưởng của các chỉ tiêu
- Phương pháp thống kê mô tả
Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội
* Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả kinh tế
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kì nhất định (thường là 1 năm)
GTSX = Sản lượng sản phẩm x giá bán sản phẩm + Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình sản xuất, như chi phí nguyên vật liệu, giống, phân bón, chi phí dịch vụ phục vụ cho sản xuất
+ Hiệu quả đồng vốn: HQĐV= GTSX/CPTG Đánh giá về hiệu quả sử dụng đồng vốn trong sản xuất có đạt chỉ tiêu hay không
- Đánh giá hiệu quả xã hội
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu rất khó định lượng, đặc biệt là phải
có thời gian dài, tiến hành nghiên cứu một cách khoa học, chi tiết để thấy được
Trang 32những ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp ở các mức độ nặng nhẹ khác nhau của các loại hình sử dụng đất Nhưng do điều kiện thời gian có hạn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tối chỉ tiến hành đề cập đến một số chỉ tiêu cơ bản:
+ Mức độ chấp nhận của người dân;
+ Hiệu quả giải quyết việc làm;
+ Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá
Để đánh giá các chỉ tiêu này chúng tôi sử dụng phương pháp đánh giá có
sự tham gia của người dân địa phương để đưa ra hiệu quả xã hội của từng loại hình sử dụng đất
Cách xác định mức độ chấp nhận của người dân:
Trên thực tế chúng ta thấy rằng, một mô hình sử dụng đất có được lựa chọn hay không ngoài việc đạt hiệu quả kinh tế, bảo vệ đất thì điều quan trọng
là phải được người dân chấp nhận Mức độ chấp nhận của người dân thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhận thức của người dân, trình độ dân trí, phong tục tập quán, khả năng đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật, thị trường Tuy nhiên, một mô hình muốn được chấp nhận thì phải đáp ứng được 2 yêu cầu:
+ Khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt: tức là mô hình có sản phẩm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của người dân;
+ Khả năng đầu tư và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật: mô hình nào có mức độ đầu tư thấp hơn, dễ làm hơn thì sẽ được người dân chấp nhận và được ứng dụng rộng rãi;
Đánh giá về hiệu quả giải quyết việc làm: Hiệu quả giải quyết việc làm chính là thể hiện số ngày công lao động đầu tư vào mỗi loại hình sử dụng đất
Mô hình nào có số ngày công lao động lớn thì có hiệu quả hơn
Khả năng phát triển về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá: Đây là một nhân tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất Để xác định mức độ, khả năng phát triển sản xuất hàng hoá của các mô hình sử dụng đất phụ thuộc vào những nhân tố sau:
Trang 33+ Chủng loại sản phẩm: loại hình sử dụng đất nào cho ra nhiều chủng loại sản phẩm mà được thị trường chấp nhận thì khả năng sản xuất hàng hoá của mô hình đó sẽ cao hơn;
+ Số lượng và chất lượng sản phẩm: loại hình sử dụng đất nào cho ra số lượng hàng hoá nhiều nhất, chất lượng cao nhất thì khả năng phát triển sản xuất hàng hoá sẽ cao và có khả năng phát triển
- Đánh giá hiệu quả môi trường
Đánh giá tác động môi trường của việc sử dụng đất là việc xem xét thực trạng và nguyên nhân gây ra sự suy thoái môi trường, từ đó loại bỏ các loại hình sử dụng đất có khả năng gây ra tác động xấu đối với môi trường Nhưng việc xác định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là rất phức tạp, rất khó định lượng, đòi hỏi phải có quá trình nghiên cứu, phân tích lâu dài Chính vì vậy chúng tôi chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường thông qua việc đánh giá thích hợp của các cây trồng đối với điều kiện đất đai hiện tại thông qua các kết quả điều tra về đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật
2.5 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Thông tin, số liệu thu thập được sẽ được xử lý theo từng nội dung nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của phần mềm Excel
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chiêm Hóa
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
a) Vị trí địa lý:
Huyện Chiêm Hoá nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang, có toạ độ địa lý
từ 21058’21” đến 22030’56” vĩ độ Bắc và từ 104058’21” đến 105031’33” kinh
độ Đông, cách thị xã Tuyên Quang 70 km về phí nam, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Đông giáp huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn;
- Phía Đông Bắc giáp huyện Na Hang;
- Phía Bắc giáp huyện Lâm Bình;
- Phía Tây Bắc giáp huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang;
- Phía Tây Nam giáp huyện Hàm Yên;
- Phía Nam giáp huyện Yên Sơn
Diện tích tự nhiên toàn huyện tính đến ngày 31/12/2014 là 127.882,3 ha Huyện Chiêm Hoá có 26 đơn vị hành chính cấp xã (25 xã và 01 thị trấn) phân
bố trên một diện tích rộng, xã xa nhất cách trung tâm huyện lỵ trên 35 km
b) Địa hình, địa mạo
Huyện Chiêm Hóa có địa hình mang đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc và chủ yếu là đồi núi trung bình với độ cao bình quân 120 m so với mặt nước biển, độ dốc trung bình 20-250, địa hình bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi cao, hệ thống sông, suối lớn Đồi, núi thấp dần theo hướng Đông - Nam, xen kẽ đồi bát úp tạo điều kiện cho việc trồng cây nguyên liệu giấy và các cánh đồng phù sa nhỏ ven sông
Địa mạo Karst là dạng địa mạo đặc trưng cho vùng núi đá vôi, tập trung
ở hầu hết các xã trên địa bàn huyện
c) Khí hậu, thuỷ văn
- Khí hậu: Khí hậu của huyện mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm
Trang 35sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Theo kết quả thống kê của Cục Thống
kê tỉnh Tuyên Quang trong 10 năm trở lại đây cho thấy lượng mưa cả năm của huyện là 1.504,2 mm, độ ẩm trung bình các tháng trong năm là 84%
- Nhiệt độ dao động từ 15,1 - 29,8 0C; biên độ dao động nhiệt độ trung bình nhiều năm từ 23,2 - 24,3 oC Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất là tháng
12, tháng 01, tháng 02 cao nhất là các tháng 6, 7, 8
- Thuỷ văn: Huyện Chiêm Hoá có một hệ thống sông chính đó là sông Gâm, suối Quẵng, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hầu hết các xã trong huyện Vì vậy ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của nhân dân trong huyện Bên cạnh đó là hệ thống các suối lớn, nhỏ có độ dốc lớn dễ tạo ra các đợt lũ làm ách tắc giao thông cục bộ, gây thiệt hại hoa màu, cây trồng, vật nuôi Hết mùa mưa, một số dòng suối bị cạn hoặc lưu lượng nước nhỏ không
đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình nhiều năm khoảng 1.504 mm Số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm Mưa nhiều nhất tập trung vào các tháng mùa Hè (tháng 7; 8), có tháng lượng mưa đạt trên 300 mm/tháng Lượng mưa các tháng mùa Đông (tháng 1; 2) thấp, chỉ đạt 10 - 25 mm/tháng;
d, Nguồn tài nguyên đất:
Sau khi huyện Lâm Bình được thành lập theo Nghị quyết số 07/NQ-CP ngày 28/01/2011 của Chính phủ; các xã: Bình An, Thổ Bình và Hồng Quang được điều chỉnh địa giới hành chính thành lập huyện Lâm Bình Nên đến năm
2012 huyện Chiêm Hóa được Viện quy hoạch và thiết kế Nông nghiệp (đơn vị
tư vấn thực hiện dự án xây dựng bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Tuyên Quang) đã xác định lại có 5 nhóm đất, gồm 13 loại đất Nhìn chung tài nguyên đất của huyện Chiêm Hóa khá đa dạng về nhóm và loại, đã tạo ra nhiều tiểu vùng sinh thái nông - lâm nghiệp thích hợp với nhiều loại cây trồng Tuy nhiên quá trình khai thác, sử dụng đất chưa hợp lý và do sức ép về dân số, tập quán canh tác và ý thức của con người nên nhiều nơi tình trạng xói mòn, rửa trôi và suy thoái chất lượng đất vẫn thường xuyên xảy ra
Trang 36e, Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt: Chủ yếu được khai thác từ nước mưa và từ các sông, suối, ao, hồ có trên địa bàn Trong đó sông Gâm, suối Quẵng và các suối nhỏ là nguồn cung cấp chính cho sản xuất nông, lâm nghiệp và sinh hoạt của người dân Vì vậy trong chiến lược phát triển lâu dài của huyện cần xây dựng các phương án đảm bảo đầy đủ nguồn nước sạch, chất lượng cho các hoạt động sản xuất kinh tế nông, lâm nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân
- Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm của huyện Chiêm Hoá tương đối phong phú, phân bố ở khắp các xã, thị trấn trong huyện Nguồn nước ngầm đều có chất lượng đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt, điều kiện khai thác
dễ dàng đáp ứng yêu cầu khai thác đơn giản trong sinh hoạt của nhân dân
f, Tài nguyên rừng
- Đất lâm nghiệp của huyện có 105.125,82 ha, chiếm 82,20% diện tích
tự nhiên của toàn huyện, trong đó:
+ Đất rừng sản xuất: 67.164,82 ha, chiếm 52,52 %;
+ Đất rừng phòng hộ: 28.627,60 ha, chiếm 22,39 %;
+ Đất rừng đăc dụng: 9.333,40 ha, chiếm 7,3 %
- Thực vật rừng của huyện đa dạng, nhiều loại cây như thông, tuế, thông đất, dương xỉ, trong đó có nhiều loại thực vật quý hiếm như: đinh, lim, nghiến, lát đặc biệt trên địa bàn huyện có các khu vực rừng đặc dụng có giá trị nghiên cứu khoa học phục vụ di lịch sinh thái trong tương lai Các loại động vật sống trong rừng khá phong phú tập trung chủ yếu tại khu vực rừng nguyên sinh, xa khu dân cư
g, Tài nguyên khoáng sản
Theo tài liệu Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến năm 2010 có xét đến năm 2020
và các tài liệu của Đoàn Địa chất 109, Liên đoàn Bản đồ 207 công bố năm
Trang 371994 - 1995 và tài liệu của các Bộ, ngành hữu quan, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang có nhiều loại khoáng sản khác nhau như: Mangan, Antimon, Vàng, Sắt, Than đá
Ngoài các loại khoáng sản kể trên, huyện Chiêm Hoá còn có nhiều loại khoáng sản khác như: Đất sét, cát, sỏi, đá làm vật liệu xây dựng, gốm sứ… Những loại khoáng sản này cũng đang được khai thác, sử dụng ở nhiều điểm
h, Tài nguyên du lịch
Huyện có nguồn tài nguyên rừng phong phú, hệ thống sông và các dãy núi đá vôi, hang động, rừng đặc dụng, các di tích lịch sử văn hóa tạo nên các điểm du lịch sinh thái, du lịch tâm linh hấp dẫn Hiện nay trên địa bàn huyện
có nhiều điểm du lịch đang được khai thác thu hút các khách bản địa và các khách địa phương lân cận
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số
Tổng dân số trên địa bàn toàn huyện là 127.855 người với 31.421 hộ, trong đó:
- Khu vực thành thị: 2.265 hộ với 8.143 nhân khẩu
- Khu vực nông thôn: 29.156 hộ với 119.712 nhân khẩu
Chất lượng dân số ngày càng được cải thiện, đây là kết quả của công tác giáo dục và chăm sóc sức khoẻ, số học sinh đến trường ngày càng tăng, chất lượng giáo dục ngày càng phát triển, tỷ lệ trẻ từ 03 đến 05 tuổi đến lớp đạt 99%, 26/26 xã, thị trấn có Trạm y tế, trong đó có 26/26 trạm y tế có bác sỹ
* Dân tộc: Trên địa bàn huyện có 18 dân tộc sinh sống, dân tộc Tày, dân tộc Dao, dân tộc Kinh, dân tộc Hoa, dân tộc Mông, dân tộc Mường, dân tộc La Chí, dân tộc Nùng, Dân tộc Cao Lan Đồng bào dân tộc Tày và Dao là những dân tộc chủ yếu, sống lâu đời của huyện Mỗi dân tộc đều lựa chọn địa bàn cư trú khác nhau phù hợp với các phong tục tập quán và các lễ hội riêng tạo nên một bản sắc rất đa dạng phong phú
3.1.2.2 Tình hình kinh tế
Trong những năm gần đây thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước, kinh tế tỉnh Tuyên Quang nói chung và huyện Chiêm Hoá nói
Trang 38riêng đã dần đi vào thế ổn định và có bước phát triển rõ rệt Là một huyện miền núi, nên kinh tế huyện đặt trọng tâm phát triển vào nông nghiệp, đồng thời cũng từng bước hình thành những nền tảng cho phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ cho những năm kế tiếp Tuy nhiên do kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, cơ sở hạ tầng còn thiếu, vị trí địa lý - kinh tế bị ngăn cách, giao thông chưa thuận lợi nên mức độ giao lưu chưa cao
và khó huy động nguồn lực bên ngoài
Năm 2018 thì ngành Tiểu thủ công nghiệp – công nghiệp của huyện cũng được đầu tư tập trung vào việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất chế biến lâm sản tại Cụm công nghiệp An Thịnh như: Nhà máy sản xuất gỗ ván ép xuất khẩu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thuận Gia Thành; Nhà máy chế biến gỗ của Công ty Cổ phần Woodsland Tuyên Quang, nhà máy đường Tuyên Quang
Bên cạnh đó các ngành đã đóng góp vào việc tổng thu nhập của cả huyện trong năm 2018 là: Giá trị sản xuất Nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt 1.746 tỷ đồng; Giá trị sản xuất ngành TTCN - CN đạt 800,5 tỷ đồng, giá trị thương mại – dịch vụ, hàng hóa xã hội là 1933 tỷ đồng
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện giai đoạn 2014 – 2018 được thể hiện như sau:
Bảng 3.1 Cơ cấu kinh tế của huyện Chiêm Hóa giai đoạn 2014-2018
Đơn vị tính %
Ngành kinh tế Cơ cấu KT
Năm 2014
Cơ cấu KT Năm 2016
Cơ cấu KT Năm 2018
Tăng giảm 2014/2018
Tổng 100 100 100
Nông nghiệp 57,30 47,30 39,22 - 18,08 Tiểu thủ công nghiệp - CN 15,80 16,50 17,80 +2,00 Thương mại và dịch vụ 26,90 36,20 42,98 +16,08
(Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Chiêm Hóa)
Trang 39Cơ cấu kinh tế của huyện Chiêm Hóa trong những năm qua bước đầu đã
có sự chuyển dịch đúng hướng (giảm tỷ trọng của ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản, tăng tỷ trọng của ngành tiểu thủ công nghiệp - công nghiệp và ngành thương mại - dịch vụ Ngành nông nghiệp năm 2018 giảm so với 2014 là 18,08
%, ngành tiểu thủ công nghiệp - công nghiệp tăng nhẹ là 2,0%, ngành thương mại và dịch vụ tăng nhiều so với năm 2014 là 16,08% Tuy nhiên do Chiêm Hóa là một huyện miền núi lại có diện tích đất nông nghiệp lớn và người dân chủ yếu là lao động nông nghiệp nên cơ cấu ngành nông nghiệp giảm chậm Năm 2018 thu nhập bình quân trên đầu người của huyện Chiêm Hóa đạt 27,05 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng các ngành tiểu thủ công nghiệp - công nghiệp và các ngành thương mại - dịch vụ, giảm dần ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông - nông nghiệp tiếp tục phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung
3.1.3 Đánh giá thực trạng sử dụng đất huyện Chiêm Hóa
3.1.3.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Chiêm Hóa
Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất là vấn đề cần thiết để đảm bảo cơ sở cho việc đánh giá tiềm năng và từ đó đề xuất hướng bố trí lựa chọn loại hình
sử dụng đất thích hợp Theo số liệu thống kê đất đai năm 2018, tổng diện tích
tự nhiên toàn huyện là 127.882,29 ha Chi tiết thể hiện trong bảng số 3.2 sau:
Bảng 3.2: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Chiêm Hóa
Trang 40Thứ tự Mục đích sử dụng Mã Diện tích Cơ cấu %
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 2,98 0,0023 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 180,16 0,14 2.6 Đất phi nông nghiệp khác PNK 2.394,36 1,87
(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chiêm Hóa)
Qua bảng 3.2 ta thấy:
a, Nhóm đất nông nghiệp là: 120.584,76 ha, chiếm 94,29 % tổng diện tích tự nhiên trong đó:
- Đất sản xuất nông nghiệp: 14.965,19 ha, chiếm 11,7%
+ Đất trồng cây hàng năm: Diện tích hiện trạng năm 2018 là 9.205,02
ha chiếm 7,02% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện Trong đó, diện tích lúa nước là 5.604,91 ha, chiếm 4,38% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện Đất trồng cây hàng năm khác: 3.600,12 ha, chiếm 2,82% Đất trồng cây lâu năm: 5.760,16 ha, chiếm 4,5%
- Đất lâm nghiệp có 105.126,20 ha, chiếm 82,21 % tổng diện tích tự nhiên và chiếm 78,03% tổng diện tích đất nông nghiệp của huyện, trong đó: