Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử Tâm lý học Lịch sử Tâm lý học không nghiên cứu chính các hiện tượng tâm lý mà nghiên cứu những khái niệm về các hiện tượng đó và xem xét chúng đã biến đ
Trang 1Những tri thức của Lịch sử Tâm 'lý học giúp cho các nhà khoa học nghiên cứu tâm lý nắm được các học thuyết và các xu hướng khác nhau của Tâm lý học hiện đại, cũng như các con đường, các khuynh hướng phát triển của nó Chỉ khi lồng những tri thức đó vào trời cảnh của lịch sử thì việc hiểu bản chất, tìm ra những quan điểm gốc, đánh giá những đóng góp chân chính, nhận thức ý nghĩa lịch sử của vấn đề mới trở nên sâu sắc hơn
1 Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử Tâm lý học
Lịch sử Tâm lý học không nghiên cứu chính các hiện tượng tâm
lý mà nghiên cứu những khái niệm về các hiện tượng đó và xem xét chúng đã biến đổi như thế nào trong các giai đoạn phát triển khác nhau của khoa học " : Nhiệm vụ của Lịch sử Tâm lý học là phân tích
sự náy sinh và những phát triển tiếp theo của các tri thức khoa học
về tâm lý Trong lịch sử phát triển của Lịch sử Tâm lý học đã có ba khái niệm về đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học : là khoa học về tâm hồn, về ý thức và về hành vi
Do yếu tố lịch sử, sự thay đổi các quan điểm về đối tượng của tâm lý học liên quan đến vấn đề kế thừa, nghĩa là tiếp tục phát triển các tri thức và những tiến bộ trong khoa học tâm lý Nhìn chung, sự
Trang 2phát triển tâm lý từ khoa học về tâm hồn đến khoa hóc về nguồn gốc hoạt động của tâm lý và ý thức đã chứng tỏ sự tiến bộ của các tri thức tâm lý học Tiêu chí đánh giá sự tiến bộ này là mức độ tiếp cận ngày càng sát hơn với việc nhận thức về khách thể nghiên cứu : cái tâm 'lý Trong khuôn khổ khoa học về tâm hồn, tâm lý học bị gò vào khái niệm tâm hồn như là một nguyên tắc lý giải .Việc chối bỏ khoa học về tâm hồn để đi đến khoa học về ý thức (mà chính xác hờn là cái tâm lý được ý thức) liên quan đến việc tách ý thức từ cái tâm lý với tư cách là khách thể nghiên cứu ý thức lúc này đồng thời vừa là đối tượng nghiên cứu, vừa là nguyên 'tác lý giải Tâm lý học như là một khoa học về hành vi, đã hướng đến việc vượt qua tính chủ quan của tâm lý học ý thức, tìm đến các con đường nghiên cứu khách quan Tuy nhiên, chính bước tiến này lại làm mất đi khách thể nghiên cứu - tâm lý và ý thức ở giai đoạn cuối cùng, cho đến thời điểm ngày nay, cùng với sự phát triển các tư tưởng tâm lý học,
sự thống nhất của ý thức và hành vi (hoạt động) mới được phục hồi trên cơ 'sở cách tiếp cận khách quan .trọng nhận thức tâm lý
2 Các giai đoạn của Lịch sử Tâm lý học
Tâm lý học đã có từ nhiều thế kỷ Những khái niệm khoa học đầu tiên nảy sinh vào thế kỷ Vi trước Công nguyên Do vậy, nói về các giai đoạn của Lịch sử Tâm lý học tức là chia tách' quá trình này phân.thành các giai đoạn và xác định nội đung của từng giai đoạn
cụ thể
Lịch sử Tâm lý học được phân thành hai thời kỳ rõ rệt : Khi các tri thức về.tâm lý học 'phát triển trọng lòng triết học và các ngành khoa học khác, mà trước hết là khoa học tự nhiên (kéo dài từ thế kỷ
Vi trước Công nguyên đến giữa thế kỷ XIX)
Trang 3Khi Tâm lý học phát triển nhừ một ngành khoa học độc lập (từ giữa thế kỷ XIX cho đến ngày nay)
Theo lời của G êbingaoxơ - nhà tâm lý học thực nghiệm người Đức - Tâm lý học có quá khứ lâu dài nhưng lịch sử thì ngắn ngủi
Sự phân kỳ thành hai mốc lịch sử nêu trên rõ ràng không cần bàn cãi vì tiêu chí phân kỳ là hiển nhiên Tuy nhiên, mỗi giai đoạn phát triển Tâm lý học lại diễn ra trong các thập niên với điều kiện xã hội - lịch sử khác nhau, do vậy cần có sự phân kỳ các giai đoạn phát triển !ịch sử Tâm lý học một cách tỉ mỉ hơn Xuất phát từ đây, có nhiều tiêu chí để từ đó thực hiện việc phân kỳ Lịch sử Tâm lý học Song, nếu trên cơ sở xem xét sự tiến bộ của từng giai đoạn phát triển, được quyết định bởi việc thay đổi các quan điểm nhìn nhận về bản chất của cái tâm lý, có thể tham khảo bảng dưới đây
Các giai đoạn phát triển ' ưa Lịch sử Tâm lý học
Thời gian Nội dung nghiên
cứu của từng giai đoạn
và những khởi sắc, phát triển đầu tiên
Tâm lý là khoa học về tâm hồn và hình thành hai xu hướng : chủ nghĩa duy vận và chủ nghĩa duy tam Sự hình thành những tri thức đầu tiên vé các quá trình kiến hãm lý - cảm giác (tri giác) trí nhớ trưởng tượng, tư duy ý chí : tìm ra vãn đề về quan
hệ giữa tâm hồn và cơ thể: chỉ ra cảm giác bên trong như là phương khác nhận thức
Trang 4c thức y học
Hình thành tâm lý học nguyên tử ắt đầu của các phương pháp nhiên cứu thực nghiệm
về lâm hi en cơ sở tri thức g ~hẵu~
- sinh lý và nhà 'hát minh vĩ đại của chế kỷ từ XIV đến XVI
Từ chối việc coi tâm hơn là khi hể : là nguyên tắc để lý giải các hệ ~ợng cơ thể và tâm lý Lần đầu tiền tụng thuật ngữ "Tâm lý học"
lý luận của T ý học
Hình thành làm lý học kinh 'lghi~ lội quan và liên tưởng Nảy sinh c 'ấn đề tâm với lý và tâm - sinh lý kì liệm về tâm lý vó thức
Sự hình thành các
li lề khoa học tự nhiên c tâm lý học như là n khoa học độc lập
Tâm lý học trở thành khoa học lộc lập
Các phương pháp thực nghiệm nghi
ưu hoạt động của hệ thân kinh và quan nhận cảm Hình thành môn Ti
ạt lý Đo đạc tâm lý, Thuyết về c' tác
và tri giác
Trang 5lý lộc lập
Xuất hiện những phương pháp tư lghiệm trong Tâm lý học Hình thà ác chương trình lý luận về tâm lý xi tiện các nghiên cứu ứng dụng tro ám lý học: náy sinh các lĩnh vực m mong Tam lý học
sự trưởng thà la Tâm lý học Xô viết
Nảy sinh các trường phái tăm lý ước ngoài : Hành vi chủ nghĩa, Pa im học Tâm lý học cấu trúc (Ghestar
âm lý học xã hội Pháp, Tam lý hi iểll biết Tâm lý học cá nhân ; Tâm ọc phân tích và
Sự ra dời của Tâm lý học Xô viết Xây dựng cơ sở lý luận của Tâm ọc trên nền lảng triết học Mác-xít : hi tuyết tâm thế văn hoá - lịch sử ho ứng v.v: Sự phát triển của các.'ngai âm lý ứng dụng trong Tâm
lý hi ô viết : Tâm lý học kỹ thuật và Tâm )c sư phạm Phát triển các khá.i tuệ hoa học tự nhiên về cơ chế sinh
lý đi đạt động lâm lý và các vận động
lý học ở các nước
Phát triển của
Sự tiến hoá của các trường phái khe
ọc trong thời kỳ kháng hoàng hành mới phân tâm mới Sự ra đời của cá inh vực và xu hướng nới : Tăm lý hệ
Trang 6kỷ XX Tâm lý học Xô
viết trong lĩnh vực
lý luận
thái triển các quan niêm cá thể hoá
đi thân cách Các tranh luận trong Tâm lọc Xô viết về sự cải tổ khoa học trò :ơ sở học thuyết Páplốp, thuyết về ta hé Phát triển học thuyết hoạt đội rong Tâm lý học Xô viết Sự
ra đời cl huyết các giai đoạn hình thành động ti rí tuệ và khái niệm của P.la Ganpênn
Sự ra đời của những trường phái m rong Tâm lý học : tâm lý học nhân và
am lý học 'nhận thức liệu pháp dạy
ni =ác thuyết định hướng Mác-xít Các tranh luận trong tâm lý học Xô v
về đối tượng tâm lý học về các vấn 1
vô thức giao tiếp v.v
3 Các quy luật phát triển của Lịch sử Tâm lý học
Quy luật cơ bản và chung nhất của sự phát triển các tri thức khoa học tâm lý là cuộc đấu tranh tư tưởng, thà trước hết, giữa chủ nghĩa duy vật và duy tẩm về bản chất tâm lý C-h.ủ nghĩa d y vật trước Mác, dưới các hình thức khác.nhau (chủ nghĩa siêu hình, chủ nghĩa tầm thường hay khoa học tự nhiên) đều thể hiện khát vọng hiểu.tâm lý và ý thức như là một quá trình tự nhiên, như là một biểu hiện của cuộc sống với các quá trình vật chất của nó Đó là cách tiếp cận duy vật hướng đến lý giải cái tâm' lý Theo hướng này, ngay trong tâm lý học cổ đại, đã nảy sinh và phát triển (ở những giai đoạn tiếp theo) khái niệm về các quá trình vật chất của não là cơ sở
Trang 7của các hiện tượng tâm lý Sự phát triển của quan điểm au.y vật.!lên.quan mật thiết~đến~những~thành tựu của khoa học tự nhiên - ~
Cần theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm, tâm lý và ý thức hoàn toàn bị tách biệt với các quá trình vật chất, chuyển thành thực thể đặc biệt - tinh thần Thực thể này cả về nguồn gốc, thuộc tính
và phương pháp nhận thức đều đối ngược vớ.i thế giới vật chất và thựỏ'tiên ~
Sự phân _ chia Tâm lý _ học thành duy vật ~ và duy tâm diễn
ra trong suốt quá trình phát triển của Tâm lý học và cho đến ngày nạy Tuy vây m~quan điểm (duy vật hay duy tâm đều có những đóng góp của mình trong việc~n_hân~t~h-ức~tâm~lý: Chẳng hạn, _quan điểm duy\tâm, khi đề cập đến tính đặc thù của cái tâm lý, (khác với các quá trình duy.vật (r đưa ra-ý r~ởng vê ban chất hoạt động tích cực của tâm hồn _việc quan tâm đến khía ' cạnh ~ nẫy của các hiện tượng tâm lý là một sự kiện tiến bộ Do vậy, nghiên' cứu Tâm lý học duy tâm .mặc dù trong các quan điểm của nó không cho phép tìm ra con đường 'nhận~thức'căc quy luật nhưng.lại
là một' phần không thể thiếu:được ~tròng~lỉch sử Tâm lý học
Một quy luật quan trọng khác là xú hướng đi tìm ra một lý thuyết duy nhất Quy luật này có thể thấy rất rõ ở giai đoạn tâm lý học bị rơi vào khủng hoảng đầu thế kỷ XX L.X Vưgốtxki đã đưa ra nhận định rằng, lúc đó, Tâm lý học nhận thức rất rõ "vấn đề cái sống :Và cái chết đối' với Tâm lý học là cần phải tìm ra được nguyên ' tấc lý giải chung;' Sự xuất hiện các dòng tâm lý học khác nhau lúc
đó (Tâm lý học chiểu sâu, Tâm lý học hành vi 'và Tâm lý học 'Ghe tan và các dòng khác) cũng là muốn' để tìm ra học thuyết kiểu như thế' này Tuy nhiên, như đánh giá của L.X Vưgốtxki, việc tìm ra sự kết nối chẳng mang tính quy luật, sự triển khai từ các phát minh
Trang 8riêng lẻ trong từng lĩnh vực cụ thể để đi đến các quy luật chung và phổ biến, lan truyền lên toàn bộ khoa học tâm lý, để từ đó chuyển thành các hệ thống triết học, thậm chí thế giới quan, đã cho thấy, trong số các nguyên lý đã tìm ra không có một ' nguyên lý này có thể thoả mãn vị thế của một lý thuyết thống nhất trong Tâm lý học Tuy vậy, nhu cầu khách quan này vẫn luôn là động lực phát triển Lịch sử Tâm lý học
4 Động lực và các nguyên nhân phát triển lịch sử các tư tưởng tâm lý
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, sự phát triển các tri thức
về Tâm lý hóc là một quá trình được quyết định bởi lôgíc nhận thức
về bản chất của khách thể nghiên cứu - cái tam lý
Tâm lý học, cũng như các ngành khoa học khác đều mang tính độc lập tương đối, các nhà tâm lý và các nhà khoa học khác đều phải chịu ảnh hưởng thống trị của sự phát triển kinh tế Những quan
hệ phức tạp giữa khoa học và xã hội được L.X: Vưgốtxki thể hiện như sau : "Quy luật về sự thay thế hay phát triển tư tưởng, nảy sinh hay sự.suy thoái của khái niệm, thậm chí việc thay đổi sự phân loại v.v đều có thể giải thích trên cơ sở mối quan hệ của ngành khoa học đó với các điều kiện vãn hoá - xã hội thời đương đại, với các điều kiện và quy luật chung của nhận thức khoa học, với các yêu cầu khách quan, nhằm nghiên cứu bản chất hiện tượng ở giai đoạn lịch sử cụ thể"
Có thể nó.i, việc thừa nhận sự tác động của môi trường văn hoá xã hội đối với khoa học mang tính chất chung là ý kiến chung của các nhà khoa học Do vậy, việc phân tích sự phát triển các tri thức tâm lý cần được nghiên cứu trên phông của lịch sử và trên cơ
sở của sự tác động qua lại giữa Tâm lý học với các ngành khoa học
Trang 9khác Sự ảnh hưởng của các ngành khoa học (Sinh lý học, Ngôn ngữ học, Sinh học v.v ) lên Tâm lý học cũng rất khác nhau vì một mặt, trong khuôn khổ của các ngành khoa học này, tri thức về Tâm lý học cũng đã được tích luỹ ; mặt khác, vì Tâm lý học cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu của các ngành khoa học đó ~ à cũng
do Tâm lý học cũng như các ngành khoa học khác, đều sử dụng phương pháp luận khoa học Sự tác động qua lại giữa Tâm lý học và các khoa học khác còn tiếp tục cho đến ngày nay và điều đó cũng không có nghĩa là các quy luật của Tâm lý học đã hoà nhập vào quy luật của các ngành khoa học khách)
Khi nói đến mối quan hệ giữa Tâm lý học vớt ngành khoa.học khác và việc phụ thuộc của nó vào sự phát triển của các yếu tố văn hoá xã hội, cần phải tìm ra được lôgíc phát triển các ý tưởng của Tâm lý học như là một quá trình khách quan, mà theo V.I Lê nin đấy là lôgíc của các quy luật biện chứng
Trong lịch sử Tâm lý học, theo M.G Iarôsépxki, có 3 loại đơn
vị khái niệm : các số liệu kinh nghiệm (các yếu tố), học thuyết và phạm trù Các tác giả khác nhau cũng đã đưa ra những phạm trù khoa học chuyên biệt mô tả các khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý : hình ảnh, động tác, động cơ, các quan hệ tẩm lý xã hội, nhân cách Cùng với việc phân tích các phạm trù diễn ra do thay đổi các học thuyết khoa học, với tính đa dạng của các nhân tố mới đã cho phép tìm ra bản chất ổn định của tri thức, hạt nhân đa dạng của các tri thức đó
5 Các nguyên tắc phân tích Lịch sử Tâm lý học
Quan trọng nhất là ngll)1ên tắc lịch sút Nguyên tắc này đòi hỏi không được quên đi các quan hệ lịch sử cơ bản, các vấn đề xem xét phải xuất phát từ các thời điểm lịch sử cụ thể, các giai đoạn cơ
Trang 10bản mà quá trình hình thành và phát triển hiện tượng đó đã trải qua và từ đó đưa ra nhận định về hiện tượng đó là gì '? Nguyên tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học phải xem xét từng giai đoạn của quá khứ với đầy đủ nội dung của nó trong hệ thống các điều kiện xã hội văn hoá, để từ đó chỉ ra tính không lặp lại, tính độc đáo của hiện tượng nghiên cứu
Trong nguyên tắc lịch sử cần phải đề cập đến việc đánh giá quá khứ Việc đánh giá đó phải chỉ ra được những điểm mới trong tri thức so với giai đoạn trước, đồng thời chỉ ra điểm hạn chế của mỗi giai đoạn bất kỳ trong phát triển tri thức
Nguyên tắc tiếp theo trong nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học là l~gllyên tắc thông nhất giữa lôgíc và lịch sự : Theo nguyên tắc này, nhà sử học không chỉ đơn giản mô tả giai đoạn này hay giai đoạn khác của sự phát triển các tri thức lịch sử, mà còn phải nêu lên được
sự ổn định tử những tri thức đó Có thể nói, nhờ nguyên tắc này có thể hạn chế việc tuyệt đối hoá các sự thật lịch sử và đánh giá chúng chính xác hơn, đúng với điều kiện của giai đoạn lịch sử mà chúng nảy sinh và phát triển
Nguyên tắc thứ ba, theo M.G Iarôsépxki, là nguyên rắc quyết định luận - nguyên tắc giữ vai trò trọng yếu trong việc nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học Nguyên tắc này đòi hỏi các nhà lịch sử Tâm ly học phải biết khám phá ra phương thức lý giải nguyên nhân của hiện tượng tâm lý, cũng như các yếu tố cấu thành sinh ra nó Trong lịch sử phát triển của mình, Tâm lý học cũng đã đứng trước các quyết định luận khác' nhau : quyết định luận tiền cơ học, cơ học, sinh học, tâm lý học xã hội học
Trang 11Như vậy, các nguyên tác nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học cùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể sẽ là cơ sở phân tích khoa học con đường lịch sử của sự phát triển tâm lý học
6 Phương pháp nghiên cứu Lịch sở Tâm lý học
Trước hết, cằn nhấn mành rằng chủ nghĩa kinh nghiệm, nghĩa
là sứ mộ ta thuần' tuý về các khái niệm của tư liệu lịch sử là một thực 'tế rất:nt~tìy : hiểm: trong nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học Sự nguy hiểm không phải do kinh nghiệm để từ đó đi đến hình thành : cề~p ~ii~êm về !tâm lý nói chung Điều cần nói đến là việc sử :
~lụílg~tnh~ghlếm để làm việc với hàng loạt các yếu tố chưa được
~ln~định, không có hệ thống, không được lý giải sẽ làm mất đi chất lượng của nghiên cứu khoa học vốn rất cần được xem xét từ nhiều nguồn gốc khác nhau
Nhiệm vụ cơ bản của phương pháp và các thủ thuật nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học là tập hợp các nguồn tài liệu, tổ chức và hệ thống chúng lại để tìm ra các dữ kiện, học thuyết, quy luật và khái niệm - cấu 'thành của nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học theo kinh nghiệm Tiếp theo, nhà lịch sử Tâm lý học phải tổng hợp các cách tiếp cận kinh nghiệm và lý luận liên quan đến dối tượng nghiên cứu Công việc này đòi hỏi người 'nghiên cứu phải có hiểu biết các tài liệu
cụ thể, làm chủ được phương pháp luận nghiên cứu lịch sử, nắm vững được các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và nghiên.cứu lịch sử', cũng Rau bộ máy khái niệm, cho phép định hưởng vào các số"liệu đã thu 'được Ngoài ra, việc tìm ra mối liên
hệ với thời đại hiện tại cũng là một yêu cầu quan trọng đối với hoạt động nghề nghiệp của nhà lịch sử Tâm lý học
Phương pháp nghiên cứu chính trong Lịch sử Tâm lý học là cấu trúc lại lý luận, mô tả và phân tích có phê phán hệ thống khoa học
Trang 12của quá khứ Việc phân tích dựa vào các nguyên tắc phương pháp luận của nghiên cứu lịch sử trên 'quan điểm liên hệ với những thành tựu và các vấn đề của tâm lý học hiện đại
Trong Lịch sử Tâm lý học còn sử dụng phương pháp phỏng vấn Đây thực chất là cuộc tọa đàm có mục đích nhằm thu thập các tài liệu tương ứng với nhiệm vụ đặt ra cho nghiên cứu Trong lĩnh vực Tâm lý học các tác giả như tung đã sử dụng rất thành công phương pháp nghiên cứu này
Một phương pháp cũng hay được sử dụng trong nghiên cứu Lịch sử Tâm lý học là phương pháp phân tích lý lịch và tự chuyện Phương pháp này có khả năng giúp cho các nhà nghiên cứu xây dựng lại bầu không khí của cuộc sống thực - nguồn tri thức về sự phát triển tinh thần của các nhà bác học ở các giai đoạn phát triển khoa học khác nhau của họ Nhờ phương pháp này có thể thu thập các tài liệu có một không hai về cuộc sống khoa học của con người,
về sáng tạo 'khoa học của họ ở phương Tây, công trình khoa học thu hút sự chú ý của nhiều độc giả theo phương pháp nghiên cứu này là Lịch sự tân IV học trong các bản IV lịch do K Mertrinson làm chủ biên, hay trong Tâm lý học Xô viết là tác phẩm Các giai đoạn của con đường đã qua Lý lịch khoa học của A.R Lung (M, 1982)
7 Nguồn gốc của Lịch sử Tâm lý học
Đó là các tư liệu phản ánh quá trình lịch sử tích luỹ các tri thức tâm lý, mà trước tiên, là các công trình của các nhà tâm lý cũng như các nhà triết học đã nghiên cứu về Tâm lý học ở các giai đoạn trước
Nguồn gốc quan trọng nhất để phát triển tri thức tâm lý chinh
là thực tiễn xã hội - y học dạy học và giáo dục, thực tế pháp luật, sản xuất vật chất v.v
Trang 13Ngày nay lĩnh vực mà từ đó các nhà tâm lý học thu được nhiều tư liệu quý giá để phát triển chuyên ngành khoa học của mình
là Tâm thần học
Nguồn gốc của tri thức Tâm lý học còn tìm thấy trong các ngành khoa học tự nhiên (như Vật lý, Hoá học, Thiên văn học), cũng như các ngành khoa học khác (Ngôn ngữ học, Dân tộc học vị
Phần một SỰ PHÁT TRIỂN CÁC TRI THÚC TÂM LÝ HỌLC TRONG KHUÔN KHỔ HỌC THUYẾT VỀ TÂM I'IỒN
Chương 1 TÂM LÝ HỌC CỔ ĐẠI
Khái niệm về tâm hồn tồn tại từ khá lâu, trước cả thời điểm xuất hiện khái niệm khoa học đầu tiên về nó Những khái niệm này được thể hiện dưới dạng mồm tin của nhưng người tiền sử, được mô
tả trong các huyền thoại, trong các sáng tác nghệ thuật của nhân dân Đó là những khái niệm không khoa học và ngoài khoa học, tuy vậy chúng được nhắc đến dưới các hình thức rất phong phú Tâm hồn là một cái gì đó rất siêu nhiên như "con thú trong giới động vật, con người trong con người" Hoạt động của con vật và con người được giải thích là nhờ có tâm hồn ; sự yên lặng của con vật (người) trong giấc ngủ là do sự thiếu vắng của tâm hồn (trong giấc ngủ thì tâm hồn tạm thời thiếu vãng, còn trong cái chết - tâm hồn thiếu vắng ổn định, vĩnh hằng) Như vậy, cái chết do là sự thiếu vắng của tâm hồn vĩnh viễn nên có thể ngăn chặn được nó, bằng cách hoặc đóng đường đi ra khỏi cơ thể của tâm hồn, hoặc nếu nó đã ra được thì tìm cách bắt nó quay trở lại Các phương thức biểu hiện để thực hiện được nhiệm vụ này là thực hiện đúng các điều cấm kỵ - như là các lệ ước, nhằm ngăn chặn sự thiếu vắng thường xuyên của tâm hồn hay sự bát nó quay trở về với cơ thể
Trang 14Những khái niệm khoa học về tâm hồn đầu tiên xuất hiện trong Triết học cổ đại và được đưa ra dưới dạng học thuyết về tâm hồn Học thuyết này chính là những tri thức đầu tiên, mà trong hệ thống này; các khái niệm của Tâm lý học được phát triển '
Triết học xuất hiện vào thời điểm thay đổi chế độ cộng sản nguyên thuỷ bằng chế 'độ chiếm hữu nô lệ; xảy ra đóng thời ở phương' Đông (ấn Độ cổ Trung Hoa cổ) và phương Tây (Hy Lạp cổ,
La Mã cổ) ; Các vấn đề của Tâm lý học trở thành một bộ phận của Triết học và nó đã nảy sinh một cách tất nhiên, vì đối tượng của suy luận triết học là nhằm giải thích hợp lý thế giới nói chung trong đó bao gồm cả vấn đề con người và tâm hồn của họ Trong mối quan
hệ này, xuất hiện việc tiếp thu, kế thừa các 'tri thức Tâm lý học ở các nước phương Đông và phương' Tây, và sự ảnh hưởng qua lại của' các tư tưởng tâm lý và triết học giữa các nước này Sự giao thiệp của các sắc tộc, sự tác động qua lại, của các nền văn hoá là yếu tố ổn định của sự phát triển lịch sử Thời này, Hy Lạp cổ đại có mối quan hệ rất phong phú với nhiều nước Trung cận đông như Xin, Babilon Vào thế kỷ Vi trước Công nguyên, Triết học đã xuất hiện ở
Hy Lạp cổ, còn ở các nước Trung cận đông vẫn đang tiếp tục tồn tại các tư tưởng tôn giáo thần thoại với phát triển các ngành như Thiên văn học và Toán học Những tri thúc này được các nhà nghiên cứu của Hy Lạp cổ đại tiếp thu rất tích cực Hàng loạt 'cáclkhái niệm
về tự nhiên và tâm lý được đồng loạt công bố trong các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại, ấn Độ và Trung Hoa cổ Chẳng hạn như công bố tâm hồn là khởi nguồn của vận động hay là bản chất cái vật
lý nằm trong cấu thành các hiện tượng tâm lý ý tưởng về sự phân
bố rải khắp nơi của tâm hồn đều được các nhà tư tướng ấn Độ, Trung Hoa có và Hy Lạp cổ đại thừa nhận Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh triết học ân Độ cố là nguồn gốc của mọi tư tưởng triết
Trang 15học của phương Đông, còn triết học Hy Lạp cổ có nguồn gốc từ ấn
Độ, Trung Hoa cổ và ảnh hưởng đến văn hoá châu âu là triết học Hy Lạp cổ Các khái niệm về tâm lý học của các nhà tư tưởng ở Tây âu
có nguồn gốc từ Tâm lý học cổ đại
Mặt khác, các nhà triết học tâm lý học ở phương Tây rất quan tâm đến các tư tưởng của phương Đông : chiều sâu nội hàm phần hồn của c 'tứ tưởng này, cũng như khái niệm về con người, các con )ờn/hoàn thiện cũng như các nguồn lực tác động lên nó: Sự khác biệt lớn nhất giữa triết học phương Đông và phương Tây được xác định bởi những đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của các' nước ở phương Tây và phương Đông, bởi các truyền thống trong đời sống tinh thần gây cản trở cho việc khái quát hoá các khái niệm về con người v.v
Tóm lại, Tâm lý học cổ đại ra đời và phát triển trong điều kiện chế độ chiếm hữu nô lệ thời Cổ đại với tư cách như là sự phản ánh của thực tiễn xã hội liên quan đến khoa học lúc bấy giờ Những thay đổi mà phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ đã trải nghiệm, vị tr~n~hân cách trong_xã hôi.ở các giai đoạn khác _nhau của lịch sử
đã giải thích tính đặc_thù_ trong_khái niệm về con người (trong đó
có học thuyết về tâm hồn) giải thích sự thay đồi các khía cạnh, các
xu hướng trong cách tiếp cận với những ván đề liên quan đến tâm hồn
Tâm lý học cổ đại đã được nuôi dưỡng bởi 'lính nhân văn của văn hoá Hy Lạp, của những tư tướng về phát triển hài hoà của có thể và tâm hồn ; bởi nền văn minh về một cơ thể sống, khoẻ mạnh, xinh đẹp ; bởi tình yêu đối với cuộc sống trên Trái Đất Tâm lý học
cổ đại là khởi nguồn của toàn bộ nền khoa học tâm lý, của tất cả các vấn đề cơ bản liên quan đến tâm lý
Trang 16I NHŨNG TLRTL'ÓNG CHÍNH CỦA HỌC THUYẾT DUY VẬT VỀ TÂM HỒN TRONG TÂM LÝ HỌC CỔ ĐẠI
Học thuyết duy \ ạt về tâm hôn trong Tâm_ lý học cổ đại được hì~d/~lb~ì-nh~a phát~tltêl~như~à một.bõ pb~n~của Triết học duy vật, xli~t hiện-~ào~thế ký~vl truớc-công~nguyên và~l~ì-hình~th-ức lịch sử đầu tiên của nền Triết học Hy Lạp cổ Đỉnh cao của duy vật cổ đại là chủ nghĩa duy vật nguyên tử Người khởi xướng dòng triết học này là _hướnc' nó vào _nghiên cứu tâm hồn là Đêmôcrít - học trò của ông Epiquyạ (thế kỷ V TCN.) ' Đêmôcrít hoạt động vào thời kỳ phát triển r~ưc._rỡ_ của chế độ chiếm hữu
nô lệ, diễn ra cùng với sự thăng hoạ của_các ngành họ~c., nghệ thuật (kiến trúc, điêu~khắ~c~ărt.họ~hy~l_ap c~ổ Thời kỳ hoàng kim, học thuyết của Đêmôcríl được Epiquya là trường phái của ông phát triển (từ thế kỷ IV đến thế kỷ III TCN.) Người kế tục Epiquya là Lukrexia -(th~ kỷ I TCN~ Hệ thống duy ~ ạt nguyên
khoa-lử được phát triển nhờ các nhà khác kỷ vào giai đoạn đầu tiên của
sự phát triển của họ (thế kỷ III TCN.)
1 Các tư tưởng tâm lý của chủ nghĩa duy vãi nguyên_tử
từ các nguyên tư Nhưng nl~ũ~lg phẩjil~cjl~c inl-~í-nltnllư - màu sắc, khẩu vị ~ theo-đêmócrít~ không cấu tạo lừ nguyên tử Những phẩm chất này náy sinh thong thi giác củ.a~c~qltdgư~ời v-à là sản phẩm của sự liên kết của các nguyên tử: ~
Trang 17Epiquya cho rằng các phẩm chất~cảm~ tính đều tồn tại một cách khách quan Tác giả đã mô tả nguyên tử là vật chất có trọng lượng - điều kiện quan trọng để cơ thể có thể vận động theo lực hút Ngoài ra, trong học thuyết của mình tác giá còn nêu lên ý tưởng tư dao động của các nguyên tử, nhờ đó mà chuyển động của nguyên tử diễn ra theo đường cong Như vậy, nguồn gốc của thế giới, Trái Đ t
là kết quả va chạm của các nguyên tử
Các nhà khắc kỷ đưa ra học thuyết về các giai đoạn tiếp hoá của thế giới ở giai đoạn khối đấu chỉ tồn tại các phần tử nhỏ nhất - nguyên tử lửa Toàn bộ Trái Đất là một trí tuệ dày đặc, san đó Trái Đất bắt đầu chuyển động và ngày càng trở nên nặng nề hơn Sự hình thành Trái Đất chính là sự chuyển các nguyên tử lừa khởi đầu thành các đại lượng dưới dạng hơi Và từ đây, trước hết là hình thành thế giới bất động vật, sau đó là thực vật động vật và cuối cùng là thế giới loài người Qua một thời gian quá trình lại bắt đầu lại từ đấu chu kỳ của thế giới được hoàn chỉnh Kết quả là sự hình thành thế giới mới và ở đấy mọi quy luật trước đó cũng vẫn được tuân thủ Cuộc sống của' thế giới được cấu trúc từ các chu kỳ lặp đi lặp lại vô tận '
Trên cơ-s~c~á~c-khái niệm vạt lý, học thuyết tâm lý về tâm hồn về nhan thức: ~gũ~n~ớ~ã được cá~c~thà_tâm lý học cổ đại nghiên cứu
2 Học thục ất về tâm hồn trong duy vật cổ đại
Đếmôcrít hiểu tâm hồn là nguyên nhân gây chuyển động của
cơ thể
- Tâm hồn mang_ tiền_ vật chất._được cấu lạo từ các nguyên
tư có hình thức nhỏ. tròl phẳnn~c uyển động không ni.-ìm~ và phân bố ớ khắp cơ thể
Trang 18- Tâm hồn và lửa đều cấu tạo từ những nguyên tử này; do vậy tâm hồn là những nguyên tử lứa về hình thức cũng như vè hoạt tính
- Khi các nguyên tử đi vào cơ thể nó trở nên nặng hơn và theo bản chất không bao giờ chịu đứng yên, mà luôn vận động trở thành tâm hồn của cơ thể
Tóm lại tư n hơn là sản Phẩm phân bố của các nguyên tử:
- Tâm hồn có thuộc tính là an động ti nó không g an .Khi cơ thể chết đi tâm ị à đi ra theo_môt lối rát nho, các nguyên tử được chuyển ra ngoài không gian va rơi xuống Nói cách~kh~á~c~tâm~ hồn sẽ chết và bị_ ti.êu diệt cùng với cơ thể Quá trình hô hấp thở
ra, hít vào là quá trình đưa vào (đẩy ra) cơ thể một phần nào đó của tâm hồn Như vậy.-tâm hôn có ở khắp mọi vật thể Ngay cả khi cơ thể chết đi, ở đó cũng có tâm hồn tuy rất ít Tâm hồn có cả ở người ở thực~â-t _thâm chí.ở cả đá
- Bệnh l~tdo số lượng các~ng.u-v-ên~tử~h.tty~ể-n-đ~ộ-ng_bị giảm
tật-.-biểu-hiện-sự-tha~đói-củ~ngu-yên-tử.-Iuổ~ià Sở dĩ các cơ qu~a~l~nh~ ~cả~cỏ~khả~năngtật-.-biểu-hiện-sự-tha~đói-củ~ngu-yên-tử.-Iuổ~ià tr.Lgiac~c.áctật-.-biểu-hiện-sự-tha~đói-củ~ngu-yên-tử.-Iuổ~ià đồ~ật gì ở đó các nguyên tử n_hỏ~bé ếp-cận-gần nhất với thế giới bên ngoài N-ão~bộ là nơi có _chức-năng tâm hồn cao cấp ở đó' tương quan đặc biệt giữa các r "~ 1 tử năng guyên tử nhẹ Chỉ có não mới có khả năng nhận thức Cơ quan của nhữn~am mê~là tim : còn cơ quan của những.ham luôn trưc~ quan và.quyền lực_- gan
~cả~cỏ~khả~năng-tr.Lgiac~c.ác-Như vậy , theo Đêmôcrít, tâm hồn là- ~sản~p~tổ~ của~cơ thể_chứ không phảng ngu~ên~khởị đầu Tâm hồn không tồn tại ngoại cơ _thể Hạn chế trong quan điểm của Đêmôcrít chính
chức-là nguyên tắc định lượng ; chính nó không cho phép phân biệt các quá trình tâm lý khác với các quá trình vật chất nói chung Đặc
Trang 19trưng nhất là khi phân biệt tâm hồn với cơ thể thì tác giả lại gọi tâm hồn là cơ thể.'một cơ thể đặc biệt
Epiquya ~à~luktexi~a~cũngjth.ự-cá~c-nhạjth~j-c~tri~ển khai nghiên cứu tâm hồn theo quan điểm của Đêmôcrít
Epiquya cho rằng, chỉ có ớ tâm hồn mới có bản chất n.là nhờ
đó mới có khả năng cảm giác
Các nhà khác kỷ chia tâm hồn thành 8 phần
- Phần thu llllât là ~ll~i nguồn_ điều ~lliểll : như trí tuệ ở con người hay bản năng ở con vật Từ khởi nguồn này xuất phát bảy bộ phận khác của tâm hồn trải ra ở khắp cơ thể tương tự như ở con bạch tuộc Cơ quan này nằm ở trong đầu
- Năm phần tiếp tlle(~ lllllộc về các cơ ql/(lll nllậl~ cảm : thị giác, khứu giác thính giác, vị giác và xúc giác Trong đó: thị giác - khí lực lan truyền từ khởi nguồn điều khiển đến mắt ,/thính giác - khí lực lan truyền từ bộ phận điều khiển đến hai tai ; khứu giác ~ khí lực lan.truyền từ khởi nguồn điều khiển đến mũi ; vị giác - khí lực lan truyền từ phấn điều khiển đến lưỡi gà cuối cùng, xúc giác - những khí lực lan truyền từ khởi nguồn điều khiển đến bề mặt của vật thể, có thể gây ra cảm giác
- phần tin( bảy ' là khí lực ~ từ khởi nguồn điều khiển đến các
cơ quan sinh dục
Phần thứ tác là khí.lực lan truyền từ khởi nguồn điều khiển đến các bộ phận~nh~ứ ~cuổng họng l~ứỡiìlvà các bộ phận khác làm chức năng ngôn ngữ Bộ phận này được các nhà khắc kỷ gọi là
bộ phận của giọng nói '
Như vậy, qua nghiên cứu của các nhà khác kỷ cho thấy trí tuệ
\là bộ phận cao cấp chủ đạo trong tâm hồn
Trang 20Có thể nói rằng.,- trong duy vật cổ đại, tâm hồn được vật chất h-o~á~ tâm hồn không chỉ được xem xét 'trong mối liên hệ thống nhau \tới cơ thể_, mà bản thán nó cũng chính là cơ- thể ~ nếu tâm hồn được chuyển động nhờ cơ thé thể bán thân nó cũng mang tính cá mé ; \là cơ chế tác _động của tăm- hồn-_lên~c-ơ~ thể đ.ược~ lư quy như là quá trìnlt~ật châl~iêu như một ~cú~bjc.đẩy"
3 Học thuyết vè nhận thức
Trong quy vật, nguyên tử cổ đại có hai dạng nhận thức được
đề cập đến : cảm giác (hay là tri giác) và tư duy Cảm giác và tri giác là khởi đầu hay còn gọi là nguồn gốc của nhận thức ; đem lại những tri thức về đồ vát Cảm giác không thẻ nảy sinh từ.những cái không tòn tái Các lỗi trong cảm giác xuất hiện là do sự tham gia, quấy rối của trí tuệ
Đêmôcrít gọi nhận thức cảm tính là đáng nhận thức tối tăm,
mù mờ Nó bị hạn chế khả năng trong các trường hợp phải đi sâu nghiên cứu những phần tử nhỏ bé nhất, chẳng hạn như nguyên tử Trong học thuyết \lề cảm giác của Đêmôcrít chứa đựng tính không trật tự, liên quan đến việc phân biệt chất lượng của tồn tại khách quan Do vậy, qua học thuyết này chỉ có thể đưa ra một cách nói chung" hay "ý kiến chung" về cảm giác mà thôi
Còn tri giác được xem xét như là một quá trình vật lý tự nhiên : từ đồ vật, các thước phim mảnh mai, các copy, hình ảnh được tách ra ; Về hình thức bên ngoài, chúng giông với các đồ vật thực tế Đất chính là hình thức hay các dạng của vật chất (đồ vật) ; chúng thoạt đầu bay lơ lửng trong không gian rồi sau đó "rơi" vào các cơ quan thụ cảm, thể như mắt chăng hạn Tiếp theo, lừ mắt một dòng nguyên tử của tâm hồn được chuyển đi để bắt" được cái hình ảnh
đó Hình ảnh của đồ vật vốn có rất to, được giảm đi về kích cỡ, cho
Trang 21phép đi vào mát Khi mà dòng hình ảnh ớ bên trong trùng với dòng hình ảnh đi lừ ngoài nào thì không khí nằm giữa con mắt và đồ ~ậl
sẽ thu được các dâưân phản ánh trong dôi mắt ướt Như vậy hình ảnh xuất hiện mà không càn sự tham gia của chủ thể, vì nó chỉ được bắt lấy" ~ :
Từ cơ chế trên, các nhà duy vật cổ điển cho rằng, hình ảnh có thể được tri giác bởi bất kỳ bộ phận nào của cơ thể nhưng lúc đó hiệu quả tri giác sẽ kém hơn, nếu không qua bộ phận nhận cám Có thể nói, học thuyết của Đêmôcrít - một phương thứ( ấu trĩ khi giải quyết về quá trình tri giác Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở đây là trong học thuyết đã tìm thấy những cố gắng lý giải quá trình tri giác một cách duy vật, hoàn toàn bàng con đường tự nhiên ẹpiquya là người bảo vệ quan điểm của học thuyết tri giác của Đêmôcrít "à tiếp tục lý giải các quá trình nghe, nhìn và cảm giác mùi vị đã ~ìiễn ra như thế nào Epiquya cho lãng, tri giác là một quá trình trọn vẹn ; mọi thuộc tính cảm tính của đồ vật bị "bắt" được không phải từng bộ phận rời rạc riêng lẻ mà theo tổ họp chung Lukrexia quan tâm đến một số vấn đề về tri giác như cường độ tác động để có thể gây cảm giác hay vấn đề tri giác khoảng cách Tác giả cũng khẳng định vai trò rất quan trọng của cảm giác vì chính cảm giác bao giờ cũng đem lại tri thức chính xác
Các nhà khắc kỷ cũng đem vào học thuyết về nhận thức một
số điểm cần chú ý Họ cho rằng, khi con người được sinh ra, bộ phận điều khiển giống như tờ giấy cuốn thuốc lá, luôn trong tư thế sẵn sàng đón nhận các dòng chữ - văn bia Chính tâm hồn con người đã~iết lên các ý tưởng của mình và dòng đầu tiên viết được nhờ vào các cảm giác Còn các khái niệm, mà các nhà khắc kỷ cho dấy là tiêu chí của mọi đối tượng, được hình thành như là sản phẩm
Trang 22của một quá trình đặc biệt nhất thiết phải có sự tham gia của trí tuệ
Tiếp theo cảm giác là tư duy
Đêmôcrít gọi tư duy là dạng nhận thức sáng sủa, nhận thức bằng pháp luật Tư duy là một bộ phận nhận thức tinh tế chứa đựng các nguyên tử mà cảm giác không thể cỏ được
Epiquya cho rằng, tư duy đem lại các tri thức chung ở dạng khái niệm hay các hình ảnh biểu tượng ; Do vậy, tư duy bao hàm số lượng các hiện tượng riêng lẻ nhiều hơn Đấy chính là ưu thế của tư duy so với cảm giác '
Các nhà khắc kỷ phân biệt tư duy' bên ngoài '/à tư duy bên trong Trí tuệ bên trong là khả năng bám sát các mối quan hệ của
đổ ~ ạt trong một hoàn cảnh cụ thể và có kỹ năng xác định chính xác hành vi tương ứng Loại tư duy này hình thành trên cơ sở của tri giác Còn tư duy (hay trí tuệ) bên ngoài (và còn có thể gọi là ngộn ngữ bên ngoài) là tư duy ngôn ngữ, là sự chuyển những ý nghĩ trong đầu thành các suy luận bên ngoài Do vậy, các nhà khắc kỳ cũng chú ý đến việc nghiên cứu từ ngữ như là một hiện tượng của tiếng nói
Tuy nhiên, hạn chế trong học thuyết về nhận thức cần được đánh giá ở đây là, trong quá' trình nhận thức thì mức độ cảm tính không tách rời với tư duy, mặc dù các nhà duy vật cổ đại 'đã phân biệt chúng khá rõ ràng Mặt khác, cơ chế diễn ra các quá trình cảm giác và tư duy được các nhà duy vật cổ điển xác định là giống nhau, đều trên cơ sở các hình ảnh được tách ra từ đồ vật Ngay từ những năm sơ của thế kỷ XX, M.A Dưnhin đã viết., các nhà duy vật thời
Cổ đại cho rằng : "Cá cảm giác lẫn tư duy đều nảy sinh do các hình
Trang 23ảnh đi từ ngoài vào Không một ai sẽ có cảm giác hay suy nghĩ nếu như không có các hình ảnh rơi vào người anh'ta~t')
ủa anh hồn l~nơ đ~nq nh~f~t~rr thoả ~ì~ộ~n~ho ~ ~ ~ lđlôn~ hi xáó~trộn~bởi những sợ hãi, lo âu, bệnh tật hay đam
h-~m~ bấ't kỳ Điều này chỉ có thể đạt được khẳng sự thoả mãn không bị phụ thuộc vào các vật chất xung quanh
Ediquỷa gọi cảm:_x~ú-c-là- i u, là trở ngại mà-muốn~có được trạng thái hài 1 ~lg họ như thết phải tránh xa những xáo trộn
đó trong tâm hồng ~ h lg~đị~naìl thục đích của cu.ệ_c~s.ống là sự thoả mắn hay là sư ự thoát khỏi-những khổ đau clịê'và những xáo động tro tâm hồn
Cá/m-x-úc~â-y rối ~h)ạn~ự bình'y~n cửa phần hồn là ~ự~sợ hãi trước cái chết, sợ hãi ông trời - người _.quyết định số phận của mụ~ôn người Tu\y nhiên~4piq.uya~cũng l~n~tlen.g-vê~việ.c-c~ần_có thái độ đúng hơn khi nói về ông trời
~l ra cho ràng, xúccảnthoàn toàn như thuộc vào tuệ Nếu không, xúc cảm sẽ dẫn con người vào những lầm lỗi
Các nhà.khắc kỷ đưa ra khái niệm pha trộn giữa khát vonpl với
~ và gọi chúng là kích động (xâm kích) Họ là những người có công trong việc đưa ra học thuyết về dạng cảm xúc này
Trang 24Kích động (xâm kích) chống-lại một cách cực 'đoan với trí tuệ, đem lại những- nhận' định~k.hông đùn.g về -đối t.ương Theo các~nh(ì khắc kỷ, có tất cả 2_6~loại kích động (phụ thuộc vào thời gian và-khách-t~l~
là~sư.vận~đ~ộ~n~g-c_ủa~tâm-hồn-là h~ưl~l~ên quan tới ) và phân chúng thành 'cá~ỉn m sau : ~thl (sung ~s~ ớĩí~oc,, vui lẻ, hài lòng) ~khô~n~l~i lòng buồn chán đau khổ) và các dạng khác của nó ; ham 'l"~l và các dạn~c~ủa~nó (gồm : nhu cầu căm thù, căm giận, tình yêu, độc ác ) ~sợ-bã.i-(bệnh tật không quyết đoán xấu hổ bất ổn và
Có ba giai án phát t_"in ~t~ :
a) Do ảo của những tá~aoài, diễn ra những biến đổi c chỉ số sản _trong cơ thể : (kích động và các biểu hiện của tâm hồn đều mang tính cơ thể)
b) Xuất h~l~một cách Không chủ định của ý kiến cho tằn , có
gì đó đã diễn ra \ à cần thiết phải để mát đến chúng Đây chính là c ,, ~h~nll tâm~thưng-l~o~nltch~ít~l~t~ hủ đinh
c) Cần thiết phải có sự can thi n của trí 1 Có h khả năng có thể xảy ra :
- Trệ kl~cho phép chuyện những ~m-mê thành kích động ~ à đưa ra những s~ậ-từ góc độ xem_ xét cá~ác~v~c~ái~t-l~ệ-đ~
- Trí tuệ suy yếu.hay bị ràng buộc bởi những hủ tục sẽ dẫn đến các suy luân sai và khi đó x ấ sít kích động
Như vậy, cái kích đông đối ngược cực kỳ với trí tuệ song về cơ bản nó vẫn có trong trí tuệ ; nói cách khác, đó chính là 1 1âl sai của trí tuệ: Từ đó suy ra, có-_.- lay khôn~k ll~t~l~ to.ì pl thuộc 'ào 11 tuệ ờ đâu không có trí tuệ, ở đó không có kích động Ch~nên để~ná_y_-einh kích động hay khôno~ng là điều hoàn toàn phụ thuộc_ do _chính con _ lgười~ch~í~kl~ê~lg-phải lào yếu tố
Trang 25hách~tluan. _b-ê~l_.lg~ài Trong trườn~l~ kích _đ-ộng khoát.-t lẽ
~k_hông xảy ra, nên có những thủ thuật đấu tranh với chúng Đó
là : ' '
a) Không để cho kích động có b~iểu~hiện ra bên ngoài vì biểu hiện bên ngoài thường củng cố các kích động ~
b) Không thổi Phông sự kích động bằng các.biểu tượng
c) Cố gắng kéo dài giai đoạn cuối_cùn~c ạ sự_phát triển trạng thể hí.chúng (chăng hạn, đếm từ 1 đến lo) nhằm tạo dựng nên khoang cách giữa kích động và hoạt đ9ng hướng vào sự kích động
d) Chạy.'n~hướn~ ~uy~ sang nltợ-lại, h tồn lại các vấn đè thuộc về c ít lĩnh ~ưc~ ích c (chẳng hạn, khi sợ hãi từ nhớ lại các hành động dũng cảm, sự chịu đựng v.v )
đ) Bộc lộ, vạch trần những hành động dẫn đến kích.động
Có thể nói học thuyết về kích động cũng như thủ pháp đấu ~ tranh ngăn Ghìm chúng của các nhà khắc kỷ thời Cổ đại có ý nghĩa ' quan trọng trong Lịch sử Tâm lý học ; ~ nó thể hiên ỵ_ nĩa giáo đ~c/ất tỡ-rệt
5 Vấn đề ý chí và tính cách
Đêmôcrít giải quyết vấn đề ý chí trên cơ sở hoc thu ất về cái tất nhiên à nhiên Theo ống, ~ ra trên đời một các nhu_ nhi_ên, tuy nhiên cũng có một số nguyên nhân xác định ăn o sự~iệc~điễn ra một cách.-tự phát~ngău nhiên Song, nhìn có mít ư tồn tại trong thế nới đều tL~qBy luật tất nhiên
Quyết định luận máy móc như trên đã làng mất đi sự tự do của
ý chí ) ~ ~ ~tu~ ~clT ~l~ ~
E~piq .Y-phát triển học thuyết về sự dao động của các nguyên tử trong hành vi của con người, chọ~ằ~trong mỗi
Trang 26con._n ơ-.hỏi đều chứa đây- ~ vếu ố ự do lí Có không chỉ chịu sự tác độ từ ngoài vào mà bán thân là một chủ thể hoạt động tích cực,
tự làm chủ số phận v luôn t_ltưc~thi -c cj~ định vươn tới phúc lợi của cuộc săn ~ ~ ~ ~ tỉ ~ cơ ~L ~ ~ ~ch~o răng, trong thực tế nhận -J-giới với từng người cụ thể đều phải phục tùng:c.ác ơi lai f~t nlii~ việc tất nhiên 'đ~ch~í.nhj~sư ~tdo-~
Các nhà l(h~c kỷ luôn hướng' niềm~t-in ~củ~a~ mình vào việc kính trọng các mẽ Theo họ, tính cách - đấy là cái được xác đị~n , dấu ấn có tính đặc thù để từ đó phân biệt hành vi của người này khác so với của người khác và biểu hiện ~njlệ đặc trưng của con ng-)i, với bản thân và với mọi người xung quanh những nét tính cách cơ bản được các nhà khắc kỷ ~ cho là : lòng dũng cảm, tự làm chủ bản thân, sự bình yên của linh ~ hồn và chính ngh-)
II TÂM LÝ HỌC DUY TÂM CỦA PLA LÔNG
Theo nhận xét của ăng ghen? nói 'chung do quan điểm duy vật
~ ấu trĩ ngay ở trong số những người Hy Lạp cổ đã hình thành những nhân tố dân đến sự phân hoá sau này Điều này đã được lịch
sử khẳng định T~c~c~đ~ấ r-a-n~h~gi~a~c~c h~o~c-ỵết ề tân n-ljlộ-l-đêủ~ơlg-ngh~ên~c~ứu-c_ủ~a-tăm~lý họ~c~đ~xuất hiên dòng duy~tânl~thời-cổ-~đại~ ~vớ~ - ~ac=' tê'fr tuổi như Xêerát~ Phương v.v
Trang 27sự nhận thức của con người về chính bản thân mình Tư tưởng này
đã được X đi _p~á~t lều thành ngư-ờ~i, hãy (n ) và đó cũng chính là chủ điểm của các buổi đàm thoại, tranh ĩ án về triết học Theo Xôcrát, sự nhận thức chính mình tức là nhận thức và chính bản thân mình như một nhân cách, như một con người Để nhận thức được mục đích của mình ~ cũng phải
lu ận-đ-ị-ể-m~n-ổ~i-_tiế~n~c.on-có tiêu chí đánh giá Tiêu chí đó, theo Xôcrát, là chân lý ~ đích thực , khách quan, mọi người đều phải thừa nhận trên cơ sở "tiếng nói chung", hỗn ữ hu " nhất định của những người tham gia đàm thoại
Và cũng chính nội dung khách quan nêu trên là cái cơ bản trong ý thức con người Xôcrát cho rằng, mỗi người ~ đều có ý kiến và lập trường riêng cửa mình nhưng ấn IV thì có ~ ~ ~m~ đó là cơ sở khách quan chung của tri thức mà ai cũng phải thừa nhận ; và muốn khám phá được chân lý đỏ thì phải xây dưng được m~ề-các-sự~ hiên tương mộ~á~th-c~h~chẽ Có thể nói, ông là người đầu tiên nói đến tri thức khái niệm trong nhận thức : K~l-k l-tniệm~ár- -thức
Tuy vậy, bản thân Xôcrát cũng nhận thấy việc khám phá ra chân lý đích thực về bản chất sự vật tức là phải hiểu nó ở mức độ khái niệm, là một việc không đơn giản và bản thân ông cũng thường nói : "Tôi biết răng, tối không biết gì cả"ô) Vì thế Xôcrát khẳng định-trí-tuệ~của ~nơ~tr~i~l~nguy.en ~nhân~chí-nh thống~eu~a ' moi hiên lươn.- Khi nói về tâm hồn, tác giả là người đầu tiên chỉ ra ranh giới giữa cơ thể tà tâm hồn đông thời không định tính phi ~ãt chất của tâm hồn Xôcrát định nghĩa tâm hồn rất đơn giản - đó là cái gì đó khác với cơ thể Tâm hồn không nhìn thấy được, nó là trí tuệ, là khởi nguồn của thượng đế và tâm hồn không thể chết nó tồn tại \tỉnh cửu
Trang 28Bằng cách xâm nhập không ồn ào như vậy, xu hướng xem xét tâm hồn dưới góc độ duy tâm trong triết học, trong tâm lý học cổ đại đã xuất hiện
Platôllg (427 - 347 TCN.) là học trò của Xôcrát là người đã phát triển chủ nghĩa duy tâm đến đỉnh cao của nó và được tôn vinh
là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm khách quan Các tác phẩm của ông đã được để lại là : Đôi l}lo(li "Plledon ", "Phedr ~ Nhà méo('
~v và được viết dưới dạng hội thoại
Vấn đề triết học trung tâm của Phương là họ -J-f(ác ý tưỏ~lg Trước hết, điểm qua quan niệm về thế giới của Phương có thể thấy, về nhận thức luận, khác với Xôcrát Phương cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan chỉ tồn tại dưới dạng đơn
lẻ nhất thời, do đó các tri thức mang tính chất chung, bao quát (theo quan niệm của Xôcrát) là thuộc về lĩnh vực tinh thần thuần tuý chứ không phái là tri thức về các sự vật hiện tượng đó Nói cách khác, tri thật của con người về sự vật, hiện tượng nào đó không phải
là tòn tại độc lập với các hiện lượng cảm tính I~hảc với ý tưởng tà
ạt chất Vật chất là cái gì đó có thể trớ thành đồ vật bất kỳ một khi
nó được liên kết với một ý tưởng xác định Thế giới cảm tính hay còn gọi là thế giới đồ vật, là đồ vật cụ thể của tự nhiên hay do con người làm ra Thế giới nảy sinh ra là mất đi, nhưng thất chất nó không tồn tại Nói cách khác, theo Phương, mọi sự vật đều chỉ là hiện thân của
Trang 29các ý tưởng, là cái bóng chúng Quan hệ giữa ý tưởng và vật chất được thể hiện ở chỗ trong thế giới đồ vật, ý tưởng luôn đứng ở vị trí
số một (không cần phải bàn cãi) ý tưởng chính là các hình ảnh, còn
đồ vật là sự mô phỏng của nó
Một phần khác trong triết học duy tâm của Phương là học thuyết về tâm hồn Tâm hồn được coi là cái khởi nguồn trung gian giữa thế giới ý tưởng và các đồ vật cảm tính
Tâm hồn tồn tại trước cả khi nó liên kết với một cơ thể nào đó
Ở trạng thái nguyên thuỷ của mình, tâm hồn là một' bộ phận của thế giới tâm linh, nó đi vào không gian của thế giới, nơi chân lý và tồn tại trùng khớp với nhau, thăng hoa thành các ý tưởng vĩnh hằng, không đổi Vì thế, bản chất của tâm hồn gần như là bản chất của ý tưởng
Tâm hồn của mỗi cá thể là hình ảnh và là một phấn trong dòng chảy tâm hồn tổng thể của thế giới Sự liên kết của tâm hồn với cơ thể được Phương lý giải bằng sự đoạn tuyệt với chân lý để đi đến sự tồn tại Về bản chất tâm hồn thanh tao hơn phần cơ thể vì thế nó rất có quyền lực đối với cơ thể Phần cơ thể phần vật chất rất thụ động tiếp nhận mọi sự vận động từ khởi nguồn từ hồn Tuy nhiên, Phương vẫn cho rằng, cần thiết phải đảm bảo sự tương ứng giữa tâm_ hòn và cơ thể Tác giả chia ra 9 thứ bậc của 'tâm hồn mà môi thứ bậc tương ứng với một con người xác định ông chỉ ra ràng, cần phải phát triển cân đối cả cơ thể lân tâm hồn để sao cho giữa chúng
có sự đồng bộ nhịp nhàng Phương đả đề cập đến ba thành phần của tâm hồn hay' theo ông còn gọi là ba khởi nguồn của tâm hồn:
Khởi nguồn đầu tiên và thấp nhất có chung cư ở người, động vật lẫn thực vật Đấy 1' buồn không 'mang tính chất trí tuệ mà chỉ
Trang 30là dục vốn ' ~ khi nguồn này mà mọi tồn tại sống có thể' tìm~c giải quyết những nhu cầu cơ thể của mình Chính bộ phận này của tâm hồn giúp cho con người biết đam mê, trải nghiệm được cái đói, cái khát và các dục ông khác Bộ phận này chiếm ưu thế trong tâm hồn ~ ~l l~l~ ~u~ Khởi nguồn thứ hai - " cơ tĩnh trí /uế, luôn hướng đến chống lại các khởi nguồn dục vọng ~ ~C~
Khởi nguồn thứ ba - tâm nón giận cái Nhờ có thành phấn này mà con người được hâm nóng bầu máu, bị kích thích trở thành đồng hành của những người chính nghĩa, luôn sẵn sàng vượt qua đói khát và khổ đau để giành chiến thắng
Tất cả các khởi nguồn của tâm hồn luôn quan hệ với nhau một cách hài hoà dưới sự chỉ đạo của khởi nguồn trí tuệ Sự liên kết tất
cả các khởi nguồn nói lên tính trọn vẹn của đời sống tinh thần ở con người
Tuy nhiên; trong thực tế thường không thể có sự hài hoà trong quan hệ giữa các khởi nguồn của tâm hồn Sự xích mích luôn xảy rạ giữa khởi nguồn đục vọng và khởi nguồn trí tuệ Cuộc đấu tranh này thường diễn ra trong các giấc mơ, nơi vẻ bên ngoài không cần phải che đậy của con người Rối loạn tính hài hoà dẫn đến sự đau khổ, còn việc phục.hồi lạt chúng thì dẫn đến sự thoả mãn
Trong học thuyết của mình về tâm hồn, Phương còn đề cập đến số phận của tâm hồn sau khi cơ thể bị chết đi dưới dạng truyền thuyết ông cho rằng, tâm hồn tồn tại vĩnh cửa, do vậy khi sống con người phải nhớ rằng, sau khi mình chết đi thì tâm hồn phải có trách nhiệm với mọi hành vi của cơ thể Điều này làm cho mọi người phải biết sợ hãi với những trừng phạt có thể điên ra trong tương lai thà không ai dám vi phạm vào các quy định về đạo đức và nghĩa vụ làm người ý tưởng về tấm hồn vĩnh hàng của Phương còn chứa đựng
Trang 31hàm ý là kinh nghiệm, không bao giờ bị mất đi với cái chết, nó còn tồn tại muôn thuở
Về các biểu hiện của tâm hồn: Phương luôn mô tả chúng trong khuôn khổ của nhận thức và các trạng thiếu liên quan với nó như sự
sợ hãi, sự thoả mãn ông phân biệt trên cơ sở phụ thuộc vào đối tượng nhận thức : hướng đến thế giới đồ vật cảm tính hay thế giới
ý tưởng ~
- Trong tác phẩm Nhà nước, Phương khẳng định : cuộc sống của con người trong thế giới đồ vật không khác gì cuộc sống trong hang động Hang ở đây sâu tới mức mà thậm chí qua lỗ sáng rộng con người cũng chỉ nhìn thấy những gì ở ngay trước mát họ : đó là bóng của mình, của người khác được phản chiếu trên đầu ý nghĩa triết học của truyền thuyết là ở chỗ việc chiêm ngưỡng thế giới cảm tính của các hiện tượng luôn bị thay đổi này không thể đem lại tri thức, đó chỉ là những ý kiến mà thôi Trong ý kiến, tâm hỗn giao tiếp với đồ vật và với các mô phỏng về nó, với tồn tại nảy sinh nhưng không bao giờ có thật ý kiến là cái gì đó nằm giữa nhận biết
và không nhận biết Nó sáng hơn cái không nhận biết, nhưng mù
mờ hơn sự nhận biết ý kiến là nhận thức cảm tính, là dạng thấp nhất của tri thức '
Sự nhận thức hướng tới các ý tưởng để đạt được trình độ trí tuệ nới dẫn lại tri thức chân chính Đấy là tri thức trí tuệ, biểu hiện cao cấp của tri thức và tồn tại ở hai dạng :
Suy luận liên quan đến lĩnh vực của ý tưởng, nơi mà tâm hồn luôn sử dụng các hình ảnh đã được mô tả Ví dụ : Hình học nghiên cứu các hình thức có thể nhìn thây và suy luận về chúng nhưng không tư duy về chúng, mà về những gì giống, tương tự như chúng (về hình tứ giác và các đường chéo trong hình là giác đó) Như ~ảỵ
Trang 32con người luôn cố gắng nhìn thấy được cái gì đó giống như đã có trong suy nghĩ của mình
Trí tuệ là việc đạt được ý tưởng không phụ thuộc vào cảm tính
ở đây, tâm hồn hướng tới bản chất của tồn tại, không cần hình ảnh
mà nhờ sức mạnh của phép biện chứng Thuật ngữ "phép biện chứng" được hiểu là nhận thức bằng khái niệm Kỹ năng này cho phép đưa các ý tướng riêng rẽ thành ý tưởng chung bằng con đường hợp nhất các ý kiến, gạt bỏ mâu thuẫn trong đó để đưa ra tri thức Quá trình này được Phương gọi là quá trình suy luận và theo ông đó
là quá trình hội thoại bên trong với một người không nhìn thấy
Khi bàn về cảm giác, Phương cho rằng, trong các khách thể được tri giác đều không chứa đựng ý tưởng, vì thế, thế giới ý tưởng
và thế giới đồ vật luôn tách biệt với nhau Đồ vật không chứa đựng
ý tưởng mà chỉ là những bản sao"của ý tưởng Do đó, cảm giác cũng
sẽ không phải là nguồn gốc của tri thức chân chính Khái niệm lclông thể hình thành được từ các ấn tượng của kinh nghiệm cảm tính Theo Phương, hình ảnh chỉ có thể là cái cớ, kích thích đi đến
"nám bắt" ý tưởng vì ý tưởng tâm hồn của chúng ta đã tồn tại trước
cả thời điểm chúng ta được sinh ra Song, trong quá trình tâm hồn
từ trên trời liếp đất, tâm hồn quên hết đi những gì nó đã nhìn thấy
ở trên thiên đình, mặc dù nó có thể hồi tưởng lại những ý tưởng đã
bị mất đi Phương tiện để phục hồi là nhớ lại Quá.trình nhận thức này theo Phương - quá trình nhớ lại, là quá trình lôgíc thuần tuý ở đây, các kinh nghiệm cảm tính chỉ là những "cú hích" để hồi tưởng lại những ý tưôn~ đã luồn được vàộ'tâm hồn con người Thuật ngữ llllớ lại về bản chất còn có m-ôt-nghĩa khác - đó là quá trình trí nhớ
Về cơ chế, theo cách biểu đạt của tác giả, có thể đoán là cơ chế liên tưởng
Trang 33Phương còn rất đề cao việc chiêm ngưỡng cái đẹp Vì theo ông, tình yêu với cái đẹp là phương tiện cần phải có để nuôi dưỡng tâm hồn Trong khi đó, nhận thức cảm tính hoàn toàn tách rời với nhận thức các ý tưởng, nhận thức cảm tính ; nhận thức cảm tính là những cái quấy nhiễu những tri thức đích thực ' Một trọng số các học thuyết được Phương đề cập đến là học thuyết về cảm xúc ông phủ nhận quan điểm cho rằng, phúc lợi cao nhất ở người là sự thoả mãn Quan điểm như vậy chỉ đúng với ở động vật mà thôi Trong cuộc sống của mình, con người có' những cảm xúc chủ đạo sau : căm giận sợ hãi, ham muốn, đau buồn, yêu thương ghen tuông, căm thù Trong những xúc cảm này, cũng như trong cuộc đời nói chung
sự thoả nên luôn xuất hiện đan xen với lo sợ
Phương phân biệt sự thoả mãn bậc thấp với sự thoả mãn bậc cao Sự thoả mãn bậc thấp liên quan đến các nhu cầu sinh lý, còn
sự thoả mãn' bậc cao liên quan với các giờ học về đạo đức và tri thức Sự thoả mãn của tâm hồn bao giờ cũng diễn ra trước sự thoả mãn của cơ thể
Phương còn đưa ra lời khuyên rằng trong nhà nước mọi người cần giữ cho mình một vị trí tương ứng với những cái trời cho" của mình
III ARIXTỐT VÀ CÁC HỌC THUYẾT CỦA ÔNG
Arixtôt (384 - 322 TCN.) với tác phẩm Báo về râm hồn của mình đã đánh dấu đỉnh cao của Tâm lý học cổ đại Hê ghen đã nhận định rằng, những gì tốt nhất mà đã có 'trong Tâm lý học cho đến thời đại ngày nay, là những cái chúng ta đã nhận được từ Arixtốt" Tác phẩm Bàn l'ề'tâm hồn của Arixtốt là tác phẩm đầu tiên của nhân loại nghiên cứu có hệ thống về tâm hồn
Trang 34Là học trò của Phương, nhưng ông lại bất đồng quan điểm với thầy của mình về việc tách ý tưởng ra khỏi đồ vật Theo ông, mỗi đồ vật là sự thống nhất của vật chất và hình thức Thế giới tự nhiên là
tổ hợp các hình thức liên quan đến vật chất, ví dụ : để có được các nhà thì gạch và gô là vật chất, với cái đó thợ xây làm việc, còn hình thức của nó - là 'ngôi nhà, có mái che để tránh mưa, nắng Tuy vậy, Arixtôt cũng: nêu ra những trường hợp có sự tồn tại của các hình thức phi vật chất - đó là năng lượng trí tuệ, trí tuệ của các đấng bề trên Theo ông, đấy là hình' thức của hình thức Hệ thống nghiện cứu của Arixtết tồn tại tính hai mặt : tr~n~g~ho~th~u-)~ết' về hình thức ông luôn đùn.g trên~qu.an điểm của
~clí~ủ~ngh~dũy~t~âm ~ _ khá~c~h quan và nói chung là duy tâm nhưng ông đi xa hơn, khái quát hơn chủ nghĩa duy tâm của Phương và vì vậy trong triết học tự nhiên, ông lại là người theo chủ nghĩa duy vật
1 Khái niệm tâm hồn của Arixtốt
Tâm lll~jl ~ ~ ~a-g Ta -)c-lơ~ thể sống động Nén thiếu tâm hồn, cơ thể chỉ là cái xác thối Tâm hồn là nguồn gốc của mọi biểu hiện sống của cơ thể : chiều cao, hô hấp, cảm giác, tự duy đều có nguồn gốc phát triển là tâm hồn Trong tâm hồn_ đã ấn định mục đích hoạt động của cơ thể sống cũng như hoạt động phối hợp của các động lực sống Tâm hồn, khi có sự tác động ở bên ngoài buộc cơ thể phải thực hiện những hoạt động đã được ấn định trong cơ thể như là múc tiêu phát triển của nó Cơ thể và các bộ phận của nó đều
là bộ máy phục vụ cho tâm hồn
Ri~ll hiên của duy tâm tro học thuyết về tâm hồn được thể có
Đó là sự chuyển những đặc điểm chuyên biệt của hoạt động và ý thức của người vốn mang tính chất có mục đích, để nói về các mức
độ tổ chức tâm lý tháp nhất cũng như về tự nhiên nói chung
Trang 35Như vậy, tâm hồn là hình thức của cơ thê có nghĩa là tâm hồn
có bản chất của cơ thể, là nguyên nhân và mục đích của mọi hành động cơ thể Tất cả những đặc điểm của tâm hồn được Arixtốt liên kết và khái quát trong khái niệm "Entelexie" - nghĩa là thực tế các mặt 'của cơ thể, những gì làm cho nó sống đống, thực hiện 'được các chức năng sống của mình và tồn tại khi mà tâm hồn có biểu hiện không tích cực (chẳng hạn như trong giấc ngủ) Tâm hồn liên quan mật thiết với cơ thể và chính nó cũng là trạng thái tích cực của
cơ thể Hoạt động không phải là tâm hồn, mà là cơ thể, nhưng cơ thể đã được tâm hồn hoá Tất cả mọi trạng thái của tâm hồn đều có kèm theo các biểu hiện của cơ thể Do vậy, khi nghiên cứu về tâm hồn đòi hỏi phải có các nhà khoa học tự nhiên kết hợp với phép biện chứng
Mặc dù văn khẳng định tâm hơn là vĩnh cửu, là phi cơ thể nhưng đại diện của nó thì lại là những chất hữu cơ đặc biệt Đó là khí lực mà con vật có thể lấy được ở trong máu Cơ quan của tâm hồn là tim Não thực hiện chức năng hỗ trợ, ở đây máu được làm lạnh đến mức cần thiết
Khi phê-p~há~n~ ~p~l-atô~e~i~ê~c đá.c~h tâm_ hồn ~r.a
~th~à~nh~ các bộ phận riêng lẻ, và cho rằng tâm hôn _là một thể thống nhất, Arixtốt lại công nhận có hai~khở_i ngu~ồa~đ~ộ~c~l~p~của~t.â~m-hồ.n~t~m hồn là Entelexie của
cơ thể, có_ thể mất đi khi nó bị tổn thương và tâm hồn như là sự hiện diện của thượng đế, đi vào cơ thể và đi ra khỏi đó khi cơ thể bị chết đi Môi một khởi nguồn đều có trong tay cảm giác và khả năng chuyển động trong không gian Như vậy, có cảm giác là có khát vọng Về trí tuệ và khả năng suy luận bằng trí tuệ không được tác giả đề cập một cách rõ ràng nhưng hình như chúng là một dạng của tâm hồn Và chỉ có những năng lực đó là tồn tại độc lập Từ phân
Trang 36loại về tâm hồn, Arixlốt đưa ra ba mức thang của cuộc sông thực vật: động vật và con người, trong đó năng lực của bậc cao nhất bao gồm cả năng lực của các bậc dưới đó và không thể tồn tại thiếu chúng Tâm hồn thực vật và động vật cùng dược hiểu rất duy vật ở động vật cùng có các năng lực như nhận thức cám tính, trí nhớ, khát vọng, đam mê, ý chí, ham muốn ~ à thêm vào đó là sự thoả mãn
và sợ hãi Tâm hồn trí tuệ dược coi là rất lý tưởng, không liên quan đến cơ thể và mang bản' chất thượng đế Khi cơ thể bị chết, tâm hồn trí tuệ không bị mất' đi mà nó quay về khoảng không nên trời Arixtốt bằng kinh nghiệm, đã cảm thấy sự khác về chất giữa con người với con vật, hơn thế nữa với thực vật nhưng giải thích nguồn gốc của chúng lại theo quan điểm duy tâm
2 Học thuyết về các quả trình nhận thức
Khói nguồn của nhận thức là năng lực cám giác Cảm giác xuất hiện do có tác động từ bên ngoài, do vậy.nó là trạng thái thụ.động Tương tự như cảm giác, việc tri giác khách thể được diễn ra gián tiếp qua 5 cơ quan nhận cảm bên ngoài và được thực hiện bởi tâm hồn cũng như bởi cơ thể Cơ quan nhận cảm có năng lực phản ánh
là do chúng có năng lực cảm giác Trong quá trình cảm giác, các năng lực này được chuyển thành hành động
Một tiến bộ trong học thuyết về nhận thúc của Arixtốt là thừa nhận trong nhận thức nói chung, bao giờ cũng có hoạt động của chủ thề nhận thức Nhưng ngay sau đó tác giả xác định, trong nhận thức trí tuệ thì nhà hoạt động chân chính lại chỉ là trí tuệ
Ngoài năm cảm giác tương ứng với năm cơ quan nhận' cảm, Arixtốt còn nêu ra loại cảm giác chung với một loạt các chức năng của chúng : tri giác các phẩm chất chung (vận động, đứng yên, đại lượng, thống nhân và sự ý thức dang có cả.m~giác, tri Giác và so
Trang 37sánh, liên kết cảm giác vào hình ảnh của đối tượng tồn tại ở mỗi người Loại cảm giác chung không có cơ quan nhận cảm tương ứng
vì nó chính là tâm hồn
Cảm giác mang lại những sự thật trực tiếp còn việc bảo tồn và tái hiện cảm giác được thực hiện là do trí nhớ Có ba loại trí nhớ : Trí nhớ cấp thấp để bảo tồn các cảm giác thu được ở dạng bản sao các đối tượng Dạng này có ở tất cả động vật
- Trí nhớ theo đúng nghĩa của nó được xác định bởi việc môi một hình ảnh đều có liên kết với một đặc tính thời gian, nghĩa là muốn lột tả quan hệ của nó với tồn tại nào đó trong quá khứ, dạng này chỉ tồn tại ở những động vật có khả năng tự giác thời gian
Trí nhớ cao cấp, chẳng hạn như nhớ lại, hồi tưởng lại, trong đó
có sự tham gia của suy luận Dạng này chỉ có ở người
Ảnh hưởng lên sự hồi tưởng là kinh nghiệm, còn kinh nghiệm ảnh hưởng tới sự khởi đầu của nghệ thuật và của khoả học Ngoài
ra, trong những năng lực nhận thức tiếp theo phải kể đến biểu tượng hay viễn tưởng nhằm hình thành những tưởng tượng
Tướng tượng là năng lượng của cơ quan cảm giác, không cần
sự tác động tương ứng từ bên ngoài Biểu tượng có nguồn gốc lừ cảm giác nhưng không phải là cảm giác Trong tương tượng, nội dung mang tính khởi đầu, trên cơ sở những ấn tượng được khái quát hoá ở động vật, biểu tượng rất phát triển và là năng lực hay thế cho tư duy Từ biểu tượng, Arixlốt phát triển các học thuyết về giấc
mơ và lý giải chúng rất duy vật Các hình ảnh đã được khái quát hoá của biểu tượng là cơ sở nền tảng cho tư duy
Tư duy được đặc trưng bởi các thành phần của suy luận, đọng lại ở các khái niệm và đưa ra những cái chung Cái chung là cái mà không thể tri giác bằng cơ quan thụ cảm, là cái gì đó tồn tại không
Trang 38chỉ ở thời 'điểm hiện tại, còn nếu khác đổ nó không còn là cái chung nữa Cái chung là cái luôn luôn có và ở khắp mọi nơi
Cơ quan của tư duy dược tác giả gọi là "nus" - một phán của tâm hồn, chỉ tồn tại ở người, nhưng không được gắn vào một bộ phận bất kỳ trên cơ thể người
Arixtết cũng phân biệt tư duy cấp thấp và cấp cao
- Tư duy cấp thấp là ý kiến hay các câu không 'chứa đựng sự khẳng định (có tính phạm trù) về một cái gì đó ; không trả lời được câu hỏi tại sao ?
Tư duy loạỉ~này cũng cần thiết trong một số trường hợp, hoàn cảnh cụ thể '
- Tư duy cấp cao nhằm khám phá ra cơ sở cuối cùng của chân
lý Khách thể của tư duy này có cơ sở là các đó vật ; đó là những nguyên tắc cạo nhất của khoa học Có 3 dạng tư duy cấp cao : suy luận, lôgíc và tranh luận
+ Tư duy slly'/1tận là biết đưa ra các kết luận từ những điều kiện cho trước
+ Ti( duy lôgíc hay tư duy vực giác là biết tìm ra cơ sở của vấn đề
+ Tư duy anh mình là hình thức cao nhất của loại tư duy cấp cao
Arixtết còn chia ra 2 loại trí tuệ (định hướng cho tư duy), đó là : lý luận và thực hành
Trí tuệ lý luận nhận thức cải bản chất như bản thân của nó Đối tượng của nó là cái tất nhiên ở loại trí tuệ này thường không đưa ra các câu hỏi như : Đè làm gì ? Với mục đích gì ? Nhiệm vụ của
nó là xác định chân lý về đổ vật ~
Trang 39Trí tuệ thực hành nhăm nghiên cứu hoạt động, mà qua đó nhận thức được các chuẩn mực và các nguyên tắc hoạt động cũng như môi trường thực thi chúng Trí tuệ thực hành tiếp nhận quyết định, để trên cơ sở đó tiến hành các hành động
Về thực chất, hai loại trí tuệ này có nội dung đối lập nhau Các năng lực nhận thức không tồn tại riêng lẻ, chúng đều có khởi nguồn từ cảm giác
Học thuyết của Arixtốt về nhận thức cho thấy niềm tin vào khả năng nhận thức tự nhiên của con người Một số vấn đề về trí tuệ mà Arixtết đã đề cập đến còn có giá trị cho đến ngày nay
Vấn đề kích động (xâm kích) được Arixtốt nghiên cứu tương đối tỉ mỉ
Kích động là trạng thái thụ động gây ra bởi sự tác động nào đó làm cho con người xuất hiện sự thiếu suy nghĩ, thiếu định hướng và làm thay đổi cả những phản ứng trước đây vốn có của mình Kích động luôn diễn ra đồng thời với các biến đổi trong cơ thể Trong số các cấu thành tâm lý của kích động, Arixtốt đánh giá cao vai trò của tưởng tượng và cho nó là cấu thành.quyết định Trong học thuyết
về kích động, một phần quan trọng được đề :cập đến là vấn đề làm sạch (giảm đến hết) kích động Để làm được việc này, cần lạo ra các
Trang 40trải nghiệm cảm xúc mang màu sắc đạo đức do ảnh hưởng của nghệ thuật ; chẳng hạn cần tạo ra ở khán giá khi tri giác những bi kịch (sự sợ hãi và buồn chán), khác với những gì có trong cuộc sống dời thường thì kích động sẽ được giải phóng - được rũ sạch khỏi trạng thái nặng nề, mù mịt v.v
Các tác giả hiện đại gọi đó là cách tác động của nhà hát lên khán giả theo phương thức trị liệu xã hội
Về thực chất, ý chí được Arixtốt đưa ra như là một quá trình có bản chất xã hội : việc ra quyết định liên quan đến sự hiểu biết của con người về nghĩa vụ xã hội của mình
5 Học thuyết vê tính cách
Sự ổn định đề tính cách là cái mà Arixtốt đối lập với kích động (xâm kích) Tính cách biểu thị bản chất con người Arixtốt đã mô tả những phẩm chất tinh thần của con người trong mối quan hệ với tuổi tác, ~ ị trí xã hội và nghề nghiệp Tính cách không phải là cái