CHƯƠNG 1: CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG QUAN HỆ THƯƠNGMẠI VÀ TỔNG QUAN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 1.1 Các chỉ số đo lường quan hệ thương mại của Việt Nam 1.1.1 Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ RCA Chỉ số l
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-*** -ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU MÔN ĐÀM PHÁN KINH TẾ QUỐC TẾ
NHÓM 15 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
TS NGUYỄN BÌNH DƯƠNG
CÁC FTA CÓ LÀM TĂNG PHÚC LỢI CHO VIỆT NAM?
DANH SÁCH THÀNH VIÊN:
MÔNG LÂM HOÀN – MSV: 1814410098
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO – MSV: 1814410197
ĐỖ HÀ CHI – MSV: 1814410025
TRẦN NGỌC HIỀN – MSV: 1814410089
BÙI NGỌC VŨ – MSV: 1814410236
Trang 2CHƯƠNG 1: CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG QUAN HỆ THƯƠNG
MẠI VÀ TỔNG QUAN THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Các chỉ số đo lường quan hệ thương mại của Việt Nam
1.1.1 Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (RCA)
Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (RCA)cho thấy mức độ cạnh tranh của một sản phẩm
ở các nước xuất khẩu so với thị phần sản phẩm trong thương mại thế giới Một sản phẩm
có RCA cao thì có khả năng cạnh tranh và có thể được xuất khẩu sang các quốc gia cóRCA thấp Các quốc gia có RCA tương tự trong cùng nhóm sản phẩm thì khó có thể cócường độ thương mại song phương cao trừ khi có liên quan đến thương mại nội ngành
Việc tính toán RCA, nếu ước tính ở mức cao của sản phẩm phân tổ, có thể tập trung chú ývào các sản phẩm phi truyền thống khác có thể được xuất khẩu thành công Chỉ số RCAcủa quốc gia i cho sản phẩm j thường được đo bằng thị phần của sản phẩm trong xuất
khẩu của quốc gia liên quan đến thị phần của nó trong thương mại thế giới:
RCA ki = Xkw/ Xw Xki / Xi
Trong đó: RCAki là lợi thế so sánh của nước i về mặt hàng k
Xki là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i
Xi là tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia i
Xkw là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của thế giới
Xw là tổng giá trị xuất khẩu của thế giớiGiá trị RCA nhỏ hơn1 ngụ ý rằng đất nước có một bất lợi so sánh bộc lộ trong sảnphẩm Tương tự, nếu chỉ số này lớn hơn 1, quốc gia được cho là có lợi thế so sánh bộc lộtrong sản phẩm
Trong nghiên cứu hiện tại, RCA được tính của Việt Nam đối với 15 nước EU trên
10 nhóm hàng hóa chính trong năm 2017 để xác định lợi thế so sánh của Việt Nam đốivới mỗi nước trong thương mại Nhóm sẽ tiến hành tính toán chỉ số RCA cho 10 nhómhàng chính theo phân loại của UN Comtrade, bao gồm:
Thực phẩm và động vật sống
Các loại đồ uống và thuốc lá
Trang 3 Các nguyên liệu thô, không ăn được, ngoại trừ nhiên liệu đốt
Khoáng sản năng lượng, dầu bôi trơn công nghiệp và các vật liệu liên quan hóachất
Dầu, mỡ động vật và thực vật
Hóa chất
Hàng chế tạo, phân loại theo nguyên liệu
Máy móc và các thiết bị vận tải
Mặt hàng chế tạo khác
Các hàng hóa và giao dịch khác chưa được phân loại
(Theo Cơ sở Dữ liệu Thống kê Thương mại Quốc tế UN Comtrade)
1.1.2 Chỉ số tương đồng thương mại (ESI)
Finger và Kreinin (1979) đã đưa ra công thức tính toán chỉ số tương đồng sảnphẩm với mục đích đo lường mức độ tương đồng xuất khẩu giữa hai quốc gia hoặc giữahai nhóm quốc gia trên thế giới ở một thị trường thứ ba Công thức này được xây dựngdựa trên giả định rằng, nếu hai quốc gia sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm giống nhau,thì mức độ cạnh tranh sẽ càng khốc liệt khi hai nước kí kết các hiệp định thương mại Giả
sử có hai quốc gia hoặc hai khu vực a và b, công thức (1) được sử dụng để đo lường mức
độ tương đồng xuất khẩu của a và b tại thị trường thứ 3 là c Công thức tính toán có dạng:
Trang 4của nước a và b là hoàn toàn giống nhau, chỉ số sẽ nhận giá trị là 100 Nếu cấu trúc xuấtkhẩu của nước a và b hoàn toàn khác biệt, chỉ số sẽ nhận giá trị là 0.
Nếu chỉ số tương đồng xuất khẩu tăng theo thời gian, điều này chứng tỏ cấu trúcxuất khẩu của hai quốc gia/ khu vực đang hội tụ, đồng thời, nó cũng cho thấy hai quốcgia/ khu vực này sẽ trở nên cạnh tranh với nhau hơn ở một thị trường thứ ba (Pomfret,1981; Pearson, 1979) Nếu sự hội tụ diễn ra giữa quốc gia đang phát triển và quốc giaphát triển, thì chỉ số tăng lên phản ánh mức tăng trưởng nhanh của nền kinh tế và mức độcông nghiệp hóa ở nước đang phát triển (Finger và Kreinin, 1979) Nếu chỉ số tương đồnggiảm theo thời gian, thì nó chứng tỏ mức độ chuyên môn hóa của hai quốc gia tại thịtrường thứ ba đang tăng lên, và hai quốc gia này có tính bổ sung thương mại
1.1.3 Chỉ số thương mại nội ngành
Trong bài viết này, để đánh giá mức độ thương mại nội ngành giữa Việt Nam vớicác nước Châu Âu , nhóm sử dụng chỉ số G-L (Grubel và Lloyd, 1975) Đây là chỉ sốđược sử dụng rộng rãi nhất và được coi là phương pháp thích hợp nhất để phân tích cơcấu xuất nhập khẩu của một ngành trong một thời điểm nhất định Chỉ số G-L chỉ sốdùng để tính toán tỷ trọng thương mại nội ngành (IIT) theo công thức sau:
IIT IJ=1− ¿X ijk−M ijk∨ ¿
(X ijk+M ijk)¿
Trong đó: X ijk là giá trị xuất khẩu hàng hóa i từ quốc gia j sang quốc gia k
M ijk là giá trị nhập khẩu hàng hóa i của quốc gia j từ quốc gia kChỉ số IIT có giá trị từ 0 đến 1 Nếu tất cả thương mại thương mại của ngành i làthương mại nội ngành (Xijk = Mijk) thì chỉ số ITT = 1 Ngược lại, nếu tất cả thương mại củangành i là thương mại liên ngành (Xijk = 0 hoặc Mijk = 0) thi khi đó chỉ số IIT = 0
Theo nhiều tác giả, IIT có thể phân chia theo các mức độ sau:
Mức 1 : G-L > 0.33 Giao thương nội ngành
Mức 2 : 0.10 ≤ G-L ≤ 0.33 Có tiềm năng giao thương nội ngành
Mức 3 : G-L < 0.10 Giao thương ngoại ngành
1.2 Tổng quan thương mại của Việt Nam
Trong suốt quá trình phát triển kinh tế, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Hiệp địnhThương mại FTA sớm nhất của Việt Nam chính là AFTA vào năm 1995, một năm sau
Trang 5khi gia nhập ASEAN – nay đã được thay thế bằng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).
Tiếp đến, năm 2007, Việt Nam gia nhập trở thành thành viên của Tổ chức thương mạiThế giới (WTO) và chính thức bắt tay vào công cuộc tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
Việc tham gia vào các hiệp định này có tác động làm thay đổi kim ngạch xuất nhập khẩucủa Việt Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cơ cấu và xu hướng thương mại Bằng việc sửdụng nguồn số liệu thứ cấp từ UN Comtrade và Trade map, nhóm tác giả đã tổng hợp rabảng phần trăm xuất khẩu nội khối của 3 khối kinh tế nổi bật mà Việt Nam tham gia làAFTA, CPTPP và EVFTA để có được bức tranh khái quát về tác động và hiệu quả củacác hiệp định này đến thương mại của nước ta
Kết quả bảng 1.2 và biểu đồ 1.1 cho thấy, từ năm 2007-2017, phần trăm xuất khẩu
nội khối của các nước thành viên AFTA và CPTPP không có sự thay đổi đáng kể và duytrì ở mức tương đối thấp khi so sánh với khu vực EVFTA có tỉ lệ xuất khẩu nội khối cao(trên 60% trong suốt giai đoạn 2007-2017) Trung bình, xuất khẩu nội khối của các nướcEVFTA là 62,91%, của khu vực ASEAN là 25,53%, tỉ lệ này giữa các nước thành viênCPTPP thậm chí còn thấp hơn, chỉ chiếm 15,26% Năm 2007, tỉ lệ xuất khẩu nội khối củaAFTA là 25,06%, tăng dần đến mức đỉnh điểm là 30,14% năm 2009, sau đó có xu hướnggiảm dần xuống còn 23,31% vào năm 2017 Năm 2007, hoạt động xuất nhập khẩu giữacác nước CPTPP là 15,17%, trong suốt giai đoạn nghiên cứu có sự thay đổi nhưng khôngđáng kể, đến năm 2017 thì tỉ lệ này là 15,62% Ở khu vực EVFTA, năm 2007 xuất khẩunội khối là 64,70%, trong giai đoạn nghiên cứu có xu hướng giảm nhẹ, đến năm 2017 con
số chỉ còn 61,31%
Trang 6Bảng 1.1: Phần trăm xuất khẩu nội khối của các khối AFTA, CPTPP và EVFTA
Trang 7Nguồn: Tổng hợp từ UN Comtrade và Trade map
(*)Phần còn lại củ khu vực (rest of region): với khối AFTA và CPTPP chọn khu vực châu
Á, với khối EVFTA chọn khu vực châu Âu
Nhìn vào bảng 1.2 có thể thấy, mặc dù kim ngạch thương mại giữa các nước thành viênEVFTA tương đối cao trong năm suốt giai đoạn nghiên cứu (trên 60%), con số này giữaViệt Nam và EU lại chỉ ở mức thấp (10,62%) Phần trăm thương mại giữa các nước trongkhối này phần lớn đến từ các quốc gia EU với nhau Trong khối các nước EVFTA, Đức làquốc gia có quy mô hoạt động thương mại lớn nhất, năm 2018 đạt 1,562,418,816,337
USD Theo sau đó, Hà Lan, Bỉ và Pháp cũng là những nước có kim ngạch thương mại lớntrong tổ chức (lần lượt là 555,921,409,863; 468,643,264,452; 568,535,879,844 triệuUSD) Với những thị trường lớn như vậy, nếu Việt Nam có thể đẩy mạnh hợp tác thươngmại và đầu tư thì sẽ là cơ hội phát triển và mang lại thêm nhiều lợi ích cho cả hai bên bên
Cụ thể, Việt Nam đã có quan hệ thương mại song phương khá phát triển với bốn thịtrường hàng đầu của châu Âu là: Đức, Hà Lan, Bỉ và Pháp Giai đoạn từ 2013 đến 2018,thương mại giữa Việt Nam và những thị trường này tăng trưởng hằng năm vào khoảng10,61%
Với khu vực AFTA, mặc dù được đánh giá là thị trường năng động, dân số đông, thunhập đang tăng và có nhiều nguồn lực tiềm năng cho phát triển song thương mại nội khốicác nước ASEAN chỉ dừng ở mức thấp khi so với khối EVFTA (trên 60%) thì rõ ràng cóthể nhận thấy các chương trình hợp tác ASEAN chưa đạt được hiệu quả như mong đợi
Bảng 1.2: Thương mại trong và ngoài khu vực EVFTA năm 2018
Value(Thousand USD) Share of total trade(per cent) Value (thousand USD) Share of total trade (per cent)
Trang 9Nguồn: Trade Map 2018
Quy mô thương mại ngoại khối khu vực AFTA và CPTPP lấn át nội khối, điều nàychứng tỏ sức hút và hấp dẫn từ thị trường bên trong chưa tạo thuyết phục cho các quốc giathành viên Theo các chuyên gia kinh tế, thực tế này bị tác động bởi nhiều nguyên nhânnhư: Thương mại toàn cầu giảm; những rào cản phi thuế quan, cơ cấu sản xuất và tiêu thụ
Trang 10giữa các quốc gia nội khối tương đồng nhau Bên cạnh đó, các cơ chế chính sách vẫn chưathật sự tạo cơ chế hữu hiệu nhằm thúc đẩy giao thương nội khối, chưa kể các nền kinh tếnội khối vẫn còn tồn tại nhiều sự chênh lệch về trình độ phát triển Trong khi một số nước
đã chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công sang lĩnh vực dịch vụ, một số nước còn lạivẫn còn đang phụ thuộc vào ngành sản xuất, trong đó có gia công cho các doanh nghiệpnước ngoài Do vậy, tính bổ sung trong danh mục các mặt hàng thương mại nội khốikhông lớn như thị trường tại châu Âu hay các thị trường quốc tế khác
Từ thực trạng thương mại nội khối có thể thấy tình hoạt động xuất khẩu của ViệtNam với các nước thành viên khác Tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN năm
2015 chiếm 13,95% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, so với các quốc gia khác trong khuvực (Myanmar 49,2%, Lào 47,6%, Singapore 31,4%) thì con số này vẫn còn rất thấp vàchưa tương xứng với tiềm lực của Việt Nam (Theo Tổng cục Hải quan năm 2015) Trongkhi đó, nhập khẩu lại có quy mô luôn lớn hơn xuất khẩu (theo số liệu tổng hợp từ UNComtrade) nên trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và khu vực ASEAN, Việt Nam
đã liên tục ở vị thế nhập siêu Như vậy, có thể thấy khi tham gia các FTA thì Việt Namcòn gặp nhiều khó khăn để có thể tận dụng cơ hội phát triển Một trong những khó khănthách thức hàng đầu có thể thấy rõ là công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu thua kém cácnước trong khối, mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là mặt hàng truyền thống: dầu thô, gạo, dệtmay, thủy sản… với công nghệ thô sơ khó cạnh tranh với các sản phẩm được áp dụngcông nghệ tiên tiến từ các nước khác Ngoài ra, khi tham gia vào các hiệp định tự do hóathương mại thì cũng đồng nghĩa với việc mở cửa để sản phẩm từ các nước tiên tiến nhưNhật Bản, Singapore, châu Âu xâm nhập vào thị trường nội khối gây nhiều áp lực chohàng nội địa
Mặc dù vậy, những lợi ích từ hiệp định thương mại tự do là không thể chối từ:
giảm thuế quan, giúp sản phẩm trong nước có cơ hội tiếp cận thị trường nước ngoài, tiếpcận các nền kinh tế và công nghệ tân tiến để học hỏi, nâng cao vị thế thương mại trên thịtrường quốc tế… Tuy thương mại nội khối còn hạn chế nhưng thương mại của các khốinày với các nước còn lại của châu Á lại tương đối cao, đạt 47,46% đối với khối AFTA
Đây là một dấu hiệu tốt cho thấy các thị trường khu vực có ý nghĩa quan trọng trong hoạt
Trang 11động thương mại, từ đó cần mở rộng đầu tư hợp tác giao thương tới các nước này Hiệnnay, Việt Nam đã và đang có nhiều mạng lưới thương mại song phương với các quốc gianhư Mĩ, Nhật Bản, Hồng Kong, Trung Quốc, Hàn Quốc, Úc, Chile, Ấn Độ…Đây lànhững thị trường lớn và tiềm năng Hợp tác với các quốc gia này có thể làm củng cố vàgia tăng vị thế thương mại, giúp Việt Nam có thể hội nhập sâu rộng với thị trường quốc tế
và đạt được những lợi ích to lớn và bền vững sau này
Thực tế cho thấy, sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, thương mạihàng hóa của Việt Nam đã có nhiều chuyển biến tích cực, rõ nét Cán cân thương mạihàng hóa đã chuyển từ mức thâm hụt cao trong những năm từ 2006-2011 sang mức thặng
dư hoặc chỉ thâm hụt nhẹ trong những năm vừa qua (Việt Nam từ thâm hụt 4.759 tỷ USDnăm 2015, đã thặng dư 0.602 tỷ đồng năm 2016) Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩucũng có những thay đổi theo hướng tích cực Tỷ trọng nông sản, thủy sản, nhiên liệu vàkhoáng sản đã giảm mạnh, đặc biệt là từ năm 2011 trở lại đây Cụ thể, tỷ trọng nhóm hàngnày đã giảm từ 32% trong năm 2011 xuống chỉ còn 14,5% trong năm 2016 Đối với nhậpkhẩu, tỷ trọng nhập khẩu các nguyên liệu thô phục vụ sản xuất, xuất khẩu; máy móc thiết
bị, dụng cụ và phụ tùng cũng có xu hướng tăng trong khi giảm nhập khẩu ở nhóm hàngtiêu dùng Sự phát triển về ngoại thương hàng hóa của Việt Nam còn được khẳng địnhqua bảng xếp hạng về giao dịch thương mại hàng hóa của Việt Nam qua các năm Nếunhư năm 2006, xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam lần lượt ở vị trí 50 và 44trên toàn thế giới, thì đến năm 2015, xuất khẩu đã tăng tới 23 bậc, xếp ở vị trí thứ 27;
trong khi nhập khẩu cũng tăng 16 bậc, xếp ở vị trí thứ 28 trong tổng số các nước, vùnglãnh thổ trên toàn thế giới (Tổng cục hải quan)
Trang 12CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC CHỈ SỐ ĐO LƯỜNG QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI
2.1 Chỉ số tương đồng xuất khẩu
Trong bài nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng số liệu từ cơ sở dữ liệu của UNCOMTRADE Đây là nguồn số liệu lớn nhất và có tính xác thực nhất về thương mại hànghóa quốc tế
Bảng 2.1: 10 nhóm hàng theo SITC Rev.3 UN Comtrade
Ký mã
0 Food and live animals Thực phẩm và động vật sống
1 Beverages and tobacco Các loại đồ uống và thuốc lá
2 Crude materials, inedible,
Hàng chế tạo, phân loại theo nguyên liệu
7 Machinery and transport
9 Commod & transacts Not
class Accord To kind
Các hàng hóa và giao dịch khác chưa đượcphân loại
Nguồn: UN Comtrade
Trang 13Bảng 2.2 Chỉ số tương đồng thương mại giữa 16 nước EVFTA trên thị trường thế
giới năm 2007 và 2018
Nă m
VN M
AU T
BE L
DN
FR A
DE U
GR
LU X
NL D
PR
SW E VN
M
200
7 43,7 47,7 66,0 39,3 47,2 40,0 65,5 37,3 49,7 39,6 53,2 53,9 49,1 43,2201
200
7 43,7 74,5 72,6 85,5 87,4 86,2 70,8 57,0 91,4 75,5 71,1 86,6 87,3 90,9201
8 79,6 71,6 72,8 77,4 86,3 87,6 55,9 48,5 79,7 80,8 75,3 81,8 84,2 90,3
BEL
200
7 47,7 74,5 75,2 67,4 78,9 70,9 75,7 74,5 75,2 68,7 74,5 74,9 79,5 75,5201
200
7 66,0 72,6 75,2 62,2 78,0 73,3 79,5 63,7 76,8 63,3 83,8 77,3 79,9 73,2201
8 72,6 71 79,3
62,3
2 83,2 73,7 64,2
60,0 5
8 61,1 77,4
65,7 2
62,3 2
64,9
2 67
75,7 2
35,1 5
71,7
2 76,6
69,5 2
78,3 2
200
7 40,0 86,2 70,9 73,3 76,2 88,0 62,7 59,6 81,8 65,2 75,5 72,9 84,1 87,1201
200
7 65,5 70,8 75,7 79,5 60,9 71,3 62,7 54,6 69,8 63,1 72,1 73,7 75,0 68,3201
8
47,3 5
48,4 5
67,9 5
60,0 5
35,1 5
57,2 5
50,5 6
39,2 5
50,2 5
46,4 2
54,9 5
46,8 5
51,9 5
44,4 5
ITA
200
7 49,7 91,4 75,2 76,8 79,3 85,8 81,8 69,8 56,5 71,5 70,5 89,7 87,6 87,0201
200
7 39,6 75,5 68,7 63,3 72,3 65,6 65,2 63,1 53,7 71,5 59,5 74,7 67,9 69,1201
200
7 53,2 71,1 74,5 83,8 64,9 79,8 75,5 72,1 64,6 70,5 59,5 72,5 80,0 76,0201
Trang 14200
7 53,9 86,6 74,9 77,3 80,4 80,3 72,9 73,7 54,8 89,7 74,7 72,5 81,5 82,3201
8 73,6 84,2 8 82,9 72,9 81,5 79,3 68,6
51,9
5 85,5 81,2 89,8 84,2 84,7
SW E
200
7 43,2 90,9 75,5 73,2 87,5 84,3 87,1 68,3 53,8 87,0 69,1 76,0 82,3 87,4201
8 76,7 90,3 73,9 71,6 77,3 82 83,2 61,5
44,4
5 76,5 75,5 78 79,6 84,7
Nguồn: Nhóm tác giả tự tính toán
Bằng việc sử dụng số liệu xuất khẩu của 10 hạng mục hàng hóa được phân loạitheo Phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn SITC, bản sửa đổi lần thứ 3 (StandardInternational Trade Classification, Revision 3), bài nghiên cứu tính toán chỉ số tươngđồng xuất khẩu của 15 nước EVFTA trên thị trường thế giới Trong đó, SITC5-9 là cácmặt hàng chế tạo SITC5 và SITC7 là các sản phẩm chế tạo thâm dụng vốn hoặc côngnghệ và SITC6 và SITC8 là các mặt hàng chế tạo thâm dụng lao động.Kết quả tính toáncho thấy, từ năm 2007 đến năm 2018, chỉ số ESI của Việt Nam với đa phần các nướcEU14 trên thị trường thế giới đều tăng mạnh Đồng thời, bản thân giữa các quốc gia trongEU15 cũng có mức độ tương đồng xuất khẩu khá cao trên thị trường thế giới, khi trungbình cộng ESI của các nước vào khoảng 71,47 (Bảng 2.2)
Vào năm 2007, chỉ số ESI của Việt Nam và các nước trong EU14 trên thị trườngthế giới phần lớn còn ở mức thấp và trung bình Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm, kể từkhi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007, chỉ số ESI của Việt Nam vào năm 2018 sovới các nước EU14 đều tăng đáng kể, từ mức thấp, trung bình tăng lên ở mức trung bình,cao Trong đó, phải kể đến chỉ số ESI vào năm 2018 giữa Việt Nam và từng nước baogồm: Áo, Đan Mạch, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Thụy Điển ởmức khá cao khi đều nhận giá trị vào khoảng 77,2 Đặc biệt, chỉ số ESI giữa Việt Nam vàItalia là cao nhất, ở mức 82,5, xếp sau đó là chỉ số ESI giữa Việt Nam và Belgium Điềunày cho thấy, cấu trúc xuất khẩu của Việt Nam với 8 quốc gia EU kể trên đang có xuhướng hội tụ và mức độ cạnh tranh xuất khẩu giữa Việt Nam và 8 quốc gia này trên thịtrường thế giới sẽ ngày càng cao (Pomfret, 1981; Pearson, 1979) Cùng với đó, mức tănglên đáng kể của chỉ số ESI giữa Việt Nam – một quốc gia đang phát triển và phần đông
Trang 15các quốc gia trong EU14 – những nước phát triển, cũng phần nào thể hiện mức tăngtrưởng nhanh của nền kinh tế và mức độ công nghiệp hóa ở Việt Nam (Finger và Kreinin,1979) Ngoài 8 quốc gia nêu trên, chỉ số ESI của Việt Nam và Bỉ, Phần Lan, Ireland,Luxembourg đều tăng nhẹ Riêng chỉ có chỉ số ESI của Việt Nam và Hy Lạp giảm mạnh,
từ mức 65,5 vào năm 2007, xuống mức 47,1 vào năm 2018 Đây có thể được giải thíchbởi tỷ trọng xuất khẩu của hạng mục 3, 6, 7 của Việt Nam và Hy Lạp có sự thay đổingược chiều trong giai đoạn 2007-2018 Năm 2017, trong khi tỷ trọng xuất khẩu hạngmục 3 của Việt Nam giảm, và tỷ trọng xuất khẩu hạng mục 6, 7 tăng thì tỷ trọng của cáchạng mục tương ứng của Hy Lạp lại thay đổi ngược lại Điều này cho thấy mức độchuyên môn hóa của Việt Nam và Hy Lạp trên thị trường thế giới đang tăng lên, và haiquốc gia này có tính bổ sung thương mại, do đó, tính cạnh tranh xuất khẩu trên thị trườngthế giới có thể được giảm bớt giữa hai nước này
Cụ thể hơn, xét tại thị trường Mỹ và Trung Quốc – hai thị trường xuất khẩu lớnnhất của cả Việt Nam và EU14, thì ngoại trừ Hy Lạp, chỉ số ESI giữa Việt Nam với cácquốc gia trong EU14 đều trải qua mức tăng đáng kể, từ mức thấp, đến trung bình, trungbình cao, giống như xu hướng chung của chỉ số này tại thị trường thế giới Tuy nhiên,mức độ tăng của chỉ số ESI giữa Việt Nam và các nước EU14 ở thị trường Trung Quốcmạnh mẽ hơn so với mức độ tăng của chỉ số này tại thị trường Mỹ Điều này thể hiện ởgiá trị trung bình chỉ số ESI giữa Việt Nam và các nước trong EU14 (ngoại trừ Hy Lạp)tại thị trường Trung Quốc năm 2007 và năm 2018 lần lượt là 34,9 và 69,0; trong khi giátrị trung bình của chỉ số này tại thị trường Mỹ năm 2007 và năm 2018 chỉ là 28,6 và 48,8
Như vậy, trong giai đoạn 2007-2018, mức độ cạnh tranh trong xuất khẩu của Việt Namvới các nước EU14 (ngoại trừ Hy Lạp) có tăng theo xu hướng chung ở trên thị trường thếgiới, tuy nhiên, mức độ cạnh tranh của hàng hóa có xu hướng cao hơn ở tại Trung Quốchơn là ở thị trường Mỹ
Ngoài ra, trong các nước EU14, ngoại trừ Irealand và Hy Lạp, các quốc gia còn lạicũng có chỉ số ESI trên thị trường thế giới ở mức khá cao, và chỉ thay đổi rất ít qua cácnăm Trong đó, phải kể đến các nhóm nước có chỉ số ESI ở mức rất cao (nhận giá trịESI>85) như Áo – Pháp, Đức, Áo – Italia, Áo – Thụy Điển, Pháp – Đức, Pháp – Italia, ,
Trang 16Đức -, Italia – Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha – Thụy Điển Điều này cho thấy, bản thân trongkhối EU14, mức độ cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa vốn đã khá cao giữa các nước Duychỉ có Ireland và Hy Lạp có chỉ số ESI ở mức trung bình, và có xu hướng giảm qua cácnăm Điều này có thể được giải thích bởi hai quốc gia trên đang có sự thay đổi trong cấutrúc xuất khẩu, và dần trở nên khác biệt trong cấu trúc xuất khẩu hơn so với các quốc giaEU14 còn lại Do đó, mức độ cạnh tranh về xuất khẩu hàng hóa trên thị trường thế giớigiữa Ireland, Hy Lạp và các quốc gia còn lại trong EU14 được kỳ vọng sẽ ít khốc liệt hơn
so với mức độ cạnh tranh giữa chính các nước còn lại đó
Như vậy, có thể nói, chỉ số tương đồng thương mại ESI giữa Việt Nam và phần lớncác nước EU14 trên thị trường thế giới có xu hướng tăng trong giai đoạn 2007-2018 vànhận giá trị trung bình cao ở năm 2018 Điều này cho thấy sẽ có sự cạnh tranh đáng kểgiữa hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và những quốc gia này ở thị trường thứ ba, vàtrong trương hợp này là thị trường thế giới, cũng như tại các thị trường xuất khẩu lớn như
Mỹ, Trung Quốc
2.2 Chỉ số lợi thế so sánh bộc lộ (Revealed Comparative Advantage - RCA)
Bảng 2.1 dưới đây đưa ra kết quả tính toán chỉ số RCA trung bình của Việt Nam và
15 nước trong khối liên minh EU năm 2017 cho 10 nhóm sản phẩm theo phân loại Rev.3SITC của UN Comtrade
Trong 10 nhóm hàng phân loại theo tiêu chuẩn SITC REV.3, chỉ số RCA của ViệtNam có biên độ dao động lớn với giá trị lớn nhất là 2,39 ( nhóm hàng số 8 – các mặt hàngchế tạo khác) và giá trị nhỏ nhất là 0,02 (nhóm hàng số 9 – các hàng hóa và giao dịchkhác chưa được phân loại)
Đối với nhóm hàng số 0 – thực phẩm và động vật sống, Việt Nam có chỉ số RCAđạt giá trị lớn hơn 1 (1,81), chứng tỏ đây là nhóm hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh, làmặt hàng xuất khẩu của nước ta Thực tế cho thấy, sản lượng động vật sống (ví dụ: cá tra,
cá ba sa,….) của Việt Nam được xuất khẩu ngày càng tăng sang các nước có RCA về
Trang 17nhóm hàng này thấp hơn Trong 15 nước EU, chỉ có 4 nước: Đan Mạch, Hà Lan, Hy Lạp
và Tây Ban Nha có chỉ số RCA cao hơn Việt Nam
Nhóm hàng số 1 – các loại đồ uống và thuốc lá là một trong những nhóm hàng ViệtNam có chỉ số RCA thấp nhất, chỉ đạt 0,29 Tất cả 15 nước EU đều có RCA về nhómhàng 2 cao hơn hẳn so với Việt Nam Điều này chứng tỏ thuốc lá và đồ uống không phải
là nhóm hàng mà Việt Nam có lợi thế so sánh so với các nước EU do chính sách hạn chế
sử dụng thuốc lá của Chính phủ Việt Nam