1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾHIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆTNAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂUVN – EAEU FTA

47 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 866 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUNgày 29/5, Hiệp định Hiệp định thương mại tự do FTA đã được ký kết giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu EAEU Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan mở ra một thị tr

Trang 1

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

 

TIỂU LUẬN MÔN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 .

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á - ÂU (VN-EAEU FTA) 2

I Giới thiệu về liên minh kinh tế Á Âu 2

1 Liên minh kinh tế Á Âu 2

2 Các quốc gia trong liên minh kinh tế Á Âu 2

II.Quá trình hình thành liên minh kinh tế Á Âu 9

III.Lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á Âu 11

IV. Quá trình đàm phán của hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á Âu (VN-EAEU FTA) 13

CHƯƠNG 2 14

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ 14

GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU (VN-EAEU FTA ) 14

I Quan hệ thương mại – đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu: 14

II Quan hệ thương mại – đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên 14

CHƯƠNG 3 23

NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO 23

VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH TẾ Á-ÂU (VN-EAEU) 23

I Cơ sở hình thành của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh tế Á – Âu (VN-EAEU) 23

II Nội dung hiệp định 24

1.Sơ lược nội dung : 24

2 Cam kết quan trọng 27

2.2 Cam kết về xuất xứ 32

III Điều kiện hưởng ưu đãi theo hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế

Trang 3

Âu (VN-EAEU FTA) có hiệu lực thực thi 37

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP 40

I Giải pháp từ phía doanh nghiệp 40

II. Giải pháp từ phía Nhà nước 40

KẾT LUẬN 42

TÀI LIỆU THAM KHẢO 43

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày 29/5, Hiệp định Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã được ký kết giữa Việt Nam

và Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) (Nga, Armenia, Belarus, Kazakhstan và Kyrgyzstan) mở

ra một thị trường lớn có quy mô lên tới 182 triệu dân, có GDP năm 2014 đạt khoảng hơn 2.200

tỷ USD Đáng chú ý, đây là thị trường giàu tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than đá, quặngsắt Trên thực tế, Việt Nam đã và đang xuất khẩu vào thị trường này các mặt hàng chủ lực nhưđiện thoại-linh kiện, máy vi tính-sản phẩm điện tử, hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê,hạt điều, gạo, rau quả Bên cạnh đó, Việt Nam lại nhập các mặt hàng xăng dầu, sắt thép, phânbón, máy móc thiết bị

Sau khi Hiệp định FTA Việt Nam-EAEU có hiệu lực, trên thị trường sẽ có khoảng 53%trong tổng số các dòng thuế xuống mức 0% và tạo cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt

Nam Tuy nhiên, để thâm nhập vào thị trường rộng lớn hơn 182 triệu dân này lại không dễ Cả

Nhà nước và doanh nghiệp Việt Nam cần phải có chính sách cũng như phương án chiến lược

để tận dụng các các điều kiện hội nhập, nâng cao khả năng xuất khẩu những mặt hàng chiếnlược vào thị trường đầy tiềm năng này

Trang 5

CHƯƠNG 1 HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH KINH

TẾ Á - ÂU (VN-EAEU FTA)

I Giới thiệu về liên minh kinh tế Á Âu

1 Liên minh kinh tế Á Âu

Liên minh Kinh tế Á Âu (tiếng Anh Eurasian Economic Union viết tắt EAEU hoặc EEU) là một liên minh kinh tế đã chính thức hoạt động vào đầu năm 2015 giữa các nước

Armenia, Belarus, Kazakhstan, Nga, và Kyrgyzstan (tháng 5 2015), những nước trước đó thuộcLiên Xô Liên minh giữa các nước trước đó có tên là Cộng đồng kinh tế Á Âu Liên minh Á Âu

có một thị trường chung cho 176 triệu người với Tổng sản phẩm nội địa trên 4 ngàn tỷ USD,EEU sẽ cho tự do luân chuyển hàng hóa, tư bản, dịch vụ và định cư và sẽ cung cấp hệ thốngchuyên chở chung, chung một chính sách về nông nghiệp và năng lượng cũng như trong tươnglai tiền tệ chung

Liên minh Kinh tế Á Âu bao gồm 5 Thành viên chính thức là Nga, Belarus, Kazakhstan vàArmenia, Kyrgyzstan

- Tổng diện tích: hơn 20tr km2

- Dân số (tính đến 1/1/2015): 182 triệu người

- GDP năm 2014 đạt khoảng hơn 2.200 tỷ USD

- Tài nguyên thiên nhiên: nhiều dầu mỏ, than đá, quặng sắt

- Các sản phẩm nhập khẩu chính từ Việt Nam: điện thoại và linh kiện, máy vi tính và sảnphẩm điện tử, hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà phê, hạt điều, gạo, rau quả

- Các sản phẩm xuất khẩu chính sang Việt Nam: xăng dầu, sắt thép, phân bón, máy móc thiếtbị

2 Các quốc gia trong liên minh kinh tế Á Âu

2.1 Nga

- Vị trí địa lý: Nằm trải dài trên phần phía Bắc của lục địa Á-Âu, tiếp giáp với 2 đại dương làBắc Băng Dương và Thái Bình Dương Liên Bang Nga có đường biên giới xấp xỉ chiều dàiXích đạo, trải dài trên 11 múi giờ, giáp đất liền với 14 quốc gia (từ đông sang tây): BắcTriều Tiên, Trung Quốc, Mông Cổ, Kazakhstan, Azerbaijan, Gruzia, Ukraine, Belarus,Latvia, Estonia, Phần Lan, Na Uy

Trang 6

- Diện tích: 17,098,242 km2

- Dân số: 142 triệu dân

- GDP: $3.471 nghìn tỷ (PPP), trong đó nông nghiệp chiếm 4.4%, công nghiệp chiếm 35.8%

và dịch vụ là 59.7%

- Tài nguyên thiên nhiên: Nga là nước giàu có về tài nguyên khoáng sản (trữ lượng và sốlượng: nhiên liệu, năng lượng thủy diện, quặng kim loại và phi kim loại, ruộng, đất nôngnghiệp ) - một trong những nước đứng đầu thế giới

- Năng lượng - nhiên liệu có vai trò quan trọng hàng đầu gồm: than đá (trữ lượng 7.000 tỷtấn), dầu (trở lượng 60 tỷ tấn ), kim loại màu, kim loại đen, vàng, kim cương, niken, bauxitetrữ lượng lớn Diện tích rừng 747.000.000ha, trữ lượng gỗ 80 tỷ m3 Tiềm năng thủy điện400.000.000 kw có khả năng sản xuất hàng ngàn tỷ Kwh điện hàng năm (sông Lêna đứngđầu)

- Việc săn bắn thú có lông quý đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hàng năm có thếcung cấp từ hàng trăm bộ lông thú quý hiếm - một trong những nước hàng đầu thế giới

- Phân bổ phần lớn tài nguyên khoáng sản nằm ở vùng Ðông Siberia: than, sắt, nhôm, kimcương, rừng Tây Siberia: dầu mỏ, khí tự nhiên Dãy Uran: than, sắt, kim loại màu VùngĐông Âu ít khoáng sản, nhưng có khả năng phát triển nông nghiệp và các ngành côngnghiệp nhẹ, công nghiệp đòi hỏi hàm lượng khoa học cao

- Tất cả các nguồn tài nguyên trên là cơ sở thuận lợi để phát triển các ngành công nghiệpnăng lượng, luyện kim, hóa chất, chế tạo máy, chế biến gỗ

- Xuất khẩu: $337.8 tỷ gồm các sản phẩm như dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ, khí đốt, kim

loại, gỗ và sản phẩm gỗ, hóa chất, và một loạt các nhà sản xuất dân sự và quân Thị trườngchính là Netherlands 14%, Trung Quốc 7.5%, Ý- 7.4%, Đức- 7.3%, Thổ Nhĩ Kỳ- 5%

- Nhập khẩu: $197.3 tỷ gồm máy móc, xe cộ, các sản phẩm dược phẩm, nhựa, bán thànhphẩm kim loại, thịt, trái cây và các loại hạt, dụng cụ quang học và y tế, sắt, thép từ các quốcgia như Trung Quốc- 17.6%, Đức- 11.5%, Mỹ- 6.6%,Ý-4.4%, Belarus 4.2%, Ukraine 4%Nga là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới về dầu mỏ và khí đốt tự nhiên,

và cũng là một nước xuất khẩu hàng đầu của các kim loại như thép và nhôm nguyên Lĩnh vực

Trang 7

tiêu thụ trong nước Tuy nhiên sự phụ thuộc của Nga vào xuất khẩu hàng hóa làm cho nó dễ bịbùng nổ theo chu kỳ phá sản mà theo các biến động bất ổn về giá cả toàn cầu.

Một sự kết hợp của việc giảm giá dầu, biện pháp trừng phạt quốc tế, và những hạn chế

về cơ cấu đẩy Nga vào một cuộc suy thoái sâu trong năm 2015, với GDP giảm bởi gần 4%, vàhầu hết các nhà kinh tế kỳ vọng suy thoái này sẽ kết thúc ít nhất là quý đầu tiên của năm 2016.Mặc dù Nga phát triển kinh tế được dự báo tăng trưởng khiêm tốn 0,7% cho năm 2016 như mộttoàn thể, Ngân hàng Trung ương Nga (CBR) hy vọng sự phục hồi bắt đầu vào cuối năm nay vàgiảm 0,5-1,0% cho cả năm Nga phụ thuộc rất nhiều vào sự chuyển động của giá cả hàng hóathế giới và CBR ước tính rằng nếu giá dầu giảm xuống dưới $ 40 một thùng vào năm 2016, cúsốc kết quả sẽ gây ra GDP sẽ giảm 5% hoặc nhiều hơn

2.2 Belarus

- Tên đầy đủ: Cộng hòa Belarus

- Vị trí địa lý: Belarus nằm ở phần Đông châu Âu, phía Bắc giáp Latvia và Litva, phía Đônggiáp Nga, phía Nam giáp Ukraine, phía Tây giáp Ba Lan Mặc dù không có biển nhưngBelarus có vị trí địa - chính trị khá quan trọng, là một trong những tuyến chính nối Nga vớiTây Âu

- Diện tích: 2207,600 km2

- Tài nguyên thiên nhiên: gỗ , dải than bùn , với số lượng nhỏ dầu và khí đốt tự nhiên , đágranit , đá vôi và bột đôlômit , macnơ , phấn, cát , sỏi , đất sét

- Dân số: 9,589,689 triệu người (ước tính 07/2015)

- GDP: $168.2 tỉ (PPP) trong đó nông nghiệp chiếm 9.3%, công nghiệp chiếm 41.3% và dịch

vụ là 49.4%

- Xuất khẩu: $28.63 tỉ, gồm có các hàng hóa như máy móc thiết bị, sản phẩm khoáng sản,hóa chất, kim loại, hàng dệt may, thực phẩm Các thị trường chính như: Nga - 42.2%,Ukraine - 11.3%, Anh- 8.2%, Hà Lan - 4.8%, Đức - 4.6%

- Nhập khẩu: $29.72 tỉ cho các sản phẩm khoáng sản, máy móc thiết bị, hóa chất, thực phẩm,kim loại Thị trường chính là Nga-59.3% , Đức - 5.9%, Trung Quốc- 5.1% và Ukraine

- 5.0%

Trang 8

Là một phần của Liên Xô cũ, Belarus đã có một tương đối phát triển, mặc dù cơ sở côngnghiệp cũ kỹ, đã lỗi thời, năng lượng không hiệu quả, và phụ thuộc vào năng lượng của Nga,được trợ cấp và ưu đãi tiếp cận với các thị trường Nga - sau sự tan rã của Liên Xô Đất nướcnày cũng có một nền nông nghiệp rộng lớn mà phần lớn là không hiệu quả và phụ thuộc vào trợcấp của chính phủ Sau khi bùng nổ ban đầu của cải cách tư bản 1991-94, bao gồm tư nhân hóacác doanh nghiệp nhà nước nhỏ hơn và một số doanh nghiệp ngành dịch vụ, sáng tạo của các tổchức của sở hữu tư nhân, và sự phát triển của doanh nghiệp, phát triển kinh tế Belarus rất chậm.

Belarus chỉ có trữ lượng nhỏ dầu thô, mặc dù nó nhập khẩu nhiều nhất dầu thô và khíđốt tự nhiên từ Nga với giá rẻ và phụ thuộc vấn đề này vào Nga khá lớn Belarus xuất khẩu tinhchế các sản phẩm dầu theo giá thị trường được sản xuất từ dầu thô của Nga Cuối năm 2006,Nga đã bắt đầu một quá trình trở lại trợ cấp vào dầu mỏ và khí đốt cho Belarus Căng thẳng vềnăng lượng của Nga đạt đỉnh điểm vào năm 2010, khi Nga ngừng xuất khẩu của tất cả các dầubao cấp sang Belarus tiết kiệm cho nhu cầu trong nước Trong tháng 12 năm 2010, Nga vàBelarus đạt đến một thỏa thuận để khởi động lại xuất khẩu dầu giảm giá cho Belarus Trongnăm 2015, Belarus tiếp tục nhập khẩu dầu thô của Nga tại một mức giá giảm giá Tuy nhiên, sựsụt giảm của giá dầu thế giới giảm mạnh doanh thu, một số ít đầu tư nước ngoài mới xảy ratrong những năm gần đây Năm 2011, một cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu, kích hoạt bởiChính phủ chỉ đạo tăng lương không được hỗ trợ bởi sự tăng năng suất tương xứng

Cuộc khủng hoảng trở nên phức tạp bởi một chi phí tăng lên trong đầu vào năng lượngcủa Nga và một đồng rúp Belarus định giá quá cao, và cuối cùng dẫn đến việc mất giá gấp balần của đồng rúp Belarus vào năm 2011 Trong tháng 11 năm 2011, Belarus đồng ý bán choNga cổ phần còn lại của nó trong Beltransgaz , các nhà điều hành đường ống dẫn khí tự nhiênBelarus, để đổi lấy giảm giá khí đốt tự nhiên của Nga Tiếp nhận hơn một nửa số nợ 3 tỷ USD

từ Quỹ Bail-out Cộng đồng kinh tế Á-Âu mà Nga thống trị, một khoản vay 1 tỷ USD từ nhànước Nga ngân hàng Sberbank, và bán 2,5 tỉ USD của Beltranzgas để Nga giúp ổn định tìnhhình trong năm 2012

Tuy nhiên, đồng tiền Belarus mất hơn 60% giá trị của nó, như tỷ lệ lạm phát đạt mứccao mới trong năm 2011 và 2012, trước khi dịu trong năm 2013 Tính đến tháng 1 năm 2014,

Trang 9

khoản vay mới cho Belarus lên đến 2 tỉ USD cho năm 2014 Mặc dù viện trợ nước ngoài, cácnền kinh tế Belarus tiếp tục tranh đấu dưới sức nặng của thanh toán nghĩa vụ trả nợ nước ngoàicao và thâm hụt thương mại Vào giữa tháng 12 năm 2014, thiếu sót cơ cấu kinh tế đã trầmtrọng hơn do sự mất giá của đồng rúp Nga và gây ra một 40% giảm giá gần của đồng rúpBelarus Belarus vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng kinh tế trì trệ và giảm dự trữ ngoại tệmạnh, với dưới một tháng bìa nhập khẩu.

2.3 Kazakhstan

Dân tộc Kazakhs, một kết hợp của Turkic và Mông Cổ - bộ lạc du mục di cư vào thế kỷ

13, rất hiếm khi được kết hợp như một quốc gia duy nhất Khu vực này đã được chinh phục bởiNga trong thế kỷ 18, và Kazakhstan đã trở thành một nước Cộng hòa Xô Viết vào năm 1936.Nền kinh tế của Kazakhstan lớn hơn so với những quốc gia Trung Á khác phần lớn là do cácnguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn của đất nước Vấn đề hiện nay bao gồm: phát triển mộtbản sắc dân tộc gắn kết; quản lý Hồi giáo, mở rộng phát triển các nguồn năng lượng dồi dàocủa đất nước và xuất khẩu sang các thị trường thế giới, đa dạng hóa nền kinh tế bên ngoài cáclĩnh vực dầu mỏ, khí đốt, và khai thác mỏ; nâng cao khả năng cạnh tranh kinh tế củaKazakhstan

- Diện tích: 2,699,700 km2

- Dân số: > 18 triệu dân

- GDP: $430.5 tỷ (PPP) trong đó nông nghiệp chiếm 4.8% , công nghiệp chiếm 35.3% vàdịch vụ là 59.9%

- Xuất khẩu: $45.3 tỷ trong đó sản phẩm chủ yếu là dầu và sản phẩm dầu , khí đốt, kim loạimàu, hóa chất , máy móc , hạt , len , thịt , than Thị trường chính là Trung Quốc-15.9%,Nga-12.1%, Đức - 9.5%, Pháp - 8.5%, Ý- 5.3%, Hy Lạp - 5.3%, Romania -5%

- Nhập khẩu: $31.64 tỷ, máy móc, thiết bị, sản phẩm kim loại, thực phẩm từ các thị trườngnhư Nga - 32.2%, Trung Quốc - 29%, Đức 5%

2.4 Armenia

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô Viết (CHXHCNXV) Armeniahay Xô viết Armenia, làmột trong 15 nước cộng hòa hình thành nên Liên Xô CHXHCNXV Armenia được thành lậpvào tháng 12 năm 1920, khi Liên Xô tiếp quản quyền kiểm soát Cộng hòa Dân chủ

Trang 10

Armenia đoản mệnh và tồn tại cho đến năm 1991 Nó đôi khi cũng được gọi là Đệ nhị Cộnghòa Armenia vì xuất hiện sau sự sụp đổ của Cộng hòa Dân chủ Armenia (cũng được biết đếnvới tên gọi Đệ nhất Cộng hòa Armenia)

Là một phần của Liên Xô, CHXHCNXV Armenia đã chuyển đổi từ một vùng nội địaphần lớn là nông nghiệp thành trung tâm sản xuất công nghiệp quan trọng Ngày 23 tháng 8năm 1990, nước cộng hòa đổi tên thành Cộng hòa Armenia, song vẫn nằm trong thànhphần Liên Xô cho đến khi chính thức tuyên bố độc lập vào ngày 21 tháng 9 năm 1991 Saukhi Liên Xô tan rã, nhà nước Cộng hòa Armenia tồn tại cho đến khi thông qua hiến pháp mớivào năm 1995

- Vị trí địa lý: thuộc phía Tây Nam Châu Á, nằm giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan

- Tài nguyên thiên nhiên: có lượng nhỏ vàng, đồng đỏ, kẽm và bô-xít

- Diện tích: 28.203 km²,

- Dân số: trên 3 triệu dân

- GDP: $25.22 tỉ (PPP) trong đó nông nghiệp chiếm 23.3%, công nghiệp chiếm 30.1% vàdịch vụ là 46.7%

- Xuất khẩu: $1.496 tỉ - Gang, đồng chưa gia công, kim loại màu, kim cương, khoáng sản,thực phẩm, năng lượng Tỷ lệ xuất khẩu các quốc gia như sau: Russia22.6%, Bulgaria 10.3% , Bỉ 8.9%, Iran 6.5%, Mỹ 6% và Canada 5.9%

- Nhập khẩu: $3.117 tỉ - Khí thiên nhiên, dầu khí, các sản phẩm thuốc lá, thực phẩm, kimcương Đa số nhập khẩu từ Nga với tỉ lệ 24.8%, Trung Quốc 8.6%, Đức 6.3%, Ukraine 5.1%, Thổ Nhĩ Kỳ 4.7% và Iran 4.4%

2.5 Kyrgyzstan.

Một quốc gia Trung Á có vẻ đẹp tự nhiên đáng kinh ngạc và truyền thống du mục tự hàonhất của Kyrgyzstan đã được chính thức sáp nhập vào Nga trong năm 1876 Kyrgyzstan tổchức một cuộc nổi dậy lớn chống lại đế chế Sa hoàng vào năm 1916, trong đó gần một phầnsáu dân số Kyrgyzstan đã bị giết chết Kyrgyzstan đã trở thành một nước cộng hòa của Liên Xôvào năm 1936 và giành được độc lập vào năm 1991 khi Liên Xô tan rã Các vấn đề quan tâmcủa Kyrgyzstan bao gồm: quỹ đạo của dân chủ hóa, nạn tham nhũng, quan hệ giàu nghèo, an

Trang 11

- Diện tích: 191.801 km2

- Dân số: 5.6 triệu dân

- GDP: $19.81 tỷ (PPP), trong đó nông nghiệp chiếm 48%, công nghiệp chiếm 12.5% và

dịch vụ là 39.5%

- Xuất khẩu: $1.933 tỷ với các sản phẩm như vàng, bông, len, hàng may mặc, thịt, thuốc lá;

thủy ngân, uranium, điện, máy móc, giày Thị trường chính là Uzbekistan 29.3%,Kazakhstan 28.5%, UAE 6.6%, Nga 5.9%, Afghanistan 5.8%, Thổ Nhĩ Kỳ 5.3%

- Nhập khẩu: $4.268 tỷ gồm các sản phẩm như dầu và khí, máy móc, thiết bị, hóa chất, thực

phẩm Các quốc gia nhập khẩu là Trung Quốc 54.4%, Nga - 18.1%, Kazakhstan 7.8%, ThổNhĩ Kỳ 4.4%

Kyrgyzstan là một nước nghèo, đất nước nhiều núi với một nền kinh tế chủ yếu do khaithác khoáng sản, nông nghiệp, và sự phụ thuộc vào kiều hối từ các công dân làm việc ở nướcngoài Bông, thuốc lá, len, và thịt là những sản phẩm nông nghiệp chủ yếu, mặc dù chỉ có thuốc

lá và bông được xuất khẩu số lượng bất kỳ Xuất khẩu khác bao gồm vàng, thủy ngân, uranium,khí thiên nhiên, và điện

Đất nước này đã tìm cách để thu hút đầu tư nước ngoài để mở rộng cơ sở xuất khẩu, baogồm xây dựng các đập thủy điện, nhưng một môi trường đầu tư khó khăn và một cuộc chiếnpháp lý đang diễn ra với các nhà đầu tư Canada tại mỏ vàng lớn nhất của quốc gia ngăn chặncác nhà đầu tư tiềm năng Kiều hối từ lao động nhập cư Kyrgyzstani ở Nga và Kazakhstan làtương đương với khoảng một phần tư GDP của Kyrgyzstan

Sau độc lập, Kyrgyzstan nhanh chóng tiến hành cải cách thị trường, chẳng hạn như cảithiện hệ thống quản lý và thiết lập chức cải cách ruộng đất Kyrgyzstan là quốc gia liên bangđầu tiên được chấp nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới Chính phủ đã tư nhân hóa nhiều cổphiếu sở hữu tại doanh nghiệp nhà nước Mặc dù có những cải cách, đất nước bị giảm nghiêmtrọng trong sản xuất vào đầu những năm 1990 và đã một lần nữa phải đối mặt với tăng trưởngchậm trong những năm gần đây khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và giá dầu giảm đã bị

hư hại nền kinh tế trên khắp Trung Á

Lãnh đạo Kyrgyzstan hy vọng sự gia nhập Liên minh Kinh tế Á-Âu vào tháng 8 năm

2015 sẽ thúc đẩy thương mại và đầu tư, nhưng các nền kinh tế chậm lại ở Nga và Trung Quốc,

Trang 12

giá hàng hóa thấp , và biến động tiền tệ tiếp tục cản trở tăng trưởng kinh tế Chìa khóa để tăngtrưởng trong tương lai bao gồm sự tiến bộ trong cuộc chiến chống tham nhũng , cải thiện tínhminh bạch hành chính , tái cơ cấu ngành công nghiệp trong nước , thu hút viện trợ và đầu tưnước ngoài

II Quá trình hình thành liên minh kinh tế Á Âu

Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh và sự sụp đổ của Liên Xô, Nga và các nước cộng hòaTrung Á đối mặt với việc nền kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng và sự sụt giảm tăng trưởngGDP Tiến trình thành lập liên minh đã bắt đầu ngay sau khi Liên Xô sụp đổ bằng việc liên kếtcác nền kinh tế thông qua Cộng đồng Kinh tế Á Âu vào tháng 12 năm 1991 bởi tổng thống củaBelarus, Kazakhstan và Nga Năm 1994, trong bài diễn văn tại Đại học Quốc gia Moskva, tổngthống Kazakhstan, Nursultan Nazarbayev đã nêu ra ý tưởng về việc thành lập một khu vưc mậudịch tự do dể kết nối và giúp tăng trưởng nền kinh tế giữa châu Âu và Đông Á Nó nhanhchóng được xem là một cách để thúc đẩy tương mại, thu hút đầu tư và tạo ra đối trọng với liênminh kinh tế của phương Tây

Tháng 3/1994, Tổng thống Kazakhstan N.Narazbayev đề xuất một bản dự thảo về việcthành lập một khu vực thuế quan thống nhất bao gồm 5 nước thuộc Liên Xô cũ là Nga,Kazakhstan, Belarus, Kyrgyzstan và Tajikistan Tháng 1/1995, Hiệp ước về việc thành lập Liênminh Thuế quan đã được 3 nước thành viên chính thức sau này của Liên minh ký Tuy nhiên,

do giữa các nước thành viên một số đạo luật lại không giống nhau, thậm chí có nhiều điềukhoản còn mâu thuẫn nhau đòi hỏi phải có những điều chỉnh tương đối căn bản thì việc liênminh mới dần trở thành hiện thực Bằng những nỗ lực của mỗi nước, mùa hè năm 1995, biêngiới giữa Nga và Belarus đã trở nên thông thương khi các trạm kiểm tra hải quan tại đây đãđược dỡ bỏ

Tháng 3/1996, Kyrgyzstan chính thức sáp nhập vào Liên minh Thuế quan Tuy nhiên,hai năm sau (1998) nước này đã tự rút lui khỏi liên minh để trở thành thành viên chính thức củaWTO Khủng hoảng kinh tế ngay sau đó diễn ra tại Nga đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạtđộng hải quan của 3 nước thành viên và kéo theo đó là sự đổ vỡ kế hoạch xây dựng Liên minhThuế quan Tháng 4/2000, các trạm kiểm tra hải quan đã được phục dựng trên biên giới Nga-

Trang 13

Belarus và trong năm 2001, tại biên giới Nga – Kazakhstan, các trạm tương tự cũng hoạt độngtrở lại.

Tháng 10/2000 tại Astana, lãnh đạo 5 nước Nga, Kazakhstan, Belarus, Kyrgyzstan vàTajikistan cùng ký vào văn bản khởi đầu cho việc thành lập Liên minh Kinh tế Á – Âu với mụcđích là tạo ra một sân chơi thương mại tự do, hình thành liên minh hải quan, không gian kinh tếthống nhất và thống nhất chế độ ngoại hối

Năm 2005, Hội nghị thượng đỉnh tại Kazan (Nga) đã thông qua được quyết định về việctái thành lập Liên minh Thuế quan

Ngày 6/10/2007 tại Thủ đô Dushanbe (Tajikistan), bản thỏa thuận về việc xây dựng mộtkhu vực chung với các thủ tục hải quan đồng nhất trong phạm vi của Liên minh đã được ký bởiNga, Kazakhstan và Belarus Rút kinh nghiệm từ những thiếu sót trong quá khứ, các phương ánchặt chẽ hơn về tổ chức và các văn bản pháp lý đi kèm đã được lựa chọn và đề xuất

Ngày 1/7/2011, bộ luật hải quan chung đã được Nga và Kazakhstan áp dụng Đến ngày6/7/2011 bộ luật này đã có hiệu lực pháp lý trên toàn lãnh thổ của Liên minh Thuế quan

Ngày 29/5/2014 tại Astana, 4 nước Nga, Kazakhstan, Belarus, Armenia và Kyrgyrstan

ký thỏa thuận về việc cho ra đời Liên minh Kinh tế Á-Âu Từ 1/1/2015, 3 nước thuộc Liênminh Thuế quan ngay lập tức trở thành thành viên chính thức của tổ chức này Armenia trởthành thành viên từ 2/1/2015, còn Kyrgyrstan thì từ 14/5/2015

Việc thành lập Liên minh nhằm tạo dòng chảy tự do về người, vốn và hàng hóa, giúpcủng cố nền kinh tế, bảo đảm sự phát triển hài hòa và xích lại gần nhau của các nước thànhviên Ngoài tự do thương mại, liên minh này còn phối hợp hệ thống tài chính của các nướcthành viên, điều chỉnh chính sách công nghiệp, nông nghiệp cùng mạng lưới giao thông vận tải.Cũng nhờ những lợi ích từ liên minh, liên kết mà trình độ phát triển của các nước trong khối sẽdần tăng lên, từ đó, GDP của cả khối cũng sẽ tăng lên đáng kể

Việc mở rộng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU được hưởng lợi đáng kể từ

Hệ thống Ưu đãi Thuế quan Phổ cập của EU (Generalised Scheme of Preferences (GSP) tạođiều kiện cho xuất khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển vào EU Đặc biệt, kể từ đầu năm

2014, xuất khẩu hàng hóa quan trọng của Việt Nam chẳng hạn như giày dép, có thể hưởngmức thuế ưu đãi theo chương trình GSP cải cách của EU Thông tin toàn diện về mức thuế

Trang 14

nhập khẩu EU và điều kiện tiếp cận thị trường khác có thể được tìm thấy tại Cơ sở Dữ liệu Hỗtrợ Xuất khẩu (Export Helpdesk) của EU.

III Lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và liên minh kinh tế Á Âu

Trong một thế giới ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, các nền kinh tế của cácquốc gia đang có để liên kết với nhau chặt chẽ mà bất kỳ phát triển bất lợi trong một nước cóthể có tác dụng làm tê liệt các quốc gia khác Điều này đòi hỏi sự phối hợp liên tục của chínhsách phục vụ cho mục tiêu chung - đó là nuôi dưỡng sự thịnh vượng kinh tế trên toàn quốc gia

và vượt quá ranh giới Các tổ chức khu vực và quốc tế đối phó với các vấn đề kinh tế cũng giúptrong việc giảm thiểu các vấn đề tranh khi có phát sinh Bên cạnh đó, có một loạt các thoảthuận song phương và tổ chức trên toàn châu lục mà còn tạo điều kiện cho quá trình hội nhậpkinh tế

Trong này, Việt Nam trở thành chủ động trong việc thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế vàtăng cường tất cả các cơ hội sẵn có để thúc đẩy thương mại bên ngoài Bên cạnh việc ký hiệpđịnh thương mại song phương, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) và Khu vực thương mại tự do liên quan (AFTA) vào năm 1995 Năm 1998, ViệtNam tham gia hợp tác kinh tế Thái Bình Dương Châu Á (APEC)

Từ năm 2000, Việt Nam đã đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế và tham gia vào cáchiệp định thương mại song phương toàn diện nhất với Mỹ, trước khi bước vào hiệp định đaphương tự do thương mại (FTA) trong khuôn khổ ASEAN như FTA ASEAN-Trung Quốc,FTA ASEAN-Hàn Quốc, FTA ASEAN-Australia-New Zealand, hợp tác ASEAN-Nhật Bảnkinh tế toàn diện FTA ASEAN-Ấn Độ Trong năm 2007, Việt Nam đã trở thành một thành viêncủa Tổ chức Thương mại Thế giới với các thị phần xuất khẩu như biểu đồ bên dưới:

Trang 15

Tuy nhiên Việt Nam đã không hoàn tất quá trình hội nhập kinh tế của mình Việt Nambắt đầu đàm phán với Liên minh kinh tế Á Âu của Belarus, Kazakhstan và Nga tháng ba năm

2013 Các EAEU là một liên minh kinh tế quốc tế của nước Nga, Belarus, Kazakhstan, vàArmenia Thỏa thuận này là tài liệu ưu đãi toàn diện quốc tế đầu tiên với một nước thuộc khuvực châu Á-Thái Bình Dương mà EAEU ký điều chỉnh tất cả các khía cạnh liên quan đến việcvận chuyển hàng hóa và dịch vụ như giảm hoặc miễn trừ thuế quan đối với nhiều mặt hàng, vàtạo ra một khu vực tự do thương mại giữa các EAEU và một bên thứ ba Thủ tướng NgaMedvedev đã được trích dẫn, nói rằng FTA "sẽ làm giảm hoặc bỏ thuế quan đối với nhiều mặthàng", mặc dù bảo hộ thuế quan sẽ vẫn cho một số các danh mục nhạy cảm hơn Các bên cũng

đã ký một thỏa thuận về sự chuyển động của các chất và các sản phẩm có chứa các chất pháhủy tầng ozone và theo dõi các chất phá hủy tầng ozone trong thương mại lẫn nhau giữa cácnước thành viên Trong đó, có thể nói mối quan hệ giữa Việt Nam và Nga là lâu bền hơn hết

Trang 16

Việt Nam và Nga hợp tác nhằm mục đích để có thương mại song phương đạt 10 tỷ $ vàonăm 2020 Hiện nay, Nga đã đầu tư 2 tỷ USD trong 114 dự án tại Việt Nam , bao gồm

1120000000 USD trong 32 dự án trong lĩnh vực sản xuất và chế biến Hai mươi bảy phần trămcủa đầu tư của Nga là trong lĩnh vực dầu mỏ và khí đốt Này được phân phối như 1 tỷ USD tạitỉnh Bình Định, 129.500.000 USD tại Hà Nội , và 52 triệu USD trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.Sau khi Hoa Kỳ và phương Tây áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế trong cuộc khủng hoảng Ukraina, Nga bắt đầu đa dạng hóa nhập khẩu nông sản của mình khi các nguồn như từ Úc , Canada vàLiên minh châu Âu cạn hình thức xử phạt Theo Tổ chức Thương mại Thế giới , sản phẩmnông nghiệp chiếm 21,6 phần trăm xuất khẩu của Việt Nam sang Nga trong năm 2013 Xuấtkhẩu của Việt Nam các sản phẩm thủy sản vào Nga tổng cộng là 61.300.000 $ trong quý đầutiên của năm 2014 Như Nga tìm kiếm giải pháp thay thế thương mại , FTA với Nga sẽ giúpcon số này sẽ tăng lên

Tháng 9/2014, tại cuộc họp của Ủy ban liên Chính phủ Nga – Việt Nam về hợp tác kinh

tế, thương mại và khoa học kỹ thuật diễn ra tại Vladivostok (Nga), đại diện của Nga đã trao chophía Việt Nam bản đề nghị về việc mời Việt Nam tham gia vào Liên minh Kinh tế Á-Âu Khởiđầu cho quá trình hội nhập này sẽ là việc thành lập các khu vực tự do thương mại cụ thể giữaViệt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu Bản dự thảo Hiệp định về khu vực thương mại tự dogiữa Liên minh Kinh tế Á – Âu với Việt Nam đã được xem xét và thông qua tại kỳ họp Chínhphủ Nga ngày 21/5/2015

IV Quá trình đàm phán của hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh kinh

tế Á Âu (VN-EAEU FTA)

- 28/3/2013: FTA Việt Nam – Liên minh thuế quan Nga-Belarus-Kazakhstan chính thức khởiđộng đàm phán

- Tổng cộng có 8 vòng đàm phán chính thức (vòng cuối cùng tại Hà Nội ngày 8-14/12/2014),nhiều vòng không chính thức

- Ngày 15/12/2014: Hai bên đã ký Tuyên bố chung kết thúc đàm phán

- Ngày 29/5/2015: Hai bên chính thức ký kết FTA Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á-Âu

Trang 17

(Ngày 29/5/2014: ba nước Nga, Belarus, Kazakhstan đã ký kết thành lập Liên minh Kinh tế

Á-Âu thay cho Liên minh thuế quan trước đây, và kết nạp thêm hai thành viên mới là Cộng hòaArmenia và Cộng hòa Kyrgyzstan)

Trang 18

CHƯƠNG 2

QUAN HỆ THƯƠNG MẠI – ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH KINH TẾ Á ÂU (VN-EAEU FTA )

I Quan hệ thương mại – đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á-Âu:

Việt Nam là đối tác đầu tiên ký FTA với EAEU và nhiều nội dung trong FTA cho thấychúng ta sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn trong thương mại và xuất khẩu hàng hóa sang thị trườngkhá lớn này Ngược lại, các nhà đầu tư, doanh nghiệp của các quốc gia trong EAEU cũng sẽnhìn thấy nhiều cơ hội hợp tác, tiếp cận với thị trường Việt Nam

Đến nay, Việt Nam và các quốc gia thành viên EAEU có mối quan hệ truyền thống hữunghị từ thời Liên Xô cũ Trong giai đoạn 2009-2014, thương mại hai chiều tăng trưởng bìnhquân 5-6% với kim ngạch song phương đạt 4,2 tỉ USD vào năm 2014

Nhiều ý kiến đánh giá mức độ hợp tác này còn rất khiêm tốn so với tiềm năng và cơ hội,nhất là mối quan hệ hợp tác tốt đẹp và lâu dài giữa hai bên Cụ thể, đối với mặt hang dệt may:Việt Nam mỗi năm xuất khẩu 24 tỷ USD, EAEU mỗi năm nhập khẩu (NK) 17 tỷ USD, nhưngthị phần của Việt Nam còn rất nhỏ Năm 2014, Việt Nam xuất khẩu 136 triệu USD dệt maysang Nga, trong tổng kim ngạch xuất khẩu 1,9 tỷ USD sang nước này Dự báo kim ngạch hàngdệt may giữa hai bên sẽ tăng trưởng 50% ngay trong năm đầu tiên Hiệp định được thực thi vàtăng trung bình 20% trong 5 năm tiếp theo

II Quan hệ thương mại – đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên

1 Quan hệ TM-ĐT giữa Việt Nam và Nga

Việt Nam là đối tác ưu tiên hàng đầu của Liên bang Nga để thâm nhập vào khu vựcASEAN, còn Liên bang Nga đang đóng vai trò chủ chốt cho Việt Nam phát triển quan hệ vớicác thanh viên còn lại trong Liên minh kinh tế Á -Âu Tình hình thương mại giữa Việt Nam vàLiên Ban Nga từ 2005 – 2014:

Trang 19

Nguồn: Cục đầu tư nước ngoài, bộ kế hoạch đầu tư

Về xuất Khẩu:

Năm 2014, xuất khẩu sang Nga đạt 1,9 tỷ USD Chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng côngnghiệp nhẹ và tiêu dùng, chiếm gần 80% kim ngạch xuất khẩu Điện thoại các loại và linh kiện:674,1 triệu USD, 41,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Nga Máy vi tính, sản phẩm điện tử &linh kiện: 124,3 triệu USD, chiếm 10% Thủy sản: 104,5 triệu USD, chiếm 5,4% Dệt may:136,8 triệu USD, chiếm 7% Giầy dép các loại; rau quả; cà phê, hạt điều và hạt tiêu

Về nhập khẩu:

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ (Tổng cục hải quan) Việt Nam Nhập khẩu từ Nganăm 2014 đạt 853 triệu USD Trên 85% kim ngạch nhập khẩu từ Nga là những mặt hàng thiếtyếu, phục vụ sản xuất trong nước như: xăng dầu, phân bón, sắt thép & sản phẩm, máy mócthiết bị dụng cụ & phụ tùng, hàng thủy sản, than đá, cao su, các sản phẩm từ dầu mỏ, phôithép, sắt thép thành phẩm và phân bón Xăng dầu các loại chiếm 36,8%, đạt 302 triệu USD.Phân bón các loại 16,9%, đạt 138 triệu USD Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 64triệu USD, chiếm 7,8%

Trang 20

Về đầu tư:

+ Đầu tư của Liên Bang Nga vào Việt Nam:

Tính đến cuối tháng 9 năm 2015, Liên bang Nga đứng thứ 17/105 quốc gia và vùng lãnh

thổ đầu tư vào Việt Nam với 114 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký 1,961 tỷ

USD

- Phân theo Ngành:

Các nhà đầu tư Liên bang Nga đầu tư nhiều nhất trong lĩnh vực chế biến, chế tạo với 37

dự án, tổng vốn đầu tư là 1,13 tỷ USD (chiếm 58% tổng vốn đầu tư), đứng thứ 2 là khai khoángvới 7 dự án đầu tư, tổng vốn đầu tư 581,2 triệu USD (chiếm 30% tổng vốn đầu tư), đứng thứ 3

là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với 03 dự án, tổng vốn đầu tư là 72,73 triệu USD Còn lại

là các lĩnh vực xây dựng; nông, lâm nghiệp, thủy sản; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa

- Phân theo hình thức đầu tư:

Vốn đầu tư của Liên bang Nga chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài và hìnhthức hợp đồng hợp tác kinh doanh Hình thức 100% vốn nước ngoài dẫn đầu với 72 dự án đầu

tư, tổng vốn đầu tư 1,267 tỷ USD (chiếm 64% tổng vốn đầu tư đăng ký); hình thức thức hợpđồng hợp tác kinh doanh với 4 dự án, vốn đầu tư là 381,26 triệu USD (chiếm 19% vốn đầu tư),tiếp theo là đầu tư theo hình thức liên doanh với 36 dự án, tổng vốn đầu tư là 256,43 triệu USD(chiếm 13% tổng vốn đầu tư) Còn lại là hình thức công ty cổ phần

- Phân theo địa bàn đầu tư:

Tính đến nay, Liên bang Nga có dự án tại 26 địa phương, tập trung tại các địa bàn thuậnlợi Dẫn đầu là Bình Định với 01 dự án có tổng vốn đầu tư 1 tỷ USD; các dự án dầu khí ngoàikhơi gồm 6 dự án với tổng vốn đầu tư 531,2 triệu USD; tiếp theo Hà Nội với 29 dự án, tổng

vốn đầu tư là 131,9 triệu USD; còn lại là các dự án tại các địa phương khác

- Một số dự án đầu tư lớn của Nga vào Việt Nam:

(1) Dự án Công ty TNHH Bus Industrial Center, cấp phép ngày 12/4/2013 với tổng vốnđầu tư đăng ký là 1 tỷ USD, với mục tiêu xây dựng nhà máy lắp ráp và sản xuất phụ tùng xebus và dịch vụ hỗ trợ khác tại Bình Định

Trang 21

(2) Hợp đồng dầu khí lô 129,130,131,132 ký ngày 28/10/2008, cấp phép ngày 04/2/2009với tổng vốn đầu tư đăng ký là 328,2 triệu USD, nhà đầu tư là Công ty GAZPROM VÀZARUBEZHNEFTEGAZ với mục tiêu là khai thác dầu khí

+ Đầu tư theo chiều ngược lại của Việt Nam sang Liên bang Nga

Tính đến cuối tháng 9 năm 2015, Việt Nam có 18 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn

đầu tư cấp mới và tăng vốn là 2,4 tỷ USD trong đó có một số dự án tiêu biểu như:

(1) Dự án cty Liên doanh Rusvietpetro, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2,02 tỷ USD cấpphép ngày 15/10/2008 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam) -PVN) đầu tư tại khu tự trị Nhenhexky, Nga với mục tiêu thăm dò và khai thác dầu khí

(2) Dự án cty Liên doanh Rusvietpetro, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 125 triệu USD cấpphép ngày 5/3/2013 do Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đầu tư tại Mỏ Nagumanov,Orenburg, Nga với mục tiêu thăm dò và khai thác dầu khí

(3) Công ty CP đầu tư trung tâm thương mại Hà Nội-Matxcơva, với tổng vốn đầu tưđăng ký là 190 triệu USD cấp phép ngày 16/04/2008 do CTCP Trung tâm Thương mại Hà NộiMatxcơva đầu tư, trụ sở tại cây số 94 đưong Makad, q Đông Bắc, tp Matxcơva, Liên bang Ngavới mục tiêu đầu tư XD Trung tâm văn hóa, thể thao và thương mại; khách sạn và văn phòngcho thuê

2 Quan hệ TM-ĐT giữa Việt Nam và các nước Belarus, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Armenia:

2.1 Thị trường Belarus

Thương mại hàng hoá giữa Việt Nam và Belarus giai đoạn 2010-2014 và cập nhật 10tháng từ đầu năm 2015 9 tháng đầu năm 2015, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 107 triệuUSD, Belarus xuất 82 triệu – Việt Nam xuất 25 triệu (cả năm 2014 là hơn 160 triệu) Belaruschỉ chiếm 0.1% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và là thị trường xuất khẩu thứ 124 củaViệt Nam Thị trường thứ 59 cung cấp hàng hóa cho Việt Nam trên phạm vi toàn cầu

Sau khi chịu những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu năm 2009dẫn đến suy giảm mạnh trong trao đổi thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Belarus, năm

2010 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia đã có dấu hiệu phục hồi với trị giá đạt

100 triệu USD, tăng 31,6% so với 1 năm trước đó

Trang 22

Trong đó, nhập khẩu đạt 85,74 triệu USD, tăng 27,2% và xuất khẩu đạt 14,32 triệuUSD, tăng 66,9% Đến năm 2011, trị giá trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Belarus đạtmức kỷ lục trong vòng 5 năm trước đó, đạt 210,46 triệu USD, tăng gấp đôi so với năm 2010.Tăng trưởng nhảy vọt này được ghi nhận là do sự gia tăng mạnh mẽ trong nhập khẩu hàng hóa

từ Belarus vào Việt Nam (đạt 199,27 triệu USD, tăng 132,4%) Tuy nhiên, đà tăng trưởng nàykhông được duy trì lâu khi những năm tiếp theo, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốcgia liên tục suy giảm Mức suy giảm trong các năm 2012, 2013 và 2014 được thống kê lần lượt

ở mức17,1%, 12,9% và 29,5%

Năm 2014, Việt Nam nhập khẩu từ Belarus 138 triệu USD Trong đó, phân bón: đạt 72triệu USD, còn lại là máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng, sản phẩm từ sắt thép, ô tô tải, linhkiện & phụ tùng ô tô Việt Nam xuất khẩu sang Belarus 14 triệu USD Trong đó, thủy sản:26%, cao su: 20%, điện thoại & linh kiện: 16%, gạo: 14% và sản phẩm sắn: 10%

Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 10 tháng tính từđầu năm 2015, Việt Nam và Belarus đã trao đổi 110,8 triệu USD hàng hóa, tăng 20,7% so vớicùng kỳ năm trước Trong đó xuất khẩu đạt 3,62 triệu USD, giảm mạnh 70,4% và nhập khẩuđạt 107,2 triệu USD, tăng 34,7%

Trong giao dịch thương mại với Belarus, Việt Nam luôn nhập siêu từ thị trường này vớimức thâm hụt cao Từ năm 2010 đến nay, mặc dù đã có những tăng trưởng khá trong xuấtkhẩu, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Belarus luôn chiếm trên 85% trong tổng kimngạch xuất nhập khẩu của hai nước, trung bình gấp trên 6 lần kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam sang thị trường này

Trang 23

Mặc dù có quan hệ chính trị, ngoại giao lâu đời với nhau nhưng quan hệ thương mạigiữa Việt Nam và Belarus vẫn còn khá khiêm tốn, đặc biệt là xuất khẩu hàng hóa của Việt Namsang thị trường này Trong nhiều năm qua, tổng kim ngạch hàng hoá xuất nhập khẩu với nướcnày chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam(khoảng gần 0,1%) Một minh chứng nữa là trong năm 2014, Belarus là thị trường thứ 124trong số các thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam và là thị trường thứ 59 cung cấp hànghóa cho Việt Nam trên phạm vi toàn cầu.

Xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam sang Belarus thấp

Với sự ra đời của Thương vụ Việt Nam tại Belarus trong năm 2005 và việc đẩy mạnhcác hoạt động xúc tiến thương mại tại nước này, hoạt động xuất khẩu hàng hóa của các doanhnghiệp Việt Nam vào thị trường này trong các năm tiếp theo bắt đầu được quan tâm hơn Năm

2010, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này đã đạt 14 triệu USD, tăng 14 lần so với 5 nămtrước đó Các mặt hàng chủ yếu mà doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này baogồm: hàng thủy sản, cao su, gạo, điện thoại các loại và linh kiện… Tuy vậy, số liệu thống kêcũng cho thấy mức xuất khẩu từ Việt Nam sang Belarus vẫn còn thấp so với tiềm năng của hainước, trung bình chỉ chiếm chưa đến 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai quốc gia

Ngày đăng: 28/06/2021, 07:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w