1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tâm lý trẻ em lứa tuổi mầm non

98 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tâm Lý Trẻ Em Lứa Tuổi Mầm Non
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm
Chuyên ngành Tâm Lý Học
Thể loại tiểu luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 638,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học trẻ em là: Những sự kiện, qui luật phát triển của hoạt động, của các quá trình, phẩm chất tâm lí trẻ em và sự hình thành nhân cách của trẻ trong sự ph

Trang 1

TÂM LÝ TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON

Chương I : Khái quát chung về tâm lý học trẻ em

( 5 tiết)

1 Đối tượng, nhiệm vụ, ý nghĩa của tâm lý học trẻ em

1.1.Đối tượng nghiện cứu của tâm lý học trẻ em

Sau khi trở thành một khoa học độc lập, kết quả nghiên cứu của tâm lý học đượcứng dụng rộng rãi vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó hình thành nên nhiềuchuyên ngành tâm lý học khác nhau Tâm lí học trẻ em là một trong số những chuyênngành quan trọng của tâm lý học, hướng vào việc nghiên cứu đời sống tâm lí trẻ em

Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học trẻ em là: Những sự kiện, qui luật phát triển của hoạt động, của các quá trình, phẩm chất tâm lí trẻ em và sự hình thành nhân cách của trẻ trong sự phát triển của nó

1.2 Nhiệm vụ nghiện cứu của tâm lý học trẻ em

Nghiên cứu đối tượng của mình, tâm lí học trẻ em cũng tuân theo những nguyên

tắc, những cơ sở lí luận của những luận thuyết tạo nên phương pháp luận của tâm lí họcđại cương Nhưng sự phát triển tâm lí trẻ em còn chịu sự tác động của những qui luậtriêng và có những đặc điểm đặc trưng nên nhiệm vụ của tâm lí học trẻ em là :

- Nghiên cứu sự phát triển của các quá trình tâm lí, đặc điểm hoạt động tâm lí và

sự hình thành nhân cách của trẻ diễn ra như thế nào qua các thời kỳ, các giai đoạn pháttriển nhất định và chịu sự tác động của những yếu tố nào

- Phân tích những điều kiện, những yếu tố, hoàn cảnh qui định sự phát triển của trẻtrong sự tác động tương hỗ giữa chúng Phân tích những mâu thuẫn xảy ra một cách cóqui luật trong quá trình đứa trẻ chuyển từ trình độ phát triển này sang trình độ phát triểnkhác và được giải quyết trong quá trình phát triển như thế nào? (Chỉ ra động lực của sựphát triển)

- Nghiên cứu đặc điểm của hoạt động thần kinh cấp cao của trẻ ở các giai đoạnphát triển khác nhau nhằm tìm ra cơ sở tự nhiên của sự phát triển tâm lý trẻ em, sự ảnh

hưởng của yếu tố di truyền đối với sự phát triển tâm lý trẻ

Tâm lý học mầm non là một bộ phận của tâm lý học trẻ em, có đối tượng, nhiệm

vụ nghiên cứu giống với tâm lý học trẻ em nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi lứa tuổi từ 0đến 6 tuổi

1.3 Ý nghĩa của tâm lý học trẻ em

Là thành phần quan trọng trong hệ thống khoa học sư phạm mầm non, tâm lý họctrẻ em có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Tâm lý học trẻ em quan hệ mật thiết vớinhiều ngành khoa học khác nhau, vừa lấy chúng làm cơ sở để nghiên cứu đối tượng củamình, vừa góp phần cho sự phát triển của các khoa học ấy Sự hiểu biết sâu rộng về kiếnthức tâm lý học trẻ em còn là điều kiện để cô giáo mầm non thực hiện tốt mọi hoạt độngchăm sóc giáo dục trẻ

Trang 2

+ Tâm lí học trẻ em (TLHTE) dựa trên triết học duy vật biện chứng Các luậnđiểm triết học vạch ra những qui luật chung nhất của sự phát triển các hiện tượng tựnhiên, xã hội và khẳng định tâm lí, ý thức con người do xã hội quyết định Sự hiểu biếtcác qui luật chung giúp cho TLHTE có cách nhìn đúng đắn đối với sự phát triển tâm lí trẻ

em, làm rõ tâm lí, ý thức và nhân cách của trẻ được nảy sinh như thế nào, bằng conđường nào Ngược lại nghiên cứu quá trình nhận thức, điều kiện, qui luật phát triển tâm lítrẻ em lại làm sáng tỏ bản chất chung của hoạt động nhận thức của loài người và luậnthuyết về sự hình thành và phát triển tâm lí theo quan điểm duy vật biện chứng

V I Lênin chỉ ra : Lịch sử phát triển trí tuệ của trẻ em là một trong những lĩnh vực trithức từ đó hình thành nên lí luận chung về nhận thức và phép biện chứng Vì vậy có thểnói rằng, những thành tựu của TLHTE là một bộ phận cấu thành của nhận thức luận vàphép biện chứng trong trong triết học duy vật biện chứng

+ Tâm lí học trẻ em dựa trên những tri thức về tâm lí con người do tâm lí học đạicương cung cấp, đồng thời TLHTE lại cung cấp cứ liệu cho tâm lí học đại cương Nhiềuhiện tượng, qui luật tâm lí của con người sẽ không thể hiểu được nếu không nghiên cứuqui luật phát sinh của chúng Có thể nói TLHTE là một phương pháp đặc biệt để nghiêncứu tâm lí – phương pháp phát sinh mà nhờ nó các qui luật của tâm lí đại cương được xáclập

+ TLHTE thường xuyên sử dụng thành tựu giải phẫu sinh lí và bệnh học lứa tuổi,nhất là những số liệu về sự phát triển của hệ thần kinh cấp cao của trẻ Sự trưởng thành

và hoạt động bình thường của hệ thần kinh là điều kiện tối quan trọng của sự phát triểntâm lí Do đó nghiên cứu tâm lí trẻ em phải nắm vững kiến thức sinh lí học trẻ em

+ TLHTE là cơ sở để nhà giáo dục xây dựng nội dung, phương pháp, cách thức tổchức hoạt động giáo dục có hiệu quả cho từng lứa tuổi Ngược lại những phương phápgiáo dục trên cơ sở thành tựu của TLHTE không những đảm bảo cho sự phát triển nhâncách của trẻ đạt hiệu quả cao mà còn phát hiện ra những tiềm năng trí tuệ và những chứcnăng tâm lí cao cấp khác ở mỗi lứa tuổi, biến những dự kiến tương lai của trẻ thành hiệnthực, tạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của trẻ em

Hiểu TLHTE còn làm cho bản thân nhà giáo dục trở nên hoàn thiện hơn Người cókiến thức tâm lí học là người biết quan sát tinh tế, hiểu trẻ, có cơ sở để khắc phục nhữngthiếu xót và phát triển khả năng của bản thân trẻ hình thành nên những năng lực và phẩmchất tốt đẹp

Trong công tác giáo dục mầm non (MN), từ việc tổ chức đời sống cho trẻ đến việc

tổ chức các hoạt động giáo dục ở mọi nơi, mọi lúc đều phải dựa vào những đặc điểm pháttriển của trẻ trong suốt tuổi MN TLHTE giúp cho các nhà giáo dục có nhãn quan khoahọc để thực hiện tốt công tác giáo dục Bởi vậy TLHTE được coi là môn khoa học cơ bảngiữ vị trí trung tâm trong các khoa học giáo dục MN

+ Các bộ môn hợp thành khoa học giáo dục MN đều được xây dựng trên cơ sởnhững tri thức về sự phát triển của trẻ do TLHTE cung cấp Thiếu sự hiểu biết đó, hệthống các khoa học giáo dục MN sẽ mất tính khoa học Vì vậy TLHTE được coi là mônkhoa học cơ sở của các khoa học giáo dục MN

+ Đối với giáo viên MN, để có nghiệp vụ sư phạm tốt, tay nghề vững vàng, biết xử

lí các tình huống sư phạm diễn ra thường ngày ở trường, lớp MN và biết đánh giá kháchquan kết quả lao động của mình thể hiện ở sự phát triển tâm lí trẻ, cô giáo cần nắm vữngkhoa học tâm lí trẻ em MN Do vậy TLHTE còn được coi là môn khoa học nghiệp vụ

Trang 3

Tóm lại, với tầm quan trọng của mình, TLHTE vừa là khoa học cơ bản, vừa là khoa học cơ sở ngành, vừa là khoa học nghiệp vụ trong hệ thống khoa học giáo dục mầm non

2 Sơ lược lịch sử phát triển tâm lý học trẻ em

2.1.Sự hình thành và phát triển tâm lí học trẻ em trên thế giới

2.1.1 Giai đoạn trước khi tâm lí học trẻ em ra đời.

Là một chuyên ngành ra đời sau khi tâm lí học đã trở thành khoa học độc lập,nhưng những tư tưởng tâm lí học trẻ em đã được xuất hiện từ rất sớm

- Thế kỷ XVII nhà giáo dục lỗi lạc người Tiệp Khắc là I.A.Cômenxki đã đề cậptới vấn đề : Cần thiết phải xây dựng một hệ thống dạy học phù hợp với tâm hồn trẻ thôngqua hai tác phẩm “ lí luận dạy học vĩ đại” và “ thế giới trông thấy trên các bức tranh”

- Thế kỉ thứ XVII, nhà triết học đồng thời là nhà văn, nhà giáo dục học J.J Rutxongười Pháp ( Jean Jacques Roussau : 1712 - 1778) đã có những nhận xét tinh tế về trẻ em.Ông khẳng định trẻ em có những đặc điểm tâm lí rất riêng và đề cao khả năng phát triển

tự nhiên ở trẻ em Rutxo đã đưa ra quan điểm giáo dục tự nhiên và tự do, ông cho rằngmọi sự can thiệp vào con đường phát triển tự nhiên ấy đều có hại

- Nhà giáo dục học người Thụy Sĩ (J.H.Pestalôzi) cũng nghiên cứu về trẻ emnhưng ông lại cho rằng: Việc người lớn dạy trẻ em một cách có hệ thống có ý nghĩa lớnđối với sự phát triển tâm lí của trẻ

- Ở Nga giai đoạn này có nhiều tác giả đề cao vai trò của giáo dục đối với sự pháttriển nhân cách trẻ em

V.H.Tatitsev cho rằng nguồn gốc của trí tuệ cá nhân là sự nắm vững những kinhnghiệm và tri thức của người khác được truyền bằng ngôn ngữ và văn tự đặc biệt Vì vậycon người là sản phẩm của sự giúp đỡ của người khác đối với nó Ông là người đầu tiênphân định thời kỳ tuổi thơ một cách độc đáo

N.I Nôvicov (nhà chính luận nổi tiếng thế kỷ XVIII) liên tục bảo vệ tư tưởng vềkhả năng giáo dục những phẩm chất con người Ông khẳng định : Sự phát triển trí tuệ, trínhớ và những tình cảm đạo đức của trẻ được xây dựng trên cơ sở làm quen của trẻ vớinhững đồ vật xung quanh và bắt chước người lớn

A.N Rađisev lại quan tâm đến cơ sở khoa học tự nhiên của sự hình thành và pháttriển tâm lí trẻ em Ông cho rằng : linh hồn là kết quả của hoạt động thần kinh, của não.Linh hồn chỉ có từ sau khi đứa trẻ ra đời, dưới ảnh hưởng của những tác động đa dạngbên ngoài Linh hồn được hiểu như là năng lực trí tuệ, có cơ sở vật chất ngay từ sự pháttriển của đứa trẻ trong bào thai

- Tại Đức và nhiều nước khác cũng có nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm, thầythuốc… quan tâm nghiên cứu tâm lí trẻ em chủ yếu bằng phương pháp quan sát Nhữngtích lũy và tổng kết của họ đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển tâm lí học trẻ

em

Điển hình có nhà bác học Tiđơman (người Đức) năm 1787 xuất bản cuốn “Nhữngquan sát về sự phát triển các năng lực tinh thần của trẻ” Đây là cuốn sách đầu tiên về sựphát triển tâm lí trẻ em - kết quả của quá trình quan sát của ông về sự phát triển đứa trẻ từ

0 đến 3 tuổi

G.T Prâye quan sát sự phát triển của cảm giác và một số biểu hiện xúc cảm của trẻ

từ lúc mới sinh đến một năm, năm 1881 ông đã viết cuốn “ Tâm lí trẻ thơ”, ngoài tài liệu

Trang 4

từ kết quả quan sát về các sự kiện, ông còn nêu lên vai trò của yếu tố di truyền và nhữngảnh hưởng bên ngoài đối với sự phát triển tâm lí của trẻ sơ sinh.

Ngoài ra còn có các tác giả J.A Xicovki, E.L Stansinkaia, A Pavlova, Xkupina,

A Levonexki, V.M Bekhơtrev cũng có nhật ký tương tự được xuất bản vào đầu thế kỷXX

Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên đây cùng với thành tựu nghiên cứu củatâm lí học đại cương, đặc biệt là tâm lí học thực nghiệm là cơ sở quan trọng tạo điều kiệncho tâm lí học trẻ em ra đời vào nửa sau của thế kỷ thứ XIX

2.1.2 Sự phát triển của tâm lí học trẻ em từ đầu thế kỷ XX

* Đầu thế kỷ XX, xuất hiện hai trường phái giải thích khác nhau về nguồn gốc của

sự phát triển tâm lí trẻ em

- Trường phái “Nguồn gốc sinh học”, những người theo trường phái này cho rằngnhân tố sinh học mà trước hết là tính di truyền là nhân tố quyết định sự phát triển tâm lítrẻ em, còn môi trường chỉ là yếu tố điều chỉnh, yếu tố thể hiện Sự phát triển cá thể là sựphát triển lặp lại sự phát triển của loài dưới dạng rút gọn Cơ sở của qui luật nguồn gốcsinh học trong tâm lí học là tư tưởng về tính tự phát của sự phát triển tâm lí trẻ em, vềtính độc lập của sự phát triển tâm lí trẻ em đối với giáo dục Trường phái này cho rằng sựcan thiệp vào tiến trình phát triển tự nhiên của đứa trẻ là sự tùy tiện không thể tha thứđược Đây chính là cơ sở tâm lí học của thuyết “Giáo dục tự do”

- Trường phái “Nguồn gốc xã hội “ lại cho rằng môi trường xã hội là nhân tố tiềnđịnh sự phát triển của trẻ em Môi trường xung quanh như thế nào thì nhân cách conngười, cơ chế hành vi, những con đường phát triển của hành vi cuối cùng sẽ như thế ấy

Hai trường phái này đều phủ nhận tích cực hoạt động của cá nhân, vì vậy họkhông thể lí giải nổi những trường hợp sống trong cùng môi trường xã hội như nhau lại

có những đặc điểm nhân cách khác nhau hoặc trường hợp giống nhau về thế giới nội tâm,

về nôi dung và hình thức hành vi lại được hình thành từ trong những môi trường xã hộikhác nhau

* Sự phát triển của tâm lí học trẻ em ở Nga và Liên Xô cũ.

- Những nhà sinh lý học nổi tiếng người Nga đã có những công trình nghiên cứu

về tâm lí trẻ em trên cơ sở nghiên cứu hoạt động thần kinh cấp

Điển hình là I.M.Xêsênov (1829- 1905) đã có đóng góp lớn quyết định trong sựchứng minh bản chất phản xạ của tâm lí Trên cơ sở theo dõi phản xạ của trẻ em, ông đãnêu lên những đặc điểm và chiều hướng phát triển của cảm giác và vận động của trẻ em,trí nhớ và những hình thức tư duy đầu tiên, ý chí, ngôn ngữ và tự ý thức ở trẻ em Lầnđầu tiên ông là người đã xây dựng bức tranh toàn vẹn theo quan điểm duy vật về sự hìnhthành hoạt động tâm lí của trẻ trong tác phẩm “Những thành phần của tư tưởng”

I.V.Pavlov (1849- 1936), về sau đã khám phá ra từ là tín hiệu của hệ thống tín hiệuthứ nhất, trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Xêsênov về vai trò đặc biệt của những kí hiệutượng trưng của ngôn ngữ

- K.D.Usixnki (1824 -1870) đã có những đóng góp rất lớn cho tâm lí học trẻ em,với tác phẩm “ Con người là đối tượng giáo dục” ông đã đưa ra một hệ thống sư phạmdạy trẻ hoàn chỉnh trên cơ sở thấy nguyên nhân cơ bản và điều kiện của sự phát triển cácmặt nhân cách của trẻ em Ông đặc biệt chú ý đến vai trò của hoạt động tích cực của trẻtrong sự phát triển của nó, nhất là sự phát triển của trí tuệ Ông nhấn mạnh việc dạy học

và giáo dục muốn đạt kết quả thì dạy học phải phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi và

Trang 5

nhà giáo dục phải phát huy tính tích cực hoạt động ở trẻ Ngoài ra Usinxki còn chỉ ra vaitrò của ngôn ngữ trong sự phát triển trí tuệ và đạo đức Các công trình của

Xêsênov và Usinxki ngày nay vẫn được khai thác sử dụng

- Đầu thế kỷ XX, ở Nga xuất hiện trường phái Nhi đồng học gắn liền với tên tuổicủa các tác giả V.M Becterev, A.P Nachaev, G.I Rosslimo Nhi đồng học đã kết hợp mộtcách máy móc những quan niệm tâm lí học, sinh lí học, sinh vật học về sự phát triển củatrẻ em Nhi đồng học xuất hiện như một khoa học phức hợp chứa đựng những kết quảnghiên cứu của những ngành khoa học chuyên biệt nghiên cứu về con người đang pháttriển Nhưng họ lại không tiến hành tổng hợp khoa học mà lại hiểu một cách máy móc

Họ cho rằng sự phát triển tâm lí của trẻ em do hai nhân tố quyết định trực tiếp là yếu tố ditruyền và yếu tố môi trường Với quan điểm duy tâm và máy móc, Nhi đồng học đã bịphê phán mạnh mẽ ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, vì Nhi đồng học đã tỏ ra là một

lí thuyết phản tâm lí học

- Thời kỳ này còn có sự đóng góp tích cực của P.P Blônxki (1884 – 1941) trongviệc xây dựng nền sư phạm và tâm lí học Xô viết Mặc dù theo thuyết “nguồn gốc sinhhọc” cho rằng sự phát triển tâm lí trẻ như là sự lặp lại ngắn ngủi sự phát triển lịch sử củaloài người, nhưng ông đã đặt ra và giải quyết thành công vấn đề sự phát triển ý thức củangười trưởng thành và bảo vệ quan điểm duy vật về tâm lí và sự phát triển của nó ở trẻ

em

- Những tư tưởng của L.S Vưgôtxki (1896 – 1934) có ý nghĩa chủ yếu đối với sựphát triển tâm lí học trẻ em Xô viêt Ông cho rằng : Lao động, hoạt động công cụ đã làmbiến đổi kiểu hành vi của con người, khiến con người khác với động vật Sự khác biệt nàythể hiện ở tính gián tiếp của hoạt động Tính gián tiếp có được là do hoạt động tâm lí conngười sử dụng các kí hiệu ( từ, chữ số…) tương tự như con người sử dụng công cụ tronghoạt động thực tiễn, bên ngoài Xét về mặt tâm lí học, đặc điểm giống nhau giữa công cụ

và kí hiệu là ở chỗ, chúng cho phép thực hiện hoạt động một cách gián tiếp Sự khác nhaugiữa công cụ và kí hiệu thể hiện ở phương hướng khác nhau của chúng Công cụ hướng

ra bên ngoài, nó gây ra những biến đổi đối tượng Ký hiệu hướng vào bên trong, nó tácđộng tới hành vi, tâm lí của con người Việc sử dụng kí hiệu đã làm biến đổi toàn bộ hoạtđộng tâm lí của con người tương tự như việc sử dụng các công cụ làm biến đổi hoạt động

tự nhiên của các cơ quan và tăng cường mở rộng vô hạn những khả năng hoạt động tâmlí

Vưgôtxki đề cao vai trò của dạy học Ông cho rằng sự phát triển của con ngườidiễn ra trong quá trình nắm vững tất các phương tiên (công cụ và kí hiệu) bằng conđường giáo dục Vì vậy dạy học chiếm vị trí trung tâm trong toàn bộ hệ thống tổ chứccuộc sống của trẻ, đồng thời quyết định sự phát triển tâm lí trẻ Do đó không thể xem xét

sự phát triển tâm lí của trẻ bên goài môi trường xã hội mà trong đó tiến hành các phươngtiện kí hiệu cho phép nắm vững kinh nghiệm của thế hệ đi trước., cũng không thể hiểu sựphát triển tâm lí của trẻ bên ngoài giáo dục Tư tưởng của Vưgôxki thể hiện tư tưởng duyvật biện chứng về bản chất xã hội của con người

Khi nghiên cứu sự hình thành các tác động như là các kí hiệu, ông đã nhận thấy :Thoạt đầu ý nghĩa của tác động do hoàn cảnh khác nhau tạo ra, còn sau đó những ngườixung quanh đứa trẻ tạo ra Ông cũng theo dõi qui luật này qua những ví dụ về sự hìnhthành ngôn ngữ ở đứa trẻ Từ ngữ biểu đạt quan hệ với sự vật

Trang 6

Mức độ thứ nhất : Mối liên hệ khách quan này giữa từ ngữ và sự vật được ngườilớn sử dụng như là phương tiện giao tiếp với trẻ.

Mức độ thứ hai : Từ ngữ trở nên hiểu được đối với trẻ

Mức độ thứ ba : Thoạt đầu từ ngữ là phương tiện tác động tới người khác đã trởthành phương tiện điều khiển bản thân

L.S Vưgôtxki đã viết : Bản chất tâm lí con người là toàn bộ các quan hệ xã hộiđược chuyển vào bên trong trở thành những chức năng của nhân cách và cấu trúc của nó.Ông đã chứng minh : Những chức năng tâm lí bậc cao thoạt đầu được hình thành trong

đó dưới dạng quan hệ người- người và chỉ về sau mới trở thành những chức năng tâm lícủa cá nhân

- S.L Rubinstêin (1889 – 1960) tiếp tục phát triển lí thuyết về tâm lí học trẻ em.Ông đã phân tích tỉ mỉ những đặc điểm phát triển tâm lí trẻ em, quá trình tâm lí và nhâncách nói chung.Thống nhất với quan điểm của Vưgôtxki về vai trò của dạy học đối với

sự phát triển tâm lí trẻ em và đã có những giải thích, chứng minh cho quan điểm đó

- Kế tục và phát triển tư tưởng của Vưgôtxki, nhiều nhà tâm lí học khác như:A.N.Lêonchiev, D.B.Encônin, A.R.Luria, V.V.Đavưđov Đã đi sâu nghiên cứu lí thuyếthoạt động

A.N.Lêonchiev (1903 -1979) nhà tâm lí học xuất sắc đã có nhiều công trìnhnghiên cứu lớn về trí nhớ, lí thuyết hoạt động, nguồn gốc về tính cảm ứng ở người., ýthức, nhân cách Trong lĩnh vực tâm lí học trẻ em, nhiều vấn đề lí luận về sự phát triểntâm lí trẻ em đã được ông đặt ra và giải quyết A.N.Lêonchiev cho rằng : Khi sinh ra trẻ

đã có những khả năng để tiếp tục phát triển, việc giải quyết vấn đề động lực phát triểntâm lí trẻ em là hết sức quan trọng Sự thay đổi vị trí mà đứa trẻ chiếm trong hệ thốngquan hệ xã hội là điều đầu tiên phải nêu lên khi giải quyết vấn đề này Tuy vậy các quiđịnh trực tiếp sự phát triển hoạt động ấy lại phụ thuộc vào những điều kiện sống hiện cócủa các em Do vậy khi nghiên cứu tâm lí trẻ em cần xuất phát từ phân tích hoạt động củatrẻ, xem xét hoạt động ấy hình thành trong điều kiện cụ thể xác định đời sống trẻ như thếnào? Ông lưu ý rằng : Cuộc sống hay hoạt động nói chung không chắp nối máy móc từnhững dạng hoạt động chuyên biệt Có những dạng hoạt động giai đoạn này là chủ đạo và

có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển tiếp tục nhân cách, có những dạng hoạt động có ýnghĩa nhỏ hơn Có những dạng hoạt động giữ vai trò chủ yếu, có những dạng hoạt độnggiữ vai trò phụ thuộc Sự phát triển tâm lí phụ thuộc không phải vào hoạt động nói chung

mà vào hoạt động chủ đạo Từ đó có thể nói : Mỗi giai đoạn phát triển tâm lí đặc trưngbởi một quan hệ nhất định của đứa trẻ đối với thực tế, bởi một kiểu hoạt động chủ đạocủa nó Và dấu hiệu chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác chính là sự thay đổikiểu hoạt động chủ đạo, quan hệ chủ đạo của đứa trẻ đối với hiện thực

Lêonchiev còn chỉ ra : Cơ sở của những biến đổi đặc trưng cho sự phát triển tâm

lí trẻ là việc thay thế hoạt động chủ đạo Những biến đổi này diễn ra trong đặc tính tâm lícủa hành động Tùy theo chỗ hành động tham gia vào hoạt động nào, hành động sẽ mangđặc tính tâm lí này hay khác Cũng như vậy, sự ý thức suy xét của trẻ và các hiện tượngcủa thực tế diễn ra trong mối liên hệ với hoạt động của nó Những biến đổi này còn diễn

ra trong các quá trình tâm lí, các chức năng tâm sinh lý

Tìm hiểu quá trình biến đổi bên trong các giai đoạn phát triển của trẻ, ông đưa rahai hướng : Hướng cơ bản quyết định là từ những biến đổi bước đầu trong phạm vi cácquan hệ đời sống, hoạt động đến sự phát triển hành động, thao tác, chức năng; hướng

Trang 7

khác là từ sự sắp xếp lại các chức năng, các thao tác, nó xuất hiện phụ thuộc vào sự pháttriển diện hoạt động của trẻ Lêonchiev nhấn mạnh đến những quan hệ với thế giới xungquanh mà đứa trẻ tham gia vào, thực chất đó là những quan hệ xã hội Vì vậy, mỗi hoạtđộng của trẻ biểu hiện không chỉ quan hệ của nó đối với chính đối tượng mà còn thể hiệnnhững quan hệ xã hội hiện tại nữa

Ở lứa tuổi mầm non, Lêonchiev nghiên cứu về hoạt động của trẻ với tư cách làđộng lực cơ bản của sự phát triển tâm lí trong giai đoạn này Ông đã phân tích sâu sắc cơ

sở tâm lí học của hoạt động vui chơi - hoạt động chủ đạo của tuổi mẫu giáo, chỉ ra nhữngnội dung cơ bản và những đặc điểm đặc trưng của nó

Tác giả D.B.Encônin (sinh năm 1904) chuyên nghiên cứu về tâm lí của trẻ thơ vàhọc sinh Ông đã tiến hành những công trình nghiên cứu cơ bản về trò chơi và ngôn ngữcủa trẻ, đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 1 và tuổi thiếu niên Thống nhất với quan điểmcủa Lêonchiev ông cho rằng : Tất cả trẻ em, không phân biệt chủng tộc và các điều kiệnkinh tế - xã hội cụ thể ở nơi chúng sinh ra , ngay từ lúc ra đời đã có những đặc điểm hìnhthái – sinh lí của con người nói chung về cơ bản là như nhau Những đặc điểm này làmnền tảng cho toàn bộ sự phát triển tâm lí sau này và đảm bảo cho trẻ đạt được trình độphát triển cần thiết trong những điều kiện xã hội - lịch sử cụ thể của đời sống xã hội Mức

độ phát triển thể chất của trẻ ở mỗi thời điểm nhất định và những đặc điểm thần kinh cấpcao của nó là điều kiện cần thiết cho sự phát triển với tư cách là một thành viên của xãhội, phát triển tâm lí, ý thức của trẻ.Tuy nhiên những cái đó là điều kiện cần chứ bản thânchúng không hề định ra tiến trình cũng như mức độ phát

triển tâm lí trẻ Trong quá trình phát triển, đứa trẻ tham gia vào những quan hệ với thếgiới đồ vật và hiện tượng xung quanh nó do các thế hệ trước tạo ra Trẻ không thụ độngthích nghi với thế giới đồ vật của loài người mà chủ động tiếp thu tất cả những thành tựucủa loài người, nắm lấy nó Những năng lực và chức năng hình thành ở con người trongquá trình ấy là các cấu tạo tâm lí mới Đối với những cấu tạo này, các cơ chế và quá trìnhbẩm sinh di truyền chỉ là điều kiện cần thiết bên trong giúp cho cấu tạo tâm lí mới có thểxuất hiện, nhưng những cơ chế và quá trình ấy không qui định cả các thành phần lẫn chấtlượng chuyên biệt của các cấu tạo mới ấy

Về nguồn gốc sự phát triển tâm lí, Encônin cho rằng giáo dục và người lớn có vaitrò quan trọng Chỉ thông qua người lớn, nhờ người lớn đứa trẻ mới nắm được sự phongphú của hiện thực Hoạt động của trẻ với thế giới bao giờ cũng phải lấy quan hệ giữa trẻvới người lớn làm khâu trung gian Ông còn nhấn mạnh rằng, chỉ có hoạt động của chínhbản thân đứa trẻ nắm lấy thực tại mới là động lực của sự phát triển tâm lí và ý thức củatrẻ Hoạt động ấy phải thông qua quan hệ với người lớn - người mang trong mình toàn bộ

sự phong phú mà loài người đã tích lũy được Encônin còn đi sâu nghiên cứu về các giaiđoạn phát triển tâm lí trẻ em

- Một tác giả nổi tiếng của nền tâm lí học Liên Xô (trước đây) cần nhắc tới là P.La.Ganperin (sinh năm 1902) Các công trình nghiên cứu chủ yếu của ông đề cập đến lýthuyết hình thành trí tuệ theo giai đoạn Tư tưởng của thuyết này là : Việc tiếp thu tri thứcđược thực hiện trong quá trình hoạt động của trẻ em trong điều kiện các em thực hiện một

hệ thống hành động nhất định Con người không tiếp thu hoạt động tư duy và tự nhiêndưới dạng có sẵn mà học tập, suy nghĩ, lĩnh hội các thao tác tư duy Nhà giáo dục phảikhéo léo điều khiển quá trình này, kiểm tra không chỉ kết quả tư duy mà còn cả tiến trìnhhoạt động nữa Theo quan điểm của Ganperin, hình thức xuất phát của hoạt động tâm lí là

Trang 8

hình thức vật chất bên ngoài, thực hiện nhằm biến đổi các đối tượng của thế giới xungquanh Những thủ thuật mới của hoạt động tâm lí, tư duy bên trong không thể được lĩnhhội bằng cách nào khác là thông qua giai đoạn hoạt động vật chất bên ngoài - Hoạt độngvới những đối tượng thực hay mô hình Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn nói to, giải thíchtiến trình của thao tác Hành động từ hình thức bên ngoài biến thành hình thức bên trong.

Đó là sự vận dụng các tri thức trong các thao tác tư duy Tiến trình và chất lượng lĩnh hộiđược quyết định bởi bộ phận định hướng của hoạt động nhận thức Đó là toàn bộ nhữngđiều kiện khách quan mà chủ thể nhận thức hướng vào đó khi thực hiện hành động

- Trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lí trẻ em tiền học đường, có các nhà tâm lí học :A.Ba.Zaporọjets với tác phẩm tiêu biểu là “Cơ sở tâm lí học của giáo dục tiền họcđường”; L.A.Venger với “Chẩn đoán sự phát triển trí tuệ của trẻ tiền học đường”.V.X.Mukhina với “Tâm lí học tiền học đường”; “ Sự phát triển trí tuệ của trẻ em tiền họcđường”…

Tóm lại, hầu hết các mặt của đời sống tâm lí trẻ em đều được các nhà tâm lí học

Xô viết nghiên cứu tỉ mỉ, sâu sắc ở tất cả các lứa tuổi Kết quả nghiên cứu không chỉđược tích lũy dưới dạng tài liệu phong phú mà còn được áp dụng có hiệu quả vào thựctiễn sư phạm Cho đến nay, những quan điểm lý luận và những nghiên cứu thực nghiệmcủa nền tâm lí học Xô Viết có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển tâm lí học trẻ em ởnhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

* Tâm lí học trẻ em ở các nước phương Tây

Ở các nước phương Tây, thời kỳ này có nhiều tác giả nghiên cứu về tâm lí học trẻ

em Những nghiên cứu này có thể khái quát thành 3 khu vực :

Tâm lí học phát sinh: Gồm những thành tựu nghiên về các giai đoạn phát triển

của trẻ từ khi mới sinh cho đến tuổi trưởng thành, đặc biệt là lứa tuổi tiền học đường

Tâm lí học chức năng : Đi sâu vào một số mặt của đời sống tinh thần và hành vi

theo các giai đoạn phát triển, lựa chọn trong số đó những vấn đề cần thiết và chuyên biệthơn phục vụ cho các nhà giáo dục

Tâm lí học sai biệt :Nhấn mạnh những biến đổi tâm lí theo tính cách, giới tính và

môi trường

Những tác giả nổi tiếng gồm : J.Piaget (Thụy sĩ) với những công trình “Ngôn ngữ

và tư duy ở trẻ em” (1924), “Tâm lí học và trí thông minh” (1947”, “Sự hình thành biểutượng ở trẻ em” (1945) H Wallon (Pháp) với “Sự phát triển tâm lí trẻ em” (1941),

“Nguồn gốc của tư duy trẻ em” (1945), “Nguồn gốc của tính cách trẻ” (1954)…

S.Feud (Áo) với “Nhập môn phân tâm học” (1921) H.Piéron (Pháp) với “Tâm lí học saibiệt” (1949), “Sự phát triển của trí nhớ” (1910)… A.gesell (Mỹ) với “Trẻ nhỏ dưới nềngiáo dục hiện đại” (1949), “Trẻ em từ 5 đến 10 tuổi” (1949) Ngoài ra còn có những tácgiả khác như R.Zazzo (Pháp), Ch.Buller (Đức), L.M Terman (Mỹ), J Varendouk (Bỉ)G.Heuyer (Pháp)…

Ở những nước này, tâm lí học trẻ em phát triển nhanh và có xu hướng chia ra theonhững ngạch khác nhau, dựa theo lĩnh vực nghiên cứu và phương pháp được tuyển dụng,

có những đặc điểm đặc trưng cho mỗi nước

Sự phát triển này được thể hiện bởi số lượng lớn những công trình được công bố,

sự thành lập những học viện và những tạp chí chuyên ngành, sự tổ chức hội nghị Quốc tếdành cho tâm lí học trẻ em Tâm lí học trẻ em sử dụng những thuật ngữ chuyên biệt,những phương pháp được chính xác hóa, những cách lí giải của nó được thay đổi Sự

Trang 9

phát triển của phương pháp nghiên cứu tâm lí của trẻ em thể hiện ở số lượng tăng, nhưngnghiêm ngặt hơn, đòi hỏi sự đào tạo lâu hơn và khó đối với người sử dụng.

Những phạm trù tâm lí được quan tâm nghiên cứu là trí tuệ, tình cảm, xã hội, tínhcách Tâm lí học hành vi, phân tâm học, tâm lí học về sự hình thành, xã hội học là những

ví dụ điển hình về việc đào sâu nghiên cứu của những trào lưu lớn về nghiên cứu trẻ em ởphương tây

Sự khác nhau trong nghiên cứu tâm lí trẻ thể hiện ở các nước Ở mỹ Trong nghiêncứu trẻ em có sự kết hợp chặt chẽ với phương pháp thống kê và quan tâm nhiều tới nhâncách, quá trình phát triển cũng như khó khăn để thích ứng của trẻ Tâm lí học ở Mỹ chịuảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa Hành vi và Phân tâm học Ở Anh tâm lí học có nhiềuđiểm giống với tâm lí học Mỹ do có quan hệ gần gũi về ngôn ngữ và văn hóa nhưng cũng

có những nét giống với tâm lí học của các nước Tây Âu khác

Ở Đức, nghiên cứu tâm lí học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của truyền thống triết học

và dựa vào phương pháp thực nghiệm Thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, tâm lí học mỹ

có sự khủng hoảng trầm trọng do loại bỏ tâm lí học khoa học, sau chiến tranh nghiên cứu

về trẻ em phát triển mạnh Ở Pháp và các nước Tây âu khác (Bỉ, Thụy Sĩ ) tâm lí họcchưa chiếm được vị trí quan trọng như ở Mỹ những cũng có sự phát triển đáng kể gópphần vào sự phát triển nền tâm lí học ở các nước nói tiếng Pháp

Nền tâm lí học phương Tây được biết đến bởi nhiều công trình nổi tiếng của cácnhà nghiên cứu lỗi lạc Trước tiên là Jean Piaget (1896 -1980) nhà tâm lí học Thụy Sĩ

Nghiên cứu đầu tiên của Piaget là logic của trẻ em (các giai đoạn phát triển trí tuệ)biểu hiện trong ngôn ngữ tự phát của chúng Xuất từ quan niệm cho rằng, chức năng củalogic là chứng minh và kiểm nghiệm, Piaget phát hiện ra rằng, cho tới 7, 8 tuổi trongngôn ngữ của trẻ em hình thức độc thoại vẫn chiếm ưu thế; Các phán đoán của chúngthường có tính chất chồng ghép và các suy lí mang tính chất chuyển qui Ông kết luận :trẻ em ở tuổi này có một giai đoạn gọi là “Tự ngã trung tâm” (duy kỷ) - một giai đoạntiền logic trong đó trẻ em chưa biết các liên hệ, chưa biết đến quan điểm của người khác

và các quan hệ tương hỗ nên chúng chưa thấy được cần thiết phải có phải có sự truyềnđạt cũng như sự chứng minh, chưa biết được sự tất yếu logic và do đó không nhạy cảmvới mâu thuẫn Tình trạng tự ngã trung tâm mãi tới 11, 12 tuổi mới mất khi xuất hiện khảnăng suy lí và tính chất có thể đảo ngược của nó mà nhờ đó đứa trẻ có ý thức về tính chấtriêng trong suy nghĩ của mình Piaget nghiên cứu cái logic tạo nên hình thức của sự suynghĩ, nội dung của sự suy nghĩ này trong cuốn “Biểu tượng của trẻ về thế giới” và “quan

hệ nhân quả vật lí ở trẻ em” (Piaget 1926, 1927)

Từ những kết quả quan sát cho phép Piaget xác định được giai đoạn tiền nhân quả,gắn liền với chủ nghĩa tự nhiên mà giai đoạn này sự giải thích của trẻ về các hiện tượng,thường xuất hiện dưới hình thức thuyết vật linh luận, mục đích luận, nhân tạo luận Vềmặt xã hội, chủ nghĩa tự nhiên của đứa trẻ bộc lộ ở chủ nghĩa tự nhiên đạo đức, bao gồmkính trọng một chiều đối với người lớn, tuân theo lời người lớn một cách cứng nhắc…Chủ nghĩa này dần dần mất đi dưới ảnh hưởng của sự hợp tác giữa những trẻ cùng tuổikhi lên 7, 8 tuổi Như vậy đời sống xã hội là cần thiết cho sự phát triển trí tuệ của trẻ,trong sự phát triển ấy những tiến bộ của logic sẽ qui định những tiến bộ về nhận thức củatrẻ

Với những tác phẩm “Sự nảy sinh của trí tuệ ở trẻ em” (1936), và “sự hình thànhcác hiện thực ở trẻ” ông bắt đầu nghiên cứu sang thời kỳ trước khi có ngôn ngữ Từ

Trang 10

những quan sát tỉ mỉ 3 đứa con của mình, Piaget đã phát hiện ra 6 giai đoạn trong sự hìnhthành trí tuệ cảm giác - vận động của trẻ em thường kết thúc vào khoảng một năm rưỡi.

Từ những hệ thống tác động tự động mà trẻ sẵn có khi mới sinh ra, đứa trẻ đồng hóa vàohoạt động của hệ thống này những đối tượng ngày càng đa dạng rồi dần dần biến đổichúng để thích ứng với cấu tạo của các sự vật và liên hệ không gian và thời gian giữa các

sự vật Cuối cùng đi đến một lược đồ phản xạ hệ thống ngày càng nhiều cơ động hơn rồi

sẽ được tổ chức thành một cấu trúc lược đồ tổng quát xác định nên trí tuệ cảm giác - độngtác

Vào những năm 40 của thế kỷ XX, cùng với một số tác giả khác, Piaget đi sâu vàovấn đề quan trọng là sự chuyển hóa từ trí tuệ cảm giác vận động sang trí tuệ thao tác bằngcách đi sâu phân tích sự bắt chước, trò chơi giấc mơ của trẻ em nhỏ tuổi Ông đã chỉ ra

tư duy được hình thành như thế nào trong lòng của cảm giác vận động

Sau công trình về sự thành thành các thao tác thời gian và thao tác vận động ở trẻnăm 1946, Piaget tổng hợp lại sự phát triển trí tuệ của trẻ và điều kiện sự phát triển của

nó trong tác phẩm “Tâm lí học về trí thông minh” (1947) Cùng với các cộng sự ông tiếptục nghiên cứu sự hình thành thao tác không gian và hình học ở tuổi thiếu niên, thao tácphân loại và phân hạng Những vấn đề này được trình bày trong cuốn “Qúa tình hìnhthành các cấu trúc logic sơ đẳng” Song song với những công trình nghiên cứu về trí tuệ

và logic, ông có những công trình nghiên cứu quan trọng về tri giác và mối quan hệ của

nó với trí tuệ Những nghiên cứu này được tổng hợp trong tác phẩm “Các cơ chế của trigiác “(1961), mối quan hệ giữa trí tuệ và tình cảm cũng được ông nghiên cứu

Henri Wallon nhà tâm lí học người pháp (1879 – 1962) cũng giống như Piaget khinghiên cứu tâm lí trẻ em, ông nhấn mạnh đến chất lượng của sự phát triển tâm lí trẻ.Wallon coi sự phát triển tâm lí như là sự xây dựng từ từ được thực hiện bằng tác động qualại giữa cá nhân và môi trường Wallon chủ yếu nhấn mạnh vai trò của xúc cảm trong sựphat triển ban đầu của con người và coi sự phát triển toàn bộ nhân cách là quan trọng

Ở giai đoạn ban đầu của sự phát triển tâm lí trẻ em, ông cho rằng xúc cảm có mộtgiá trị ưu tiên về chức năng Những phản ứng mà Wallon gọi là cảm xúc âm điệu là dấuhiệu đầu tiên của sự phát triển tâm lí trẻ em Xúc cảm đối với ông là bước phát triển trunggian giữa trình độ sinh lí - Những phản ứng có tính phản xạ - và trình độ tâm lí cho phéptrẻ thích ứng dần với thế giới bên ngoài Thế giới bên ngoài đầu tiên là con người, từ đótrẻ nhận ra sự an ủi, chăm sóc làm thỏa mãn nhu cầu của nó Những xúc cảm sơ khai củatrẻ em - khả năng đứa trẻ có thể cảm nhận được thể hiện sự dễ chịu hay khó chịu

S Freud (1856 -1939 ), bác sĩ tâm thần học người Áo là người khởi xướng ra Phântâm học trẻ em Những tìm tòi đầu tiên của ông không nhằm vào tiến trình phát sinh củađời sống tâm lí mà nhằm vào sự vận hành của nó Từ đó ông đã phát hiện ra những đặcđiểm chưa từng được nói đến trong nghiên cứu các biểu hiện về thần kinh, trong phântích giấc mơ, hẫng hụt Sự tìm tòi đó dẫn tới hai phát hiện độc đáo : cái vô thức và cáibản năng Những quan điểm cơ bản của Phân tâm học tóm tắt ở những điểm sau :

Tâm lí con người gồm hai khu vưc, một bên là ý thức, một bên là vô thức Tìnhcảm và hành vi của con người chủ yếu do vô thức quyết định, có hiểu được cái vô thứcmới hiểu được ý thức

Con người khi sinh ra đã có sẵn những bản năng, đó là những xung lực thôi thúccon người có những hành vi ứng xử nhất định Được thỏa mãn thì tạo ra khóa cảm, khôngđược thỏa mãn thì tạo ra hẫng hụt ấm ức Những nhu cầu và bản năng về về ăn uống, tính

Trang 11

dục, đại tiểu tiện và nói chung về “xác thịt” có chung một gốc là thể chất con người vàcũng dễ chuyển hóa từ cái này sang cái khác, nếu về mặt này không được thỏa mãn thìtìm lối thoát về phía khác Theo Freud bản năng tính dục chiếm ưu thế, chi phối tình cảmcủa con người.

Để thỏa mãn những nhu cầu bản năng phải vượt qua thực tế Thực tế này có haimặt, một bên là khả năng tự nhiên, một bên là những ràng buộc về xã hội Trẻ sinh rahoàn toàn bất lực, phụ thuộc vào sự chăm sóc của người lớn, không phải được thỏa mãnngay những đòi hỏi Có những đòi hỏi bị trì hoãn nhiều khi bị cấm đoán, có những tìnhcảm ý nghĩ không được phép bộc lộ, nhiều tâm tư bị dồn nén xuống vô thức

Phân tâm học có gắng tìm hiểu những cơ cấu và cơ chế tâm lí được hình thànhtrong vô thức qua quá trình phát triển từ bé đến lớn, trong cuộc sống bình thường cũngnhư trong trạng thái bệnh lí Theo Freud nhân cách con người gồm 3 phần : cái “Nó”, cái

“Tôi” và cái “Siêu tôi”

Cái “Nó” gồm tất cả những xung lực bản năng thôi thúc đứa trẻ đòi hỏi được thỏamãn để tìm khoái cảm Về nguồn gốc, cái “nó” là một hệ thống nhu cầu có sức mạnh vàđộng lực nhất định Trong tâm lí, cái “nó” đại diện cho những đòi hỏi của thể xác, đằngsau nó là những bản năng Cái “nó” có tính chất vô thức

Mâu thuẫn giữa đứa trẻ và thực tế dần dần tạo ra cái “Tôi”, trẻ cảm nhận về bảnthân mình đối lập với các đồ vật và những người khác, tức là cảm nhận được thực tế Đó

là nguồn gốc của cái tôi, sau này chính là ý thức của con người biết suy nghĩ và theo đòihỏi của thực tế chứ không theo dục vọng của bản thân

Những cấm đoán, khuyên bảo của người lớn được đứa trẻ nhập tâm, biến thành vôthức chi phối hành vi của trẻ đó là cái “Siêu tôi” (Tiềm thức) Freud cho rằng, việc xuấthiện cái “siêu tôi” là một sự kiện vừa có tính cá nhân, vừa có tính chất lịch sử Cái siêutôi được tạo ra và hoạt động như đại diện cho cá lực lượng kiềm chế của cha mẹ và đảmnhiệm chức năng kiểm soát cái tôi, ra lệnh cho cái tôi Theo ông 3 cấp độ này luôn xảy raxung đột

Một tác giả khác có nhiều cống hiến cho tâm lí học trẻ em phương Tây và cả thếgiới là A.Binet (1857 – 1911) và bác sĩ T Simon Hai ông đã xây dựng phương pháp đolường tâm lí trẻ em thể hiện trong tác phẩm” Sự đo lường trí tuệ ở trẻ em” (năm 1905)

Từ đây trong tâm lí học thực hành xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nhàtâm lí học xây dựng nên hệ thống trắc nghiệm chính xác để theo dõi, đánh giá, định mức,

so sánh tiến trình phát triển của trẻ theo độ tuổitreen từng trẻ và giữa những trẻ bìnhthường với trẻ bệnh tật

2 2 Sự hình thành và phát triển tâm lí học trẻ em ở Việt Nam

+ Ở nước ta, tâm lí học lúc đầu chỉ xuất hiện với tính chất là một môn khoa họctrong các trường trung học chuyên khoa và trường cao đẳng sư phạm dưới chế độ thựcdân Pháp Nội dung chương trình là tâm lí học Nhị Nguyên luận duy tâm chủ quanTinhthần ấy tiếp tục ở các vùng Pháp tạm chiếm cho đến năm 1954 và cả trong chương trình,sách giáo khoa xuất bản trong nhiều năm ở miền Nam trước năm 1975 Tâm lí học ởmiền Nam trước năm 1975 chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tinh thần duy tâm, nội quan,nhân vi cùng với tâm lí học hành vi và tâm lí học Freud

+ Ở miền Bắc sau chiến thắng Pháp 1954, Nhà nước quan tâm đến các ngành khoahọc trong đó có tâm lí học Năm 1958, tổ Tâm lí học đầu tiên ở ta ra đời được đặt trongtrường Đại học Sư phạm Hà nội Một số cán bộ được phân công học tập và giảng dạy

Trang 12

môn tâm lí học Nội dung của chương trình chủ yếu là theo quan điểm của Tâm lí họcMácxit Những tác giả đầu tiên giới thiệu một số thành tựu của tâm lí học Mácxit và tâm

lí học Liên Xô cuốn “Tâm lí học” là các tác giả Nguyễn Minh Đức, Phạm Cốc, Đỗ ThịXuân

+ Năm 1964, lần đầu tiên trên tạp chí “ Nghiên cứ giáo dục” xuất hiện công trìnhthực nghiệm về trí nhớ của học sinh Việt Nam, tiếp theo là các công trình nghiên cứu vềchú ý, ghi nhớ, tư duy do các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy, Trương AnhTuấn, Lê Đức Phúc tiến hành Những nghiên cứu này đã đưa ra những nhận định về sựphát triển một số chức năng tâm lí của trẻ em Việt Nam Cùng với đội ngũ cán bộ giảngdạy tại các trường đại học, cán bộ nghiên cứu thuộc Ban Tâm lí học - Viện khoa học giáodục tiến hành nghiên cứu nhiều đặc điểm tâm lí và nhân cách của trẻ em Việt Nam, điểnhình có công trình nghiên cứu về tư duy của Phạm Hoàng Gia (1969)

+ Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới Tâm lí học cùng vớinhiều khoa học khác phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng với một đội ngũcán bộ giảng dạy và nghiên cứu có trình độ chuyên môn ngày càng cao Nhiều công trìnhnghiên cưú cả về lí luận lẫn thực tiễn đã được tiến hành trong thời kỳ này

Trong lĩnh vực tâm lí học trẻ em, GS Hồ Ngọc Đại và các cộng sự tại trung tâmCông nghệ giáo dục đã có những đóng góp đáng kể cho nền tâm lí học nước nhà Từ kếtquả nghiên cứu bằng phương pháp thực nghiệm, Hồ Ngọc Đại thể hiện tư tưởng cơ bảncủa mình là : Coi trẻ em là một thực thể đang sinh thành và tồn tại trong sự sinh thành ấy.Chính sự tồn tại trong sự sinh thành ấy tạo ra sự phát triển của chính nó” Tư tưởng nàythể hiện qua các tác phẩm “Tâm lí dạy học”, “Bài học là gì”, “Kính gửi các bậc cha mẹ”.Theo ông quá trình phát triển của trẻ diễn ra như sau : Thầy giáo (người lớn nói chung) tổchức, học sinh (trẻ em nói chung) hoạt động để chiếm lĩnh nền văn hóa loài người Tưtưởng này được diễn đạt dưới công thức A → a Trong đó A là hệ thống các khoa học(các lĩnh vực văn hóa), → là qui trình công nghệ mà trẻ thực hiện, a là sản phẩm giáodục ( năng lực, đạo đức, nhân cách của trẻ do chính các em tạo ra trong qua strinhf thựchiện qui trình công nghệ) Điểm mới và cũng là cống hiến của tác giả đối với tâm lí họctrẻ em là đã chọn được A (Hệ thống các khoa học) và xây dựng được qui trình công nghệ

đẻ tổ chức cho các em lĩnh hội theo công thức (Thầy thiết kế, trò thi công)

Lĩnh vực tâm lí tuổi mầm non cũng được phát triển cùng với sự phát triển của nềntâm lí học Việt Nam Năm 1974, tác giả Đỗ Thị Xuân sau những năm nghiên cứuddaxcho ra cuốn “Đặc điểm tâm lí trẻ em6, 7 tuổi Từ năm 1972 đến 1979 nhiều cán bộ tạiviện khoa học giáo dục đã thực hiện thành công đề tài nghiên cứu về ngôn

ngữ của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi Năm 1969, Phạm Hoàng Gia có một công trìnhnghiên cứu về sự phát triển năng lực tư duy phân loại của trẻ mẫu giáo Việt Nam đượccông bố trong tập “Tâm lí học” Năm 1982, các cán bộ của trung tâm nghiên cứu trẻ emthuộc Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em đã công bố những nghiên cứu trẻ em từ 0 -3 tuổibằng test Brunet - Lézine Đặc biệt từ năm 1980 đến nay, lĩnh vực tâm lí học trẻ em tiềnhọc đường ngày càng được quan tâm chú ý Khoa sư phạm mẫu giáo thuộc Đại học Sưphạm Hà Nội 1 ra đời năm 1985, cùng với cán bộ của viện khoa học giáo dục đã có nhiềutài liệu, giáo trình và những công trình nghiên cứu về tâm lí trẻ mầm non với những tácgiả Nguyễn Ánh Tuyết, Phạm hoàng gia, Nguyễn Hoàng Yến Trung tâm nghiên cứu tâm

lí trẻ em dân lập N -T do bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã tiến hành nghiên cứu trẻ em cáclứa tuổi với trẻ bình thường và trẻ bệnh lí bằng phương pháp của tâm lí học thực hành

Trang 13

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu của cán bộ trung tâm, viện khoa giáo dục vàcán bộ giảng dạy tại các trường đại học đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu về các mặtcủa đời sống tâm lí trẻ em Việt Nam.

3 Quan niệm về trẻ em và sự phát triển tâm lý trẻ em

+ Đến thời kỳ trung cổ, trẻ em đã được người lớn quan tâm thỏa mãn những nhucầu thiết yếu, song vẫn không được nhìn nhận đúng và được bảo vệ như ngày nay Tuổithơ của các em quá ngắn ngủi, trẻ không có đồ chơi và quần áo riêng theo kiểu trẻ con.Chúng mặc quần áo theo kiểu người lớn, chơi những trò chơi giải trí theo kiểu người lớn.Khi chúng đủ sức mạnh về thể lực, thường là lên 7 tuổi trẻ được kết nạp vào thế giới laođộng của người lớn, làm đồ thủ công, gặt lúa cùng với người lớn

+ Từ thời kỳ phục hưng đến thời kỳ cận đại, sản xuất và các mặt của đời sống pháttriển mạnh mẽ, vốn kinh nghiệm xã hội tích lũy được ngày càng nhiều Trong sản xuất vàđời sống, trẻ em không thể bắt chước người lớn một cách đơn thuần như trước đây, muốnlàm được như người lớn, trở thành người lớn chúng phải học, phải được người lớn dạy

dỗ Thực tế này đã khiến xã hội phải quan tâm nhiều đến trẻ em, trong các tác phẩm triếthọc, tôn giáo, giáo dục học đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về trẻ em, dẫn tới việcđánh giá, giáo dục các em cũng khác nhau Tuy nhiên những quan điểm này còn cónhững hạn chế nhất định Chẳng hạn, đạo Tin Lành cho rằng, trẻ em là “Quỉ dữ” nên cầnphải giáo dục bằng những biện pháp hà khắc để trở thành người Phái “Nhi đồng học” lạicho rằng trẻ em mới sinh ra chỉ là động vật vì nó không biết gì, không biết nói, không có

ý thức Nhà triết học John Locke (1632 -1704) có quan niệm đúng đắn hơn so với cácquan niệm trên về trể em Theo ông, trí óc trẻ em mới sinh như “một tấm bảng sạch”,những trải nghiệm được trẻ nhận thức và khắc lên đó Ông còn lưu ý các bậc cha mẹ khigiáo dục con phải thông qua lí lẽ thích hợp chứ không phải là bằng kỉ luật hà khắc, phảicân bằng giữa nuông chiều và nghiêm khắc khi kiểm soát hành vi của trẻ

Đặc biệt thế kỉ thứ XVII, nhà triết học đồng thời là nhà văn, nhà giáo dục học J.JRutxo người Pháp ( Jean Jacques Roussau : 1712 - 1778) có cách nhìn nhận hết sức tiến

bộ về trẻ em Ông cho rằng, trẻ em là trẻ em Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại.Trẻ em có cách suy nghĩ riêng, cách cảm thụ riêng không giống với người lớn Người lớnkhông phải lúc nào cũng hiểu được trẻ em Ông đưa ra quan điểm giáo dục tự nhiên và tự

do Trẻ em cần có sự hướng dẫn nhẹ nhàng của người lớn để cho bản năng và xu hướng

tự nhiên phù hợp với trật tự xã hội Người lớn phải tôn trọng và phát huy những khả năng

và lòng ham hiểu biết bẩm sinh của trẻ, để trẻ tự khám phá hiện tượng trong thực tế,không nên kiềm chế sự phát triển tự nhiên của trẻ thông qua việc chi phối trẻ

Trang 14

+ Vận dụng quan điểm của triết học duy vật biện chứng, tâm lí học Mácxit quan

niệm, trẻ em là một thực thể đang phát triển

Theo phép biện chứng, hiện thực là cái toàn thể đang vận động và phát triển, màmỗi hình thái kinh tế - xã hội là một yếu tố tạo thành, là một cột mốc đánh dấu nhữngchặng đường phát triển khác nhau của chính cái toàn thể ấy Mỗi hình thái kinh tế - xã hội(mỗi cột mốc) chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử, vận động và phát triển theo qui luậtriêng chỉ dành cho nó Vận dụng tư tưởng này vào sự phát triển một thế hệ người, trẻ em

và người lớn cũng chỉ những cột mốc đánh dấu những chặng đường phát triển khác nhaucủa thế hệ ấy Do vậy trẻ em là trẻ em, trẻ em vận động và phát triển theo qui luật vốn cócủa nó Người lớn vận động và phát triển theo qui luật riêng của người lớn Điều kiệnsống của các thế hệ người ở các thời kỳ lịch sử khác nhau là rất khác nhau Toàn bộnhững điều kiện xã hội - lịch sử của một thời đại tạo ra trẻ em của riêng mình Có thể nóitrẻ em là kết tinh của lịch sử cho đến lúc đó, mỗi đứa trẻ (cùng với thế hệ của mình) điqua một lần duy nhất trên chặng đường lịch sử (Sơ sinh, nhà trẻ, mẫu giáo, nhi đồng,thiếu niên, đầu tuổi thanh niên) nối tiếp nhau trên một chặng đường thời gian, theo quiluật riêng của nó trong sự phụ thuộc vào những điều kiện xã hội lịch sử đương thời Vìvậy không những phải hiểu trẻ em phát triển theo những qui luật khác nhau mà còn phảihiểu ở mỗi thời đại kinh tế - xã hội khác nhau, trẻ em lại phát triển theo những qui luậtkhác nhau

+ Trong điều kiện phát triển nhanh về mọi mặt của đời sống xã hội hiện nay, trẻ

em có đặc trưng cơ bản sau:

- Cơ hội tiếp cận nền văn hóa dễ dàng, thuận lợi

- Tuổi thơ kéo dài, thời gian chuẩn bị để bước vào lao động của người lớn lâu hơn

- Thể chất : Cân nặng, chiều cao trung bình tăng lên; Tuổi dậy thì đến sớm từ 2đến 3 năm

- Trí tuệ: Khôn sớm, hiểu biết nhiều

- Sự phát triển lệch lạc ở trẻ em cũng phức tạp hơn và khó lường

Như vậy, không có trẻ em chung chung, trừu tượng, chỉ có trẻ em của từng thời kỳlịch sử - xã hội nhất định Do đó không thể đem những gì thuộc qui luật phát triển củangười lớn áp đặt cho trẻ em, cũng không thể dùng phương pháp giáo dục trẻ em của thời

kỳ nông nghiệp lạc hậu để giáo dục trẻ em của thời kỳ đại công nghiệp

3.2 Quan niệm về sự phát triển tâm lý trẻ em

3.1 Các quan niệm khác nhau về sự phát triển tâm lí trẻ em

* Thuyết tiền định: Các đại biểu điển hình của thuyết tiền định là Thordike (Mỹ),

S.Auebac (Anh) cho rằng những đặc điểm tâm lí là những cấu tạo bẩm sinh, do các tiềmnăng sinh vật gây ra, con người có tiềm năng đó từ khi mới ra đời Sự phát triển tâm lí chỉ

là quá trình trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn, bộc lộ dần nhữngthuộc tính ấy Trình tự xuất hiện các thuộc tính nào đó, mức độ mà chúng đạt được, sựthay thế giai đoạn này bằng giai đoạn khác đều được định sẵn bằng con đường di truyền.Đối với họ, môi trường chỉ là yếu tố điều chỉnh, vai trò của giáo dục bị hạ thấp

* Thuyết duy cảm : Những người theo thuyết duy cảm cho rằng môi trường là

nhân tố tiền định sự phát triển tâm lí trẻ em Họ quan niệm trẻ em như một tờ giấy trắng,

do ảnh hưởng của môi trường mà tâm lí của trẻ bộc lộ dần ở trên đó Môi trường xungquanh như thế nào thì nhân cách và cơ chế hành vi, con đường phát triển như thế đó Môi

Trang 15

trường là bất biến qui định số phận hành vi của con người Những người này tuyệt đốihóa vai trò của giáo dục, coi giáo dục là vạn năng

* Thuyết hội tụ hai yếu tố : Thuyết này do V.Sternơ (Đức) đề xuất nhằm khắc phục

hạn chế của hai thuyết trên Những người theo thuyết này tính đến tác động qua lại của ditruyền và môi trường khi nghiên cứu tâm lí trẻ em Họ giải thích sự tác động qua lại củayếu tố môi trường và di truyền quyết định sự phát triển tâm lí của trẻ em, trong đó ditruyền là yếu tố quyết định còn môi trường là điều kiện để những phẩm chất tâm lí đãđịnh sẵn trở thành hiện thực

3.2.Quan niệm của các nhà tâm lí học Mác xít về sự phát triển tâm lí trẻ em

Dựa trên lí thuyết phát triển của triết học duy vật biện chứng, các nhà tâm lí họchoạt động quan niệm về sự phát triển tâm lí trẻ em như sau :

+ Sự phát triển tâm lí trẻ em là quá trình biến đổi liên tục từ đơn giản đến phứctạp, là quá trình tích lũy về lượng dẫn đến biến đổi về chất, hình thành nên cái mới Cáimới thể hiện sự phát triển tâm lí trẻ em là sự xuất hiện những chức năng tâm lí mới, phẩmchất tâm lí mới, cấu trúc tâm lí được xuất hiện và cải tổ, hình thành những năng lực hành

vi theo kiểu người

+ Cơ chế của sự phát triển tâm lí trẻ em là quá trình trẻ hoạt động lĩnh hội nhữngkinh nghiệm xã hội loài người biến thành kinh nghiệm của riêng mình, thông qua sự giáodục, hướng dẫn của người lớn

+ Phát triển tâm lí trẻ em là quá trình biến đổi liên tục trải qua các giai đoạn, giaiđoạn trước là nền tảng, là cơ sở của giai đoạn phát triển sau

+ Động lực (nguyên nhân) của sự phát triển là quá trình giải quyết những mâuthuẫn nội tại ở chính bản thân đứa trẻ Đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu của trẻ với khả năngcủa trẻ Chẳng hạn, 3 tuổi trẻ có nhu cầu tự lập, muốn làm mọi việc như người lớn, nhưngkhả năng của trẻ còn hạn chế không cho phép trẻ tự làm mọi việc theo ý mình Qúa trìnhgiáo dục cần tổ chưc hoạt động thích hợp làm thế nào vừa thỏa mãn nhu cầu của trẻ đểphát triển được tính tự lập, vừa phù hợp với khả năng, đảm bảo sự an toàn cho trẻ sẽ tạo

ra được sự phát triển tâm lí

* Sự phân chia các giai đoạn phát triển tâm lí trẻ em

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về phân định thời kỳ theo lứa tuổi

+ Frued căn cứ vào độ chín muồi của các cơ quan sinh lí ở trẻ em, ông phân chiagiai đoạn phát triển tâm lí trẻ như sau :

- Giai đoạn từ 0-1 tuổi là giai đoạn môi miệng Vì giai đoạn này dục vọng tậptrung ở môi miệng với những đặc thù tâm lí chưa phân biệt được bản thân với đối tượng,cảm xúc khoái cảm, hòa mình với mẹ

- Giai đoạn từ 1 - 3 tuổi Đây là giai đoạn hậu môn

- Giai đoạn 3 - 5 tuổi : Thời kỳ dương vật, trẻ nhận ra giới tính của mình, tình cảm

hướng về người khác

- Giai đoạn từ 5 - tuổi dậy thì là giai đoạn ẩn tàng, dục vọng được thể hiện mộtcách mạnh mẽ

+ J Piaget dựa vào sự phát triển trí tuệ phân thành các giai đoạn sau :

- Thời kỳ giác động : từ 1 - 2 tuổi

- Thời kỳ thao tác cụ thể : 3- 7 tuổi

- Thời kỳ thao tác hình thức tức là tư duy logic : từ 11- 14, 15 tuổi

+ Cách phân định lứa tuổi theo hoạt động chủ đạo

Trang 16

- Từ lọt lòng - 15 tháng

- 15 tháng đến 36 tháng

- 3 - 6 tuổi : tuổi mẫu giáo

- 6 -12 tuổi : Nhi đồng

- 12 - 14, 15 tuổi : Tuổi thiếu niên

- 15 - 17, 18 tuổi : Tuổi đầu thanh niên

4 Các yếu tố chi phối sự phát triển tâm lý trẻ em

4.1 Nền văn hóa và sự phát triển tâm lý trẻ em

Văn hóa là một khái niệm rộng và phức tạp, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về

vấn đề này Tại Hội nghị quốc tế họp tại Mêhicô (1982), do UNSCO tổ chức, đại biểu đạidiện cho hơn 100 nước đã đưa ra 200 định nghĩa khác nhau về văn hóa Trong tuyên bốchung, hội nghị thống nhất chấp nhận về khái niệm văn hóa như sau :

Theo nghĩa rộng “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong

xã hội” Như vậy văn hóa không chỉ thuần túy là các hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà

bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín

ngưỡng Nói cách khác văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã sáng tạo ra trong lịch sử, là biểu hiện trình độ của xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

+ Người ta thường chia văn hóa thành hai hình thức: Văn hóa vật chất và văn hóatinh thần, tuy nhiên sự phân chia này chỉ mang tính ước lệ

+ Văn hóa có đặc điểm là luôn vận động và phát triển Văn hóa vừa mang tính phổbiến, có đặc điểm chung của mọi thể chế cộng đồng (có những chuẩn mực giá trị chungcho cả thể giới), vừa mang đặc điểm riêng biệt của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng (bản sắcvăn hóa dân tộc)

+ Văn hóa và con người có mối quan hệ hữu cơ với nhau, văn hóa là sản phẩm docon người tạo ra, mặt khác văn hóa lại tạo nên bản chất nhân cách của mỗi con ngườitrong xã hội Văn hóa vừa là điều kiện vừa là nội dung của sự phát triển tâm lí trẻ em

* Trẻ em lĩnh hội nền văn hóa bằng những con đường khác nhau.

+ Con đường tự phát là sự tiếp nhận một cách tự nhiên những yếu tố của nền văn

hóa được cụ thể hóa trong hoàn cảnh sống bằng cách bắt chước Con đường tiếp thu nàymang tính tùy tiện, thiếu kế hoạch nên trẻ em bắt chước cả những cái tốt lẫn cái xấu củamôi trường xung quanh

+ Con đường tiếp nhận một cách tự giác thông qua giáo dục

Giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của người lớn đối với trẻ emnhằm hình thành ở trẻ những phẩm chất nhân cách đáp ứng được yêu cầu của xã hội Đây

là con đường chủ yếu để hình thành nhân cách cho trẻ em và để phát triển xã hội

- Giáo dục định hướng sự phát triển tâm lí của trẻ em và lãnh đạo sự phát triển ấythông qua nội dung và phương pháp tác động phù hợp

- Giáo dục đem lại cho trẻ em những khả năng mà bằng sự tác động tự phát củamôi trường không thể có được

- Giáo dục có thể bù trừ những thiếu sót của yếu tố bẩm sinh di truyền làm ảnhhưởng không tốt đến sự phát triển tâm lí trẻ (giáo dục trẻ khuyết tật) và tạo mọi điều kiệntriển tối đa những khả năng sẵn có của trẻ (giáo dục trẻ em có năng khiếu)

Trang 17

- Giáo dục tác động qua lại với môi trường xã hội, phát huy những thuận lợi đốivới sự phát triển tâm lí trẻ, đồng thời làm suy yếu những tác động bất lợi ảnh hưởng tiêucực đến nhân cách của trẻ, uốn lại những nét tính cách tiêu cực trong nhân cách trẻ em doảnh hưởng xấu của môi trường

- Giáo dục còn tác động đến “vùng phát triển gần nhất” (đó là độ chênh lệch giữanhững cái trẻ có thể làm được với sự hướng dẫn giúp đỡ của người lớn và những cái trẻ

tự làm lấy một mình), tạo điều kiện cho tâm lí của trẻ phát triển nhanh mạnh và đúnghướng Độ lớn của vùng phát triển gần nhất là chỉ tiêu quan trọng đánh giá tiềm lực pháttriển của trẻ ở giai đoạn ấy Giáo dục đã đi trước sự phát triển, kéo theo sự phát triển

Tóm lại, giáo dục giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lí trẻ em Tuy nhiên

việc tiếp nhận những tác động của giáo dục còn phụ thuộc vào khả năng của trẻ, do vậykhông nên coi giáo dục là vạn năng Mọi quá trình giáo dục muốn kéo theo sự phát triểnphải tính đến khả năng của các em

* Văn hóa gia đình đối với trẻ em tuổi MN có vai trò đặc biệt quan trọng

+ Gia đình là môi trường xã hội đầu tiên của trẻ Các thành viên trong gia đìnhquan hệ, gắn bó với nhau bằng tình yêu thương ruột thịt, mọi người có trách nhiệm lolắng cho nhau Nhất là trẻ em thường là đối tượng được quan tâm chăm sóc, yêu thươngnhiều nhất của mọi người thân trong gia đình Gia đình là tổ ấm của trẻ, sống trong giađình, trẻ có cảm giác an toàn từ đó trẻ yên tâm, mạnh dạn trong giao tiếp và khám phámôi trường xung quanh, tâm lí phát triển tốt Nếu mất cảm giác an toàn, trẻ sợ hãi, thumình lại dễ thụ động buồn bã, không tích cực hoạt động, làm ảnh hưởng không tốt đến sựphát triển tâm lí

+ So với nhà trường MN, gia đình là môi trường phong phú có nhiều thuận lợi vềphương tiện giáo dục trẻ Trong gia đình trẻ được sống trong mối quan hệ đa dạng, vớinhiều người ở những lứa tuổi, vị trí xã hội khác nhau, được tiếp xúc với nhiều đồ vật thật,nhờ vậy trẻ có điều kiện thăm dò thử nghiệm một cách hứng thú

+ Qúa trình giáo dục ở gia đình cũng có nhiều thuận lợi so với giáo dục ở trườngMN

- Giáo dục ở gia đình mang tính cá biệt cao

- Giáo dục ở gia đình được thực hiện trên cơ sở tình yêu thương ruột thịt, vì vậytrẻ em được chăm sóc tỉ mỉ chu đáo, phát triển tốt cả về thể chất và tâm lí

- Giáo dục gia đình gắn liền với những tình huống đa dạng của cuộc sống thườngngày thông qua tấm gương của người lớn trong gia đình Việc dạy trẻ diễn ra thườngxuyên, có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc trong tất cả các hoạt động, mang đượm màusắc nghệ thuật Vì vậy trẻ dễ dàng tiếp thu một cách tự nhiên những tác động giáo dục từphía gia đình

Với những đặc điểm thuận lợi và phương thức tác động đặc biệt của gia đình, vănhóa gia đình có ảnh hưởng tuyệt đối và thường để lại dấu ấn sâu sắc trong nhân cách củamỗi người Do vậy tục ngữ Việt Nam có câu “Giỏ nhà ai, quai nhà ấy” Sự ảnh hưởng tốthay xấu của văn hóa gia đình đến nhân cách của trẻ em phụ thuộc trực tiếp vào trình độhọc vấn và ý thức trách nhiệm giáo dục trẻ của người lớn trong gia đình, đặc biệt các bậclàm cha, mẹ

4.2 Hoạt động và sự phát triển tâm lý trẻ em

+ Hoạt động của cá nhân là yếu tố quan trọng nhất quyết định trực tiếp sự pháttriển tâm lí của trẻ em Bởi vì chỉ có thông qua hoạt động, trẻ mới lĩnh hội được những

Trang 18

kinh nghiệm của xã hội loài người chứa đựng trong nền văn hóa xã hội, biến thành kinhnghiệm của bản thân, tạo ra sự phát triển tâm lí của mình Nếu bản thân trẻ không tíchcực hoạt động, mọi thuận lợi từ phía môi trường bên ngoài và thuận lợi về mặt sinh họctrở nên vô tác dụng Cá nhân càng tích cực hoạt động bao nhiêu tâm lí càng phát triển bấynhiêu Như vậy nội dung và tính chất của hoạt động cũng như tích cực hoạt động của cánhân qui định nên sự phát triển tâm lí cá nhân

+ Trong từng giai đoạn phát triển, có nhiều hoạt động khác nhau đều chi phối sựphát triển tâm lí trẻ Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là hoạt động chủ đạo

Theo tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết và các cộng sự, hoạt động chủ đạo có nhữngđặc điểm sau đây :

1/ Là hoạt động có đối tượng mới mẻ, chưa hề có trước đó Chính đối tượng mớinày tạo ra những cái mới trong tâm lý cá nhân (tức là tạo ra sự phát triển tâm lý)

2/ Là hoạt động có khả năng chi phối toàn bộ đời sống tâm lý của cá nhân Chínhnhững quá trình tâm lý của trẻ được cải tổ, được tổ chức lại bằng hoạt động này

3/ Là hoạt động có khả năng chi phối các loại hoạt động khác diễn ra đồng thời vàtạo ra những nét đặc trưng trong tâm lý trẻ ở mỗi giai đoạn phát triển

Ở lứa tuổi MN, có nhiều hoạt động chủ đạo khác nhau Trong mỗi thời kỳ có mộthoạt động chủ đạo đặc trưng chi phối sự phát triển tâm lí trẻ

3 Điều kiện sinh học và sự phát triển tâm lí trẻ em

+ Điều kiện sinh học là tất cả những yếu tố tạo nên hình thái cơ thể người, đặc biệt

là các giác quan và hệ thần kinh, là cơ sở vật chất để diễn ra hoạt động tâm lí Điều kiệnsinh học tuân theo qui luật di truyền

+ Điều kiện sinh học là yếu tố làm tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triểntâm lí, bởi vì muốn có sự phát triển bình thường về tâm lí, trước tiên phải có sự phát triểnbình thường về cơ thể nói chung, não bộ và giác quan nói riêng

+ Điều kiện sinh học không mang sẵn các đặc điểm tâm lí, mà chỉ tạo điều kiệncho tâm lí được hình thành nhanh hay chậm, dễ họặc khó và qui định đỉnh cao thành tíchcủa cá nhân trong một lĩnh vực hoạt động nào đó

Ngoài ra điều kiện sinh học (đặc điểm thần kinh cấp cao) cũng chi phối ảnh hưởngđến đến cách bộc lộ hoạt động tâm lí, khiến cho hành vi của con người mang những sắcthái riêng

Tóm lại, sự hình thành và phát triển tâm lí của trẻ em chịu ảnh hưởng của một tổ

hợp những yếu tố : Tác động trực tiếp của môi trường xã hội, giáo dục, hoạt động của cánhân và điều kiện sinh học Mỗi yếu tố đóng vai trò cụ thể khác nhau và sự ảnh hưởng nóđến sự phát triển tâm lí trẻ diễn ra trong mối quan hệ với các yếu tố khác, có thể cản trởhoặc phát huy tối đa sự ảnh hưởng tích cực của yếu tố khác Muốn cho tâm lí trẻ pháttriển tốt phải phối hợp vai trò của tất cả các yếu tố

5 Qui luật phát triển tâm lí trẻ em

5.1 Qui luật phát triển không đồng đều

Sự phát triển tâm lí của trẻ em là quá trình biến đổi từ đơn giản đến phức tạp vàdiễn ra không đồng đều, thể hiện :

+ Ở phạm vi cá nhân, sự phát triển tâm lí của trẻ có giai đoạn diễn ra nhanh, cógiai đoạn diễn ra chậm, có giai đoạn dường như ít biến đổi, có giai đoạn sự phát triểntriển nhanh tới mức tạo ra sự nhảy vọt Trẻ càng nhỏ tuổi, sự phát triển tâm lí diễn ra càng

Trang 19

nhanh, đổi với trẻ MN sự phát triển diễn ra nhanh tới mức sự thay đổi có thể tính đượctrong tháng, trong tuần Tốc độ này khó có thể tìm thấy ở những giai đoạn sau.

Trong tiến trình phát triển của trẻ còn có những giai đoạn phát cảm của một vàichức năng tâm lí nào đó Đó là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự pháttriển các chức năng ấy, đặc biệt là sự chín muồi của hệ thần kinh Chẳng hạn, từ 2 đến 5tuổi là giai đoạn phát cảm của chức năng ngôn ngữ (sự phát triển của ngôn ngữ diễn ranhanh), thời kỳ 7 đến 8 tuổi là thời kỳ phát cảm của chức năng vận động các cơ tay

Trong giáo dục cần phát hiện đúng thời kỳ phát cảm của trẻ để giúp trẻ luyện tậpthành thục, sớm hơn thì có hại mà muộn hơn thì mất thời cơ

+ Ở phạm vi lứa tuổi, quá trình phát triển tâm lí của mỗi trẻ đều diễn ra từ đơngiản đến phức tạp Nhưng mỗi trẻ lại có con đường phát triển riêng về tốc độ, nhịp độ vàkhuynh hướng Nguyên nhân tạo ra con đường phát triển riêng của mỗi trẻ là do sự chiphối của các yếu tố : điều kiện sinh học, hoàn cảnh sống và giáo dục, đặc biệt là mối quan

hệ giữa trẻ với thế giới bên ngoài thông qua hoạt động của chính bản thân trẻ Trong giáodục phải chú ý đến qui luật phát triển riêng của mỗi trẻ để có cách tác động phù hợp,trách hiện tượng giáo dục đồng loạt

5.2 Tính trọn vẹn

+ Sự phát triển tâm li trẻ em là một quá trình chuyển dần những trạng thái tâm líthành các thuộc tính tâm lí Đầu tiên là những trạng thái tâm lí rời rạc nhau, thiếu tính hệthống, dần dần chúng trở nên hoàn thiện, ổn định, quan hệ chặt chẽ với nhau tạo nên cấutrúc tâm lí trọn vẹn, thống nhất và bền vững

+ Tính trọn vẹn của tâm lí phụ thuộc vào động cơ hành vi Những động cơ hành vicủa trẻ ngày càng trở nên tự giác, có ý nghĩa xã hội và bộc lộ rõ rệt trong nhân cách Trẻmẫu giáo hành động vì một điều gì đó và dễ thay đổi ( động cơ chưa ổn định) Trẻ cấp Ihành động vì thích, hơn là vì nghĩa vụ (động cơ ổn định nhưng tính xã hội chưa cao) Trẻcấp II hành động vì nghĩa vụ, vì phát triển bản thân (động cơ mang tính xã hội ổn định)

5.3 Tính mềm dẻo và khả năng bù trừ

+ Tính mềm dẻo là tính dễ thay đổi và xu hướng lặp lại sự thay đổi đó khi gặp điềukiện tương tự Hệ thần kinh của trẻ rất linh hoạt, mềm dẻo, vì thế những tác động giáodục có thể làm thay đổi hành vi của trẻ (dễ thay đổi, dễ chuyển hóa)

+ Tính mềm dẻo tạo ra khả năng bù trừ Khi một chức năng nào đó suy yếu hoặcthiếu hụt thì các chức năng khác phát triển mạnh lên, được tăng cường để bù đắp chochức năng bị yếu hoặc bị thiếu đó Chẳng hạn, người khuyết tật thị giác thì thính giác vàxúc giác phát triển mạnh hoặc trí nhớ kém thì được bù lại bằng tính tổ chức, chính xáccao của hoạt động

6 Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học trẻ em

6.1 Nguyên tắc chỉ đạo phương pháp nghiên cứu

61.1 Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc hoạt động xuất phát từ việc nhìn nhận hoạt động là nguồn gốc của toàn

bộ nền văn hóa nhân loại, của thế giới tinh thần, thế giới tâm lý của con người Hoạt độngcũng là nơi tinh thần, tâm lý thực hiện chức năng của chúng đối với cuộc sống thực củacon người Hoạt động cũng chính là động lực phát triển tâm lý Do đó tâm lý học lấy hoạtđộng làm mô hình nghiên cứu các hiện tượng tâm lý

Trang 20

Nguyên tắc hoạt động trong nghiên cứu tâm lý trẻ em đòi hỏi phải nghiên cứu cáchiện tượng tâm lý trong hoạt động của trẻ (trong quá trình hoạt động và trong sản phẩmhoạt động).

Nguyên tắc hoạt động trong nghiên cứu tâm lý cũng đòi hỏi nghiên cứu các hiệntượng tâm lý theo mô hình hoạt động với đối tượng, tức là các hiện tượng tâm lý từ cảmgiác, tri giác đến tư duy, ngôn ngữ… đều được nghiên cứu như những hoạt động Ở đâymỗi hoạt động tâm lý được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa bản thân cái ta gọi là cảmgiác, trí nhớ, tư duy… với động cơ thúc đẩy các hoạt động đó, với mục đích mà chúnghướng đến, cũng như trong mối quan hệ với các phương tiên để thực hiện tri giác, trí nhớ,

tư duy1… Xem xét các hiện tượng tâm lý là xem xét sự vận động của các mối quan hệ ấy

6.1.2 Nguyên tắc tính tổng thể

Nguyên tắc tính tổng thể xuất phát từ quan điểm hệ thống trong nghiên cứu tâm lýhọc Các hiện tượng tâm lý không tồn tại một cách biệt lập với nhau mà nằm trong mốiquan hệ qua lại, chi phối và quy định lẫn nhau, bổ sung cho nhau, chuyển hóa lẫn nhau.Đồng thời, chúng cũng nằm trong mối quan hệ với các loại hiện tượng khác – chịu sự chiphối và chi phối các loại hiện tượng khác Từ đây, trong việc nghiên cứu tâm lý trẻ emphải tính đến tính chất tổng thể, hoàn chỉnh, trọn vẹn của đối tượng nghiên cứu

Khi nghiên cứu một hiện tượng tâm lý nào đó không được tách nó ra khỏi toàn bộđời sống tâm lý con người Đồng thời, khi nghiên cứu một đặc điểm, phương diện nào đócủa một hiện tượng tâm lý thì không được tách khỏi các đặc điểm, các phương diện kháccủa hiện tượng tâm lý đang nghiên cứu Phải đặt hiện tượng nghiên cứu vào trong mốiquan hệ với các hiện tượng khác

Các hiện tượng tâm lý thông thường được nghiên cứu ở các tầng bậc khác nhau.Chẳng hạn, hành vi của con người có thể được xem xét ở các bậc cử động, thao tác, hànhđộng và hoạt động Cách nghiên cứu như vậy cho phép đi sâu vào các phương diện khácnhau của hiện tượng cần nghiên cứu, chỉ ra các đặc trưng ở các mức độ khác nhau Tuynhiên, song song với việc nghiên cứu theo hướng phân tích như vậy, cần có cách tiếp cậntổng thể để không “đánh mất” đối tượng nghiên cứu Xét từ nguyên tắc tính tổng thể, cầnnhìn nhận hiện tượng tâm lý ở cấp độ hoạt động-nhân cách

6.1.3 Nguyên tắc phát triển

Các hiện tượng tâm lý không phải là những hiện tượng bất biến Chúng luôn ởtrong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng Do đó, trong nghiên cứu một hiệntượng tâm lý phải thấy được quá khứ, hiện tại và tương lai của nó, đồng thời cũng phảithấy được tính ổn định của nó trong một thời điểm nhất định, trong những điều kiện nhấtđịnh

Nguyên tắc phát triển cũng đòi hỏi nhà nghiên cứu không dừng ở việc mô tả sựkiện, xác nhận một trình độ biểu hiện của một hiện tượng tâm lý nào đó mà phải chỉ rachiều hướng vận động, xu thế phát triển của hiện tượng đó Bất kỳ một đặc điểm tâm lýnào, một nét nhân cách nào cũng đều phải được xem xét như vậy

Việc tuân thủ nguyên tắc này cho phép chúng ta thấy toàn cảnh sự xuất hiện, diễnbiến và kết thúc của đối tượng nghiên cứu, cho thấy quy luật tất yếu của sự phát triển củađối tượng – đây là điều cần đạt tới của mọi công trình nghiên cứu khoa học

6.1.4 Nguyên tắc cụ thể

1 Ở đây việc xem xét hoạt động được thực hiện theo mô hình cấu trúc hoạt động với các đơn vị Hoạt động – Động cơ; Hành động – Mục đích; Thao tác – Phương tiện

Trang 21

Tâm lý người là quá trình đồng thời là kết quả của quá trình cá nhân lĩnh hội kinhnghiệm lịch sử xã hội loài người Những đặc trưng tâm lý cá nhân gắn liền với đặc trưng

sự phát triển thể chất, với hoàn cảnh xã hội của sự phát triển cá nhân, với đặc trưng hoạtđộng của từng cá nhân, và do đó không thể lý giải bên ngoài khung cảnh đó Nghiên cứutâm lý người, do vậy, phải là nghiên cứu tâm lý của một con người, hay nhóm người cụthể cụ thể, trong một không gian văn hóa, xã hội cụ thể chứ không nghiên cứu tâm lý mộtcách chung chung, trừu tượng

6.1.5 Nguyên tắc khách quan

Tính khách quan là một đặc điểm đồng thời là một tiêu chí của NCKH Những nhận địnhkhoa học không dựa trên suy đoán cảm tính hay linh cảm (cho dù chúng có thể đúng), màdựa trên bằng chứng khoa học Nhà nghiên cứu thường phải lật đi lật lại những kết luậntưởng như đã hoàn toàn được xác nhận Nguyên tắc khách quan đòi hỏi nhà nghiên cứuphải “thoát ra” khỏi những định kiến, những ý niệm chủ quan của cá nhân, chỉ tin vào cácbằng chứng khoa học Để đảm bảo điều này cách tốt nhất là tuân thủ nghiêm ngặt các yêucầu trong nghiên cứu khoa học, sử dụng những phương pháp nghiên cứu khách quan, cácquy trình xử lý kết quả nghiên cứu đáng

6.2 Hệ thống phương pháp nghiên cứu tâm lý.

Quan sát được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rô ̣ng hay hẹp,đối với nhiều hay ít đối tượng là tùy thuô ̣c vào mục đích nghiên cứu của mỗi đề tài

Trong nghiên cứu tâm lý học, quan sát thực hiê ̣n hai chức năng:

- Thu thâ ̣p dữ liê ̣u theo mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đó là những biểu hiê ̣n bề

ngoài hành vi của trẻ

- Kiểm chứng giả thuyết hay lý thuyết đã có Trong nghiên cứu khoa học, khi cầnchứng minh tính đúng đắn của giả thuyết hay lý thuyết nào đó, nhà khoa học thu thâ ̣p các

cứ liê ̣u từ thực tiễn để kiểm chứng

Đối với mô ̣t đề tài nghiên cứu tâm lý trẻ em, phương pháp quan sát còn giúp chongười nghiên cứu có cơ sở phân tích về mă ̣t định tính cho những số liê ̣u mà mình đã tổngkết, mô tả khách quan những đă ̣c điểm của đối tượng nghiên cứu

Quan sát có nhiều loại Dựa vào phạm vi quan sát có thể phân biệt:

- Quan sát toàn diê ̣n là quan sát cùng mô ̣t lúc bao quát nhiều mă ̣t của hành vi củatrẻ và được tiến hành trong cùng mô ̣t thời gian dài Quan sát toàn diê ̣n bao giờ cũng mangtính chọn lọc ít hay nhiều Người quan sát chỉ ghi lại những điều gì mình cho là quantrọng, có ý nghĩa đối với đề tài nghiên cứu của mình, đă ̣c biê ̣t những cái gì mình thấy, đó

là biểu hiê ̣n của những cái mới trong quá trình phát triển tâm lý của trẻ em

- Quan sát bô ̣ phâ ̣n được tiến hành khi người nghiên cứu chỉ theo dõi và ghi lại

mô ̣t mă ̣t hành vi của trẻ, trong thời gian nhất định Ví dụ, quan sát khả năng dùng từ củatrẻ trong hoạt đô ̣ng làm quen với thơ chuyê ̣n, hoă ̣c quan sát khả năng sáng tạo của trẻtrong trò chơi xây dựng

Trang 22

Dựa vào mục đích và bối cảnh quan sát, người ta có thể chia quan sát thành hailoại.

- Quan sát tự nhiên là phương pháp quan sát hành vi của trẻ trong hoạt đô ̣ng tựnhiên hàng ngày, có thể ở giờ hoạt đô ̣ng chung, hoạt đô ̣ng góc trong lớp, hay giờ chơingoài trời mà không có bất kỳ mô ̣t tác đô ̣ng nào từ phía người nghiên cứu

Quan sát tự nhiên không liên quan đến sự vâ ̣n đô ̣ng của các biến số, người nghiêncứu chỉ cần theo dõi và ghi lại các hành vi cần nghiên cứu từ hàng loạt các sự kiê ̣n xảy ra

tự nhiên trong bối cảnh thực

- Quan sát có dàn dựng là quan sát hành vi của trẻ trong bối cảnh được dàn dựng,thường là trong thực nghiê ̣m, nơi họ đă ̣t ra các tình huống để khai thác những hành vi cầnnghiên cứu từ trẻ

Phương pháp quan sát có những ưu điểm và hạn chế nhất định.

- Ưu điểm: phương pháp quan sát dễ dàng sử dụng trong mọi hoàn cảnh khácnhau Đối với quan sát tự nhiên thu thâ ̣p được nhiều tài liê ̣u mang tính khách quan trongđiều kiê ̣n hoạt đô ̣ng tự nhiên của trẻ

- Phương pháp quan sát tự nhiên làm mất nhiều thời gian, nhà nghiên cứu bị đô ̣ngchờ đợi sự kiê ̣n xuất hiê ̣n Đối với quan sát dàn dựng, phản ứng hành vi của trẻ trong môitrường khống chế có thể không tự nhiên, kết quả không như trong đời thực

Tổ chức quá trình quan sát:

+ Xác định mục đích và nô ̣i dung quan sát rõ ràng

Những điều quan sát cần được biểu hiê ̣n cụ thể ở những thông số hay tiêu chí quansát (quan sát ai, quan sát cái gì, để làm gì)

+ Lâ ̣p kế hoạch quan sát

- Xác định thời gian quan sát dài hay ngắn, bao nhiêu lần, quan sát liên tục haygián đoạn

- Địa điểm quan sát ở đâu? Ngoài trời hay trong lớp, quan sát trẻ ở trường hay ởgia đình

- Số lượng trẻ cần quan sát là bao nhiêu, quan sát từng trẻ hay quan sát số đông,kiểu loại quan sát là gì?

- Chuẩn bị những điều kiê ̣n cần thiết cho quá trình quan sát như phương tiê ̣n kỹthuâ ̣t (máy quay phim, chụp ảnh, máy ghi âm), biên bản ghi chép trong quá trình quansát

- Làm quen với trẻ trước khi tiến hành quan sát

để tài liê ̣u thu thâ ̣p được mang tính khách quan Để đảm bảo đô ̣ tin câ ̣y của tài liê ̣u thuthâ ̣p được cần quan sát nhiều lần về đối tượng ở những thời điểm, hoàn cảnh khác nhau

- Cần ghi chép kịp thời những điều quan sát được Viê ̣c ghi chép được thực hiê ̣nbằng nhiều cách: ghi theo mẫu in sẵn, ghi dưới dạng biên bản toàn bô ̣ nô ̣i dung quan sátđược, ghi nhâ ̣t ký, ghi âm, chụp ảnh

Trang 23

- Việc quan sát cần được tiến hành bởi những người quen thuộc Nếu là người lạphải có thời gian làm quen hoặc dùng phương pháp quan sát từ xa (ngăn cách với phònghoạt động của trẻ bởi một tấm kính).

- Trong quá trình quan sát tuyệt đối không để trẻ biết mình đang bị quan sát, để trẻhoạt động một cách tự nhiên thoải mái

- Xử lý kết quả quan sát cẩn thận bằng cách phân tích, tổng hợp, phân loại, hệthống hóa thông qua những công thức toán học

6.2.2 Phương pháp thực nghiệm

Thực nghiệm là phương pháp mà người nghiên cứu chủ động làm xuất hiện nhữnghiện tượng tâm lý cần nghiên cứu sau khi đã tạo ra những điều kiện nhất định Chẳnghạn, tổ chức trò chơi xây dựng bằng phương pháp đặc biệt, qua đó tìm hiểu khả năngtưởng tượng sáng tạo của trẻ

Thực nghiệm có ưu điểm:

- Người nghiên cứu hoàn toàn chủ động vì các dữ liệu hoàn toàn phụ thuộc vàocác nhân người nghiên cứu và các tiêu chuẩn người đó đưa ra, có thể dùng lặp lại nhiềulần

- Thu thập nhanh chóng một số lớn các dữ liệu cần thiết, tiết kiệm được thời gian

- Hiện tượng nghiên cứu được đánh giá qua những chỉ số nên việc xử lý đơn giản,kết quả có độ tin cậy cao mang tính thuyết phục hơn phương pháp quan sát

Tuy nhiên phương pháp này khó khống chế được tính chủ quan của người nghiêncứu và đối tượng nghiên cứu

Thực nghiệm có các loại:

- Thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm hiện trường Về cơ bản hai loại thựcnghiệm này gần giống nhau, vì được tiến hành trong đời sống tự nhiên của trẻ

Ưu điểm của thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm hiện trường là trong điều kiện

hoạt động của trẻ diễn ra một cách tự nhiên, nên kết quả mang tính khách quan, dễ dàng

áp dụng những biện pháp phát triển tâm lý trẻ vào thực tế cuộc sống

- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là loại thực nghiệm được được tiến hànhtrong phòng thí nghiệm với những phương tiện kỹ thuật, trang thiết bị chuyên dùng Loạithực nghiệm này ít được thực hiện vì trong hoàn cảnh không bình thường, hoạt động củatrẻ trở nên lúng túng, thậm chí trẻ không chịu hợp tác, nhà nghiên cứu khó đạt được kếtquả như mong muốn hoặc kết quả không khách quan

Xét theo chức năng nghiên cứu, thực nghiệm còn được phân thành các loại sau:

- Thực nghiệm nhận định

- Thực nghiệm hình thành

- Thực nghiệm kiểm tra

Qui trình tiến hành tổ chức thực nghiệm:

- Tổ chức thực nghiệm kiểm định trước khi thực nghiệm hình thành để thăm dòthực trạng, tức là xác định vấn đề cần nghiên cứu ở trẻ em đã đạt trình độ nào

Trang 24

- Xây dựng một hệ thống tác động đến trẻ dưới dạng hệ thống những việc làm haynhững bài tập cho trẻ theo mục đích thực nghiệm đề ra.

- Tiến hành thực nghiệm hình thành nhằm tạo ra ở trẻ một trình độ phát triển mớitrong điều kiện thực nghiệm do người thực nghiệm tạo ra

- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra để xem thực nghiệm hình thành đạt kết quả đếnđâu

- Thu thập cứ liệu theo tiêu chí biểu hiện sự phát triển của đối tượng nghiên cứuqua quá trình thực nghiệm và xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Kết quả thực nghiệm được phân tích ở hai khía cạnh: định lượng và định tính

- Cuối cùng dựa trên kết quả thu nhận được, người nghiên cứu rút ra những nhậnxét về đặc điểm và qui luật vận động của đối tượng nghiên cứu Đó chính là những kếtluận khoa học của thực nghiệm

Khi tiến hành bất cứ loại thực nghiệm nào cần chú ý những vấn đề sau đây:

- Lựa chọn các tài liệu hướng dẫn và điều kiện tiến hành thực nghiệm một cáchchính xác, đầy đủ, phù hợp với mục đích nghiên cứu

- Thời gian tiến hành thực nghiệm cần lựa chọn thời điểm hợp lý

- Địa điểm tiến hành thực nghiệm cần lựa chọn những nơi quen thuộc với trẻ, đầy

đủ ánh sáng không có những đồ vật mới lạ làm phân tán chú ý của trẻ

- Nắm vững tiến trình thực nghiệm và xây dựng mối quan hệ thân thiện với trẻtrước khi tiến hành thực nghiệm

- Thực hiện lời chỉ dẫn một cách ngắn gọn, dễ hiểu, hấp dẫn Để trẻ hiểu lời chỉdẫn phải nhắc đi nhắc lại từ từ 2 đến 3 lần nhưng không thay đổi nội dung, không giảithích thêm, sử dụng thống nhất ngữ điệu, cường độ giọng nói không nên nhấn mạnh vàobất cứ từ nào

- Thời gian tiến hành thực nghiệm với trẻ theo nguyên tắc chỉ kéo dài từ 15 đến 20phút, trẻ càng nhỏ thời gian tiến hành càng ngắn Tốc độ tiến hành phù hợp riêng với từngtrẻ, không nên giục trẻ chậm chạp

- Trong quá trình thực nghiệm phải giữ được tính tự nhiên, giao tiếp với trẻ phảimềm mỏng, tỏ ra gần gũi, không ép buộc trẻ, nếu phát hiện sự mệt mỏi và dấu hiệu buồnchán, phải dừng ngay thực nghiệm

- Phản ứng thận trọng, điềm tĩnh với những thành công hoặc không thành công củatrẻ, không nên gây sự chú ý nhiều của trẻ vào những lỗi sai

- Biên bản thực nghiệm cần ghi đầy đủ, chính xác, tốt nhất là một người tiến hànhnhững tác động thực nghiệm, một người ghi biên bản Người ghi biên bản không được ởtrong tầm mắt của của trẻ nhưng có thể nghe và nhìn trẻ thực hiện một cách rõ ràng

- Trong biên bản cần ghi chép đầy đủ các dẫn chứng tâm lý phù hợp với tiêu chícủa phương pháp đã chuẩn bị trước, ghi tất cả những gì quan sát được mặc dù chúngkhông liên quan đến mục đích nghiên cứu, bởi vì trong tâm lý trẻ không có cái gì là thứyếu cả, tất cả đều chứa đựng những thông tin nhất định

- Khi kết thúc thực nghiệm phải có lời nhận xét khen ngợi trẻ Việc khen ngợi phảiđúng mức và không nên dựa vào kết quả mà nên dựa vào sự cố gắng của trẻ

6.2.3 Phương pháp trắc nghiệm (test)

Khái niệm về phương pháp trắc nghiệm

Galton (1822 -1911) nhà tâm lý học người Mỹ là người đề xuất tư tưởng trắcnghiệm và là đầu tiên gọi những thử nghiệm trong nghiên cứu của mình là trắc nghiệm

Trang 25

Sau này học trò của ông là J.McCattell (1860 - 1994) kế thừa và phát triển đến năm 1905trắc nghiệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới.

Qua nhiều lần thay đổi, cải tiến nhờ công lao to lớn của các nhà tâm lý học trên thếgiới như Alfed Binet người pháp (1857-1911), bác sỹ T.Simon, V.Ster người Đức, JTerman (1877-1956), G.L.Rotxolimo trắc nghiệm đã trở thành phương pháp cơ bản đểnghiên cứu nhiều mặt phát triển tâm lý của trẻ em Nhờ trắc nghiệm người ta có thể sosánh trẻ em về trình độ phát triển trí tuệ chung hay trình độ phát triển từng quá trình, từngphẩm chất riêng biệt Sự so sánh đó được tiến hành trên cơ sở những chuẩn theo lứa tuổi

đã được xác lập trước Nhờ trắc nghiệm người ta có thể xác định được một đứa trẻ nào đóphát triển bình thường hay không bình thường, hoặc cao hơn hoặc thấp hơn so với chuẩn

Hiểu một cách khái quát trắc nghiệm là một phép thử tâm lý bao gồm những bàitoán, những câu hỏi được chuẩn hóa dưới hình thức lời nói, hình ảnh, việc làm Thôngqua việc trả lời những bài toán, những câu hỏi đó, nhà nghiên cứu xét đoán được trình độphát triển trí tuệ, nhân cách của trẻ em (Trắc nghiệm thực chất là một hình thức đặc biệtcủa thực nghiệm nhận định)

Trắc nghiệm dành cho trẻ em là một hệ thống bài tập được xây dựng riêng cho trẻ

em làm trong những điều kiện xác định nghiêm túc Mỗi bài làm của các em đều đượccho điểm, qui tắc cho điểm thường rất đơn giản và nhất quán Điểm đánh giá không bị chiphối bởi những định kiến của người tổ chức làm trắc nghiệm cho trẻ

Mỗi bài tập trong cuộc trắc nghiệm đưa ra không phải theo một kiểu mà theonhiều kiểu khác nhau Bởi vì nếu chỉ có một kiểu, đứa trẻ có thể có thể hoàn thành tốt hayxấu nhiều khi còn tùy thuộc vào nguyên nhân ngẫu nhiên Khi xây dựng các trắc nghiệm,người ta lựa chọn những bài tập làm sao cho độ phức tạp của chúng được tăng dần vàkhông nhất thiết đứa trẻ nào cũng hoàn thành được Mỗi loại bài dùng cho trẻ em thuộcmột lứa tuổi nhất định, thường không dưới 200 em, rồi tính kết quả trung bình Điểmtrung bình này là chuẩn của lứa tuổi đó Cũng có khi một loại bài tập cho nhiều lứa tuổikhác nhau Trong trường hợp đó người ta xác định cho mỗi lứa tuổi một chuẩn riêng

Quá trình kiểm tra những bài tập trắc nghiệm và xác lập chuẩn cho lứa tuổi đượcgọi là việc chuẩn hóa các phép trắc nghiệm Sau khi đã chuẩn hóa, phép trắc nghiệm nàykhông thay đổi nữa Những trẻ em được khảo sát bằng trắc nghiệm phải làm bài tập trongnhững điều kiện giống hệt nhau mới có thể qui ra được chuẩn Bởi vậy phương pháp trắcnghiệm còn gọi là phương pháp thử nghiệm chuẩn hóa

Các loại phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm trí tuệ

Trắc nghiệm trí tuệ là loại trắc nghiệm nhằm xác định trình độ trí tuệ chung của

trẻ em Trong trắc nghiệm trí tuệ những bài tập trí tuệ đều chưa quen thuộc đối với các

em, do đó muốn hoàn thành những bài tập này trẻ phải huy động năng lực trí tuệ Quanhững hành động trí tuệ, người nghiên cứu mới phát hiện được một cách chính xác sựphát triển trình độ trí tuệ của mỗi đứa trẻ ở mức độ nào

Độ chính xác của trắc nghiệm phụ thuộc vào cơ sở khoa học của việc lựa chọn cácbài tập Do sự phát triển trí tuệ của trẻ là một quá trình rất phức tạp, bao gồm nhiều mặt,nhiều biểu hiện khác nhau, nên khi xây dựng bài tập trắc nghiệm cần phải chú ý lựa chọntheo hướng phát triển của các mặt chủ yếu Bởi chính nó sẽ chi phối mạnh mẽ các mặtkhác và là căn cứ đáng tin cậy để có thể rút ra kết luận về trình độ phát triển trí tuệ của

Trang 26

mỗi đứa trẻ Thiếu cách nhìn khoa học đó, trắc nghiệm chỉ cho thấy bức tranh sai lệch về

sự phát triển trí tuệ của mỗi em

Phương pháp trắc nghiệm trí tuệ không những được sử dụng trong các công trìnhnghiên cứu khoa học mà còn được sử dụng rộng rãi trong thực tiễn với những mục đíchkhác nhau Tuy nhiên phương pháp này cũng chỉ cho biết một bức tranh tức thời về trình

độ trí tuệ của trẻ trong thời điểm khảo sát, không nói lên được nguyên nhân gây nên sựkhác biệt về trình độ trí tuệ của các em Vì vậy quá trình nghiên cứu cần được bổ sungbởi các phương pháp khác

Trắc nghiệm về nhân cách

Nhân cách con người là một cấu trúc rất phức tạp, bao gồm nhiều thuộc tính cóliên quan với nhau được sắp xếp theo một cấu trúc nhất định Do đó khi nghiên cứu nhâncách người ta cần phải xem xét nhiều thuộc tính của nó, ở các khía cạnh khác nhau, trongnhiều mối quan hệ hữu cơ với nhau

Trắc nghiệm nhân cách có nhiều loại, nhưng hầu hết các trắc nghiệm đó chỉ cho

biết nét nhân cách mà người nghiên cứu cần quan tâm có ở đứa trẻ hay không, chứ không

đo được nó có ở mức độ nào, do đó việc tính điểm rất khó khăn

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp trắc nghiệm

- Nhờ tính tiêu chuẩn rõ ràng nên việc điều tra và kiểm tra được thiết kế để giảiquyết nhiều vấn đề, có thể tiến hành trên nhiều đối tượng khảo sát trong cùng một thờigian, tiết kiệm được tiền bạc và công sức so với nhiều phương pháp khác Kết quả các bàikiểm tra trắc nghiệm mang tính khách quan, được biểu đạt dưới hình thức định lượng nênrất tiện cho việc xử lý thống kê toán học Với những ưu điểm như vậy cho nên chúngđược sử dụng phổ biến trong nghiên cứu phát triển tâm lý trẻ em

Bên cạnh đó phương pháp trắc nghiệm có những hạn chế nhất định Trắc nghiệmchỉ cho biết kết quả cụ thể khi thực hiện bài tập chứ không cho biết quá trình đi đến kếtquả như thế nào, khó loại trừ được tính ngẫu nhiên của kết quả Một số trắc nghiệm tríthông minh bị phê bình do được sử dụng để quyết định việc chấp nhận hoặc xếp thứ tronggiáo dục trẻ em, nhưng không bao gồm đầy đủ các yếu tố tâm lý liên quan đến năng lực

xã hội và hành vi phù hợp

Ở Việt Nam trong những năm gần đây phương pháp trắc nghiệm đã được sử dụngthành công trong nhiều nghiên cứu về tâm lý trẻ em Trong các luận án tiến sĩ tâm lý học,nhiều tác giả không chỉ thành công trong việc lựa chọn sử dụng các trắc nghiệm chuẩn cósẵn mà còn mạnh dạn trong việc xây dựng các trắc nghiệm trong nghiên cứu của mình.Trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý trẻ mầm non, tiến sỹ Nguyễn Thị Kim Quí đã xây dựng

và hoàn thiện thang đo trí lực trên 200 trẻ 6 tuổi Tiến sỹ Tạ Thị Ngọc Thanh xây dựngthành công trắc nghiệm đánh giá sự phát triển tâm lý của trẻ lên ba thể hiện ở ba lĩnhvực: tâm vận động, trí tuệ, những hiểu biết về bản thân và người thân trong gia đình Testnày có giá trị đo gần tới độ chính xác chuẩn và có thể đo sự phát triển của trẻ 3 tuổi trongcác trường mầm non Hà nội

6 2.4 Phương pháp trò chuyện

Trò chuyện là phương pháp phân tích những câu trả lời của người được nghiêncứu diễn ra trong các cuộc trò chuyện với những lời trao đổi đã được xác định của ngườinghiên cứu

Trò chuyện có hai loại cơ bản:

Trang 27

Trò chuyện trực tiếp là loại trò chuyện mà người nghiên cứu trực tiếp tiếp xúc, tròchuyện trao đổi với người được nghiên cứu để phát hiện ra những vấn đề cần nghiên cứu.Trò chuyện trực tiếp có 3 kiểu:

- Trò chuyện thẳng: là loại trò chuyện mà người nghiên cứu đặt thẳng vấn đề màmình đang quan tâm đối với người nghiên cứu Ví dụ: khi nghiên cứu về hứng thú của trẻđối với trò chơi đóng đóng kịch, trong trò chuyện với trẻ về các vai kịch, người nghiêncứu có thể hỏi trẻ “Vì sao con thích đóng vai Dê đen?”

- Trò chuyện “đường vòng” là kiểu trò chuyện thay vì hỏi thẳng vấn đề, ngườinghiên cứu có những câu gợi mở, nói xa, rồi xen lẫn những vấn đề cần quan tâm nghiêncứu để xét đoán phản ứng trả lời của người được hỏi Hoặc dùng những câu chuyện khácliên quan đến vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để trò chuyện với người được nghiên cứu,qua cuộc trò chuyện đó mà phát hiện đánh giá vấn đề cần nghiên cứu

Ví dụ: để khẳng định tình cảm của trẻ với bạn bè, nếu người nghiên cứu hỏi thẳngtrẻ “Khi chơi cháu có sẵn sàng giúp đỡ các bạn không?” Hầu như các cháu đều trả lời

“có ạ” Nếu dừng lại ở câu trả lời này để khẳng định thái độ của trẻ với các bạn có thể câutrả lời của trẻ không khách quan Vì ở tuổi mẫu giáo những câu trả lời của trẻ trong nhiềutình huống thường là phản ứng tức thì, theo thói quen bắt chước theo bạn chưa phải là kếtquả của một sự suy nghĩ sâu sắc Do đó phải trò chuyện theo kiểu đường vòng Chẳnghạn thay vì hỏi thẳng trẻ như tình huống trên, người nghiên cứu có thể cùng trò chuyệnvới trẻ về các bạn khác trong lớp Trong khi trò chuyện người nghiên cứu khéo léo lồngvào một câu hỏi mang tính tình huống “Hôm nay đến lượt bạn An tưới cây ở góc thiênnhiên mà tay bạn ấy lại đau không biết lớp mình có ai giúp bạn ấy không nhỉ?”

- Trò chuyện kiểm nghiệm: sau khi tiến hành nghiên cứu, người nghiên cứu dùngnhững câu chuyện tâm tình để kiểm tra, kiểm nghiệm vấn đề mà người nghiên cứu bộc lộ

là bản chất hay chỉ là ngẫu nhiên Vì thực tế cho thấy nhiều khi ở những thời điểm, tâmtrạng khác nhau, sự phản ứng của con người khác nhau Trò chuyện kiểm nghiệm có thểtiến hành sau khi trò chuyện thẳng hoặc sau khi tiến hành phương pháp khác, để khẳngđịnh vấn đề cần nghiên cứu

Trò chuyện gián tiếp: là phương pháp thông qua việc trò chuyện với người khác đểtìm hiểu về đối tượng nghiên cứu hoặc trò chuyện với đối tượng thông qua thư từ, điệnthoại Phương pháp này giúp người nghiên cứu điều tra trên diện rộng, không bị lệ thuộcvào thời gian và không gian Tuy nhiên do không quan sát được trực tiếp tâm trạng cũngnhư hoàn cảnh xung quanh của người được nghiên cứu, do đó khó kiểm tra được tínhchân thực của câu trả lời Trong nghiên cứu tâm lý trẻ mầm non, phương pháp trò chuyệngián tiếp thường được thực hiện thông qua phụ huynh hoặc cô giáo đứng lớp

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp trò chuyện

Ưu điểm: phương pháp trò chuyện mang tính linh hoạt mềm dẻo, dễ sử dụng

- Trong khi trò chuyện người nghiên cứu dùng được nhiều kỹ thuật thăm dò để tìm

ra câu trả lời cụ thể, chân thực Người nghiên cứu có thể lặp lại câu hỏi khi thấy đốitượng hiểu sai câu hỏi

- Khả năng tham gia trả ời của người được hỏi là rất cao, dùng được với cả nhữngngười chưa biết chữ nên phương pháp này rất phù hợp với trẻ trẻ mầm non

- Người nghiên cứu quan sát được cả tâm trạng, hành vi của người được nghiêncứu, từ đó đánh giá được mức độ tin cậy của câu trả lời Đối với trẻ em những phản ứngcủa trẻ thường rất tự nhiên chân thực, nên câu trả lời có độ tin cậy cao

Trang 28

- Thu thập được nhiều thông tin sinh động, thậm chí cả những điều thầm kín Hạn chế: người nghiên cứu thường khó lường hết được sự chủ quan của mình khighi chép, đánh giá thông tin thông qua cuộc trò chuyện.

Yêu cầu khi sử dụng phương pháp trò chuyện:

- Trước khi trò chuyện, người nghiên cứu phải xác định rõ mục đích, nội dung, xâydựng kế hoạch trò chuyện: trò chuyện nhằm khai thác thông tin gì ở đối tượng, chuẩn bịnội dung trò chuyện ở những câu hỏi nào, phương án trảo đổi ra sao, thời gian, địa điểm ởđâu?

- Phải tiếp cận đối tượng một cách cởi mở, gây được thiện cảm, thân mật với trẻ

- Thuyết phục người được nghiên cứu hiểu được rằng cuộc trò chuyện chỉ nhằmvào mục đích khoa học Tuy nhiên với trẻ mầm non không nhất thiết phải làm như vậy,chỉ cần tạo ra ở trẻ sự vui vẻ thoải mái với người nghiên cứu

- Kết hợp sự trao đổi bằng lời với quan sát nét mặt, cử chỉ của người được nghiêncứu để nhận diện nhanh đặc điểm tâm lý nói chung, tâm trạng nói riêng của người đượcnghiên cứu để ứng xử linh hoạt trong khi trò chuyện

- Phải điều khiển được cuộc nói chuyện, không trao đổi tràn lan, luôn bám sát mụcđích nghiên cứu

- Cần ghi chép tỉ mỉ, có hệ thống những lời trao đổi giữa người nghiên cứu vàngười được nghiên cứu trong cuộc nói chuyện, nên ghi âm Việc sử dụng phương tiện ghi

âm khi nói chuyện phải khéo léo tế nhị, đối với trẻ mầm non phương tiện này dễ làm chotrẻ phân tán chú ý do vậy không nên để cho trẻ biết

- Để cuộc trò chuyện diễn ra một cách tự nhiên cởi mở, người nghiên cứu thể hiệnthái độ giao tiếp nhiệt tình, tập trung, phải nhớ được phản ứng trả lời của người nghiêncứu, sau đó mới ghi lại

- Trẻ mầm non dễ thay đổi thái độ, hành vi theo quan điểm của người khác Ví dụ,khi trò chuyện, người nghiên cứu hỏi một trẻ lớp mẫu giáo 6 tuổi “Cháu có thích đi họclớp một trường phổ thông hay không?” Trẻ im lặng không trả lời, người nghiên cứu nóitiếp “Rất thích đúng không?” Trẻ có thể trả lời ngay “Dạ đúng” Do vậy khi trò chuyệnvới trẻ, người nghiên cứu cố gắng làm cho trẻ hiểu rõ nội dung câu hỏi, tuyệt đối khônggợi ý cách trả lời, không hướng câu trả lời của trẻ theo mục đích nghiên cứu của mình

6.2.5 Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt đô ̣ng

Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt đô ̣ng của trẻ là phương pháp phân tíchnhững biểu hiê ̣n về sự phát triển tâm lý của trẻ thông qua sản phẩm hoạt đô ̣ng của trẻ

Sản phẩm hoạt đô ̣ng của trẻ rất phong phú, trong đó có những sản phẩm mà ta cóthể nghiên cứu là: những cử đô ̣ng, khả năng sử dụng từ trong quá trình hoạt đô ̣ng và giaotiếp Sản phẩm của hoạt đô ̣ng tạo hình như vẽ, nă ̣n, cắt dán, xếp hình ; sản phẩm củahoạt đô ̣ng vui chơi như trò chơi xây dựng, lắp ghép, trò chơi học tâ ̣p Trong đó sảnphẩm hoạt đô ̣ng tạo hình, trò chơi xây dựng là những sản phẩm biểu hiê ̣n khá rõ về trình

đô ̣ phát triển tâm lý của trẻ

Ưu điểm và hạn chế của phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt đô ̣ng:

- Phương pháp này rất phù hợp với viê ̣c nghiên cứu tâm lý trẻ mầm non vì ngônngữ của trẻ phát triển mạnh nhưng chưa hoàn thiê ̣n, trẻ chưa thể diễn đạt rõ ràng được ýnghĩ của mình, sản phẩm hoạt đô ̣ng là phương tiê ̣n thể hiê ̣n khách quan nhất đời sống nô ̣itâm của trẻ

Trang 29

- Người nghiên cứu có thể “đo lường” được sự phát triển tâm lý của trẻ thông quaviê ̣c phân tích sản phẩm hoạt đô ̣ng do trẻ tạo ra.

- Hạn chế của phương pháp này chỉ cho biết được sản phẩm cụ thể chứ không chobiết logic những thao tác và thời gian tạo ra sản phẩm, không thể xác định được chính xáchoàn cảnh khách quan và tâm trạng của trẻ khi tạo ra sản phẩm, khó xác định chính xácchiều hướng phát triển tâm lý của trẻ diễn ra như thế nào

Yêu cầu khi nghiên cứu sản phẩm:

- Tùy thuô ̣c vào đối tượng và nhiê ̣m vụ nghiên cứu của đề tài, người nghiên cứuphải xác định lựa chọn nghiên cứu loại sản phẩm nào của trẻ là chính

- Phải kết hợp chă ̣t chẽ với các phương pháp khác, đă ̣c biê ̣t là phương pháp quansát, trò chuyê ̣n để mô tả được cả những thao tác, diễn biến của sản phẩm đó đã diễn ranhư thế nào

6.2.6 Phương pháp nghiên cứu tiểu sử trẻ em

Nghiên cứu tiểu sử là phương pháp phân tích những yếu tố khách quan và chủquan đã ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của trẻ Trên cơ sở đó tìmkiếm giải pháp để tác động nhằm thức đẩy sự sinh trưởng và phát triển của trẻ một cáchtích cực

Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khoahọc nghiên cứu về con người Trong nghiên cứu tâm lý học trẻ em, nghiên cứu tiểu sử cánhân trẻ em nhằm xác định nguyên nhân, tiến trình phát triển các phẩm chất hay quá trìnhtâm lý nào đó của trẻ Phương pháp này không chỉ có ý nghĩa trong nghiên cứu tâm lý trẻ

em, mà còn có ý nghĩa lớn trong công tác chăm sóc giáo dục, giúp cho cô giáo có cơ sởđặt ra mục tiêu chăm sóc giáo dục và chủ động sử dụng những biện pháp tác động phùhợp với mỗi trẻ

Nội dung cơ bản về tiểu sử trẻ em người nghiên cứu cần tìm hiểu

Thời kỳ thai nghén của người mẹ:

- Sức khỏe của người mẹ và vấn đề chăm sóc dưỡng thai

- Yếu tố tâm lý của người mẹ có gì đặc biệt

- Tình trạng khi sinh nở: Trẻ là con thứ mấy, sinh bình thường hay không bìnhthường

Cuộc sống của gia đình:

- Trẻ sinh ra theo ý muốn hay không theo ý muốn

- Vị thế của trẻ trong gia đình

- Đặc điểm văn hóa của gia đình

- Quan niệm và phương phương pháp nuôi dạy trẻ của các thành viên

Ảnh hưởng của môi trường xung quanh:

- Các quan hệ xã hội

- Vệ sinh môi trương

Tình trạng về sức khỏe và tâm lý qua từng thời kỳ:

- Bệnh tật mãn tính có hay không và phương pháp điều trị như thế nào

- Những sang chấn về thể lực có hay không (Ngã, bỏng )

- Những sang chấn về tâm lý có hay không (hoảng loạn, lo âu )

- Sự phát triển về thể lực và tâm lý qua các thời kỳ

Đối với những trẻ đã đến trường mầm non, cần tìm hiểu thêm những vấn đề sau:

Trang 30

- Quan hệ của trẻ với cô và các bạn

- Những trò chơi trẻ yêu thích

- Những trở ngại của trẻ khi chơi, khi học

- Những khác biệt của trẻ trong các hoạt động, trong ăn uống, vui chơi, quan hệ

Yêu cầu khi nghiên cứu tiểu sử trẻ em

Đây là một phương pháp nghiên cứu sâu một cá nhân, mang tính chất định tínhphức tạp Để đánh giá một cách chính xác sự phát triển của các em, khi sử dụng phươngpháp này, người nghiên cứu cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tìm hiểu mọi yếu tố, mọi sự kiện đã diễn ra trong cuộc sống của trẻ thông quanhiều kênh thông tin khác nhau

- Mô tả chính xác những biểu hiện về sự phát triển tâm lý của trẻ Đồng thời phánđoán, xác định chính xác yếu tố nào, sự kiện nào đã tác động đến sự phát triển tâm lý củatrẻ

- Kết hợp với các phương pháp khác để kết quả nghiên cứu mang tính khách quan

6.2.7 Phương pháp điều tra viết

Điều tra viết là phương pháp dùng hàng loạt câu hỏi in sẵn vào trong các phiếu đểngười nghiên cứu đọc và trả lời Dựa vào tài liệu thu được, người nghiên cứu thống kê,phân tích, đánh giá vấn đề cần nghiên cứu

Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản của xã hội học và nó được sử dụng nhiềutrong nghiên cứu khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo dục mầm non nói riêng.Phương pháp này chỉ dùng cho người biết đọc, biết viết cho nên không thể sử dụng đểđiều tra trực tiếp đối với trẻ mầm non Trong nghiên cứu tâm lý trẻ mầm non, phươngpháp này được sử dụng với những người gần gũi chăm sóc giáo dục các cháu, chủ yếu làphụ huynh, các giáo viên mầm non Sử dụng phương pháp này, người nghiên cứu nhằmmục đích tìm hiểu sự đánh giá của họ về sự phát triển các chức năng tâm lý, phẩm chấttâm lý của trẻ mà người nghiên cứu đang quan tâm và xác định những nguyên nhân từphía giáo dục của trường mầm non và gia đình dẫn tới trình độ phát triển tâm lý của trẻ

Qui trình phương pháp điều tra được tiến hành như sau

Bước 1: Xây dựng kế hoạch điều tra

Bước 2: Xây dựng mẫu phiếu điều tra

Xây dựng mẫu phiếu điều tra có nghĩa là xây dựng bảng câu hỏi với các thông số,các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ Bảng câu hỏi là công cụ để thu thập các dữ liệu cần nghiêncứu Nó gồm hệ thống các câu hỏi về các vấn đề nghiên cứu được sắp xếp theo ý đồ củangười nghiên cứu

Trong bảng câu hỏi thường có hai loại:

Câu hỏi đóng là câu hỏi có sẵn phương án trả lời, người được hỏi chỉ việc lựa

chọn một hoặc vài phương án trong số các phương án đã cho sẵn

Ví dụ : Anh (chi) hãy đánh dấu x vào một loại trò chơi mà con anh (chị) thích chơinhất trong số những loại trò chơi của tuổi mẫu giáo sau đây:

Trò chơi đóng vai ( trẻ giả vờ làm cô giáo, làm bác sỹ )

Trò chơi xây dựng, lắp ghép ( lắp ngôi nhà, đoàn tầu từ những đồ chơi có sẵn) Trò chơi vận động ( chạy nhảy, leo trèo, đuổi bắt )

Trò chơi học tập (xếp hình, xếp chữ )

Câu hỏi đóng có nhiều ưu điểm

- Các câu trả lời được chuẩn hóa, có thể so sánh được với nhau

Trang 31

- Các câu trả lời thường dễ mã hóa, dễ phân tích, có thể tiết kiệm được thời gian

- Người được hỏi dễ hiểu được câu hỏi và dễ trả lời

- Người nghiên cứu chủ động khi xử lý số liệu, khống chế được những câu trả lờikhông cần thiết

Bên cạnh đó câu hỏi đóng có những hạn chế nhất định:

- Đôi khi người được hỏi không có ý kiến trả lời hoặc không biết trả lời thế nàonên họ chọn bất kỳ cho xong chuyện

- Đôi khi người được hỏi cảm thấy gò bó vì không có câu trả lời thích hợp, khôngbiết làm thế nào để bộc lộ câu trả lời cửa mình

- Không dễ khám phá ra các lối giải thích khác nhau về câu hỏi, nói cách khác câutrả lời gò bó theo ý chủ quan của người nghiên cứu và nhiều khi không đúng với tâm lýcủa người được hỏi

Câu hỏi mở là câu hỏi mà người được hỏi tự viết ra những ý kiến trả lời của mình

theo yêu cầu Ví dụ: Theo ý kiến anh (chị), ba mẹ và những người thân trong gia đìnhphải làm những gì để ngôn ngữ của trẻ phát triển nhanh?

Câu hỏi mở có những ưu điểm sau:

- Có thể sử dụng khi có nhiều khả năng trả lời mà ta khó liệt kê hết trong bảng câuhỏi Thông tin thu được rất phong phú

- Người trả lời không bị gò bó, được trả lời thoải mái theo ý của mình

- Câu hỏi này thích hợp với những vấn đề phức tạp

Hạn chế của câu hỏi mở là khó lượng hóa, khó phân tích được thông tin, dẫn đếnchủ quan khi xử lý Không khống chế được những thông tin không cần thiết Do tính kháiquát của câu hỏi, nhiều khi người được hỏi không hiểu, dễ trả lời sai, hơn nữa mất nhiềuthời gian và công sức cho câu trả lời nên tỉ lệ từ chối khá cao

Yêu cầu khi xây dựng bảng câu hỏi

- Mở đầu bảng câu hỏi phải trình bày rõ ràng mục đích của cuộc điều tra, giúpngười điều tra hiểu được rằng cuộc điều tra này mang ý nghĩa xã hội, có lợi cho ngườiđược hỏi ý kiến và ý kiến của người được hỏi rất quan trọng không phương hại gì đến họ

Để người được hỏi yên tâm thoải mái và trung thực khi trả lời, ngay từ đầu nói rõ cho họbiết không cần ghi tên vào phiếu điều tra

- Câu hỏi đưa ra phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với mục đích, nhiệm vụnghiên cứu Tránh những câu hỏi mập mờ đa nghĩa làm cho người được hỏi không hiểuhoặc không biết trả lời theo hướng nào Không nên đưa ra những câu hỏi có tính áp đặthoặc gợi ý cách trả lời

- Khi xây dựng câu hỏi, người nghiên cứu phải hình dung được phương án trả lời

và chỉ rõ cách thức trả lời (đánh dấu vào một hoặc nhiều ô trống, viết vào khoảng trống,sắp xếp theo thứ tự ) và phương án xử lý thông tin khi thu được phiếu

- Sắp xếp xen kẽ những câu hỏi đóng với câu hỏi mở và những câu hỏi có tínhkiểm tra tính trung thực của người được hỏi

- Đối với những câu hỏi đóng, người nghiên cứu phải xác định phương án cụ thể:

- Những câu hỏi có tính chất lựa chọn (có hoặc không) thì phương án lựa chọnphải đầy đủ và loại trừ được phương án khác

- Những câu hỏi về mức độ và thứ bậc có thể được trình bày theo hàng ngang hayhàng dọc

Trang 32

Cuối bảng câu hỏi là một câu tìm hiểu về thông tin bản thân người được hỏi nhưgiới tính, nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn

Để đảm bảo chất lượng của bảng câu hỏi, người nghiên cứu nên điều tra thử trênmột số đối tượng khảo sát, sau đó điều chỉnh chính xác cả về nội dung và hình thức, rồimới đưa vào sử dụng chính thức

Bước 3: Chọn mẫu điều tra

Với bất kỳ đề tài điều tra thực trạng nào, nhất là đề tài có qui mô lớn, nhà nghiêncứu không thể nào điều tra được tất cả các đối tượng trong khách thể khảo sát, vì vậy phảichọn mẫu điều tra

Mẫu điều tra là tập hợp phần tử được lựa chọn mang tính chất đặc trưng - phổ biếncho một nhóm khách thể được nhà nghiên cứu lựa chọn để điều tra

Tùy theo mỗi đề tài, với nội dung, phạm vi, mức độ nghiên cứu khác nhau, việclựa chọn mẫu điều tra phong phú đa dạng khác nhau

Mẫu điều tra có thể là mẫu xác suất lựa chọn một cách ngẫu nhiên hoặc mẫu đạidiện cho nhóm Việc chọn mẫu đại diện thường khó tránh khỏi tính chủ quan và khó khăncho việc thống kê, khái quát tổng thể một lớp khách thể nào đó Kết quả điều tra phụthuộc vào rất nhiều việc chọn mẫu, vì vậy lựa chọn mẫu cần lưu ý những vấn đề sau:

- Chọn mẫu điều tra phải căn cứ vào giả thuyết khoa học, nhiệm vụ phạm vinghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu cái gì, theo hướng nào, phạm vi khách thểnghiên cứu ra sao, đối tượng nghiên cứu bộc lộ rõ nét ở nhóm nào

- Phải có sự hiểu biết vững chắc về nhóm khách thể được chọn làm mẫu

- Căn cứ vào điều kiện khách quan, chủ quan của mình, người nghiên cứu xácđịnh độ lớn của mẫu (điều tra bao nhiêu người là đủ), kinh phí nghiên cứu, thời gian,phương tiện, khả năng của người nghiên cứu

- Định hướng trước được việc xử lý kết quả theo mẫu đã lựa chọn: xử lý theophương thức nào? Khai thác khía cạnh nào

Bước 4: Tiến hành điều tra

- Tiền trạm trước khi điều tra, liên hệ địa bàn điều tra

- Khi tiếp xúc với cá nhân và nhóm điều tra, cần tạo ra không khí chân tình, cởi

mở với người được điều tra, làm cho họ hiểu và trả lời thẳng thắn trung thực

Bước 5: Xử lý và phân tích kết quả điều tra

Khi xử lý kết quả, người nghiên cứu có thể điều chỉnh bổ sung nội dung vàphương án xử lý cho phù hợp với thực tiễn điều tra

Như vậy để phát hiện ra đặc điểm và qui luật tâm lý của trẻ em, nhà nghiên cứuphải sử dụng nhiều phương pháp tác động đến trẻ Mỗi phương pháp đều có những ưuđiểm và hạn chế nhất định Để kết quả đạt được một cách khách quan, nhà nghiên cứuphải sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, tùy thuộc vào mục đích, nhiệm vụ đề tài vàkhả năng của mình, cần xác định rõ những phương pháp nào là chủ công, phương phápnào có tính chất bổ trợ

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của tâm lý học trẻ em

2 Hãy cho biết mối quan hệ của tâm lý học trẻ em với các khoa học khác và ýnghĩa của tâm lý học trẻ em đối với người giáo viên MN

Trang 33

3 Những tư tưởng của L.X Vư gốtxki có ý nghĩa như thế nào đối với tâm lý họctrẻ em Liên Xô cũ.

4 A.N Liônchiev đã giải quyết được vấn đề gì của lý luận về sự phát triển tâm lýtrẻ em?

5 Nêu những đóng góp của Enconhin, P.La Ganperin cho tâm lý học tr ẻ em

6 Nêu những đóng góp của Jean Piaget, S.Freud cho tâm lý học tr ẻ em

7 Trình bày nguyên tắc nghiên cứu trong tâm lý học trẻ em

8 Trình bày cách tiến hành các phương pháp trong nghiên cứu tâm lý trẻ em

9 .Trình bày các quan niệm về trẻ em, rút ra kết luận ứng dụng vào quá trình giáodục trẻ

10 Trình bày khái quát quan điểm của thuyết Tiền Định, thuyết Duy Cảm, thuyếtHội tụ hai yếu tố về sự phát triển tâm lý trẻ em

11 Trình bày Quan niệm của Tâm lý học Mác Xít về sự phát triển tâm lý trẻ em vànêu ra những ứng dụng vào quá trình nghiên cứu và giáo dục trẻ

12 Phân tích các quan điểm phân định thời kỳ phát triển tâm lý trẻ em, rút ra kếtluận ứng dụng vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ

13 Văn hóa là gì? Văn hóa đóng vai trò gì đối với sự phát triển tâm lý trẻ em?

14 Trẻ em lĩnh hội nền văn hóa bằng con đường nào?

15 Tại sao nói giáo dục đóng vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triểntâm lý học trẻ em?

16 Hoạt động đóng vai trò gì đối với sự phát triển tâm lý trẻ em? Rút ra kết luậnứng dụng vào giáo dục trẻ MN

17 Điều kiện sinh học đóng vai trò gì đối với sự phát triển tâm lý trẻ em? Rút rakết luận ứng dụng vào giáo dục trẻ MN

18 Hai đứa trẻ sinh đôi cùng trứng, nuôi trong cùng một gia đình, đi học cùngmột trường một lớp, tại sao tâm lý vẫn khác nhau?

19 Trình bày quy luật phát triển tâm lý không đồng đều, rút ra kết luận ứng dụngvào giáo dục trẻ MN

20 Trình bày qui luật tính trọn vẹn trong sự phát triển tâm lý trẻ em, rút ra kết luậnứng dụng vào giáo dục trẻ MN

CHƯƠNG II: ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN TÂM LÍ CỦA TRẺ EM

TRONG NĂM ĐẦU (0 – 15 tháng)

(5 tiết) 1.Đặc điểm phát triển tâm lý trẻ sơ sinh (0 -2 tháng)

Trẻ em mới sinh ra cơ thể và não phát triển chưa hoàn thiện Đầu to chiếm 1/4chiều dài toàn thân Tứ chi nhỏ và ngắn, tay dài hơn chân, mũi tẹt, cổ ngắn, vài tuần sau

sự mất cân đối giảm dần, trẻ trở nên xinh xắn Cấu tạo não của trẻ sơ sinh gần giống vớicấu tạo não của người lớn Tuy nhiên, thể tích tế bào não nhỏ, màng miêlin chưa đượchình thành, nếp nhăn trên vỏ não còn khá mỏng Xương sọ chưa được cốt hoá hoàn toàn.Thóp nhỏ nằm ở phần não phía sau, sau 3 tháng mới được đóng lại Thóp phía trước lớnhơn nằm trên trán từ 12 đến 18 tháng mới đóng hoàn toàn Nếu thóp đóng quá sớm sẽlàm cho não của trẻ mất đi khoảng trống cần thiết cho sự phát triển sau này, dẫn đến trítuệ kém Nếu thóp đóng quá muộn chứng tỏ sự cốt hoá xương sọ gặp trở ngại, hoặc kèm

Trang 34

theo các bệnh của toàn thân Sự phát triển hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của não ởtrẻ sơ sinh có liên quan trực tiếp đến sự hình thành và phát triển thể chất và tâm lí của trẻ.

1.1.Vai trò của phản xạ không điều kiện

+ Từ môi trường sống ổn định trong bụng mẹ, khi ra đời trẻ đột ngột bị đẩy vàohoàn cảnh sống mới lạ với vô vàn kích thích mạnh và phức tạp Song hệ thần kinh của trẻ

đã nhanh chóng thích ứng nhờ có sẵn hệ thống phản xạ không điều kiện

- Phản xạ hô hấp

- Phản xạ mút bú

- Phản xạ tự vệ : Co người, co tay chân khi có kích thích; hắt hơi; co giãn đồng

tử khi ánh sáng thay đổi

- Phản xạ bài tiết

+ Ý nghĩa của phản xạ không điều kiện

- Là cơ sở hình thành phản xạ có điều kiện, trước tiên là phản xạ định

hướng Phản xạ định hướng là phản ứng đối với kích thích mới lạ Phản xạ này được hìnhthành khoảng 3 đến 4 ngày sau khi sinh, biểu hiện trẻ biết hướng về phía ánh sáng

- Giúp trẻ có ngay những hành vi bản năng cấp thấp để thích nghi nhanh chóng vớimôi trường sống mới Đây là thời kì duy nhất trong cuộc đời của con người, những hành

vi bản năng thể hiện dưới dạng thuần tuý nhất để thoả mãn nhu cầu

- Phản xạ không điều kiện không giúp trẻ có sẵn phương thức hành vi theo kiểungười như nói năng, suy nghĩ, lao động… Vì vậy so với động vật mới sinh trẻ sơ sinh bấtlực yếu ớt hơn rất nhiều Nó không tự phát triển thành người lớn được, tuy nhiên trẻ sơsinh lại có khả năng rất lớn trong việc tiếp thu những phương thức hành vi theo kiểungười, kinh nghiệm của xã hội loài người

1.2.Sự phát triển các loại nhu cầu

Trẻ em sinh ra hoàn toàn bất lực yếu ớt, để tồn tại và phát triển nó phải được thoảmãn rất nhiều nhu cầu khác nhau

1.2.1 Nhu cầu gắn bó với người khác (nhất là người mẹ)

+ Nhu cầu gắn bó là sự đòi hỏi được tiếp xúc trực tiếp với cơ thể của người mẹ(hoặc người lớn) để có được cảm giác an toàn

Ngay từ khi vừa sinh ra, trẻ đã có phản xạ rúc đầu vào ngực, vào bụng mẹ, mộtmặt là tìm vú để bú, một mặt là để được áp sát vào da thịt mẹ, được ôm ấp vỗ về âu yếm

Do bản năng nuôi con của mình, người mẹ rất nhạy cảm và đáp ứng ngay nhu cầu nàycủa con Giữa người mẹ và đứa trẻ tạo nên quan hệ gắn bó mật thiết đặc biệt “da kề da,thịt kề thịt”

+ Đây là mối quan hệ đầu tiên rất quan trọng, tạo điều kiện cho sự phát triển mọimặt của trẻ sau này

- Được tiếp xúc trực tiếp với da thịt của người me, được vuốt ve âu yếm, thânnhiệt của trẻ được ổn định, máu lưu thông tốt, cơ thể phát triển nhanh chóng

- Trẻ có cảm giác an toàn, hài lòng, dễ chịu khi được mẹ ôm ấp Trạng thái này làyếu tố thuận lợi, là tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện và phát triển các loại nhu cầukhác, trước tiên là nhu cầu giao tiếp với mọi người Vì vậy nhiều nhà tâm lí học khẳngđịnh đây là nhu cầu gốc, xuất hiện sớm nhất và cũng quan trọng vào bậc nhất đối với sựphát triển của trẻ Thiếu sự gắn bó mẹ con ngay từ đầu, trẻ khó phát triển bình thường,ngay cả sự sống cũng gặp nhiều khó khăn Nhu cầu gắn bó được thoả mãn đầy đủ, sẽ tạođiều kiện cho trẻ phát triển nhanh về mọi mặt Những công trình nghiên cứu của nhiều

Trang 35

bác sỹ trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam (Tại bệnh viện Quảng Ninh năm 2002) đãchứng minh rằng, nuôi trẻ sơ sinh theo kiểu “Chuột túi” là cách nuôi có hiệu quả nhất

Vì lí do nào đó, vắng mẹ ngay từ những ngày đầu mới sinh là nỗi bất hạnh lớn đốivới trẻ, cần phải nhanh chóng thoả mãn nhu cầu gắn bó cho trẻ bởi một người khác, miễn

là người này thương yêu trẻ một cách thực sự như chính người mẹ đẻ của các cháu

- Thông qua quan hệ gắn bó bằng cách bế bồng, xoa nắn, âu yếm, người mẹ truyềncảm xúc cho con một cách trực tiếp, trẻ nhập tâm được, dần dần biết thể hiện cảm xúctheo kiểu người và các chức năng tâm lý người bắt đầu được hình thành

+ Dựa vào tín hiệu thể hiện nhu cầu gắn bó của trẻ và của người mẹ, các nhà khoahọc đã tổng kết được 4 kiểu gắn bó mẹ con

- Kiểu 1 : Tín hiệu thể hiện nhu cầu gắn bó từ phía con và từ phía mẹ đều mạnh.Đây là kiểu phổ biến trong thực tế, kiểu này có nhiều thuận lợi cho sự phát triển của trẻ

- Kiểu 2 : Tín hiệu phát ra từ con yếu, từ mẹ thì mạnh Nguyên nhân của kiểu này

là do trẻ sinh thiếu tháng hoặc trẻ bị bệnh bẩm sinh Trong trường hợp này, người mẹ cầnkhơi dậy nhu cầu gắn bó của con bằng sự quan tâm âu yếm thường xuyên với những cửchỉ hết sức nhẹ nhàng thận trọng

- Kiểu 3 : Tín hiệu phát ra từ phía con thì mạnh, từ phía mẹ lại yếu Nguyên nhâncủa kiểu này thường là do người mẹ có con một cách bất đắc dĩ, hoặc do đau yếu không

có khả năng quan tâm đến con Vì những lí do khác nhau người mẹ mang tâm trạng phiềnmuộn, thờ ơ lạnh nhạt không muốn tiếp xúc với con Do không nhận được tín hiệu đáp lại

từ phía người mẹ, tín hiệu của trẻ phát ra yếu dần, nếu tình trạng này kéo dài tín hiệu củatrẻ sẽ mất hẳn Trẻ lâm vào tình trạng ủ rũ, mệt mỏi, thụ động, dễ mắc phải bệnh “ trầmcảm” Để khắc phục tình trạng này người mẹ hãy nghĩ tới trách nhiệm của mình, trướctiên phải quan tâm, âu yếm thoả mãn nhu cầu gắn bó của con Nếu người mẹ cố tình thoáithác trách nhiệm của mình với con hoặc vì lí do sức khoẻ, phải nhanh chóng tìm mộtngười thương yêu trẻ thực sự để thay thế người mẹ cho cháu

- Kiểu 4 : Tín hiệu phát ra từ phía trẻ và người mẹ đều yếu Đây là một tai hoạ đốivới trẻ, nguyên nhân thuộc về hai phía người me và trẻ Muốn trẻ phát triển được bìnhthường cần phải có sự hỗ trợ tích cực của mọi người xung quanh, nhất là một bác sỹ vàmột người thương yêu tận tụy thực sự với trẻ

Tạo được mối quan hệ gắn bó mẹ - con ngay từ đầu là cách tốt nhất tránh cho trẻnguy cơ chậm phát triển và phát triển lệch lạc cả về mặt sinh lí và tâm lí sau này

2.2 Nhu cầu dinh dưỡng

+ Nhu cầu dinh dưỡng là sự đòi hỏi tất yếu về mặt vật chất như thức ăn, nướcuống, không khí trong lành…để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cơ thể Nhu cầu nàyquyết định trực tiếp đến sự sống còn, lớn khôn của trẻ

+ Nhu cầu dinh dưỡng ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau là khác nhau Qúatrình chăm sóc giáo dục trẻ cần thoả mãn nhu cầu này một cách khoa học Đối với trẻ sơsinh, thức ăn tốt nhất cho trẻ là sữa mẹ Không khí nơi trẻ sống phải thật trong lành, ấm

áp về mùa đông, thoáng mát về mùa hè

2.3 Nhu cầu vận động

+ Nhu cầu vận động là sự đòi hỏi được thực hiện những cử động cần thiết hợp quiluật của trẻ, đảm bảo cho sự lưu thông các cơ quan trong cơ thể như tuần hoàn, hô hấp,tiêu hoá, bài tiết…Nguồn gốc của những nhu cầu này nằm ở chính cấu tạo và chức nănghoạt động của các bộ phận, giác quan, hệ thần kinh

Trang 36

+ Vận động của trẻ sơ sinh bắt đầu từ những cử động không có ý nghĩa, khôngđược kiểm soát của một một bộ phận hay một cơ quan nào đó như co giật cơ mặt, co giậttay chân…Từ những cử động rời rạc dần dần hình thành những phản ứng có tính chấtphối hợp của toàn bộ cơ thể khi có kích thích trực tiếp tác động Chẳng hạn trẻ ưỡnngười, tay chân cử động lung tung khi nằm trên tã ướt.

+ Nhu cầu vận động của trẻ được thoả mãn, tạo ra sự khai thông của các cơ quan

và mối quan hệ giữa chúng, chức năng của các cơ quan trong cơ thể trẻ bắt đầu hìnhthành, tạo tiền đề tốt cho sự phát triển cơ thể và tâm lí, nhất là các hình thái vận động ởmức độ phức tạp hơn Trong quá trình chăm sóc, việc quấn tã lót quá chặt, không cho trẻ

cử động sẽ làm hạn chế sự phát triển của trẻ

2.4 Nhu cầu tiếp nhận ấn tượng từ thế giới bên ngoài

+ Các nhà tâm lí học khẳng định : Trẻ em sinh ra chưa thể có những hình ảnh tâm

lí dù sơ đẳng nhất để liên hệ với thế giới xung quanh Muốn tồn tại và phát triển, mốiquan hệ giữa trẻ với thế giới cần được thiết lập, vì vậy trẻ phải được tiếp nhận các ấntượng từ môi trường bên ngoài như ánh sáng, âm thanh, màu sắc, giọng nói, mặt người…

+ Nhu cầu này gắn liền với phản xạ định hướng, lúc đầu trẻ có phản ứng với ánhsáng để gần, tiếng động mạnh, dần dần trẻ biết nhìn theo vật di động, phân biệt được,mùi, vị, phản ứng khác nhau với giọng nói, mặt người v v Có được sự trưởng thành ấy lànhờ sự hoàn thiện nhanh chóng của hệ thần kinh, nhưng quan trọng hơn cả là do ảnhhưởng của những kích thích từ môi trường bên ngoài, mà nếu thiếu nó não cũng khôngthể phát triển bình thường được

+ Việc cho trẻ tiếp xúc thường xuyên với ấn tượng phong phú từ thế giới bênngoài một cách thích hợp sẽ tạo điều kiện cho phản xạ định hướng phát triển nhanh, cácchức năng tâm lí được hình thành Nếu trẻ sống trong tình trạng cô lập với thế giới bênngoài nó sẽ chậm phát triển một cách nghiêm trọng Do đó người mẹ và những ngườichăm sóc trẻ cần thường xuyên cúi xuống trò chuyện với trẻ, tạo nhiều ấn tượng về âmthanh, màu sắc, ánh sáng…để trẻ tiếp xúc Tuy nhiên mọi tác động đến trẻ cần có cường

độ vừa phải, nhẹ nhàng vì giác quan của trẻ còn non nớt

Tóm lại: Để trẻ sơ sinh có cảm giác an toàn phát triển tốt, mẹ và người lớn chăm

sóc trẻ phải tạo mọi điều kiện để thỏa mãn đầy đủ các loại nhu cầu cho trẻ Ngoài thờigian trẻ ngủ, phải cho trẻ tiếp xúc với mọi người, điều kiện nơi ở đảm bảo tốt về mặt vệsinh, không khí trong lành, thoáng, ấm áp về mùa đông , mát mẻ về mùa hè, ánh sáng, âmthanh nhẹ nhàng, thường xuyên xoa nắn, vỗ về âu yếm, tạo điều kiện cho trẻ vận động

(Cần lưu ý : trẻ sơ sinh ngủ càng nhiều, tuyến yên hoạt động càng mạnh, kíchthích hoóc môn tăng trưởng nên trẻ càng nhanh lớn)

1.3 Sự phát triển các giác quan và chức năng tâm lí của trẻ sơ sinh

1.3.1.Sự phát triển các giác quan

Các nhà khoa học đã chứng minh rằng, cấu trúc của các giác quan được hình thành

và hoạt động ngay từ tháng thứ 2 đến tháng thứ 7 khi trẻ còn là bào thai trong bụng mẹ,trên cơ sở đó đã hình thành các loại cảm giác khác nhau

+ Xúc giác : Là giác quan hình thành và hoạt động sớm nhất, từ 6 đến 8 tuần tuổi

xúc giác của thai nhi đã hình thành và tiếp nhận kích thích từ môi trường bên ngoài bụng

mẹ Khi ra đời, da là giác quan có diện tích rộng nhất, tiếp nhận kích thích từ môi trườngbên ngoài tạo ra cảm giác đụng, chạm, nóng, lạnh…Vùng da ở môi miệng phản ứng rấtnhạy cảm với kích thích bên ngoài (kết hợp với niêm mạc ở vùng họng tiếp nhận kích

Trang 37

thích từ nội tạng) tạo ra ngay phản ứng tìm vú mẹ để bú Quan trọng hơn, da còn là giácquan tiếp nhận thái độ cảm xúc của những người xung quanh Trẻ phân biệt được mẹ vàngười khác trước tiên là thông qua cách bế bồng, xoa nắn, vuốt ve âu yếm của người mẹ.Sau khi sinh việc chăm sóc da cho trẻ một cách khoa học, thường xuyên xoa nắn, vỗ về

âu yếm, hàng ngày phải tắm rửa cho trẻ là rất cần thiết

+ Khứu giác : Khi còn nằm trong bụng mẹ thai nhi đã quen với mùi nước ối Ra

đời trẻ đã quen với mùi sữa, mùi mồ hôi phát ra từ cơ thể người mẹ Đến ngày thứ 10 trẻphân biệt được mùi của mẹ khác với mùi của người khác Đặc điểm này đã được chứngminh bằng thực nghiệm, người ta lấy bông tẩm mồ hôi của mẹ, đưa sát vào mũi của trẻ,trẻ không có phản ứng gì Nhưng khi đưa bông tẩm mồ hôi của người khác sát vào mũitrẻ, có em nhăn mặt, có em có phản ứng quay đầu ra hướng khác Những nghiên cứu gầnđây còn khẳng định : Sau 45 giờ khi chào đời, trẻ đã nhận ra chính xác mùi của mẹ và rất

“quyện hơi mẹ”

+ Vị giác : Vị giác xuất hiện từ tháng thứ ba của thai nhi Trong bụng mẹ, thai

nuốt ít hay nhiều nước ối là tuỳ thuộc vào vị ngọt của nước ối nhiều hay ít Sau khi ra đờitrẻ đã nhận ra bốn vị : ngọt, mặn, đắng, chua, nhận ra sữa mẹ với sữa của người khác,thích vị ngọt

+ Thính giác : Cấu trúc giải phẫu của tai hình thành sau tháng thứ 5, đến tháng

thứ 7 thai nhi phản ứng với tiếng động mạnh ở ngoài bụng mẹ Khoa học ngày nay cònchứng minh, nằm trong bụng mẹ thai nhi nghe được tiếng tim đập của mẹ, phân biệt đượchướng của âm thanh truyền đến Do đó một số người đề xuất phải cho trẻ lọt lòng nằm ápsát với mẹ để trẻ nghe được nhịp tim quen thuộc của người mẹ, từ đó mới có cảm giác antoàn Nhiều nhà chuyên môn còn khuyên các bà mẹ khi mang thai cần thường xuyênnghe nhạc để thính giác của thai nhi phát triển tốt

Trẻ sinh ra được 2 đến 3 ngày, tai giữa và tai trong chưa khai thông, màng trốngcòn bị đóng bởi một lớp niêm dịch Phản ứng đầu tiên với âm thanh của trẻ ta quan sátđược là trẻ co mi mắt, co giật tay chân khi có tiếng động mạnh Khoảng 10 đến 12 ngàytrẻ đã có phản ứng với âm thanh là ngôn ngữ, 2 tháng tuổi, nghe tiếng nhạc nhẹ nhànghoặc tiếng ru của mẹ là trẻ lim dim đi vào giấc ngủ Nghiên cứu gần đây cho rằng, 10phút sau khi ra đời trẻ đã có khả năng nhận biết được âm thanh quan trọng là tiếng nóicủa người mẹ và trẻ thích nghe tiếng nói hơn bất cứ âm thanh nào

+ Thị giác : Mi mắt của thai nhi có thể mở từ lúc 4 tháng, nhưng vì không được

kích thích nên thị giác phát triển sau cùng Mãi tháng thứ 9 thai nhi mới phản ứng vớiánh sáng bên ngoài bụng mẹ Sau khi chào đời, thị lực của trẻ yếu ớt hơn người lớn tới 60lần, do cơ cấu của mắt chưa hoàn chỉnh, mật độ tế bào ở võng mạc thấp Nhưng chỉ sau

48 giờ, trẻ đã nhận ra khuôn mặt của mẹ chăm chú nhìn mặt người cách mắt từ 20 –30cm Thích vật sáng, hình tròn, chuyển động chậm Khoảng 3 hoặc 4 ngày sau khi sinh,trẻ biết nhìn theo vật sáng, tuy nhiên vận động của mắt chưa nhịp nhàng, sau 3 tuần haimắt mới có khả năng hội tụ Khoảng 1 tháng trẻ biết dõi theo vật chuyển động trước mắt

từ trái qua phải và ngược lại Cuối tháng thứ hai, biết dõi theo vật chuyển động theo cáchướng khác nhau, thích nhìn mặt người và những vật có màu sắc hấp dẫn

+ Tiền đình : Là cơ quan tiếp nhận kích thích do cơ, gân và sự phối hợp giữa

chúng, tạo ra cảm giác vận động, tư thế của các bộ phận và toàn thân Tiền đình hoạtđộng từ 3 tháng rưỡi đến 5 tháng của thời kì thai nhi Sau khi sinh, sự phát triển của tiền

Trang 38

đình biểu hiện ở sự phối hợp của những vận động thô sơ hợp lí về tư thế của đầu và thânmình

Tóm lại, sau khi ra đời các giác quan của trẻ bắt đầu hoạt động mạnh, tiếp nhận

những biến đổi của cơ thể và những kích thích phức tạp từ môi trường bên ngoài, trên cơ

sở đó các chức năng tâm lí bắt đầu được hình thành và phát triển Do vậy việc chăm sóctrẻ cần được thực hiện một cách khoa học, tạo điều kiện cho các giác quan hoạt động tốt

1.3.2 Sự hình thành các chức năng tâm lí của trẻ sơ sinh

+ Những biểu hiện phát triển và hoạt động của các giác quan cho thấy cảm giác

của trẻ hình thành từ thời kỳ bào thai Như vậy hiện tượng tâm lý đơn giản nhất của đờisống tinh thần con người mang tính bẩm sinh, song đây là bẩm sinh do tự tạo Cảm giáccủa thai nhi xuất hiện nhờ hoạt động của giác quan tiếp nhận tác động của tác nhân từbụng mẹ hoặc tác nhân kích thích gián tiếp của môi trường bên ngoài Hơn nữa nhữngquá trình cảm giác này thuần túy mang tính sinh vật, chưa hề được xã hội hóa Sau khi rađời nhờ hoạt động mạnh của giác quan, cảm giác tiếp tục hoàn thiện và phát triển

- Thời gian đầu nội cảm của trẻ phát triển mạnh lấn át ngoại cảm Chủ yếu trẻ tiếpnhận kích thích từ cơ quan nội tạng trong cơ thể báo về sự đói, khát, lạnh…từ đó trẻ cónhững phản ứng như co quắp, cựa quậy, khó chịu v v Những kích thích bên ngoài chỉ khinào mạnh, trẻ mới nhận ra Piaget cho rằng : Trẻ em khi mới sinh ra chưa thấy, chưanghe, chưa cảm giác rõ điều gì ở bên ngoài bản thân mình Sang tháng thứ hai các cảmgiác ngoài bắt đầu phát triển mạnh, nhất là thị giác, trẻ sớm nhận ra mặt người, vật cómàu sắc, di động

- Do giác quan còn non yếu nên ngưỡng cảm giác của trẻ sơ sinh còn rất cao

- Cảm giác của trẻ sơ sinh mang tính hỗn hợp, tràn lan, không phân định rõ rànggiữa : nội cảm và ngoại cảm; cảm giác và cảm xúc; bản thân và đối tượng cảm giác; giữacác đối tượng cảm giác Trẻ chưa thể phân biệt được vị trí của những nơi xuất hiện kíchthích, thế giới đối với trẻ là một bức tranh lúc ẩn, lúc hiện, không tồn tại thường xuyên vàmọi điều ở trong tình trạng bất phân

+ Chú ý của trẻ sơ sinh xuất hiện rất sớm, sau khi sinh được 3 đến 4 ngày trẻ đãbiết hướng về phía ánh sáng, phạm vi chú ý của trẻ ngày càng mở rộng và đặc trưng làchú ý thụ động Do đặc điểm này, người mẹ cần lưu ý đến tư thế nằm của con, để tạo raphản xạ của mắt được linh hoạt

+ Trẻ sơ sinh chưa có biểu hiện của trí nhớ Tuy nhiên theo bản chất của hoạt độngnhớ, trẻ đã có giai đoạn ghi nhớ tài liệu (Giai đoạn hình thành dấu vết của đối tượng trên

vỏ não), biểu hiện ở phản xạ có điều kiện được thành lập Trong quá trình chăm sóc,người mẹ xây dựng chế độ sinh hoạt (ăn, ngủ, vệ sinh) của trẻ theo kế hoạch ổn định, lặp

đi lặp lại nhiều lần, dần dần trẻ ghi nhớ và nhận lại được mùi vị của sữa, giọng nói vànhịp điệu bế bồng quen thuộc của mẹ

+ Sự hình thành và phát triển cảm xúc của trẻ sơ sinh gắn liền với sự thỏa mãn haykhông thỏa mãn các loại nhu cầu Mỗi khi trẻ trẻ đói, khát, lạnh… người mẹ kịp thời bếbồng, âu yếm, thỏa mãn ngay những đòi hỏi của con Được thỏa mãn trẻ tỏ ra dễ chịu,khoan khoái, hài lòng, nếu không trẻ giãy giụa, kêu la, khó chịu Nhờ sự quan tâm thườngxuyên của mẹ và người lớn, cuối tuổi sơ sinh hầu hết trẻ đã có những xúc cảm đặc trưngtheo kiểu người như hớn hở, mỉm cười khi người lớn cúi xuống trò chuyện

Như vậy nhờ sự hoạt động tích cực của các giác quan tiếp nhận những tác động từmôi trường bên ngoài, các chức năng tâm lý đơn giản của trẻ được hình thành và phát

Trang 39

triển làm nền tảng cho các giai đoạn phát triển tiếp theo Việc chăm sóc giáo dục trẻ ởgiai đoạn này cần chú ý đến việc thỏa mãn các loại nhu cầu cho trẻ, đặc biệt khi trẻ thứccần chú ý luyện giác quan bằng việc cho trẻ tiếp xúc với âm thanh, màu sắc, thườngxuyên trò chuyện với trẻ…Nhưng mọi tác động phải nhẹ nhàng, vừa phải phù hợp vớigiác quan của trẻ

2 Đặc điểm phát triển tâm lí của trẻ hài nhi

2.1 Giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn là hoạt động chủ đạo của trẻ hài nhi

+ Trẻ hài nhi chưa có khả năng tự mình thỏa mãn được những nhu cầu cơ bản,cuộc sống của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào người lớn Vì vậy giao tiếp với người lớn làmột nhu cầu bức bách của trẻ Nhu cầu này được thỏa mãn đầy đủ, trẻ sẽ được phát triểntốt về mọi mặt, nếu thiếu tình thương của người khác, thiếu sự giao tiếp với mọi người trẻtrở nên thụ động, nhút nhát, trong tương lai khó tiếp xúc với mọi người, sự phát triển tâm

lí gặp nhiều khó khăn Theo quan điểm của những nhà Phân tâm học, đó là một trongnhững nguyên nhân sâu xa dẫn đến bệnh tâm thần sau này

+ Quan hệ giao tiếp với người lớn tạo ra sự phát triển toàn diện tâm lí trẻ hài nhi

- Được tiếp xúc thường xuyên với mọi người, được mẹ yêu thương ấp ủ, trẻ cócảm giác an toàn, dễ chịu, trở nên mạnh dạn trong việc tiếp xúc tìm hiểu thế giới xungquanh

- Qua giao tiếp trẻ nhập tâm được những sắc thái cảm xúc của người lớn thông quanét mặt, hành vi cử chỉ, giọng nói, điệu bộ Dần dần trẻ biết thể hiện cảm xúc của mìnhtheo kiểu người, hình thành phương tiện giao tiếp Trẻ vui sướng hớn hở khi được ngườikhác hỏi han trò chuyện, sợ hãi, buồn rầu khi phải nằm một mình Khoảng tháng thứ 6đến tháng thứ 8 giao tiếp của trẻ mang tính lựa chọn, trẻ thích tiếp xúc với người thânquen, sợ người lạ từ chối sự tiếp xúc với họ Tuy nhiên nỗi sợ hãi của trẻ sẽ nhanh chóngqua đi nếu người lạ tỏ thái độ âu yếm quan tâm đến trẻ

- Cùng với sự hoàn thiện của hệ thần kinh, giao tiếp với người khác đã làm cho trẻbắt đầu nhận ra chính mình Ranh giới giữa bản thân với thế giới xung quanh (bản ngãthô sơ) được hình thành tuy nhiên còn rất mờ nhạt

- Nhờ giao tiếp với người lớn, nhu cầu sờ mó thao tác với đồ vật được hình thành

và được thỏa mãn Trẻ được người lớn dẫn dắt đến thế giới đồ vật, hướng dẫn cách hànhđộng với đồ vật theo kiểu người Một quan hệ tay ba : trẻ em – người lớn – thế giới đồvật được hình thành Hành động phối hợp này đã làm nảy sinh ở trẻ khả năng bắt chướchành động của người lớn, khả năng này phát triển mạnh trong suốt tuổi hài nhi, đây làđiều kiện quan trọng để trẻ tiếp thu những điều dạy dỗ của người lớn

Việc bắt chước người lớn khiến cho thái độ của trẻ với thế giới xung quanh phụthuộc vào thái độ của người lớn đối với thế giới xung quanh Ngay từ đầu quan hệ của trẻvới thế giới đã là quan hệ xã hội

Tóm lại, giao tiếp cảm xúc trực tiếp với người lớn là nhu cầu đặc biệt quan trọng

đối với tuổi hài nhi, nhu cầu này được thỏa mãn tạo ra sự phát triển toàn diện về thể chất

và tâm lí của trẻ, đó là điều kiện tiên quyết để trẻ lớn lên thành người Trong quá trìnhchăm sóc giáo dục trẻ, người lớn phải thường xuyên quan tâm âu yếm, giao tiếp với trẻbằng những hành vi cử chỉ nhẹ nhàng, chuẩn mực, tuyệt đối không để trẻ bị đói giao tiếp

2.2 Sự phát triển vận động và hành động với đồ vật

Trang 40

Sau hai tháng, tế bào thần kinh ở vỏ não phát triển mạnh, quá trình miêlin hóa diễn

ra nhanh, hưng phấn và ức chế linh hoạt, tạo ra khả năng phối hợp giữa các vùng trongnão tốt hơn Những mối thần kinh liên hệ tạm thời được thành lập dễ dàng và ngày càngtrở nên vững chắc Đó là điều kiện thuận lợi để các chức năng vận động và tâm lí của trẻphát triển tốt

2.2.1 Sự phát triển các chức năng vận động

+ Sau thời kỳ sơ sinh, khả năng phối hợp các cơ quan trong cơ thể của trẻ tăng lên,các hình thức vận động phức tạp được hình thành nhanh chóng

- Khoảng 3 tháng trẻ biết lật (lẫy) Lúc đầu trẻ nằm ngửa, dần dần nghiêng người

úp sấp, tay chân cong gập cùng với bụng đỡ thân mình, ngẩng đầu

- Khoảng 4 đến 6 tháng trẻ biết trườn Sau khi lật sấp, đầu quay được sang cáchướng, thân hình ngày càng cứng cáp Trẻ dùng mũi bàn chân, khuỷu tay làm điểm tựanhấc thân mình trườn đến những vật hấp dẫn

- Từ 7 đến 8 tháng, trẻ chuyển dịch nhanh chóng trong không gian, tay chống cao,

bò bằng đầu gối, ngồi dậy

- Từ 8 đến 9 tháng trẻ có thể ngồi, bò, đứng vịn theo ý muốn

- Khoảng 10 đến 12 tháng trẻ đứng vin, đi men, đi độclập được vài bước Bướcđầu trẻ tự chủ được vận động thô sơ của mình

Những thời điểm xuất hiện những hình thái vận động trên đây của trẻ chỉ là tươngđối Trong thực tế, có trẻ phát triển nhanh, có trẻ phát triển chậm, có trẻ bỏ qua một hìnhthái vận động nào đó, chẳng hạn “trốn lẫy” hoặc “trốn bò”

Sự tiến bộ của những hình thái vận động của trẻ không chỉ chịu sự chi phối của quiluật tự nhiên, mà còn phụ thuộc vào sự chăm sóc, hướng dẫn của người lớn, nhất là hìnhthái đi thẳng đứng Thông thường trẻ không tự đi mà dễ thích nghi với động tác bò (hìnhthái vận động đặc trưng của động vật) Nếu trẻ được chăm sóc giáo dục tốt, người lớn chú

ý giúp đỡ, hướng dẫn các động tác mọi hình thái vận động của trẻ hoàn thiện nhanh

+ Ý nghĩa của sự phát triển các chức năng vận động

- Mỗi hình thái vận động được hoàn thiện tạo ra trình độ phát triển mới về thể chất

và tâm lí của trẻ : Khả năng phối hợp của các cơ quan trong cơ thể tốt hơn, môi trườngtiếp xúc của trẻ được mở rộng, trẻ chủ động trong việc khám phá thế giới, các chức năngtâm lí được phát triển tốt

- Trong các hình thái vận động, bò là vận động phức tạp và có ý nghĩa hơn cả bởi

vì : Nó làm tăng tuần hoàn máu trong cơ thể, thúc đẩy hệ cơ, xương, tiêu hóa phát triển,phòng tránh hiện tượng cong vẹo cột sống; Quan trọng hơn, động tác bò còn kích thích sựphát triển của não giữa, cầu não, tăng cường sự liên kết cơ quan bộ vị cấp thấp và bộ vịcấp cao của trung khu thần kinh, rèn luyện cơ năng đỉnh đầu Động tác bò còn nâng caotính ổn định của thị giác và tri giác chiều sâu, khả năng tổng hợp cảm giác tốt Nếu trẻchưa hoặc không được bò đầy đủ, khi lớn lên thường có biểu hiện trương lực cơ (sứccăng của bắp thịt) không đều, động tác ngờ nghệch, dễ đọc nhầm

2.2.2 Hành động với đồ vật - sự hình thành vận động tinh khéo của đôi tay và khả năng định hướng vào môi trường xung quanh

* Vận động tinh khéo của đôi tay là vận động phối hợp phức tạp của thị giác, các

cơ, xương, khớp Vận động này có liên quan trực tiếp với sự phối hợp của các vùng trên

vỏ não Đối với trẻ em, sự hoàn thiện phát triển của các chức năng vận động, nhất là vận

Ngày đăng: 04/10/2022, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN