TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA SAU ĐẠI HỌC
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
Trang 2BIÊN BẢN ĐÁNH GIÁ ĐIỂM THÀNH VIÊN NHÓM
STT Họ và tên Vai trò Đánh giá, xếp loại Công việc thực hiện
- Rà soát nội dung
- Làm câu 3
- Hiệu chỉnh nội dung và format
- Làm câu 4,6 câu hỏi 2
- Chỉnh sửa văn bản, format
Trang 3MỤC LỤC
CÂU HỎI 1.1 3
I CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
II PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI LIÊN QUAN TRỰC TIẾP VỚI QUAN HỆ LAO ĐỘNG CHỊU SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG 3
1 Quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động 3
1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động 3
1.2 Phân loại quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động 4
1.3 Chủ thể của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động 4
1.4 Đánh giá quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao động tại Việt Nam 5
2 Quan hệ pháp luật bảo hiểm trong lĩnh vực lao động 7
2.1 Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội 7
2.2 Quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế 8
2.3 Quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 10
2.4 Nhận định hệ thống quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội tại Việt Nam 11
3 Quan hệ Pháp luật về giải quyết tranh chấp Lao động 11
3.1 Quy định pháp luật về tranh chấp lao động 11
3.2 Quan hệ pháp luật giải quyết tranh chấp lao động là gì? 12
3.3 Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật giải quyết tranh chấp lao động? 12
3.4 Nội dung của quan hệ pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động 12
3.5 Nhận định hệ thống quy định pháp luật về tranh chấp lao động tại Việt Nam ……… 12
4 Quan hệ pháp luật về đình công và giải quyết đình công 13
4.1 Khái niệm về đình công và giải quyết đình công 13
4.2 Chủ thể của quan hệ pháp luật về đình công và giải quyết đình công 14
4.3 Nội dung quan hệ pháp luật về đình công và giải quyết đình công 14
4.4 Nhận định hệ thống quy định pháp luật về đình công và giải quyết đình công tại Việt Nam 14
5 Quan hệ pháp luật quản lý nhà nước về lao động 15
5.1 Khái niệm về quản lý nhà nước về lao động 15
5.2 Chủ thể quan hệ pháp luật quản lý nhà nước về lao động 16
Trang 45.3 Nội dung quan hệ pháp luật quản lý nhà nước về lao động 16 CÂU HỎI 1.2 17
I TRÌNH BÀY VÀ PHÂN TÍCH CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM 17
1 Thực trạng về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 17
II ĐÁNH GIÁ XU THẾ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 18
1 Xu thế của việc sử dụng lao động nước ngoài ở Việt Nam 18
2 Tác động của việc sử dụng lao động nước ngoài ở Việt Nam 19 CÂU HỎI 2: KHẲNG ĐỊNH SAU ĐÂY ĐÚNG HAY SAI? GIẢI THÍCH TẠI SAO? 20 CÂU HỎI 3: 22
Trang 5Câu hỏi 1.1: Anh (chị) hãy phân tích các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan
hệ lao động chịu sự điều chỉnh của Luật lao động? Đánh giá của anh (chị) về quy định này của pháp luật lao động ở Việt Nam?
2 chủ thể chính là bên phải bồi thường và bên được bồi thường
Thứ hai, quan hệ Pháp luật bảo hiểm trong lĩnh vực Lao động: bao gồm 3 loại bảo hiểm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp Với 3 chủ thể là Người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan Bảo hiểm Xã hội
Thứ ba, quan hệ Pháp luật về giải quyết tranh chấp Lao động: bao gồm 2 loại tranh chấp là Tranh chấp LĐ cá nhân và Tranh chấp LĐ tập thể Với 2 chủ thể chính là các bên tham gia và cơ quan giải quyết
Thứ tư, quan hệ Pháp luật về đình công và giải quyết đình công: năm trong mục 5 của Bộ Luật lao động 2019 Với 2 chủ thể bao gồm Chủ thể tham gia và lãnh đạo đình công với Chủ thể có thẩm quyền giải quyết đình công (Điều 405 của Bộ Luật tố tụng dân sự)
Thứ năm, quan hệ Pháp luật về quản lý Nhà nước về Lao động bao gồm 2 chủ thể chính là chủ thể quản lý (Chính phủ; Bộ Lao động Thương binh Xã hội; Bộ, các cơ quan ngang cấp và Ủy Ban nhân dân các cấp ) và chủ thể bị quản lý (Người lao động và Người
sử dụng lao động)
II Phân tích và đánh giá các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động
1 Quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động
1.1 Khái niệm quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao
động
Quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động là quan hệ phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động do một trong hai bên chủ thể đã có hành vi gây thiệt hại đối với phía bên kia được các quy phạm pháp luật điều chỉnh Việc bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi người gây thiệt hại là người có lỗi Đồng thời, giữa hành vi với hậu quả phải có quan hệ nhân quả trực tiếp thì mới có thể quy trách nhiệm bồi thường cho chủ thể có hành vi gây thiệt hại
Trang 61.2 Phân loại quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình lao
động
Quá trình lao động tồn tại trong khoảng thời gian nhất định Khoảng thời gian đó thường tương ứng với thời hạn của hợp đồng lao động Trong khoảng thời gian này, có thể xảy ra một số sự kiện gây thiệt hại đến lợi ích của một trong hai bên chủ thể Thiệt hại trong quá trình lao động rất đa dạng: có thể là thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất, thiệt hại do người lao động gây ra hoặc thiệt hại do người sử dụng lao động gây ra Nhìn chung, có thể tạm chia thành 3 loại thiệt hại chính như sau:
Đầu tiên, thiệt hại về vật chất (tài sản) cho một bên do lỗi của bên kia Tuy nhiên,
do sự đặc thù của quan hệ lao động mà trong luật lao động thường chỉ đề cập trách nhiệm tài sản do người lao động gây ra cho người sử dụng lao động trong quá trình lao động;
Tiếp theo, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe đối với người lao động trực tiếp tham gia quá trình lao động Nguyên nhân của những thiệt hại này có thể do lỗi của người lao động, người sử dụng lao động hoặc những nguyên nhân khách quan khác;
Cuối cùng, thiệt hại về thực hiện, chấm dứt hợp đồng giữa các bên trong quan hệ lao động như thiệt hại về việc không thực hiện đúng thời hạn hợp đồng lao động, không thực hiện đúng việc làm, tiền lương; vi phạm hợp đồng đào tạo nghề nghiệp, v.v
1.3 Chủ thể của quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quá trình
lao động 1.3.1 Bên phải bồi thường:
Bên phải bồi thường là chủ thể đã có hành vi gây thiệt hại với phía bên kia và có lỗi (vô ý hoặc cố ý) khi tiến hành hành vi gây thiệt hại
Chủ thể này được xác định là người lao động hoặc người sử dụng lao động trong từng trường hợp cụ thể Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của chủ thể này sẽ được xác định căn cứ vào mức độ thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại, thái độ và hoàn cảnh của người gây thiệt hại
Pháp luật lao động chỉ đặt ra những quy định có tính chất định khung đối với vấn
đề này, còn cụ thể sẽ do các bên thỏa thuận
1.3.2 Bên được bồi thường:
Bên được bồi thường là bên bị thiệt hại Đổ xác định mức bồi thường thiệt hại, cần xác định mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi và thiệt hại xảy ra, cũng như có những tiêu chí để đánh giá mức độ thiệt hại Ví dự giám định sức khỏe để xác định chính xác tỷ lệ suy giảm sức lao động của người lao động khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tính toán giá trị tài sản thiệt hại thực tế theo thời giá thị trường và mức độ
Trang 7khấu hao tương ứng với thời gian sử dụng để tính toán chính xác thiệt hại về tài sản do hành vi của người lao động gây ra…
1.4 Đánh giá quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại trong quan hệ lao
động tại Việt Nam 1.4.1 Về phía người lao động:
Dưới đây là những trường hợp người lao động phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người sử dụng lao động
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Theo Điều 35 Bộ Luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải bảo đảm có lý do luật định hoặc đã báo trước đúng thời hạn cho người sử dụng lao động biết
Trường hợp nghỉ ngang, người lao động sẽ bị coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật Khi đó, người lao động sẽ phải bồi thường cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 40 Bộ Luật Lao động năm 2019 như sau:
Bồi thường nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động Bồi thường thêm 1 khoản tiền lương theo hợp đồng lao động tương ứng với những ngày không báo trước Hoàn trả chi phí đào tạo nếu trong quá trình làm việc được cử đi học nghề, đào tạo nghề từ kinh phí của người sử dụng lao động
Ngoài việc phải bồi thường, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật cũng gặp phải thiệt thòi khi không được nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp thất nghiệp
Vi phạm thỏa thuận về bí mật kinh doanh, công nghệ
Theo khoản 2 Điều 21 Bộ Luật Lao động năm 2019, khi giao kết hợp đồng lao động, nếu công việc của người lao động có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, công nghệ của công ty thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về các nội dung liên quan đến việc bảo vệ bí mật đó
Căn cứ khoản 2 Điều 4 Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH, thỏa thuận về bảo vệ bí mật kinh doanh, công nghệ có thể gồm những nội dung chủ yếu sau: Danh mục bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; Phạm vi sử dụng bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; Thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; Phương thức bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động trong thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; Xử lý vi phạm thỏa thuận bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ
Nếu người lao động vi phạm thỏa thuận, công ty có quyền xử lý vi phạm và yêu cầu người lao động bồi thường theo thỏa thuận Mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp này
Trang 8cũng phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động
Làm hư hỏng tài sản
Theo khoản 1 Điều 129 Bộ Luật Lao động 2019, người lao động làm hư hỏng dụng
cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của công ty sẽ phải bồi thường
Trường hợp gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng thì chỉ cần bồi thường tối đa 3 tháng tiền lương Số tiền này sẽ được khấu trừ hằng tháng từ tiền lương của người lao động sau khi đã nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc và thuế thu nhập cá nhân nhưng tối đa không quá 30% lương/tháng
Làm hư hỏng tài sản công ty do cố ý hoặc sơ suất nhưng với hậu quả nghiêm trọng hoặc có giá trị thiệt hại thực tế trên 10 tháng lương tối thiểu vùng thì người lao động bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của công ty
Làm mất tài sản
Căn cứ khoản 2 Điều 129 Bộ Luật Lao động năm 2019, nếu làm mất dụng cụ, thiết
bị, tài sản hoặc tài sản khác do công ty giao cho hoặc làm tiêu hao vật tư quá định mức cho phép, người lao động có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường Tùy từng trường hợp mà mức bồi thường sẽ khác nhau, thậm chí có trường hợp người lao động còn không cần bồi thường cho công ty
Có hợp hợp đồng trách nhiệm: Bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm mà các bên
đã thỏa thuận Do thiên tai, hỏa hoạn, thảm họa, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, sự kiện khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép: Không phải bồi thường
Trường hợp còn lại: Bồi thường một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc
nội quy lao động
1.4.2 Về phía người sử dụng lao động
Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ cho người lao động khi xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Việt Nam ban hành và áp dụng Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động; chính sách, chế độ đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác an toàn, vệ sinh lao động và quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động
Vi phạm hợp đồng lao động
Trang 9Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và tránh việc người sử dụng lao động tuỳ tiện sử dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng gây ra khó khăn cho người lao động, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, pháp luật lao động Việt Nam có quy định về bồi thường thiệt hại cho người lao động trong các trường hợp: người lao động phải thôi việc vì lý do kinh tế, người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật
Trường hợp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ hoặc cắt giảm lao động vì lý do kinh tế hoàn toàn do người sử dụng lao động đơn phương thực hiện nhằm mục đích tăng năng suất lao động, ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Việc chấm dứt HĐLĐ này
là những trường hợp được pháp luật cho phép Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động
bị cho thôi việc trong những trường hợp này, pháp luật quy định người sử dụng lao động
có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại điều 42, điều 43 Bộ luật lao động
2 Quan hệ pháp luật bảo hiểm trong lĩnh vực lao động
Do rủi ro trong quan hệ lao động có thể khác nhau về mức độ tác động và ảnh hưởng với người lao động nên nhu cầu bảo hiểm cũng khác nhau Đổ hạn chế các rủi ro và khắc phục hậu quả khi xảy ra sự cố các bên có thể tham gia nhiều hình thức bảo hiểm bắt buộc hoặc tự nguyện khác nhau: bảo hiểm dân sự, bảo hiểm thương mại, bảo hiểm trong lĩnh vực lao động Trong đó bảo hiểm trong lĩnh vực lao động nói chung là loại hình bảo hiểm bắt buộc được pháp luật điều chỉnh Theo đó, quan hệ pháp luật bảo hiểm trong lĩnh vực lao động là quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong việc đóng góp, quản lý và chi trả các chế độ bảo hiểm được các quy phạm pháp luật điều chỉnh
2.1 Quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội
2.1.1 Phân loại quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội
Về cơ bản, các quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội bao gồm:
Quan hệ xã hội đầu tiên là quan hệ đóng bảo hiểm xã hội bao gồm đóng góp bảo hiểm xã hội bắt buộc, đóng góp bảo hiểm xã hội tự nguyện
Quan hệ xã hội tiếp theo là quan hệ quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội giữa một bên là chủ thể quản lý bảo hiểm xã hội (Cơ quan bảo hiểm xã hội gồm các cấp từ trung ương đến địa phương là: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (trực tiếp trực thuộc Chính phủ), bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, bảo hiểm xã hội cấp quận/huyện) với một bên là đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội
Và cuối cùng là quan hệ chi trả bảo hiểm xã hội giữa một bên là cơ quan bảo hiểm
xã hội các cấp với người lao động đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội
2.1.2 Bên tham gia bảo hiểm xã hội
Trang 10Bên tham gia bảo hiểm xã hội là người có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật, bao gồm những loại chủ thể sau đây:
Người lao động: Người lao động là người tham gia quan hệ lao động hoặc không
tham gia quan hệ lao động nhưng họ phải là người lao động có thu nhập Khi có thu nhập bằng sức lao động của chính mình, người lao động có đủ điều kiện để tham gia quan hệ pháp luật bảo hiểm xã hội với tư cách là người tham gia bảo hiểm Tỷ lệ đóng góp bảo hiểm
xã hội của người lao động sẽ được tính trên cơ sở mức lương của người lao động và do nhà nước tính toán, cân đối trong từng thời kì, có tính đến mức đóng góp của người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước cho quỹ bảo hiểm xã hội
Người sử dụng lao động: Năng lực pháp luật và năng lực hành vi tham gia bảo hiểm
xã hội của người sử dụng lao động phát sinh đồng thời và phụ thuộc vào việc sử dụng lao động của họ Tại thời điểm phát sinh quyền sử dụng lao động thực tế, năng lực pháp luật
và năng lực hành vi tham gia bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động đồng thời xuất hiện và họ phải tham gia bảo hiểm xã hội Có thể nói đây là chủ thể tham gia bảo hiểm đặc biệt của hình thức bảo hiểm xã hội, bởi vì, họ không chỉ đóng quỹ cho mình hưởng bảo hiểm mà chủ yếu đóng quỹ cho người lao động mà họ sử dụng được hưởng
2.1.3 Bên hưởng bảo hiểm xã hội
Bên hưởng bảo hiểm xã hội là những cá nhân được nhận tiền bảo hiểm (còn gọi là trợ cấp bảo hiểm xã hội) từ quỹ bảo hiểm xã hội khi có đủ điều kiện bảo hiểm theo quy định của pháp luật Cá nhân được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội có thể là người lao động khi thuộc các trường hợp hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hoặc có thể là thân nhân của gia đình người lao động (ví dụ: trường hợp người lao động bị chết và thân nhân được hưởng chế độ tiền tuất)
2.1.4 Bên thực hiện bảo hiểm xã hội
Bên thực hiện bảo hiểm xã hội là cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức thực hiện chức năng thu, quản lý và chi trả bảo hiểm cho người được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật
2.2 Quan hệ pháp luật bảo hiểm y tế
2.2.1 Các chủ thể được hưởng bảo hiểm y tế
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn xác định; người lao động là người quản lí doanh nghiệp hưởng tiền lương (theo Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người lao động làm hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên) Người sử dụng lao động cổ sử dụng đối tượng lao động nói trên hằng tháng có nghĩa vụ đóng bảo hiểm y
tế cho người lao động
Trang 112.2.2 Nội dung của quan hệ bảo hiểm y tế
Quyền và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động
Người lao động tham gia bảo hiểm y tế có quyền: được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế; lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu; được khám bệnh, chữa bệnh; được tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế; yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế; khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế Người lao động tham gia bảo hiểm y tế có trách nhiệm: đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn; sử dụng thẻ bảo hiểm
y tế đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế; thực hiện các quy định của pháp luật khi đến khám bệnh, chữa bệnh; chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh; thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả
Quyền và trách nhiệm của người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm y tế
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm y tế có quyền: Yêu cầu tổ chức bảo hiểm
y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế; khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm y tế có trách nhiệm: lập hồ sơ đề nghị cấp thẻ bảo hiểm y tế; đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn; giao thẻ bảo hiểm y tế cho người tham gia bảo hiểm y tế; cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu có liên quan đến trách nhiệm thực hiện bảo hiểm y tế của người sử dụng lao động, của đại diện cho người tham gia bảo hiểm y tế khi
có yêu cầu của tổ chức bảo hiểm y tế, người lao động hoặc đại diện của người lao động; chấp hành việc thanh tra, kiểm tra về việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm
y tế
Quyền và trách nhiệm của tổ chức bảo hiểm y tế
Trong quan hệ bảo hiểm y tế, tổ chức bảo hiểm y tế có quyền: yêu cầu người sử dụng lao động, đại diện của người tham gia bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệù có liên quan đến trách nhiệm của họ về việc thực hiện bảo hiểm y tế; kiểm tra, giám định việc thực hiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; thu hồi, tạm giữ thẻ bảo hiểm y tế đối với các trường hợp vi phạm theo quy định; yêu cầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cung cấp hồ sơ, bệnh án, tài liệu về khám bệnh, chữa bệnh để phục vụ công tác giám định bảo hiểm y tế; từ chối thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không đúng quy định hoặc không đúng với nội dung hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế; yêu cầu người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm y tế hoàn trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh mà tổ
Trang 12chức bảo hiểm y tế đã chi trả; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về bảo hiểm y tế và xử lí tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế
2.3 Quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
2.3.1 Chủ thể quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Theo các quy định của Tổ chức lao động quốc tế tại các Công ước số 44 “Bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp” năm 1934; Công ước số 102 “Quy phạm tối thiểu
về an sinh xã hội” năm 1952; Công ước sổ 168 “Xúc tiến bảo vệ và phòng chống thất nghiệp” năm 1988 thì đối tượng được tham gia và hưởng bảo hiểm thất nghiệp chủ yếu là người lao động làm công hưởng lương (lao động làm thuê) Tuy nhiên, tuỳ hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối với một số đối tượng thuộc các dạng sau: người giúp việc nhà; người lao động làm việc tại nhà; công chức, viên chức nhà nước có việc làm ổn định; người lao động có thu nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi ro thất nghiệp; người lao động làm việc theo mùa vụ, phụ trợ; lao động trẻ, sát cận tuổi lao động theo quy định; lao động đã vượt quá tuổi quy định, nghỉ hưu, đang được hưởng trợ cấp hưu trí
2.3.2 Nội dung quan hệ pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Đối với người lao động để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì cần phải có đủ các điều kiện sau (Công ước số 44): 1) Có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không có việc làm; 2) Có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc do cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay tại một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm do nhà nước quản lí; 3) Có sổ bảo hiểm thất nghiệp để chứng nhận có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời hạn quy định của thời kỳ dự bị; 4) Trước đó không tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc vì kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp; 5) Có giấy chứng nhận mức lương hay thu nhập trước khi bị thất nghiệp (trường hợp trả trợ cấp theo mức lương) Ngoài ra, đối với trường hợp chi trả bảo hiểm thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm thì người lao động còn có nghĩa vụ tham gia đóng bảo hiểm dựa trên mức thu nhập
Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả bảo hiểm thất nghiệp trực tiếp hoặc đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp Mức đóng, hưởng bảo hiểm thất nghiệp do pháp luật quốc gia quy định những nói chung dựa trên cơ sở mức tiền lương của người lao động
Các chủ thể trong quan hệ bảo hiểm thất nghiệp đều có quyền khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khi thấy có sự vi phạm quy định về bảo hiểm thất nghiệp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình (Điều 70 Công ước số 102)
Việc quản lý bảo hiểm thất nghiệp, trong trường hợp không được giao cho một thể chế do các cơ quan quy định hoặc cho một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, thì các đại diện của những người được bảo vệ phải tham gia vào việc quản lý hoặc