1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) môn PHÁP LUẬT hợp ĐỒNG và bồi THƯỜNG THIỆT hại NGOÀI hợp ĐỒNG BUỔI THẢO LUẬN 4 bảo đảm THỰC HIỆN NGHĨA vụ

36 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Tác giả Đỗ Bùi Huy Hoàng, Trượng Chi Khảo, Hán Hoàng Lam, Lại Duy Lộc, Nguyễn Cát Lượng, Kiều Nữ Xuân Mai, Nguyễn Dương Phương Mai, Lương Nguyễn Tiến Mạnh, Võ Thị Mỹ
Người hướng dẫn Đặng Lê Phương Uyên
Trường học Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Pháp luật hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 142,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM (5)
    • 1.1 Tóm tắt bản án (5)
      • 1.1.1 Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.HCM (5)
      • 1.1.2 Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang (5)
      • 1.1.3 Quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Tp. Hồ Chí Minh (6)
    • 1.2 Trả lời (6)
      • 1.2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ (6)
      • 1.2.2 Đoạn nào của bản án 208 cho thấy bên cho vay dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho vay? (8)
      • 1.2.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao? (8)
      • 1.2.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? (8)
      • 1.2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ (9)
      • 1.2.6 Đoạn nào của quyết định số 2 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố? (9)
      • 1.2.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản (9)
      • 1.2.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời? (10)
      • 1.2.9 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong Quyết định số 02 (10)
      • 1.2.10 Trong Quyết định số 27, thế chấp được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao? (10)
      • 1.2.11 Đoạn nào trong Quyết định số 27 cho thấy Toà án xác định hợp đồng thế chấp đã chấm dứt? 7 (11)
      • 1.2.12 Vì sao Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt? (11)
      • 1.2.13 Việc Toà án xác định hợp đồng thế chấp nêu trên đã chấm dứt có thuyết phục không? Vì sao? 7 (11)
      • 1.2.14 Khi xác định hợp đồng thế chấp chấm dứt, Tòa án theo hướng bên nhận thế chấp (Ngân hàng) có trách nhiệm hoàn trả Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất có thuyết phục không? Vì sao? (12)
  • 2. ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM (12)
    • 2.1 Tóm tắt bản án (12)
      • 2.1.1 Bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/8/2019 của Toà án nhân dân TP. Hà Nội (12)
      • 2.1.2 Quyết định số 41/2021/KDTM-GĐT ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (13)
    • 2.2 Trả lời (13)
      • 2.2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng kí giao dịch bảo đảm (13)
      • 2.2.2 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HDTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng kí không? Vì sao? (15)
      • 2.2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời? (16)
      • 2.2.4. Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có vô hiệu không? Vì sao? (16)
      • 2.2.5 Hướng của tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao? (17)
      • 2.2.6 Hợp đồng thế chấp trong quyết định số 41 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba không? Vì sao? (17)
      • 2.2.7 Theo qui định về đòi tài sản (Điều 166 và tiếp theo BLDS 2015), Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Tân (người thứ ba so với hợp đồng thế chấp? Trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) không? Vì sao? 13 (17)
      • 2.2.8 Việc Tòa án buộc ông Tân trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) có thuyết phục không? Vì sao? (18)
  • 3. ĐẶT CỌC (18)
    • 3.1 Tóm tắt bản án (18)
      • 3.1.1 Án lệ số 25/2018/AL (18)
      • 3.1.2 Quyết định số 49/2018/KDTM-GĐT ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh; (18)
      • 3.1.3 Bản án số 26/2019/DS-PT ngày 11/6/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh (19)
    • 3.2 Trả lời (20)
      • 3.2.1 Khác biệt cơ bản giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp; (20)
      • 3.2.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc (23)
      • 3.2.3 Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc? (25)
      • 3.2.4 Nếu hợp đồng được đặt cọc không được giao kết, thực hiện vì lý do khách quan, bên nhận cọc có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc không? Vì sao? (25)
      • 3.2.5. Theo Quyết định được bình luận, bên đặt cọc đã chuyển tài sản đặt cọc cho bên nhận cọc như thế nào? (26)
      • 3.2.6. Theo Tòa giám đốc thẩm trong Quyết định được bình luận, tài sản đặt cọc còn thuộc sở hữu của bên đặt cọc không? Vì sao? (26)
      • 3.2.7. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến sở hữu tài sản đặt cọc (26)
      • 3.2.8. Đoạn nào cho thấy Tòa án đã áp dụng Án lệ 25/2018/AL? (27)
      • 3.2.9. Việc Tòa án áp dụng Án lệ số 25/2018/AL vào hoàn cảnh trong vụ việc này có thuyết phục không? Vì sao? (27)
      • 3.2.10. Việc Tòa án “không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, về việc yêu cầu ông I phải trả số tiền phạt cọc là 450.000.000đ” có phù hợp với Án lệ số 25/2018/AL không? Vì sao? (28)
  • 4. BẢO LÃNH (29)
    • 4.1 Tóm tắt bản án (29)
      • 4.1.1 Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; (29)
      • 4.1.2 Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao . 23 (29)
    • 4.2 Trả lời (30)
      • 4.2.1 Những đặc trưng của bảo lãnh; (30)
      • 4.2.2 Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về bảo lãnh (31)
      • 4.2.3 Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh? (32)
      • 4.2.4 Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán (32)
      • 4.2.5 Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao? (32)
      • 4.2.6 Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền? (32)
      • 4.2.7 Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không? (33)
      • 4.2.8. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liênquan đến vấn đề liên đới nêu trên (33)
      • 4.2.9. Phân biệt thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (34)
      • 4.2.10. Theo BLDS, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? (34)
      • 4.2.11 Theo Quyết định, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh? (34)
      • 4.2.12. Có bản án, quyết định nào theo hướng giải quyết trên về thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh chưa? Nêu rõ bản án, quyết định mà anh/chị biết (35)
      • 4.2.13. Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm (35)

Nội dung

Quyết định của Tòa phúc thẩm: Xác định cách giải quyết vụ án trên là phải áp dụngnguyên tắc tương tự để giải quyết và quy định về cầm cố tài sản của BLDS mới có thểđảm bảo được quyền lợi

ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM VÀ TÍNH CHẤT PHỤ CỦA BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM

Tóm tắt bản án

1.1.1 Bản án số 208/2010/DS-PT ngày 09/03/2010 của Tòa án nhân dân TP.HCM

Nguyên đơn là ông Phạm Bá Minh, bị đơn là bà Bùi Thị Khen và ông Bùi Khắc Thảo trong vụ kiện tranh chấp hợp đồng dịch vụ vay tiền Các bên đã thỏa thuận thế chấp giấy sử dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60 triệu đồng vào ngày 14/09/2007, với thời hạn 6 tháng và lãi suất 3% mỗi tháng Sau khi hợp đồng hết hạn, do bà Khen và ông Thảo không có khả năng thanh toán, khoản nợ đã kéo dài đến nay Ông Minh yêu cầu bà Khen và ông Thảo trả số tiền nợ gốc và lãi tổng cộng là 70 triệu đồng.

Tòa án đã quyết định bác bỏ yêu cầu kháng cáo của ông Minh và buộc bà Khen cùng ông Thảo phải thanh toán 38.914.800 đồng cho ông Minh Đồng thời, ông Minh có trách nhiệm trả lại giấy chứng nhận sạp D29 cho bị đơn.

1.1.2 Quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/2/2014 của Tòa án nhân dân Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Nguyên đơn là ông Ôn và bà Xanh có cầm cố cho ông Rành (bị đơn) 3.000m2 đất với giá

Vợ chồng ông Rành đã thế chấp 30 chỉ vàng 24k để vay vốn và thỏa thuận nếu không chuộc lại trong vòng 3 năm thì phần đất trên sẽ thuộc quyền sở hữu của ông Rành Trong thời hạn này, ông bà có quay trở lại để chuộc đất nhưng ông Rành từ chối, viện lý do còn gặp khó khăn Hiện tại, nguyên đơn yêu cầu trả lại 3.000m2 đất đã cầm cố, tuy nhiên ông Rành và bà Hết không ký xác nhận hay giữ giấy giao dịch đất đai Ông Rành trình bày rằng ông đã cầm cố đất với giá 30 chỉ vàng 24k, và đến năm 1996, còn lại 2.000m2 đất sau khi thỏa thuận chuyển đổi 1.000m2 đất sang ông với giá 1 lượng vàng và trao đổi 1.000m2 đất khác tại huyện Thanh Hóa, Long An với ông Ôn và bà Xanh Việc chuyển nhượng và trao đổi đất đai được ghi trong giấy trao đổi ngày 29/8/2006, nhưng ông chỉ còn giữ bản sao có xác nhận của xã Cuối cùng, ông Rành không đồng ý với yêu cầu trả lại đất của nguyên đơn và sẵn sàng cho chuộc lại theo giá thị trường hiện tại.

Quyết định của Tòa phúc thẩm nhấn mạnh rằng việc giải quyết vụ án phải dựa trên nguyên tắc tương tự và các quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật Dân sự mới nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch Tòa án đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang, hủy bỏ bản án dân sự sơ thẩm số 348/2012/DS-ST và giao vụ việc quay trở lại Tòa sơ thẩm để xét xử lại một cách công bằng và đúng quy định pháp luật.

1.1.3 Quyết định số 27/2021/DS-GĐT ngày 02/6/2021 của Toà án nhân dân cấp cao tại Tp.

Ngân hàng Liên doanh V đã ký hợp đồng tín dụng với Công ty PT để vay vốn nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh Sau khi giải ngân, Công ty PT vi phạm thời hạn thanh toán, gây thiệt hại cho ngân hàng Ngân hàng đã mời các người bảo lãnh bao gồm bà G, ông V, bà T và bà để làm việc nhằm giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán của họ theo hợp đồng tín dụng Tranh chấp giữa Ngân hàng Liên doanh V và Công ty PT xoay quanh trách nhiệm thanh toán khoản vay và các biện pháp xử lý khi vi phạm hợp đồng.

X đã thanh toán và lấy tài sản thế chấp, tuy nhiên các tài sản được bảo lãnh cho khoản vay hiện không rõ vị trí do công ty đã di chuyển tài sản đi nơi khác Tòa sơ thẩm và phúc thẩm đã ra quyết định buộc công ty phải trả nợ và lãi phát sinh cho ngân hàng dựa trên căn cứ pháp lý Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp và việc ký nâng hạn mức vay tín dụng đã được đề cập, nhưng không có ý kiến của ông về vấn đề này.

Trả lời

1.2.1 Những điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.

Bộ Luật Dân sự 2005 Bộ Luật Dân sự 2015

- Điều 320: Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ - Điều 295: Tài sản bảo đảm dân sự

- Điều 321: Tiền, giấy tờ có giá dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

- Điều 322 Quyền tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

BLDS 2015 không quy định cụ thể các loại tài sản được đảm bảo như BLDS 2005, mà tiếp cận theo hướng, tất cả các tài sản được quy định trong Bộ luật đều có thể trở thành đối tượng của biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ, trừ các trường hợp bị cấm theo luật hoặc có quy định riêng trong BLDS hoặc các luật liên quan.

Điểm mới này tạo sự đồng bộ với quy định về tài sản, đảm bảo các nguyên tắc thực hiện và bảo vệ quyền dân sự liên quan đến tài sản, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản trong Bộ luật Dân sự (BLDS).

- Khoản 1 Điều 320: “Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm và được phép giao dịch.”

- Khoản 1 Điều 295: “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.”

- Bộ luật ghi nhận nguyên tắc chung, đó là, tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm.

BLDS 2015 bỏ quy định bắt buộc tài sản bảo đảm phải được phép giao dịch, thay vào đó nhấn mạnh rằng các giao dịch bảo đảm thường xuất phát từ giao dịch dân sự Các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự yêu cầu không vi phạm điều cấm của pháp luật, qua đó xác nhận rằng tài sản bảo đảm phải là tài sản hợp pháp được phép giao dịch Điều này thể hiện rõ rằng, để có hiệu lực pháp luật, tài sản bảo đảm cần tuân thủ các quy định về quyền sở hữu và giao dịch hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện hành.

- Không có - Khoản 2 Điều 295: “Tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.”

- BLDS 2015 bổ sung quy định về việc tài sản đảm bảo có thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.

Việc Bộ luật cho phép các chủ thể mô tả chung về tài sản bảo đảm là cần thiết và phù hợp với thực tiễn giao dịch, đặc biệt trong các trường hợp tài sản có sự biến động về số lượng, chủng loại và giá trị Điều này giúp đảm bảo tính linh hoạt và chính xác trong xác lập, thực hiện các giao dịch bảo đảm liên quan đến hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc kho hàng.

Việc mô tả tài sản bảo đảm cần có giới hạn rõ ràng để tránh tranh chấp và khó khăn trong quá trình xử lý Nhiều trường hợp, các bên mô tả tài sản quá chung chung, không rõ ràng, dẫn đến không xác định được chính xác tài sản bảo đảm Để đảm bảo xác định rõ ràng tài sản bảo đảm và hạn chế tranh chấp, Bộ luật quy định rằng, ngoài việc cho phép mô tả chung, các điều kiện về tài sản bảo đảm phải đảm bảo tính xác định.

1.2.2 Đoạn nào của bản án 208 cho thấy bên cho vay dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho vay? Đoạn của bản án cho thấy bên cho vay dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo xác nhận có thể chấp nhận giấy tờ sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60 triệu đồng cho ông Phạm

Bá Minh là chỉ dịch vụ cầm đồ lãi suất 3%/tháng”.

1.2.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?

Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản sở hữu, vì theo bản án đã xét, giấy sử dụng sạp D2 - 9 tại chợ Tân Hương của bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo cho thấy sạp này chỉ là quyền sử dụng chứ không thuộc quyền sở hữu của ông bà. -**Sponsor**Bạn là một content creator đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình? Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/1PMFbaXz?user_id=983577), bạn có thể tạo ra những bài viết SEO-optimized dài 2,000 từ một cách nhanh chóng Giấy chứng nhận sạp không phải là tài sản, mà chỉ chứng minh quyền sử dụng sạp, như trường hợp sạp D2 - 9 tại chợ Tân Hương Hãy tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết và có ngay một đội ngũ content riêng, không lo lắng về vấn đề nội dung!

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015, tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản Tuy nhiên, giấy chứng nhận sạp không phải là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản, do đó không được coi là tài sản hợp pháp theo quy định này.

1.2.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

- Việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự không được tòa án chấp nhận.

- Đoạn của bản án cho câu trả lời nằm ở phần Xét thấy, cụ thể như sau:

Sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố, tuy nhiên, giấy chứng nhận sạp D2-9 tại chợ Tân Hương chỉ là giấy đăng ký sử dụng sạp chứ không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu Do đó, giấy chứng nhận này không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án và trả tiền cho ông Minh.

1.2.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ.

- Hướng giải quyết và cơ sở pháp lý của Tòa án đối với việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm nghĩa vụ là hợp lý.

Tòa án xác định rằng sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố chỉ là giấy đăng ký sử dụng sạp tại chợ Tân Hương, không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu sở hữu Vì vậy, giấy chứng nhận này không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông Minh.

Theo Khoản 1, Điều 295 của Bộ luật Dân sự 2015, tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ dân sự phải thuộc sở hữu hợp pháp của bên bảo đảm, trừ trường hợp giữ tài sản để cầm cố hoặc bảo lưu quyền sở hữu Điều này nhấn mạnh rằng, để đảm bảo thi hành nghĩa vụ, tài sản cần rõ ràng về quyền sở hữu và đúng luật định Việc này giúp đảm bảo tính pháp lý và minh bạch trong các giao dịch về tài sản đảm bảo.

Hướng giải quyết của Tòa án là hợp lý khi xác định rằng, nếu tài sản cầm cố không thuộc quyền sở hữu của bà Khen, thì bà Khen chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền định đoạt trong giao dịch cầm cố để trả nợ This approach ensures clarity regarding quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản cầm cố, phù hợp với quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.

1.2.6 Đoạn nào của quyết định số 2 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?

- Trong quyết định số 02/2014/QĐ-UBTP ngày 28/02/2014 có các đoạn như sau cho thấy các bên đã sử dụng quyền sử dụng đất để cầm cố:

Trong quyết định số 2, phần “nhận thấy” nêu rõ ngày 30/08/1995 (âm lịch), ông Ôn, bà Xanh và ông Rành đã xác lập giao dịch “thục đất ruộng” theo thỏa thuận về quyền sử dụng đất và vàng Cụ thể, ông Ôn và bà Xanh là chủ sở hữu hợp pháp quyền sử dụng đất, còn ông Rành là người sở hữu 30 chỉ vàng 24k, hai bên thống nhất đổi đất lấy vàng Giao dịch thể hiện rằng ông Ôn, bà Xanh sẽ chuyển quyền sử dụng đất cho ông Rành, đổi lại nhận 30 chỉ vàng để sử dụng, đồng thời quy định nếu sau hơn 3 năm không chuộc lại đất bằng số vàng đó, ông Rành có quyền canh tác đất vĩnh viễn.

1.2.7 Văn bản hiện hành có cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ sở văn bản khi trả lời?

Mặc dù văn bản biện hành không quy định rõ ràng về việc có thể dùng quyền sử dụng đất để cầm cố hay không, nhưng theo khoản 1 Điều 105 và Điều 115 của Bộ luật Dân sự 2015, quyền sử dụng đất được xác định là một loại quyền tài sản, thuộc sở hữu của chủ thể có quyền sử dụng đất đó Điều 310 của Bộ luật Dân sự 2015 cho phép cầm cố các loại tài sản là bất động sản, đồng thời Khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai 2013 quy định người sử dụng đất có quyền thực hiện các giao dịch như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp quyền sử dụng đất Vì vậy, người sử dụng đất hoàn toàn có quyền cầm cố quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành.

1.2.8 Trong Quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?

ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

Tóm tắt bản án

2.1.1 Bản án số 90/2019/KDTM-PT ngày 16/8/2019 của Toà án nhân dân TP Hà Nội Nguyên đơn: Ngân hàng N (kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Cty TNHH MTVQ gọi tắt là VAMC).

Bị đơn: Cty TNHH Xây dựng và Thương mại V.

Theo hợp đồng mua bán nợ giữa VAMC và ngân hàng, VAMC mua lại toàn bộ khoản nợ của Công ty Xây dựng V từ các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và công ty này Ngày 21/5/2012, ngân hàng tiếp tục ký hợp đồng hạn mức tín dụng số 1421-LAV-201000037, gia hạn thêm 12 tháng mà chưa giải ngân, chỉ theo dõi dư nợ VAMC có quyền khởi kiện Công ty V để yêu cầu thanh toán các khoản nợ dựa trên hợp đồng tín dụng đã ký Trong quá trình giải quyết vụ án, ngân hàng và VAMC ký hợp đồng mua bán nợ, theo đó ngân hàng bán khoản nợ của Công ty V cho VAMC, rồi VAMC khởi kiện đòi nợ Công ty V và ủy quyền cho ngân hàng tham gia tố tụng Trong quá trình tố tụng, ngân hàng đã mua lại khoản nợ từ VAMC Nếu Công ty V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm gồm toàn bộ quyền sử dụng đất, nhà ở và công trình xây dựng trên đất theo Giấy chứng nhận số 0104110021, do UBND Hà Nội cấp ngày 16/7/1998 cho ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V tại số 60 V, phường.

T, Quận H, Hà Nội có hiện trạng là nhà 04 tầng và phải thanh toán lại giá trị xây dựng tầng 3,4 cho vợ chồng ông Q bà V trước khi thực hiện nghĩa vụ đảm bảo.

2.1.2 Quyết định số 41/2021/KDTM-GĐT ngày 08/7/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng

Bị đơn: Ông Lê Vĩnh Thọ và Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị Ngọc Giao, Ông Phan Thái Tân, Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Thọ và bà Loan nhiều lần vi phạm nghĩa vụ trả nợ, dẫn đến tranh chấp phát sinh Dư nợ thực tế đến ngày 29/11/2018 ước tính là 592.618.832 đồng, trong đó nợ gốc là 502.324.000 đồng và nợ lãi là 90.294.832 đồng.

VP Bank đã khởi kiện yêu cầu ông Thọ và bà Loan trả tổng số tiền hơn 592 triệu đồng cùng lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký, đồng thời đòi trả lại xe tải biển số 70C-061-00 để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án Tòa án đã chấp nhận kháng nghị số 41/2020/KN-KDTM ngày 28/08/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Trả lời

2.2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng kí giao dịch bảo đảm Điều 323 BLDS 2005: "Đăng ký giao dịch bảo đảm". Điều 298 BLDS 2015: "Đăng ký biện pháp bảo đảm".

Khoản 1 điều 323 của BLDS 2005 đã quy định: Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm được quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này Còn ở Khoản 1 điều 298 quy định: Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

Trong Bản Luật Dân Sự 2015, quy định về "đăng ký biện pháp bảo đảm" đã thể hiện sự tiếp cận khác so với BLDS 2005, vốn chỉ quy định "đăng ký giao dịch bảo đảm" Cách tiếp cận của BLDS 2015 tập trung vào đối tượng là “biện pháp bảo đảm” thay vì hình thức ghi nhận và thể hiện thỏa thuận của các bên trong quan hệ bảo đảm như trong BLDS 2005 Quy định mới này phù hợp hơn với vai trò, địa vị pháp lý của thiết chế đăng ký trong nền kinh tế thị trường, nhằm mục đích đăng ký quyền, công bố quyền và công khai quyền hiệu lực, minh bạch trong các giao dịch bảo đảm, góp phần nâng cao hiệu quả pháp lý của hoạt động này.

Khoản 2 điều 323 quy định: Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định Trong khi đó, khoản 1 điều 298 quy định: Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp luật có quy định.

Trong BLDS 2015, cụm từ "pháp luật" đã được thay thế bằng "luật", nhưng phạm vi điều chỉnh của luật vẫn hẹp hơn nhiều so với pháp luật vì luật chỉ điều chỉnh một ngành, lĩnh vực cụ thể Trong khi đó, pháp luật là một hệ thống quy tắc rộng lớn hơn, gắn liền với nhà nước để điều hành bộ máy quản lý Điều này đồng nghĩa với việc luật có phạm vi điều chỉnh hạn chế và quyền hạn của các chủ thể có thẩm quyền trong việc quy định về giao dịch bảo đảm cũng bị giới hạn hơn trong khuôn khổ luật cụ thể.

Khoản 3 Điều 323 quy định: Trường hợp giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật thì giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký Khoản 2 Điều 298 quy định: Trường hợp được đăng ký thì biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký.

Khi giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật, nó có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba từ ngày đăng ký Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ về hệ quả pháp lý của việc đăng ký biện pháp bảo đảm, trong đó bên nhận bảo đảm có quyền truy đòi tài sản và ưu tiên thanh toán khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba Ngoài ra, BLDS 2015 đã thay thế thuật ngữ "giá trị pháp lý" bằng "hiệu lực đối kháng" để thể hiện rõ hơn tính chất pháp lý của đăng ký biện pháp bảo đảm.

Việc thay đổi từ ngữ đã giúp hạn chế các ràng buộc pháp lý đối với bên thứ ba trong giao dịch đảm bảo tài sản, khi “hiệu lực đối kháng” chỉ phát sinh trong 4 trường hợp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ: Cầm cố tài sản, Thế chấp tài sản, Bảo lưu quyền sở hữu, Cầm giữ tài sản Sự điều chỉnh này đã cụ thể hóa quy định của luật, giúp việc sử dụng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn trở nên thuận lợi hơn.

2.2.2 Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HDTC ngày 07/9/2009 có thuộc trường hợp phải đăng kí không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp số 1013.2009/HDTC ngày 07/9/2009 là hợp đồng phải đăng ký theo quy định pháp luật, dựa trên khoản 1 điều 502 Bộ luật Dân sự 2015, quy định rằng hợp đồng về quyền sử dụng đất phải lập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai Căn cứ nội dung của hợp đồng, ông Q và bà V tự nguyện sử dụng tài sản là nhà đất tại số 60 V, phường T, quận H, Hà Nội để đảm bảo các khoản vay của Công ty V tại Ngân hàng, do đó hợp đồng này thuộc trường hợp cần phải đăng ký theo quy định pháp luật.

2.2.3 Hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?

Hợp đồng thế chấp số 07/09/2009 đã được đăng ký phù hợp với quy định pháp luật.

Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của bên thứ ba ký ngày 07/9/2009 đã được công chứng theo đúng trình tự pháp luật Các bên đã ký tên rõ ràng trước mặt công chứng viên, đồng thời họ trình đầy đủ chứng minh thư nhân dân, hộ khẩu và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi ký kết hợp đồng Biên bản định giá tài sản được ký bởi vợ chồng ông Q và bà V, bên vay là Công ty V cũng đã ký tên và đóng dấu đầy đủ Văn phòng công chứng đã thực hiện đúng quy định pháp luật, nội dung văn bản không trái pháp luật và không vi phạm Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005, nên hợp đồng này không thể bị vô hiệu.

Vào ngày 30/9/2009, chỉ cần một bên là bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp, bảo lãnh ký thì hợp lệ Theo yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009, bên nhận thế chấp là Ngân hàng đã ký và đóng dấu vào đơn đăng ký, đảm bảo đơn đúng quy định và phát sinh hiệu lực pháp luật.

2.2.4 Theo Toà án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 có vô hiệu không? Vì sao?

Theo Tòa án, nếu không được đăng ký, hợp đồng thế chấp số 07/9/2009 không vô hiệu.

Vì tại thời điểm làm thủ tục đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009, Thông tư số 05/TTLB-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 đang có hiệu lực và quy định “người yêu cầu đăng ký là một bên trong các bên ký hợp đồng thế chấp, bảo lãnh” Đến ngày 01/3/2010, Thông tư số 06/2010/TTLT-BTP-BTNMT mới có hiệu lực, quy định rằng khi đăng ký thế chấp lần đầu, các bên phải ký, còn đăng ký thay đổi, bổ sung thì chỉ cần một bên ký Do đó, vào ngày 30/9/2009, chỉ cần một bên ký là bên thế chấp hoặc bên nhận thế chấp để đơn hợp lệ Trong đơn yêu cầu đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009, Ngân hàng – bên nhận thế chấp – đã ký và đóng dấu, đảm bảo đơn đăng ký đúng quy định và có hiệu lực pháp lý.

2.2.5 Hướng của tòa án như trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

Tòa án sơ thẩm đã có hướng giải quyết hợp lý bằng cách nhấn mạnh rằng, tại thời điểm đăng ký thế chấp ngày 30/9/2009, thông tư số 05/TTLB-BT-BTNMT ngày 16/6/2005 qui định rằng người yêu cầu đăng ký chỉ cần là một trong các bên ký hợp đồng thế chấp hoặc bảo lãnh Do đó, việc bên đăng ký không cần phải có chữ ký của bên thế chấp là phù hợp, và hợp đồng thế chấp chưa phát sinh hiệu lực do thiếu chữ ký của bên thế chấp Hướng xử lý của tòa án nhằm tuyên hợp đồng vô hiệu giữa Ngân hàng và Công ty cổ phần xây dựng Thương Mại V, đồng thời yêu cầu ngân hàng trả lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà và đất cho ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị V, thể hiện sự hợp lý và đúng quy trình pháp luật.

2.2.6 Hợp đồng thế chấp trong quyết định số 41 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba không? Vì sao?

Hợp đồng thế chấp theo quyết định số 41 có hiệu lực đối kháng với người thứ ba Theo điều 297 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch bảo đảm (ví dụ như thế chấp chiếc xe ô tô) được xác lập, hiệu lực pháp lý không chỉ tồn tại giữa các bên chính là VP Bank và ông Thọ, bà Loan mà còn phát sinh hiệu lực pháp lý đối với bên thứ ba.

2.2.7 Theo qui định về đòi tài sản (Điều 166 và tiếp theo BLDS 2015), Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Tân (người thứ ba so với hợp đồng thế chấp? Trả lại tài sản thế chấp (xe ô tô) không? Vì sao?

ĐẶT CỌC

Tóm tắt bản án

Quyết định giám đốc thẩm số 79/2012/DS-GĐT ngày 23-02-2012 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc tại TP Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn ông Phan Thanh L và bị đơn bà Trương Hồng Ngọc H Án lệ này khẳng định nguyên tắc xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đặt cọc, cũng như quy trình giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định pháp luật dân sự Nội dung của án lệ cung cấp hướng dẫn rõ ràng về cách thẩm định và xử lý các tranh chấp liên quan đến hợp đồng đặt cọc, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Hợp đồng đặt cọc nhằm đảm bảo việc thực hiện hợp đồng mua bán nhà, với thỏa thuận rõ ràng về thời hạn bên nhận đặt cọc phải hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà Trong trường hợp vi phạm điều khoản này, bên vi phạm sẽ phải chịu phạt cọc theo quy định Điều này đảm bảo tính minh bạch và ràng buộc pháp lý trong giao dịch bất động sản.

Khi hết thời hạn theo thỏa thuận mà bên nhận đặt cọc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do nguyên nhân từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chủ sở hữu cần tìm kiếm giải pháp pháp lý phù hợp để bảo vệ quyền lợi của mình Để đảm bảo quyền sở hữu nhà, chủ sở hữu có thể thực hiện các thủ tục pháp lý nhằm yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét lại hoặc cấp giấy chứng nhận đúng quy định Việc nắm rõ các quy định pháp luật liên quan sẽ giúp chủ sở hữu xử lý tình huống này một cách hiệu quả và tránh các rủi ro về pháp lý trong quá trình sở hữu bất động sản.

Trong trường hợp này, cần xác định rằng việc bên nhận đặt cọc không thể thực hiện đúng cam kết là do nguyên nhân khách quan Đồng thời, bên nhận đặt cọc không phải chịu phạt cọc khi gặp phải các trở ngại ngoài ý muốn Việc xác định rõ nguyên nhân khách quan giúp đảm bảo quyền lợi của bên đặt cọc được giữ gìn đúng quy định pháp luật Trường hợp này thể hiện rõ rằng trách nhiệm của bên nhận đặt cọc chỉ xuất phát từ những lý do khách quan, không liên quan đến lỗi cố ý hoặc chủ quan.

3.1.2 Quyết định số 49/2018/KDTM-GĐT ngày 18/10/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại TP Hồ Chí Minh;

Nguyên đơn: Công Ty Cổ Phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân

Bị đơn: Công Ty TNHH Thương Mại và xây dựng Sơn Long

Thuận Người có quyền và nghĩa vụ liên quan

Ngân hàng Thương Mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam

Tổng công ty Đầu tư và Kinh Doanh vốn Nhà Nước (SCIC)

Tranh chấp về Giao dịch tiền đặt cọc

Vì sao xảy ra tranh chấp? Ngày 20/02/2008, Công ty Cổ phần Du lịch Ninh Thuận ký biên bản liên quan đến cổ phiếu thuộc sở hữu của SCIC cho Công ty Cổ phần TV-TM-DV Địa ốc Hoàng Quân Công ty Địa ốc Hoàng Quân đã chuyển 1 tỷ đồng tiền cọc mua cổ phiếu, trong khi đó, việc chuyển tiền này liên quan đến hoạt động của Công ty Cổ phần Du lịch Ninh Thuận tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp pháp lý giữa các bên.

Tư và Phát Triển Việt Nam – chi nhánh tỉnh Ninh Thuận đã trích tài khoản để thu nợ vay của công ty Cổ phần Du lịch Ninh Thuận, nhưng thỏa thuận mua bán không thành công Công ty Du lịch Ninh Thuận đã đổi thành công ty TNHH Du lịch Ninh Thuận và sáp nhập vào công ty TNHH Thương Mại và Xây Dựng Sơn Long Thuận Nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu ngân hàng hoặc công ty TNHH Thương Mại và Xây Dựng Sơn Long Thuận trả 1 tỷ đồng, không yêu cầu lãi suất Tòa án sơ thẩm và phúc thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện và buộc ngân hàng trả số tiền này.

3.1.3 Bản án số 26/2019/DS-PT ngày 11/6/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh Nguyên đơn: Ông Vũ Đình P Bị đơn: Ông Trần Xuân I

Ngày 26/8/2016, ông Vũ Đình P và ông Trần Xuân I thống nhất ký hợp đồng đặt cọc để thỏa thuận mua bán xe ô tô Hyundai SantaFe 07 chỗ nhập khẩu từ Mỹ, trong đó ông P đặt cọc trước 450.000.000 đồng để đảm bảo giao dịch.

Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến trước Tết Dương Lịch năm 2017, một số xe đã được giao nhưng không ghi rõ giá bán Do mối quan hệ làm ăn quen biết từ năm 2008, ông P đã nắm bắt được rằng ông I có người thân sinh sống tại địa phương.

Mỹ có thể nhập khẩu ô tô sản xuất tại Mỹ về Việt Nam, nhưng việc kinh doanh mua bán xe nhập khẩu là hoạt động có điều kiện yêu cầu đăng ký và cấp phép theo quy định pháp luật Ông P đã nhờ ông I mua hộ xe ô tô với giá khoảng hơn 800 triệu đồng, nhưng hai bên chỉ ký hợp đồng đặt cọc giữa cá nhân, trong đó ông I không có giấy phép kinh doanh nhập khẩu xe và công ty của ông I cũng chưa đăng ký hoạt động nhập khẩu ô tô Việc này vi phạm quy định pháp luật về kinh doanh xe nhập khẩu, đặc biệt là Điều liên quan đến điều kiện kinh doanh và đăng ký hoạt động nhập khẩu xe ô tô tại Việt Nam.

Hợp đồng đặt cọc giữa ông P và ông I vô hiệu do không đáp ứng các điều kiện pháp luật về mua bán xe ôtô nhập khẩu theo quy định tại Điều 122, Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 Cả hai bên đều có lỗi khi ký hợp đồng mà không xem xét đầy đủ các quy định pháp luật liên quan, dẫn đến giao dịch bị vô hiệu Do đó, các bên phải tự chịu trách nhiệm về thiệt hại phát sinh và yêu cầu phạt đặt cọc của ông P không có cơ sở pháp lý phù hợp theo quy định của pháp luật dân sự.

Trả lời

3.2.1 Khác biệt cơ bản giữa đặt cọc và cầm cố, đặt cọc và thế chấp;

- Khác biệt giữa đặt cọc và cầm cố: Đặt cọc Cầm cố

Loại tài sản bảo đảm bao gồm tiền mặt, kim khí quý, đá quí, không có tài sản nào bị hạn chế quyền sở hữu hoặc là vật có giá trị khác chế để trở thành đối tượng đảm bảo Các loại tài sản này không bao gồm giấy tờ có giá, quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai.

Chức năng của bảo đảm là đảm bảo việc giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và duy trì quá trình thực hiện hợp đồng Bảo đảm không chỉ giúp xác nhận hành vi giao kết mà còn bảo vệ quyền lợi các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng Nó đảm bảo rằng các nghĩa vụ được thực hiện đúng thỏa thuận, từ đó duy trì tính ổn định và tin cậy trong quan hệ hợp đồng.

Năm 2015, Bộ luật Dân sự (BLDS) không có khoản Điều 303 quy định về thủ tục đấu giá tài sản, đặc biệt liên quan đến các trường hợp tài sản đặt cọc hoặc cầm cố Trong các xử lý tài sản đảm bảo, nếu không có thỏa thuận rõ ràng về việc đấu giá hoặc các hình thức xử lý khác, các bên cần tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật để đảm bảo quyền lợi hợp pháp Việc không quy định rõ về đấu giá tài sản trong BLDS 2015 có thể ảnh hưởng đến quá trình xử lý tài sản đảm bảo, đặc biệt trong các tranh chấp về quyền sở hữu và quyền xử lý tài sản đảm bảo.

Các trường hợp chấm dứt Không quy định, nhưng dẫn Có quy định theo điều 315 hợp đồng giao kết đến 1 số vấn đề tại K2 Đ BLDS 2015:

Cầm cố tài sản chấm dứt khi hợp đồng được thực hiện đầy đủ các điều khoản, nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản đặt cọc đã được hoàn tất Trong các trường hợp đó, tài sản cầm cố sẽ được trả lại cho bên đặt cọc hoặc có thể được hủy bỏ, thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác như bảo đảm bằng tiền Việc cầm cố tài sản chấm dứt khi các nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện hoặc thay thế bằng các phương thức bảo đảm phù hợp theo quy định pháp luật.

+ Nếu bên đặt cọc từ chối 3 Tài sản cầm cố đã được việc giao kết, thực hiện hợp xử lý. đồng thì tài sản đặt cọc

4 Theo thỏa thuận của các thuộc về bên nhận đặt cọc; bên.

Trong trường hợp từ chối ký kết hoặc thực hiện hợp đồng, bên liên quan sẽ phải hoàn trả tài sản đặt cọc cùng một khoản tiền bằng giá trị của tài sản này, trừ khi có thỏa thuận khác được hai bên thống nhất Điều này đảm bảo quyền lợi của bên đặt cọc được bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện các cam kết hợp đồng một cách minh bạch và công bằng.

- Khác biệt giữa đặt cọc và thế chấp: Đặt cọc Thế chấp

Loại tài sản đảm bảo bao gồm tiền mặt, kim khí quý, đá quý, nhưng không bao gồm các tài sản bị hạn chế theo quy định hoặc vật có giá trị khác đã bị chế tạo để trở thành đối tượng thế chấp Ngoài ra, giấy tờ có giá trị, quyền tài sản và các tài sản hình thành trong tương lai cũng không được coi là tài sản bảo đảm.

Năm 2015, Bộ luật Dân sự không quy định rõ về việc xử lý tài sản bảo đảm như đặt cọc hoặc cầm cố nếu không có thỏa thuận rõ ràng về đấu giá hoặc đấu có Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015 không đề cập đến việc bắt buộc phải đấu giá tài sản bảo đảm trong trường hợp này Do đó, việc xử lý tài sản bảo đảm năm 2015 gặp nhiều hạn chế do thiếu quy định cụ thể về phương thức đấu giá hoặc bán đấu giá tài sản cầm cố hoặc đặt cọc khi không có thỏa thuận Cần làm rõ các quy định liên quan để đảm bảo quy trình xử lý tài sản đúng quy định pháp luật.

Trong hợp đồng đặt cọc, bên đặt cọc có thể giao tài sản cho bên nhận cọc nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ hoặc quyền lợi đã thoả thuận Bên thế chấp không nhất thiết phải giao biện pháp bảo đảm như giấy tờ, tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, mà có thể dùng đặt cọc để bảo đảm quyền lợi của mình đối với tài sản do bên nhận thế chấp nhận cọc Phương thức này phù hợp với quy định pháp luật, giúp các bên linh hoạt trong việc thỏa thuận và thực hiện giao dịch đặt cọc nhằm đảm bảo quyền lợi một cách an toàn, hiệu quả.

Các trường hợp chấm dứt Không quy định, nhưng dẫn Có quy định theo điều 327 hợp đồng giao kết đến 1 số vấn đề tại K2 Đ BLDS 2015:

Thế chấp tài sản chấm dứt khi hợp đồng được ký kết và thực hiện theo các điều kiện nhất định Cụ thể, nghĩa vụ bảo đảm bằng tài sản đặt cọc sẽ chấm dứt và tài sản đặt cọc sẽ được trả lại khi các điều kiện sau được thoả mãn: một là nghĩa vụ bảo đảm đã được hoàn thành hoặc hủy bỏ, hai là việc thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ được huỷ bỏ hoặc thay thế bởi các biện pháp bảo đảm khác phù hợp hơn.

+ Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc;

Trong trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, họ có nghĩa vụ trả lại tài sản đặt cọc cùng một khoản tiền tương đương giá trị của tài sản đó, trừ khi có thỏa thuận khác Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của bên đặt cọc và đảm bảo quyền lợi của họ được thực hiện đúng quy định pháp luật Đồng thời, có thể thay thế bằng các biện pháp bảo đảm khác để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.

3 Tài sản thế chấp đã được xử lý.

4 Theo thỏa thuận của các bên.

3.2.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc.

1 Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia 1 Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Chế định đặt cọc trong Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự 2015 không có nhiều thay đổi về nội dung Tuy nhiên, điểm khác biệt chính là yêu cầu về việc lập văn bản ghi nhận thỏa thuận đặt cọc, khi trong BLDS 2015 không còn bắt buộc phải lập thành văn bản như trong BLDS 2005 Thực tiễn xét xử cho thấy, tòa án đã xem việc không lập thành văn bản là điều kiện vô hiệu của thỏa thuận đặt cọc, do đó, thỏa thuận đặt cọc không cần phải lập thành văn bản để có hiệu lực.

Các khoản thực tiễn nêu trên gặp phải nhiều bất cập do chưa phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2005 Tuy nhiên, xu hướng pháp luật hiện nay đã chuyển hướng không đặt nặng hình thức của giao dịch, phản ánh những điểm mới và tiến bộ của Bộ luật Dân sự 2015, nhằm nâng cao tính linh hoạt và đảm bảo quyền lợi các bên trong các giao dịch dân sự.

BLDS 2015 đã thay thế thuật ngữ "hợp đồng dân sự" bằng "hợp đồng," cho thấy các nhà lập pháp muốn mở rộng phạm vi điều chỉnh của chế định đặt cọc không chỉ giới hạn trong hợp đồng dân sự mà còn bao gồm nhiều loại hợp đồng khác như hợp đồng thương mại, hợp đồng lao động Việc này giúp phản ánh thực tiễn pháp lý, vì trong nhiều trường hợp, hợp đồng đặt cọc không phải là hợp đồng dân sự sẽ bị vô hiệu, gây thiệt hại cho quyền lợi và lợi ích của các bên tham gia ký kết hợp đồng.

3.2.3 Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?

Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc.

Trong trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, họ bắt buộc phải hoàn trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc cùng với một khoản tiền tương đương giá trị của tài sản đó, trừ khi có thỏa thuận khác.

BẢO LÃNH

Tóm tắt bản án

4.1.1 Quyết định số 02/2013/KDTM-GĐT ngày 08/1/2013 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương chi nhánh Đồng Nai đã ký hợp đồng cho doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc vay tiền, sử dụng quyền sử dụng đất của ông Miễn và bà Cà làm tài sản đảm bảo Tuy nhiên, hợp đồng thế chấp được ký trong hoàn cảnh bị ép buộc chứ không phải tự nguyện, qua sự trung gian của bà Trang, trong khi ông Miễn và bà Cà khẳng định không quen biết với bà Tỉnh hay doanh nghiệp Đại Lộc Vì quỹ tín dụng không thu hồi được nợ từ bà Tỉnh và doanh nghiệp, các bên bảo lãnh buộc phải chịu trách nhiệm thanh toán khoản vay này, gây tranh cãi về tính hợp pháp của hợp đồng.

Ông Miễn và bà Cả đều không đồng ý với quyết định của tòa án liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp Theo quyết định của tòa, chỉ khi chủ doanh nghiệp tư nhân không trả được nợ hoặc không đủ khả năng thanh toán, ông Miễn và bà Cà mới có trách nhiệm trả thay Trong trường hợp cả hai không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, tòa án sẽ tiến hành xử lý tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ.

4.1.2 Quyết định số 968/2011/DS-GĐT ngày 27/12/2011 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân tối cao

Bà Nhung cho bà Mát vay 500 triệu đồng với lãi suất 1,2% tháng, được ông Ân và bà Thắng bảo lãnh, nhưng sau 8 tháng, bà Mát không trả nợ gốc lẫn lãi Tại tòa sơ thẩm, bà Mát và bà Thắng bị buộc liên đới trả nợ cho bà Nhung, nhưng bà Thắng kháng cáo Trong phiên phúc thẩm, tòa hủy bản án sơ thẩm và nhận định rằng quan hệ vay tiền và bảo lãnh là hai quan hệ độc lập, do đó bà Nhung có quyền khởi kiện bà Mát đòi nợ hoặc yêu cầu bà Thắng bảo lãnh thay Sau đó, bà Nhung lại khởi kiện bà Thắng, và quyết định giám đốc thẩm giữ nguyên việc hủy án sơ thẩm và phúc thẩm, nhấn mạnh rằng trách nhiệm của ông Ân và bà Thắng chỉ phát sinh nếu bà Mát không thực hiện toàn bộ nghĩa vụ dân sự của mình.

Trả lời

4.2.1 Những đặc trưng của bảo lãnh;

Bảo lãnh là cam kết của người thứ ba (bên bảo lãnh) đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) trong trường hợp bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ khi đến hạn Đây là hình thức pháp lý phổ biến nhằm đảm bảo quyền lợi của bên nhận bảo lãnh, tạo sự an tâm khi giao dịch Bên bảo lãnh sẽ chịu trách nhiệm thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ theo đúng điều kiện đã thỏa thuận nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đúng cam kết.

- Bảo lãnh là quan hệ có tính chất đối nhân, đối vật.

Đối tượng của biện pháp bảo lãnh có thể là các chức vụ khác nhau, tùy thuộc vào nghĩa vụ cần được bảo đảm Biện pháp này thường nhằm đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền hoặc thực hiện một công việc nhất định Chức vụ trong biện pháp bảo lãnh phản ánh rõ ràng trách nhiệm và phạm vi bảo vệ, góp phần nâng cao tính hiệu quả của đảm bảo trong các giao dịch dân sự và thương mại.

Thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên hoặc quy định của pháp luật, như quy định tại Điều 337 Bộ luật Dân sự 2015 Việc bảo lãnh có thể được trả thù lao theo thỏa thuận hoặc theo quy định pháp luật Phạm vi bảo lãnh được xác định cụ thể theo Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015, trong đó bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh.

Nghĩa vụ bảo lãnh bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và lãi trên số tiền chậm trả, trừ khi có thỏa thuận khác giữa các bên.

+ Các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

Trong trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh phát sinh trong tương lai, phạm vi bảo lãnh không bao gồm các nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại Điều này đảm bảo rõ ràng về phạm vi trách nhiệm của người bảo lãnh và tránh các tranh chấp pháp lý không đáng có Phạm vi bảo lãnh chỉ áp dụng cho các nghĩa vụ hiện tại hoặc đã phát sinh trong thời hạn còn hiệu lực của hợp đồng bảo lãnh.

- Xử lý tài sản của bên bảo lãnh: Điều 339 BLDS 2015.

Trong trường hợp bên bảo lãnh đến hạn thực hiện nghĩa vụ nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, bên bảo lãnh phải sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán nợ Việc này đảm bảo nghĩa vụ được thực hiện đúng cam kết và bảo vệ quyền lợi của chủ nợ trong các giao dịch bảo lãnh Nếu bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ, họ bắt buộc phải thanh toán bằng tài sản của mình theo quy định pháp luật.

+ Phương thức xử lý: Theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Chấm dứt việc bảo lãnh: Điều 343 BLDS 2015.

+ Nghĩa vụ được bảo đảm bằng bảo lãnh chấm dứt.

+ Việc bảo lãnh bị hủy bỏ hoặc được thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác.

+ Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.

+ Việc bảo lãnh chấm dứt theo thỏa thuận của các bên.

4.2.2 Những thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về bảo lãnh.

Theo khoản 1 Điều 335 của Bộ luật Dân sự 2015, khái niệm bảo lãnh được mở rộng bằng cách thêm cụm từ "thực hiện nghĩa vụ" sau từ "thời hạn", nhằm làm rõ hơn ý nghĩa của điều khoản so với quy định tại Điều 361 của Bộ luật Dân sự 2005 Tuy nhiên, sự thay đổi này chỉ mang tính kỹ thuật và không làm ảnh hưởng đến nội dung pháp lý của quy định.

- Thứ hai, BLDS 2015 có sự thay đổi trong quy định về hình thức bảo lãnh Theo Điều

Theo quy định của BLDS 2005, việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể là một văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Tuy nhiên, BLDS 2015 đã loại bỏ yêu cầu này, tạo điều kiện linh hoạt và chủ động hơn cho các bên trong việc thiết lập quan hệ bảo lãnh Các bên nay có thể tự do lựa chọn hình thức cam kết bảo lãnh bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thể, trừ khi pháp luật yêu cầu bảo lãnh phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực.

Điểm mới thứ ba của Bộ luật Dân sự 2015 so với Bộ luật Dân sự 2005 về bảo lãnh là quy định về phạm vi bảo lãnh, trong đó bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của bên được bảo lãnh Khoản 2 Điều 336 Bộ luật Dân sự 2015 mở rộng phạm vi bảo lãnh bao gồm cả các trường hợp bảo lãnh các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết, tạo sự linh hoạt và rõ ràng hơn trong lĩnh vực bảo lãnh dân sự.

“lãi trên số tiền chậm trả” so với quy định tại Điều 363 BLDS 2005 Mặt khác, khoản 3 Điều

BLDS 2015 quy định rõ về việc các bên có thể thỏa thuận sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh Điều này giúp nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích của bên nhận bảo lãnh Đồng thời, khoản 4 Điều 336 BLDS 2015 cũng nêu rõ rằng phạm vi bảo lãnh cho nghĩa vụ phát sinh trong tương lai không bao gồm các nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại, đảm bảo tính rõ ràng và minh bạch trong quy định bảo lãnh.

Điểm mới thứ tư của BLDS 2015 về bảo lãnh là quy định về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh, theo đó bên bảo lãnh có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi đã bảo lãnh, kể cả khi nghĩa vụ chưa hoàn thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 340) Ngược lại, luật cũ (Điều 367 BLDS 2005) quy định bên bảo lãnh chỉ có quyền yêu cầu sau khi nghĩa vụ bảo lãnh đã hoàn thành, trừ khi có thỏa thuận khác, làm rõ sự tiến bộ trong quy định về quyền yêu cầu của bên bảo lãnh.

Thứ năm, BLDS 2015 bổ sung quy định về mối quan hệ giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh tại khoản 1 Điều 339, làm rõ nghĩa vụ của bên bảo lãnh trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh Quy định này khẳng định rằng nghĩa vụ của bên bảo lãnh là phần tiếp theo của khái niệm bảo lãnh được nêu tại Điều 335 của BLDS 2015, giúp làm rõ và củng cố mối quan hệ pháp lý giữa các bên trong hợp đồng bảo lãnh.

Điều 342 Bộ luật Dân sự 2015 đã đổi tiêu đề thành "Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh" thay cho tiêu đề cũ "Xử lý tài sản của bên bảo lãnh" của Điều 369 Bộ luật Dân sự 2005, nhằm nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của bên bảo lãnh trong nghĩa vụ dân sự Ngoài ra, quy định mới yêu cầu bên bảo lãnh "thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại" thay vì phải "đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh", giúp mở rộng phạm vi trách nhiệm của bên bảo lãnh Những thay đổi này hướng tới tăng cường trách nhiệm pháp lý của bên bảo lãnh và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên nhận bảo lãnh.

4.2.3 Đoạn nào cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh?

Tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng 20.408 m2 đất tại xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L157487 ngày 31/10/1997 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Cửu cấp cho ông Trần Văn Miễn Vợ chồng ông Miễn và bà Nguyễn Thị Cà đã thế chấp quyền sử dụng đất này cho Quỹ tín dụng nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của người thứ ba số 01534 ngày 22/9/2006 Hợp đồng này được Ủy ban nhân dân xã Thạnh Phú chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Vĩnh Cửu, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên liên quan.

4.2.4 Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán.

Theo nhóm, hội đồng thẩm phán đã đúng trong việc xác nhận các hợp đồng thế chấp do ông Miễn và bà Cà tự đến Ủy ban nhân dân xã ký kết, thể hiện tính hợp pháp của các hợp đồng này Tuy nhiên, còn tồn tại vấn đề chưa rõ ràng liên quan đến giấy ủy quyền xử lý tài sản thế chấp trong hợp đồng vay vốn, đặc biệt là việc xác minh tính xác thực của giấy ủy quyền này và người đã lập ra giấy ủy quyền đó Việc làm rõ các yếu tố pháp lý liên quan đến giấy ủy quyền là cần thiết để đảm bảo tính minh bạch và đúng quy trình trong các giao dịch thế chấp.

4.2.5 Theo Tòa án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để bảo đảm cho nghĩa vụ nào? Vì sao?

Ngày đăng: 12/12/2022, 06:57

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w