Định nghĩa do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên đề xuất “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật hay vi sinh vật; là những gen chứ
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC PHẦN
ĐA DẠNG SINH HỌC
1 Khái niệm của đa dạng sinh học?
Định nghĩa do Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên đề xuất “Đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật hay vi sinh vật;
là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường.”
Giá trị đa dạng sinh học?
Giá trị đa dạng sinh học gồm có giá trị trực tiếp và giá trị gián tiếp
- Giá trị trực tiếp:
+ Là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm
+ Làm thuốc
+ Gỗ trong xây dựng, cây cảnh, chim cá cảnh
- Giá trị gián tiếp
+ Điều hòa khí hậu
+ Bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất đai
+ Giá trị du lịch sinh thái, giải trí
+ Giá trị giáo dục, khoa học và đào tạo
+ Giá trị thẩm mĩ và sáng tác
+ Giá trị tồn tại
2 Chứng minh Việt Nam là trung tâm đa dạng sinh học.
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đa
dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên
thế giới Do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam
Đa dạng thực vật:
- Theo Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), tổng số loài của hệ thực vật Việt Nam có thể lên đến 20.000 – 30.000 loài, trong đó thực vật bậc cao có mạch là 13.747 loài
- Có nhiều họ cây giàu loài: họ Lan với 800 loài, họ Đậu với 470 loài, họ Thầu dầu với 425 loài, họ Hòa thảo với 400 loài, họ Cà phê với 400 loài, họ Cúc với 336 loài,
- Có nhiều loài cho gỗ tốt: Lim xanh, Táu, Thiết đinh, Gõ mật, Cẩm lai, Lát hoa, Gõ đỏ,
- Việt Nam có 20 loài Lan hài có giá trị về mặt thẩm mĩ, khoa học và mang lại giá trị kinh tế cao
- Có 2.300 loài cây có ích được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thuốc, thức ăn gia súc, làm cảnh, nguyên vật liệu,…
- Việt Nam có số loài đặc hữu rất cao: toàn quốc là 40% tổng số loài thực vật, miền Bắc Việt Nam là 20%,
Đa dạng động vật:
Trang 2- Hệ động vật ở nước ta có rất nhiều loài và trong số đó có nhiều loài đặc hữu: có 35 loài cá; hơn 100 loài và phân loài chim; 78 loài và phân loài thú; ở phân vùng Đông Dương có 21/75 loài linh trưởng thì Việt Nam có 16 loài , trong đó có 7 loài đặc hữu
- Những năm gần đây, các nhà khoa học phát hiện thêm nhiều loài động vật mới, đặc biệt phát hiện 5 loài thú mới: Sao la, Mang lớn, Mang Trường Sơn, Vooc Chà vá chân xám, Thỏ vằn Trường Sơn
- Có 3 loài chim mới được phát hiện: Khướu Ngọc Linh; Khướu Kon Ka Kinh và Khướu vằn đầu đen
- Nhiều loài bò sát được phát hiện trong những năm gần đây: Thằn lằn đá con ngươi tròn Tức Dụp; Thằn lằn đá con ngươi tròn Núi Cẩm; Thằn lằn chân ngón Grismer;…
- Vùng biển nước ta hội tụ các hệ sinh thái từ vùng nước nông như rừng gập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, đầm phá, cửa sông, đến biển xa như vùng nước trồi, hệ biển sâu với 11.000 loài sinh vật, trong đó có 2.500 loài cá biển, 225 loài tôm, hơn 500 loài thực vật nổi, gần 700 loài động vật nổi,…
Đa dạng hệ sinh thái rừng:
Tác giả Thái Văn Trừng đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành các kiểu rừng:
- Các kiểu rừng kín vùng thấp
- Các kiểu rừng thưa
- Các kiểu trảng vuông
- Các kiểu rừng kín vùng cao
- Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
Đa dạng hệ sinh thái biển và ven biển:
- Việt Nam có bờ biển dài trên 3.260km, với 3.000 đảo lớn nhỏ; thềm lục địa rộng và nông ở Bắc và Nam có nhiều mản cát lầy, hẹp và sâu ở miền Trung là những thềm cát hình thành các đầm phá hay là những bờ đá ngầm
- Nước ta có khoảng 1.122 km2 rạn san hô phân bố từ Bắc tới Nam, nhiều ran san hô ở: Côn Đảo, Phú Quốc, Hòm Mun, Cù Lao Chàm, là nơi cư trú của nhiều loài cá Gần
400 loài san hô tạo rạn tại các vùng Vịnh Nha Trang, Ninh Thuận, Côn Đảo, mỗi nơi có hơn 300 loài
- Hiện nay, rừng ngập mặn ở nước ta khoảng 150.000ha trong đó diện tích rừng tự nhiên chiếm 38.1%, còn lại là diện tích rừng trồng chiếm 69,1%
- Rừng ngập mặn nước ta là nơi cư trú và làm tổ của nhiều loài chim, động vật ở nước, thú quý hiếm; là nguồn cung cấp thức ăn cho các loài thủy sản và còn có vai trò cực kì to lớn trong việc bảo vệ bờ biển, hạn chế tác hại của sóng thần và bão lớn, mở rộng diện tích đất liền và điều hòa khí hậu
3 Chứng minh lịch sử sinh vật có 5 lần tuyệt chủng và hiện nay đang ở giai đoạn tuyệt chủng lần VI.
Đầu tiên là tuyệt chủng Ordovic – Silur xảy ra cách đây 440 - 450 triệu năm Giả thuyết về nguyên nhân cuộc tuyệt chủng là vụ nổ tia gamma của một ngôi sao gần Trái Đất làm cho carbon dioxide trong khí quyển sụt giảm mạnh Mực nước biển hạ thấp kết hợp với sự lạnh giá của băng hà đã đem đến sự tuyệt chủng hàng loạt vào kỷ Ordovic
Trang 3Vào kỷ Ordovic, khoảng 49% các chi động vật biển đã biến mất hoàn toàn khi cuộc tuyệt chủng kết thúc, các ngành động vật khác cũng suy giảm đi nhiều
Tiếp theo là cuộc đại tuyệt chủng Devon Nó xảy ra cách đây khoảng 360 triệu năm Nguyên nhân là do một thiên thạch có đường kính lớn đã va chạm với Trái Đất, gây nên những đợt sóng thần, tàn phá hệ sinh thái bờ biển, đồng thời gây xáo trộn các tầng biển sâu Một nguyên nhân khác là sự phát triển mạnh mẽ của thực vật đã làm giảm CO2, khiến khí hậu trở nên lạnh hơn, nhiều sinh vật không thích nghi được đã bị tiêu diệt Trong cuộc tuyệt chủng này thì các sinh vật biển là nạn nhân chủ yếu Những rạn san hô chết hàng loạt kéo theo sự tuyệt chủng của rất nhiều loài
Tuyệt chủng Permi – Trias xảy ra cách đây khoảng 251 triệu năm trước Nguyên nhân chính là do sự vận động kiến tạo vô cùng mạnh mẽ của lớp vỏ Trái Đất, gây ra nứt gãy và dồn nén các mảng lục địa Sự phun trào macma từ các mảng đứt gãy nhấn chìm tất cả bề mặt Trái Đất trong biển lửa Bụi và khí carbonic ra tăng gây hiệu ứng ra nhà kính làm Trái Đất nóng lên Các dòng hải lưu dưới đại dương thay đổi gây ra tác động lớn đối với
hệ sinh thái, tuần hoàn đại dương trở nên trì trệ, thiếu oxy Sự kiện tuyệt chủng khủng khiếp này đã tuyệt diệt 95% các loài sinh vật trên Trái Đất
Tuyệt chủng Trias – Jura xảy ra cách đây 199,6 triệu năm Vụ va chạm của sao băng
là nguyên nhân trực tiếp khơi mào cuộc tuyệt chủng này Nhiều loài động vật có xương sống trong đại dương và bò sát biển đã biến mất, ngoại trừ thằn lằn cá, thằn lằn chân chèo Các động vật khác cũng bị ảnh hưởng nặng nề tạo điều kiện cho khủng long thống trị hành tinh suốt kỷ Jura và kỷ Phấn Trắng (Creta)
Cuộc đại tuyệt chủng Creta – Paleogen xảy ra cách đây khoảng 66,5 triệu năm Khoảng 75% số loài đã bị tuyệt chủng sau biến cố kinh hoàng này Sự kiện tuyệt chủng này là do một hoặc nhiều thảm họa đồng thời gây ra, như sự tác động mạnh mẽ của cá thiên thạch hoặc do mực nước biển tụt xuống, núi lửa phun trào mạnh mẽ Các sự kiện địa chất này đã làm giảm lượng ánh sáng và mức độ quang hợp, dẫn đến sự phá hủy hệ sinh thái Trái Đất trên quy mô lớn Khí hậu khô hơn, chuỗi thức ăn cũng bị phá vỡ Khủng long là loài động vật bị ảnh hưởng đầu tiên khi môi trường thay đổi, sự đa dạng loài giảm đáng kể Cùng với đó, một số loài thực vật, động vật không xương sống cũng biến mất trên Trái đất, tạo điều kiện cho lớp thú phát triển và dần chiếm ưu thế
Tất cả các cuộc tuyệt chủng trong lịch sử đều do thiên nhiên gây ra, diễn ra có tính chu kỳ Mỗi sự sụp đổ đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, tạo điều kiện phát triển cho
nhiều sinh vật có sức sống mạnh mẽ Các nhà khoa học cho biết Trái Đất có thể đã bước vào thời kỳ đại tuyệt chủng các loài sinh vật lần thứ sáu Lần này không phải do
thiên nhiên nữa, mà chính con người đang tiến hành cuộc “tự sát” Một số nguyên nhân
dẫn đến nguy cơ này
Thứ nhất, con người đang làm Trái Đất nóng lên bằng việc đốt các loại nhiên liệu hóa thạch và chặt bỏ các khu rừng mưa Con người chúng ta thải vào khí quyển hàng triệu tấn khí độc hại mỗi ngày Nó đe dọa và làm mất cân bằng hệ sinh thái Các đại dương ấm lên bốc hơi nhanh hơn vào không khí gây ra mưa, bão, lũ lụt và lở đất nhiều hơn với cường
độ ngày càng dữ dội Điển hình các năm gần đây trong nước ta xảy ra nhiều trận bão với cường độ mạnh, diễn biến phức tạp, khó suy đoán trước được
Trang 4Thứ hai, các hoạt động nông nghiệp, chăn thả Cùng với dân số đang tăng chóng mặt, con người đã chiếm môi trường sống của nhiều loài động vật
Nguyên nhân thứ ba là các hoạt động tội phạm đối với môi trường hoang dã Hàng loạt các động vật hoang dã như Tê tê, Tê giác, Voi,… bị săn bắt trái phép dẫn đến sự đe dọa tuyệt chủng cho các loài này
Nguyên nhân thứ tư là ô nhiễm môi trường Mỗi năm, hàng triệu tỷ tấn rác thải được vứt xuống các đại dương Khi các nhà khoa học giải phẫu các loài chim biển, hầu như trong bụng con nào cũng có rác từ plastic
Nguyên nhân cuối cùng là các loại dịch bệnh Bệnh nấm Chytrid Fungus là nguyên nhân
đe dọa tuyệt chủng cho các loài lưỡng cư Chính con người đã góp phần làm dịch bệnh này lây lan bằng việc đưa những con ếch đi khắp các châu lục
4 Các thứ hạng trong sách đỏ Việt Nam?
Trong sách đỏ có những loài nào đã tuyệt chủng, tuyệt chủng trong tự nhiên và có nguy cơ tuyệt chủng (đại diện 4- 5 loài).
Các thứ hạng của Sách đỏ IUCN (1994) và Sách đỏ Việt Nam (2007) như hình sau:
Trong sách đỏ có những loài đã tuyệt chủng, tuyệt chủng trong tự nhiên và có nguy
cơ tuyệt chủng (đại diện 4 - 5 loài):
- Những loài đã tuyệt chủng (EX) ở nước ta
+ Cầy rái
+ Heo vòi
+ Tê giác Hai sừng
+ Bò xám
- Những loài đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW) ở nước ta
+ Hươu sao
+ Cá Lợ thân thấp
+ Cá Chình Nhật Bản
Trang 5+ Cá Chép gốc
+ Cá sấu hoa cà
+ Lan hài Việt Nam
- Những loài có nguy cơ tuyệt chủng
+ Voọc (Chà và) chân xám
+ Voọc mũi hếch
+ Voọc đen má trắng
+ Báo hoa mai
+ Hổ
5 Nguyên nhân suy giảm đa dạng sinh học.
Có 8 nguyên nhân gây suy giảm đa dạng sinh học:
- Mất nơi cư trú
- Khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học
- Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại
- Ô nhiễm môi trường
- Xây dựng các công trình thủy điện
- Thiên tai
- Biến đổi khí hậu
- Sự gia tăng dân số quá mức, di dân tự do và sự nghèo đói
1 Mất nơi cư trú
- Rừng nhiệt đới mất đi do khai phá để lấy đất sản xuất nông nghiệp, xây dựng đường sá, khu dân cư, khu công nghiệp Gây suy giảm về diện tích và chất lượng rừng, đa dạng sinh học bị đe dọa, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng, gây hiệu ứng nhà kính làm cho khí hậu toàn cầu thay đổi
Ví dụ: Rừng Amazon đã bị con người đốt phá, khai thác rừng lấy đất phục vụ cho các mục đích khác Khoảng 20% diện tích rừng đã bị chặt phá và tình trạng phá rừng vẫn tiếp tục
- Sự tương quan giữa tổng số loài sinh vật với diện tích khu phân bố:
Mô hình sinh địa đảo: những đảo lớn có nhiều loài hơn các đảo nhỏ Các loài ít bị ảnh hưởng hơn, quần thể có kích thước lớn hơn, tăng tính đặc thù và giảm xác suất bị tuyệt chủng của các loài
Mô hình sinh địa đảo được sử dụng để dự tính, dự báo số lượng và tỉ lệ loài có thể
bị tuyệt chủng một khi nơi cư trú bị hủy hoại Nếu 90% nơi cư trú mất thì khoảng 75% các loài bản địa sẽ bị tuyệt chủng
Sự tuyệt chủng của các loài trên toàn cầu là đáng báo động Rất nhiều loài đã bị tuyệt chủng cục bộ trong từng khu vực Một số loài trước kia rất phổ biến nay chỉ sống sót giới hạn trong một số vùng nhỏ vốn là nơi sinh sống nguyên bản của chúng Ví dụ: loài Quạ đen, Ác là từng phổ biến ở Việt Nam nhưng nay chỉ gặp ở một vài nơi hẻo lánh vùng Tây Nguyên
- Khu phân bố bị chia cắt manh mún:
Một khi rừng bị tàn phá thì nơi cư trú của các loài bị chia cắt manh mún, quần thể lớn bị phân ra thành nhiều quần thể nhỏ và làm cho chúng dễ bị tổn thương Diện tích rừng bị chia cắt nhỏ làm tăng khả năng cháy rừng, làm cho các loài ngoại lai dễ có khả
Trang 6năng xâm nhập và dịch bệnh từ các loài thuần dưỡng có thể lây sang các loài tự nhiên và ngược lại
- Nguyên nhân suy giảm diện tích rừng:
+ Mở rộng diện tích đất nông nghiệp
+ Nhu cầu lấy củi
+ Chăn thả gia súc
+ Khai thác gỗ và các sản phẩm rừng
+ Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản
+ Cháy rừng
Ngoài ra còn do chính sách (quản lí rừng, đất đai, di cư, kinh tế xã hội) Các dự án phát triển kinh tế xã hội (giao thông, thủy điện, khai thác khoáng sản) cũng làm gia tăng đáng kể tốc độ mất rừng ở nhiều nơi trên thế giới
Nguyên nhân sâu xa là áp lực của sự gia tăng dân quá mức Sự gia tăng dân số tỉ lệ thuận với diện tích rừng bị mất
2 Khai thác quá mức và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học
2.1 Trên thế giới
Tình trạng săn bắt và buôn bán các loài động vật quý hiếm quá mức dẫn đến cạn kiệt tài nguyên động vật rừng Các loài động vật quý hiếm như Hồ, Voi, Gấu, Tê tê,… có
số lượng ngày càng ít dần, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng
Cụ thể, hiện nay do phá hủy môi trường sống và săn bắt quá mức nên các loài hổ
có nguy cơ tuyệt chủng (cấp EN) Việc mua bán ngà voi là nguyên nhân chính làm suy tàn voi châu Phi và voi châu Á Ngay cả khi việc buôn bán bị cấm hầu như khắp nơi, nhu cầu vẫn rất lớn và việc săn bắn trái phép diễn ra trên quy mô lớn rất khó kiểm soát Các loài tê giác đang có nguy cơ tuyệt chủng do săn bắn để lấy sừng
2.2 Ở Việt Nam
Việc khai thác gỗ và các sản phẩm ngoài gỗ thiếu kế hoạch, thiếu kiểm soát làm cạn kiệt nguồn tài nguyên Ngoài ra, nạn chặt gỗ trái phép thường xảy ra ở khắp nơi, kể
cả trong các khu rừng bảo vệ Hậu quả là rừng có chất lượng bị cạn kiệt nhanh chóng
Một số loài có nguy cơ tuyệt chủng do khai thác quá mức: Trầm hương, Gỗ Sưa
đỏ Loài lan Hài Việt Nam đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên
Khai thác thủy sản quá mức, sử dụng các phương tiện đánh bắt không được chọn lọc như thả đăng, lưới có mắt nhỏ, dùng chất nổ đã hủy diệt hệ sinh thái thủy vực, suy giảm đa dạng sinh học Năm 2011, loài Tê giác một sừng đã tuyệt chủng tại nước ta, nguyên nhân do mất sinh cảnh sống là chủ yếu, đồng thời cảnh báo rằng việc thực thi pháp luật không thỏa đáng, quản lí thiếu hiệu quả, xâm lấn đất và xây dựng cơ sở hạ tầng bên trong và gần các khu vực được bảo vệ chỉ làm tăng thêm áp lực cho các quần thể loài vốn đã dễ bị tổn thương trong các khu vực này
3 Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại
Các loài sinh vật ngoại lai xâm hại là những loài không có nguồn gốc bản địa, khi được du nhập vào nơi nào đó, chúng sinh trưởng và phát triển rất nhanh, cạnh tranh lấn
áp, tiêu diệt các loài bản địa hay phát sinh dịch bệnh dẫn đến làm suy giảm đa dạng sinh học, làm giảm năng suất vật nuôi và cây trồng
Trang 7Sinh vật ngoại lai có thể xâm nhập vào môi trường sống mới bằng nhiều cách: theo con đường tự nhiên như phát tán theo gió, dòng hải lưu, bám theo các loài di cư hay
có thể do con người khi lưu thông đã mang chúng từ nơi này đến nơi khác Hoặc du nhập một cách có chủ ý cho các mục đích kinh tế, giải trí, khoa học nhưng do không được kiểm tra và kiểm soát tốt đã bùng phát và gây ra nhiều tác hại nặng nề
Một số loài ngoại lai xâm hại ở nước ta: Virus gây bệnh cúm gia cầm, Ốc bươu vàng, Cá vược miệng bé, Rùa tai đỏ, Cúc liên chi,…
4 Ô nhiễm môi trường
Tình trạng ô nhiễm môi trường do các nguồn thải khác nhau là nguyên nhân quan trọng đang đe dọa đến đa dạng sinh học Sự ô nhiễm môi trường sống do thuốc trừ sâu, hóa chất và các chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt của con người và các ô nhiễm gây ra bởi các nhà máy, ô tô, cũng như các trầm tích lắng đọng do sự xói mòn đất từ các vùng cao, sườn núi làm cho nhiều loài bị tiêu diệt, làm giảm số lượng cá thể, phá vỡ cấu trúc quần thể, hủy hoại nơi cư trú của nhiều loài sinh vật
Hậu quả trực tiếp là gây chết, làm giảm số lượng cá thể, gián tiếp làm hủy hoại nơi
cư trú và môi trường sống của các loài sinh vật hoang dại
Ở vùng nước ven bờ, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ làm tăng các chất gây độc như dầu, lượng trầm tích, nước thải thu hẹp diện tích hoặc làm suy thoái các hệ sinh thái như rừng ngập mặn, san hô, cỏ biển Mặt khác, sự ô nhiễm còn làm giảm chất lượng của các nhóm sinh vật có giá trị kinh tế do khả năng tích tụ các độc tố trong
cơ thể
5 Xây dựng các công trình thủy điện
Việc làm thay đổi các kiểu nơi cư trú như vực sông, suối, ghềnh, bãi cát trên sông, đồng bằng ngập lụt ven sông, lòng sông dẫn đến thay đổi cấu trúc thành phần loài thủy sinh Nhịp sống của thủy sinh vật bị thay đổi Nhiều loài thủy sinh vật, đặc biệt các loài
có tập tính di cư dài, có tập tính di chuyển kết nối theo chiều dọc sông bị ảnh hưởng Thay đổi dòng chảy tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ngoại lai xâm nhập vào hệ sinh thái sông
Xây dựng các hồ chứa cho thủy điện làm mất đi các khu rừng tự nhiên, ngăn cản đường di cư của cá, phân cắt dòng sông Nhiều công trình hồ chứa thủy điện không vận hành đúng quy trình gây ra các thiệt hại về người, kinh tế, ảnh hưởng đến hệ sinh thái vùng hạ lưu Ngoài ra, việc phát triển cơ sở hạ tầng còn làm tăng dân số cơ học tạo ra tác động gián tiếp đến suy thoái đa dạng sinh học
Xây dựng các hồ chứa nước lớn làm mất đi một số diện tích rừng đồng thời cũng làm mất một số bãi đẻ trứng của nhiều loài cá có tập tính di cư lên thượng nguồn các sông đẻ trứng Hoạt động điều tiết của các hồ chứa nước lớn cũng đã làm thay đổi một số đặc điểm tự nhiên vùng hạ lưu và đặc biệt làm thay đổi chế độ mặn vùng nước cửa sông ven biển
6 Thiên tai
Thiên tai hủy hoại môi trường sống, thu hẹp nơi cư trú, hủy hoại nguồn dinh dưỡng, nguồn nước của các loài sinh vật, làm giảm đa dạng sinh học
Cháy rừng là nguyên nhân làm cho diện tích rừng bị suy giảm, phá vỡ cảnh quan, nơi cư trú, làm tổ, kiếm ăn của nhiều loài, làm giảm đa dạng sinh học Bên cạnh các diễn
Trang 8biến bất lợi của yếu tố thời tiết, khí hậu Việt Nam cũng như toàn cầu thì các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên rừng của người dân địa phương như đốt rừng làm rẫy, đốt than, hun khói lấy mật ong, khai thác gỗ chọn để lại cây bụi,… là những nguyên nhân gây cháy rừng
Vấn đề được đặt ra là việc nâng cao dân trí cho nhân dân trong công tác bảo vệ rừng, gắn bó chặt chẽ quyền lợi người dân, cán bộ nhân viên lâm ngư trường với rừng, đồng thời nêu rõ trách nhiệm các cấp trong công tác bảo vệ rừng, nghiêm trị các hành động phá hoại rừng
7 Biến đổi khí hậu
Nguy cơ của sự biến đổi khí hậu do các hoạt động của con người trong sản xuất công nghiệp, trong giao thông vận tải, do phá rừng đã làm cho lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính trong khí quyển ngày càng tăng cao Những tác động từ biến đổi khí hậu làm vấn nạn thiên tai, bão lũ, hạn hán ngày càng ác liệt, đe dọa đến đa dạng sinh học và cuộc sống của con người
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, các hệ sinh thái bị chia cắt sẽ phản ứng kém cỏi hơn trước những sự thay đổi này, sẽ không tránh khỏi sự mất mát các loài sinh vật với tốc
độ rất cao
Nhiệt độ tăng còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa gia tăng lượng phát thải khí nhà kính làm gia tăng biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu cùng với sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn, sử dụng tài nguyên nước không hợp lí dẫn tới hiện tượng lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất,
… xảy ra ngày càng nhiều, hậu quả ngày càng nghiêm trọng đối với đời sống con người
và môi trường
8 Sự gia tăng dân số quá mức, di dân tự do và sự nghèo đói
Hậu quả của gia tăng dân số đã làm nguồn tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm môi trường, giảm diện tích rừng, gây hiệu ứng nhà kính và đa dạng sinh học bị suy giảm
Khi dân số tăng cao, áp lực khai thác, sử dụng và tiêu thụ tài nguyên càng lớn hơn Sức ép lớn nhất là nhu cầu sử dụng đất để canh tác nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng tăng, dẫn đến việc chặt phá rừng khó kiểm soát chặt chẽ Do đó, tài nguyên sinh vật ngày càng cạn kiệt, số lượng các loài hoang dã ngày càng ít đi, khối lượng các quần thể sinh vật ngày càng suy giảm, nguồn gen ngày càng nghèo nàn
6 Công ước Cites là gì? Nội dung?
- Công ước cites là công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, được kí kết tại Washinton DC – Hoa kỳ vào ngày 1/3/1973, có hiệu lực vào ngày 1/6/ 1975
- Hiện nay có 173 quốc gia và cùng lãnh thổ tham gia vào CITES và Việt Nam là thành viên thứ 121
- Công ước CITES:
+ là công cụ hữu hiệu, bao gồm các quy định về buôn bán quốc tế, các loài hoang dã nhằm đảm bảo việc bảo tồn và sử dụng bền vững chúng
+ là một thỏa thuận giữa các chính phủ với mục đích đảm bảo các loài động vật, thực vật hoang dã được buôn bán quốc tế không bị khai thác quá mức
Trang 9+ Công ước CITES thiết lập một khung luật pháp quốc tế và cơ chế thủ tục chung cho việc ngăn chặn việc buôn bán quốc tế vì mục đích thương mại các loài nguy cấp, kiểm soát hiệu quả buôn bán các loài khác Khung luật pháp và cơ chế kiểm soát chung được
sử dụng ở 173 quốc gia, kiểm soát và giám sát việc buôn bán quốc tế tài nguyên sinh vật hoang dã
- Các loài thuộc diện quản lí CITES được xếp vào 3 phụ lục:
+ Phụ lục I: Các loài có nguy cơ tuyệt chủng
+ Phụ lục II: Các loài này có nguy cơ tuyệt chủng nhưng việc buôn bán cần được kiểm soát (phải có giấy phép) để tránh nguy cơ tuyệt chủng
+ Phụ lục III: Bao gồm các loài được bảo vệ ít nhất ở một nước và nước đó yêu cầu các thành viên khác hỗ trợ, kiểm soát buôn bán Các loài này được phép buôn bán nhưng phải
có giấy phép
Việt Nam đã hưởng ứng công ước Cites ra sao?
Việt Nam trở thành thành viên CITES vào năm 1994 Để thực hiện công ước CITES , bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành quyết định số 54/2006/QĐ- BNN, ngày 5/7/2006 về danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật thực vật hoang dã nguy cấp
- Ngày 14/8/2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 32/2006/ NĐ-CP, về quản lí thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp quí hiếm
- Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quí hiếm được phân thành hai nhóm như sau: + Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng động vật có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh
tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao
Thực vật rừng, động vật rừng nhóm I được phân thành:
Nhóm IA, gồm 15 loài thực vật rừng
Nhóm IB, gồm 62 loài động vât rừng
+ Nhóm II: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng
Thực vật rừng, động vật rừng nhóm II được phân thành:
Nhóm IIA, gồm 37 loài thực vật rừng
Nhóm IIB, gồm 89 loài động vật rừng
7 Vấn đề săn bắt, vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ các loài động vật hoang dã nguy cấp quý hiếm.
Thực trạng:
- Động vật hoang dã là một thành tố tất yếu của hệ sinh thái, chúng có vai trò to lớn trong cân bằng sinh thái, là những mắt xích quan trọng trong chu trình dinh dưỡng và tuần hoàn vật chất trên trái đất Đối với đời sống con người, ĐVHD là nguồn sống, chúng đáp ứng nhiều nhu cầu của con người: cung cấp thực phẩm, giải trí, khoa học, văn hóa…Tuy nhiên hiện nay tình trạng săn bắt, giết hại và buôn bán ĐVHD trái pháp luật có dấu hiệu gia tăng
Trang 10- Săn bắt: Từ rừng núi đến các khu bảo tồn quốc gia, tình trạng săn bắt động vật hoang
dã đã lên đến mức báo động, nơi nào động vật hoang dã cũng bị săn đuổi
- Vận chuyển: Tình trạng buôn bán vận chuyển ĐVHD ngày càng diễn biến phức tạp, rất quy mô, đặc biệt ngày càng gia tăng ở các cửa khẩu quốc tế
- Nuôi nhốt:
Hiện nay, phong trào mở các trang trại gây nuôi ĐVHD phát triển rất nhanh trên diện rộng Tại các trang trại này, ĐVHD được sinh trưởng và gây giống trong điều kiện nuôi nhốt nhằm mục đích khai thác con giống hay các sản phẩm từ chúng vì mục đích thương mại Chủ các trang trại gây nuôi khẳng định sản phẩm từ các trang trại của họ không chỉ giúp đảm bảo an ninh lương thực cho cộng đồng dân cư mà đó còn là biện pháp xoá đói giảm nghèo cho nông dân
Nhiều địa phương, tình trạng nuôi nhốt động vật hoang dã vì mục đích kinh doanh vẫn còn gây khó khăn cho cán bộ kiểm lâm không phân biệt được cá thể hợp pháp và bất hợp pháp Điều này đã vô tình tạo nên một thị trường hợp pháp song song với thị trường bất hợp pháp, tạo cơ hội cho các đối tượng săn bắt ĐVHD từ tự nhiên và hợp pháp hóa trong trang trại, thúc đẩy các hoạt động săn bắt bất hợp pháp Việc không kiểm soát tiêu chuẩn chuồng trại và điều kiện gây nuôi, an toàn kỹ thuật đã dẫn đến nhiều trường hợp người dân gặp nguy hiểm khi tiếp cận các khu vực nuôi nhốt ĐVHD nguy cấp, quý hiếm
- Buôn bán và tiêu thụ:
Đáng lo ngại, một số loài, sản phẩm của các loài thuộc Danh mục nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ như tê tê, gấu, sừng tê giác, ngà voi đang trở thành hàng hóa được tiêu thụ trong nước và được chung chuyển xuyên biên giới sang một số nước trong khu vực Một số loài quý hiếm ở Việt Nam như tê giác Java và bò xám hiện đã tuyệt chủng trong tự nhiên; các loài khác như hổ, voi và một số loài linh trưởng, rùa quý hiếm, đặc hữu cũng đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
Nhu cầu sử dụng ĐVHD làm thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đồ trang sức, thời trang, mỹ nghệ, trưng bày, trang trí, quà biếu, tặng dường như không giảm mà có xu hướng tăng
Do đó tình trạng buôn bán, tiêu thụ ĐVHD ở nước ta tiếp tục gia tăng thời gian qua, do dân số tăng kéo theo áp lực về khai thác, tiêu dùng ĐVHD là thực phẩm và làm thuốc, nhất là một số loài ĐVHD được quảng bá về những tính năng đặc biệt như bồi bổ sức khỏe, chữa bệnh nan y Tuy nhiên, đến nay có rất ít bằng chứng khoa học chứng minh được các công dụng đó
Tình hình buôn bán ĐVHD tại Việt Nam đang diễn ra hết sức phức tạp với nhiều thủ đoạn rất tinh vi Bọn buôn lậu sử dụng các tuyến đường bí mật và các phương tiên chuyên chở cũng như liên lạc hiện đại nhằm đối phó với các cơ quan chức năng Nhiều chủ buôn bán sử dụng giấy tờ giả mạo, khai báo sai về số loài, số lượng ĐVHD Các loài
bị buôn lậu chủ yếu như: rắn, rùa, các loại tê tê, gấu, các loài khỉ, các loài ếch nhái , chim…
ĐVHD trong nước chủ yếu được cung cấp cho các nhà hàng thịt thú rừng Lợi nhuận thu được từ việc buôn bán bất hợp pháp các loài ĐVHD là rất lớn
Nguyên nhân: