1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ GIẢI MÃ BỘ GEN NGƯỜI VÀ Ý NGHĨA TRIẾT HỌC CỦA NÓ

24 174 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 410,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh học là một bộ môn khoa học về sự sống, về những quy luật hình thành, vận động và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năn

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Xuyên suốt quá trình phát triển của xã hội loài người, chúng ta đã, đang và sẽ còn tiếp tục tìm hiểu về thế giới, về vị thế của con người trong thế giới đó, hay nói khác hơn là mối quan hệ giữa con người và thế giới, giữa con người với chính mình Bước sang thế kỷ 21, một kỷ nguyên mà khoa học đang phát triển như vũ bão, cùng với xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế,… đã làm cho xã hội của loài người từng bước chuyển mình mạnh mẽ

Thực tế lịch sử của thế giới và của các quốc gia trong tiến trình phát triển những thập niên gần đây cho thấy, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của các nước phụ thuộc rất lớn vào tiềm lực khoa học, công nghệ của các quốc gia đó [1, tr.174] Thật vật, muốn xã hội phát triển, thì trước hết cần đầu tư vào sự phát triển của lực lượng sản xuất, mà trong đó quan trọng nhất là sự phát triển của người lao động và công cụ lao động Khoa học – kỹ thuật – công nghệ trong thế kỷ 21 này đã làm rất tốt vai trò đó Khoa học là hệ thống tri thức phản ánh chân thực nội dung, bản chất, những quy luật chi phối quá trình hình thành, phát sinh, phát triển, chuyển hóa của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ Khoa học bao gồm nhiều bộ môn khoa học cụ thể khác nhau như toán học, lý học, hóa học, sinh học,… và giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại, đồng thời, cũng tác động đến triết học

Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về bản thân con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy [1, tr.9] Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn Triết học với chức năng cơ bản của nó là cung cấp thế giới quan và phương pháp luận chung nhất cho con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

Sinh học là một bộ môn khoa học về sự sống, về những quy luật hình thành, vận động và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật với môi trường Những tiến bộ của tri thức loài người đã dẫn đến sự hình thành và phát triển của nhiều ngành khoa học, mà Sinh học là một ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu thế giới sinh vật,

có vị trí và vai trò đặc biệt đối với con người Thứ nhất, đây là ngành khoa học mà

Trang 2

con người nghiên cứu thế giới sinh vật và cả chính bản thân mình, đồng thời những thành tựu của nó phục vụ trực tiếp nhiều nhất cho con người Thứ hai, đây là ngành khoa học rất gần gũi nhưng đầy bí ẩn đối với con người Thứ ba, phạm vi nghiên cứu rất rộng: từ nguồn gốc sự sống, sự chuyển tiếp vô sinh thành sinh vật, đến nguồn gốc loài người chuyển từ sinh vật sang đời sống xã hội Hoạt động sống vô cùng phức tạp

và tinh vi, nhưng vẫn tuân theo các quy luật vật lý, hóa học, nên các kiến thức của nhiều ngành khoa học khác như vật lý, hóa học, địa chất, địa lý rất cần cho nghiên cứu sinh học Thứ tư, đây là ngành khoa học có quá khứ lâu đời, nhưng luôn mới mẻ

và triển vọng to lớn Các kiến thức về sinh giới đã được tích lũy ngay từ khi xuất hiện loài người Những tiến bộ của khoa học thế kỷ 20 đã giúp sinh học đạt được những thành tựu rực rỡ dẫn đến cách mạng công nghệ sinh học, nhưng nhiều thách thức hết sức to lớn còn ở phía trước Do đó, không lạ gì khi thế kỷ 21 là thế kỷ Sinh học [5, tr.1]

Trong quá trình phát triển của mình, khoa học sinh học đã không ngừng mang lại những thành tựu đáng ngạc nhiên, mà nhiều trong số đó đã góp phần thay đổi toàn bộ quan niệm của nhân loại, mở ra một chân trời mới Một trong số những thành tựu của khoa học sinh học phải kể đến như: Cách mạng công nghệ sinh học, Nhân bản vô tính động vật, Tế bào gốc soma, Dự án bộ gen người, Cây trồng biến đổi gen,… Trong

đó, Dự án bộ gen người đã trực tiếp đánh dấu một bước nhảy vọt Dự án bộ gen người

(tiếng Anh: Human Genome Project - HGP) là một dự án nghiên cứu khoa học mang tầm quốc tế Mục đích chính của dự án là xác định trình tự của các cặp cơ sở (base pairs) tạo thành phân tử DNA và xác định khoảng 25.000 gen trong bộ gen của con người Dự án khởi đầu vào năm 1990 với sự đứng đầu của James D Watson Bản phác thảo đầu tiên của bộ gen đã được cho ra đời vào năm 2000 và hoàn thiện vào năm 2003 Một dự án song song cũng được thực hiện bởi một công ty tư nhân tên là Celera Genomics [5, tr 16-17] Việc xác định toàn bộ bộ gen người là một bước tiến quan trọng trong việc phát triển thuốc và các khía cạnh chăm sóc sức khỏe khác Dù mang lại những lợi ích to lớn, song việc giải mã được bộ gen người cũng đồng thời mang lại những thách thức và tranh cãi trong giới khoa học cho đến hiện nay Mặt

Trang 3

khác, trên tiền đề của dự án, khoa học sinh học vẫn đang tiếp tục hướng đến những nghiên cứu mới, góp phần tích lũy kiến thức để giúp con người đạt được mục đích chung nhất là tìm hiểu về thế giới, về bản thân con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Tại một cuộc họp báo, Tiến sĩ Michael Dexter, Giám đốc của khu nghiên cứu gen Wellcome Trust, (gần Cambridge, Anh), cho biết: “Việc lập bản

đồ gen người được so sánh với sự kiện đưa con người lên mặt trăng Nhưng tôi tin rằng nó còn hơn thế Đây là những thành tựu trí thức đột phá, không chỉ trong thế hệ chúng ta mà là trong toàn bộ lịch sử của loài người” Việc lập bản đồ trình tự hoá học DNA của con người có thể sẽ mở màn cho một cuộc cách mạng trong ngành y học

Dữ liệu thu được từ dự án sẽ giúp các nhà khoa học tìm ra những cách thức mới chữa trị hiệu quả những căn bệnh hiểm nghèo như đái đường, ung thư và thậm chí cả các bệnh về thần kinh

Xuất phát từ những nguyên nhân trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Vấn đề giải

mã bộ gen người và ý nghĩa triết học của nó”

Trang 4

Chương I MỐI QUAN HỆ GIỮA KHOA HỌC SINH HỌC

VÀ TRIẾT HỌC 1.1 Khái quát chung về Sinh học và Triết học

1.1.1 Sinh học

1.1.1.1 Định nghĩa và các bộ môn sinh học

Sinh học là một môn khoa học về sự sống (tiếng Anh là Biology, bắt nguồn từ

tiếng Hy Lạp với bios là sự sống và logos là môn học)

Sinh học nghiên cứu vô số các dạng sinh vật trên nhiều khía cạnh khác nhau như cấu trúc, chức năng sự phát triển cá thể, sự tiến hóa và mối quan hệ với môi trường… và ở các mức tổ chức khác nhau như mức phân tử, tế bào, cơ thể loài và trên loài… Nó là một khoa học rất rộng lớn, nên khó có nhà khoa học nào biết được đầy đủ mọi khía cạnh của nó, phần lớn các nhà sinh học là chuyên gia của một lĩnh vực nào đó được gọi là bộ môn của sinh học Mỗi bộ môn chuyên sâu ở những lĩnh vực nhất định và giữa chúng có không ít chỗ trùng lặp [5, tr 12]

Sinh học có rất nhiều bộ môn, nên còn gọi là các khoa học về sự sống Sau đây

là một số bộ môn chủ yếu: Thực vật học, động vật học, hệ thống học hay phân loại học, giải phẫu học, sinh lý học, sinh học phát triển, tế bào học, mô học, di truyền học, sinh hóa học, lý sinh học, sinh môi học, vi sinh học [5, tr 12]

So với các bộ môn khoa học tự nhiên khác, Sinh học ra đời muộn hơn Sự xuất hiện của Sinh học có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của khoa học và trong lịch sử phát triển nhận thức con người Nó giúp con người hiểu biết những quy luật hình thành, vận động và phát triển sự sống diễn ra trong sinh vật, nó giải đáp được những vấn đề cụ thể về sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật với môi trường Từ đó con người có thể tìm ra được những quy luật hình thành và phát triển của các loài động, thực vật và sau đó vận dụng vào trong hoạt động thực tiễn nhằm tạo ra những điều kiện phục vụ cho lợi ích của cuộc sống [3, tr.137]

Trong lịch sử phát triển của Sinh học, mỗi một giai đoạn khác nhau thì sự tác động của Sinh học đối với khoa học khác có khác nhau Trong những giai đoạn đầu,

sự tác động của Sinh học đối với khoa học khác còn chưa mạnh mẽ, chưa rộng khắp

Trang 5

Càng về sau, sự tác động đó càng diễn ra mạnh mẽ hơn, rộng lớn hơn Đến giai đoạn hiện nay, những tác động của Sinh học đã tạo ra sự khởi đầu kỳ diệu trong sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như tìm hiểu bước đầu cấu trúc của con người [3, tr.137]

1.1.1.2 Sơ lược lịch sử phát triển

Thế giới sinh vật đã sản sinh ra con người và cung cấp những nhu cầu sống thiết yếu cho họ Do đó từ lâu loài người đã tích lũy nhiều kiến thức về thế giới sinh vật trong đó có những hiểu biết về bản thân cơ thể mình Rải rác ở Trung Quốc, Ấn

Độ, Ai Cập, Hy Lạp và nhiều nước các nghiên cứu về thế giới sinh vật đã được nói tới nhiều nghìn năm trước công nguyên [5, tr.11]

Những kiến thức sinh học đã được những người cổ Hy Lạp và La Mã hệ thống lại Họ đã mô tả nhiều thực vật và động vật đương thời Từ thời Aristotle (384-322 trước công nguyên) đã có những học thuyết về sinh vật Galen (131-200 sau công nguyên) là nhà sinh lý học thực nghiệm đầu tiên nghiên cứu chức năng của thần kinh

và máu Những mô tả của ông về giải phẫu người có giá trị trong vòng 1300 năm Pliney (23-79 sau công nguyên) đã soạn bách khoa toàn thư ghi lại một số sự kiện về sinh vật Thời trung cổ, các mô tả về động thực vật được tiếp tục tiến hành Ở thời phục hưng, nghiên cứu sinh học được đẩy mạnh như các ngành khoa học khác Vesalius (1514-1564), Harvey (1578-1657) và John Hunter (1728-1793) đã nghiên cứu cấu trúc và chức năng của động vật nói chung và ở người, đã đưa đến sự hình thành giải phẫu học và sinh lý học Nhờ phát minh ra kính hiển vi ở thế kỷ 17, Malpighi (1628-1694), Swammerdam (1637-1680) và Leeuwenhoek (1632-1723) nghiên cứu cấu trúc tinh vi của một số động vật và thực vật Leeuwenhoek là người đầu tiên mô tả vi khuẩn, nguyên sinh động vật và tinh trùng Carl Linnaeus (1707-1778) là nhà sinh học Thụy Điển đã đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng hệ thống học thực vật và động vật [5, tr.14]

Trong thế kỷ 19 sinh học phát triển mạnh và có những phát minh lớn:

- Học thuyết tế bào do Schleiden và Schwann nêu ra năm 1838, 1839

- Học thuyết tiến hóa của thế giới sinh vật do Charles Darwin nêu ra trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” năm 1859

Trang 6

- Năm 1865 Gr Mendel nêu ra khái niệm về gen

Những phát minh này đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển sinh học và làm cho sinh học tách biệt khỏi triết học, thành ngành độc lập

Sinh học tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng nhanh hơn ở thế kỷ 20 Các thành tựu lớn đáng kể là:

- Tìm ra bản chất các enzyme và vai trò của chúng trong quá trình trao đổi chất

- Gen kiểm tra quá trình trao đổi chất: giả thuyết 1 gen – 1 enzyme

- Đặc biệt, năm 1953 phát minh chuỗi xoắn kép DNA Watson – Crick đã dẫn

đến sự hình thành và phát triển Sinh học phân tử Năm 1956, F Crick nêu ra Học thuyết trung tâm: DNA → RNA → Protein Vào thập niên 1960, các phát minh quan

trọng liên tiếp ra đời: mã di truyền (1966), điều hòa biểu hiện gen (1962)…

- Các hormone điều hòa chức năng của các tế bào

- Học thuyết về hoạt động thần kinh cấp cao

- Các mối quan hệ tương hỗ giữa các sinh vật và môi trường

- Năm 1972 – 1973, kỹ thuật di truyền ra đời làm bùng nổ cách mạng công nghệ sinh học, làm cho con người có khả năng vượt giới hạn tiến hóa và thay quyền

“tạo hóa” cải biến các sinh vật, kể cả con người

Sau phát minh Watson – Crick 1953, giới khoa học đã tiên đoán thế kỷ 21 là thế kỷ Sinh học và sự phát triển vượt bậc của sinh học ở nửa cuối thế kỷ 20 đã biến

dự báo thành hiện thực Sinh học hiện đại phát triển trên tất cả các lĩnh vực với tốc

độ chưa từng thấy như trong Sinh học phân tử, Di truyền học, Vi sinh vật học, Hóa sinh học, Sinh học phân tử của tế bào và Sinh học phát triển Ranh giới giữa các bộ môn đã mờ nhạt dần trong những thập niên cuối thế kỷ 20 và nghiên cứu sự sống với lối tiếp cận đa ngành được cảm nhận ở nhiều phòng thí nghiệm Sự phát triển vượt bậc đó thể hiện ở mọi mặt như phát triển lực lượng, chiều rộng, chiều sâu, tốc độ và tầm ảnh hưởng Ví dụ, về:

- Lực lượng: số lượng các nhà sinh học cũng tăng vọt theo thời gian, mà như đánh giá của J Watson, lúc ông nhận giải Nobel về mô hình DNA (năm 1962) có

Trang 7

khoảng 100 người nghiên cứu về DNA, đến cuối năm 1989 con số đó là 100000 Như vậy, về nghiên cứu DNA trong gần 30 năm, số người tham gia đã tăng 1000 lần

- Tốc độ: thời gian cần để giải ký tự chuỗi nucleotide của bộ gen người tiến triển như sau: vào năm 1980, phải cần 1000 năm; vào năm 1990 chỉ cần 100 năm; năm 2000 chỉ trong 1 năm và đến nay có thể chỉ trong ít hơn 1 ngày [5, tr.14-15]

Nếu xét riêng về mặt ứng dụng thực tiễn mà sinh học mang lại, đã có những thành tựu đáng kể, trong đó nhất thiết phải nhắc đến “Dự án bộ gen người” Nhờ những thành tựu mới của kỹ thuật di truyền vào đầu năm 1990, Mỹ đã chấp nhận đầu

tư 3 tỷ USD trong 15 năm cho Dự án xác định chi tiết trình tự từng nucleotide DNA hay gọi ngắn gọn là giải ký tự chuỗi của bộ gen người Số tiền tương đương cho việc đưa người lên mặt trăng của Mỹ James Watson là người được chọn để lấy DNA phân tích nên vấn đề được gọi là “DNA của James” Ngày 26-6-2000, lần đầu tiên công bố kết quả giải ký tự chuỗi của bộ gen người Tháng 4-2003 giải ký tự chuỗi bộ gen người đã ở dạng hoàn chỉnh với độ chính xác cao Thành tựu này là một kỳ công vĩ đại của loài người Đặc biệt, việc công bố Giải ký tự bộ gen người sớm hơn dự kiến

3 năm đã đánh dấu cột mốc lịch sử và mở ra một chân trời rộng lớn cho nghiên cứu

và khai thác ở trình độ cao hơn trong thế kỷ 21 Thời đại sau bộ gen bắt đầu với nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ mới do sự tích hợp và chuyên hóa khoa học như: Tin-Sinh học, Biochip và microarrays, Công nghệ sinh học siêu nhỏ… [5, tr.16-17]

1.1.2 Triết học

1.1.2.1 Khái niệm

Theo tiếng Ấn Độ cổ xưa, thuật ngữ Triết học có tên gọi là Darsana, có nghĩa là con đường chiêm ngưỡng, suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải [3, tr.9] Trong tiếng Trung Quốc, thuật ngữ Triết học được gọi là “tri xuế”, có nghĩa là học cách dùng trí tuệ để truy tìm bản chất của sự vật Còn trong tiếng Hy Lạp, thuật ngữ

“Triết học” bắt nguồn từ chữ “Philosophia” Từ “Philisophia” được hình thành từ sự ghép nối của hai từ “Philos” là yêu mến và “Sophia” là sự thông thái Vì thế, lý giải theo từ gốc thì “Triết học” có ý nghĩa là yêu mến sự thông thái Tuy nhiên, sự lý giải theo từ gốc như vậy chưa nêu lên được nội hàm của khái niệm Triết học Bởi vì, nó

Trang 8

không chỉ ra được đối tượng, nội dung, bản chất và nhiệm vụ của Triết học Chỉ có thể đưa ra một định nghĩa đúng đắn về Triết học khi chú ý đến những đặc điểm, bản chất của nó so với các khoa học và các hình thái ý thức xã hội khác; khi chỉ ra được đối tượng, nội dung, chức năng và nhiệm vụ của Triết học [3, tr.9]

Theo Từ điển bách khoa triết học mới của Viện Triết học Nga, “Triết học là hình thức đặc biệt của nhận thức và ý thức xã hội về thế giới, được thể hiện thành hệ thống tri thức về những nguyên tắc cơ bản và nền tảng của tồn tại người, về những đặc trung bản chất nhất của mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và với đời sống tinh thần [1, tr.8-9]

Như vậy, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận phổ quát nhất của con người về thế giới, về vị thế và khả năng của con người trong thế giới ấy Triết học gần hay xa thực tiễn cũng đều ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu của thực tiễn [1, tr.9]

1.1.2.2 Triết học Mác – Lênin

Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX là một tất yếu lịch sử Đó

là sự kết tính có tính quy luật của tư tưởng triết học nhân loại, trên cơ sở điều kiện lịch sử và sự phát triển của khoa học tự nhiên [1, tr.107]

Đối với tiền đề khoa học tự nhiên, vào giữa thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt được những thành tựu nổi bật về khoa học tự nhiên Các nhà khoa học R Maye và P.P

Giulơ đã phát minh ra Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng; Học thuyết tế bào đã được khám phá bởi các nhà khoa học Svan và Slayđen của Đức; Darwin – nhà sinh học nổi tiếng của Anh, đã phát minh ra Học thuyết tiến hóa Những phát minh

vạch thời đại trong khoa học tự nhiên, cùng với những thành tựu khoa học khác trong vật lý, hóa học, sinh học là cơ sở để C Mác xây dựng và phát triển tư tưởng biện chứng trong học thuyết triết học của mình [1, tr.108]

1.2 Mối quan hệ giữa Triết học và Sinh học

Nếu như sinh học là một môn khoa học về sự sống, về những quy luật hình thành

và phát triển của sự sống diễn ra trong sinh vật, là sự giải đáp những vấn đề cụ thể về

sự trao đổi năng lượng giữa cơ thể động vật và thực vật với môi trường, thì triết học

Trang 9

là một hệ thống những tri thức lý luận chung nhất về tự nhiên, xã hội và tư duy, về vai trò, vị trí của con người trong thế giới ấy

Sinh học là một nhánh của khoa học tự nhiên Nó có mối quan hệ chặt chẽ với tất

cả các môn khoa học khác và tất nhiên triết học không nằm ngoài mối quan hệ đó Giữa sinh học và triết học có mối quan hệ chặt chẽ tác động biện chứng qua lại với nhau không thể tách rời Mối quan hệ tác động hai chiều đó được thể hiện ở vai trò của triết học đối với sinh học và ngược lại

1.2.1 Triết học trong Sinh học theo quan điểm Mac – Lenin

Ăngghen bàn đến ba vấn đề: nguồn gốc sự sống, thuyết tế bào và học thuyết Darwin

Ăngghen đã đặt vấn đề nghiên cứu về nguồn gốc sự sống: “Tất cả những sự nghiên cứu từ trước đến nay đều quy về một vấn đề là: trong những chất lỏng có chứa các thể hữu cơ bị phân hoá và tiếp xúc với không khí, có những thể hữu cơ hạ đẳng: đơn sinh vật nguyên thuỷ, nấm và mao trùng Chúng sinh ra từ đâu? Có phải chúng sinh

ra bằng con đường Generatio aequivoca hay là từ những mầm mống do không khí đã đem vào? Như thế là sự nghiên cứu của chúng ta bị hạn chế trong một lĩnh vực hoàn toàn hẹp, trong vấn đề sự phát sinh trong nguyên hình chất” [2 tr.737,804,811] Tiếp sau, Ăngghen lại chỉ ra con đường để đi tìm nguồn gốc sự sống, một vấn đề phức tạp nhất của khoa học tự nhiên

Trước hết, Ăngghen đã nêu lên định nghĩa sự sống: “Sự sống là phương thức tồn tại của các thể anbumin mà yếu tố quan trọng của nó làsự trao đổi thường xuyên chất với giới tự nhiên bên ngoài bao quanh nó” [2, tr.811-812, 677] Định nghĩa này là một quan điểm khoa học đúng đắn về bản chất sự sống, có tác dụng để giải thích sự

ra đời của sự sống trên trái đất Ăngghen nêu lên đặc trưng căn bản phương thức tồn tại của thể anbumin là “sự trao đổi thường xuyên chất với giới tự nhiên bên ngoài bao quanh nó” Ăngghen tiếp tục cho rằng: “Hơn nữa khi sự trao đổi chất ấy chấm dứt thì

sự sống cũng chấm dứt và anbumin bắt đầu bị phân huỷ Nếu một ngày kia, người ta chế tạo thành công các anbumin bằng phương pháp hoá học thì nhất định chúng sẽ

Trang 10

biểu lộ những hiện tượng của sự sống, chúng sẽ thực hiện sự trao đổi chất, dù sự trao đổi đó có yếu ớt và ngắn ngủi như thế nào chăng nữa” [2, tr.811-812, 677]

Khoa học ngày càng tiếp cận đến vấn đề tạo ra sự sống từ chất vô cơ, Nhưng đó là một quá trình khó khăn và lâu dài Ăngghen viết: “Nhưng yêu cầu hoá học một sớm một chiều phải tạo ra được cái mà chính giới tự nhiên chỉ có thể làm được trong những hoàn cảnh hết sức thuận lợi, trên những thiên thể riêng biệt, trải qua hàng triệu năm,

- như thế có nghĩa là yêu cầu một phép lạ” [2, tr.805.]

Ăngghen phê phán quan niệm về “tính vĩnh viễn của sự sống” và quan niệm cho rằng mầm mống sự sống được đưa từ ngoài vào trái đất Những quan điểm đó là của nhà hoá học Đêxennhơ, nhà vật lý Hemhôntxơ Nếu như vậy thì phải giả định chất anbumin có tính vĩnh viễn (có thể tồn tại trong mọi điều kiện) và những hình thái hữu

cơ cơ bản mà từ đó phát triển ra toàn bộ giới hữu cơ cũng là vĩnh viễn Nhưng cả hai điều đó đều vô lý Quan niệm về tính chất vĩnh viễn của sự sống cũng đưa tới chủ nghĩa duy tâm Cho đến khi “thuyết tiến hoá” của Darwin chứng minh rằng sự tồn tại của giới hữu sinh cao là từ giới hữu sinh thấp phát triển lên Những nhà duy tâm lại nói rằng giới hữu sinh tồn tại vĩnh viễn Họ cho rằng trước hết một đấng siêu tự nhiên nào đó sáng tạo ra giới hữu sinh thấp rồi mới sáng tạo ra giới hữu sinh cao nhất Ăngghen dựa vào khoa học tự nhiên cho rằng, giới hữu sinh phát triển từ giới vô sinh

mà ra, và để phát triển từ vô sinh đến hữu sinh phải có những điều kiện nhất định Ăngghen nói rằng những điều kiện nhất định đó đã từng có ở trên trái đất Khoa học

tự nhiên bây giờ chứng minh các hình thức tồn tại thống nhất của giới hữu sinh là anbumin, nếu đi qua khoảng không vũ trụ thì nó sẽ chết đi Vì vậy, nếu trong vũ trụ

có thiên thể nào đó có sinh vật thì cũng là do ở chính thiên thể đó đã có những điều kiện để tạo ra giới sinh vật đó Vấn đề này rất phức tạp, tức là con người chỉ quan niệm rằng các sinh vật phải có ô xy mới sống được Sau này người ta nói: một sinh vật không cần có ô xy mà vẫn sống được Và hiện nay các khoa học nghiên cứu về

vũ trụ chứng minh rằng, những sinh vật nhỏ nhất nếu phải đi qua khoảng không vũ trụ thì nhất định bị tiêu diệt

Trang 11

Ăngghen chứng minh rằng, sự sống đã tồn tại trước khi xuất hiện tế bào và cơ thể phát triển, bản thân tế bào đã xuất hiện và phát triển từ những hình thái hữu cơ đơn giản, do đó cũng đả kích mạnh mẽ quan điểm của Viécxốp cho rằng tế bào chỉ có thể

do tế bào mà sinh ra Những người máy móc và duy tâm như Viécxốp đã xuyên tạc thực chất của “thuyết tế bào” Họ nêu ra luận điểm hoàn toàn sai lầm rằng, ở ngoài tế bào thì không có sự sống, mọi cái hữu sinh đều nhất định phải có kết cấu tế bào Như vậy, họ đã tạo nên hố ngăn cách tuyệt đối không những giữa giới hữu sinh và giới vô sinh mà cả giữa cơ thể có tế bào và tất cả các hình thái đơn giản của tự nhiên hữu sinh

Xuất phát từ tư tưởng biện chứng về liên hệ phổ biến và sự phát triển của tự nhiên, tức là xuất phát từ phương pháp biện chứng, Ăngghen đã bác bỏ những luận điểm siêu hình và duy tâm ấy của phái Viếcxốp Ăngghen không những vạch rõ khả năng

mà còn nhấn mạnh tính tất yếu của việc phát sinh ra tế bào từ chất anbumin sống không có kết cấu tế bào Ăngghen cho rằng: “Thật là điên rồ nếu muốn giải thích rằng

sự sinh sản, dù là chỉ của một tế bào duy nhất đi nữa, là trực tiếp xuất phát từ vật chất

vô cơ, chứ không phải từ anbumin sống không có cấu trúc…” [2, tr.817-818, 818.] Nhận định của Ăngghen về sự tồn tại của sự sống trước khi có các hình thái tế bào

đã được chứng thực với việc phát hiện ra siêu vi trùng Hiện nay, các môn khoa học

tự nhiên như sinh vật học, hoá học v.v., đã chứng minh rằng có sự sống ngoài tế bào Ăngghen vạch rõ sự trao đổi chất thường xuyên giữa các thể anbumin với tự nhiên bên ngoài là dấu hiệu căn bản của sự sống và nêu lên sự khác nhau về nguyên tắc giữa sự trao đổi chất của các vật vô cơ với sự trao đổi chất của các vật hữu cơ: các vật vô cơ thì bị phá hoại bởi sự trao đổi chất với tự nhiên bên ngoài, còn đối với vật hữu cơ thì trao đổi chất lại là điều kiện tất yếu để tồn tại Ví dụ, sắt để trong không khí, do sự tác động qua lại của không khí nên nó bị rỉ, đối với vật vô cơ là như vậy, còn đối với vật hữu cơ (phương thức tồn tại của các thể anbumin) thì phải có sự trao đổi chất, đó là dấu hiệu căn bản và đặc trưng của sự sống; đồng thời, cho thấy những biểu hiện phức tạp hơn của sự sống ở những cơ thể phát triển cao

Trang 12

Ăngghen đặc biệt chú ý những kết luận triết học rút ra từ học thuyết của Darwin, kết hợp với tất cả các phát hiện khoa học tự nhiên, Ăngghen nhận định học thuyết của Darwin trên quan điểm duy vật biện chứng Ông đánh giá rất cao học thuyết này

ở chỗ, nó vạch rõ sự liên hệ phổ biến và sự phát triển trong giới tự nhiên hữu sinh Đồng thời, Ăngghen cũng kịch liệt phê phán những nhược điểm của thuyết Darwin

mà các học giả tư sản ra sức lợi dụng để chống lại quan điểm duy vật biện chứng về

tự nhiên Một số học giả tư sản theo thuyết Darwin không hiểu vai trò của điều kiện vật chất của sự sống nên đã thổi phồng một số mặt của sự “đào thải tự nhiên”, coi đây

là một thứ sức mạnh nguyên thuỷ vốn có Do đó họ coi nhẹ và thậm chí phủ nhận mối liên hệ có quy luật giữa cơ thể với hoàn cảnh, tức là xuyên tạc phép biện chứng của

tự nhiên Với lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ăngghen kiên quyết bác

bỏ sự tách rời cơ thể sống với điều kiện sống của cơ thể, tức là môi trường bên ngoài Ăngghen vận dụng triệt để quan điểm duy vật biện chứng đối với giới tự nhiên hữu sinh và bác bỏ những sai lầm chịu ảnh hưởng của thuyết Mantút của Darwin và tất cả những gì mà về sau hợp thành thuyết Darwin mới và thuyết Vácnerơ Để chứng minh mối liên hệ của cơ thể sống với môi trường, Ăngghen dẫn những sự việc hình thành giống mới và biến đổi giống do ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài Và, Ăngghen nhấn mạnh, “cần phải dứt khoát tách khỏi những cuộc đấu tranh này, những điều kiện

mà trong đó các loài biến đổi đi - những loài cũ bị tiêu diệt đi và những loài mới phát triển hơn thay thế chúng - dù không có sự sinh sôi quá thừa: tỷ dụ như khi động vật hoặc thực vật di chuyển sang những vùng mới mà những điều kiện mới về khí hậu,

về thổ nhưỡng, vân vân, ở đó gây ra những biến đi Nếu ở những nơi này, có những

cá thể thích nghi được sẽ tồn tại rồi do sự thích nghi ngày càng tăng mà biến đổi thành một loài mới, trong khi đó có những cá thể khác, ổn định hơn, bị diệt vong và cuối cùng là diệt vong đồng thời với những hình thức trung gian chưa hoàn bị, thì điều đó vẫn có thể xảy ra, và thực tế đã xảy ra mà không cần có một chủ nghĩa Mantút nào cả” [2, tr.817-818]

Ăngghen phê phán quan điểm siêu hình coi “đấu tranh sinh tồn” là nguồn gốc chủ yếu của sự phát triển các giống loài Ăngghen dựa vào lý luận về sự phát triển đã gạt

Ngày đăng: 14/06/2020, 20:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w