Xuyên suốt lịch sử phát triển của nhân loại, con người từ sâu thẳm nội tâm luôn khao khát có được tự do và đi tìm tự do. Trong triết học, tự do là một trong những đề tài tranh cãi giữa các triết gia. Trong khi Augustine, Rousseau, Kierkegaard và Sartre cho rằng con người có “ý chí tự do” (Free Will); thì các triết gia khác như Hobbes, Schopenhauer, Marx, Freud, Dennett và Churchland lại phản đối, họ cho rằng mỗi người đều bị “định mệnh” (Determinism) chi phối, mọi sự đã được quyết định trước rồi, không hề có cái gọi là ý chí tự do . Giả như con người không có quyền tự do, thì mọi cố gắng trong cuộc sống trần thế này kể như vô nghĩa. Giả như con người có được quyền tự do, thì con người phải sống như thế nào mới là tự do đích thực? Chính suy tư này đã thúc đẩy các triết gia tiếp tục đi tìm ý nghĩa của tự do, mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Xuyên suốt lịch sử phát triển của nhân loại, con người từ sâu thẳm nội tâm luôn khao khát có được tự do và đi tìm tự do
Trong triết học, tự do là một trong những đề tài tranh cãi giữa các triết gia Trong khi Augustine, Rousseau, Kierkegaard và Sartre cho rằng con người có “ý chí tự do” (Free Will); thì các triết gia khác như Hobbes, Schopenhauer, Marx, Freud, Dennett và Churchland lại phản đối, họ cho rằng mỗi người đều bị “định mệnh” (Determinism) chi phối, mọi sự đã được quyết định trước rồi, không hề có cái gọi là ý chí tự do1 Giả như con người không có quyền tự do, thì mọi cố gắng trong cuộc sống trần thế này kể như vô nghĩa Giả như con người có được quyền tự
do, thì con người phải sống như thế nào mới là tự do đích thực? Chính suy tư này đã thúc đẩy các triết gia tiếp tục đi tìm ý nghĩa của tự do, mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm
Nhìn ở một góc độ, con người phân biệt với các động vật khác chính tại ở ý chí và tự do Nếu con vật hành động theo bản năng, đói thì ăn, thì con người lại hoàn toàn khác, con người biết cân nhắc để lựa chọn ăn hoặc không ăn Thậm chí, con người lựa chọn thức ăn theo sở thích, tiêu chuẩn riêng Hành động đó tự nó đã
là một thứ tự do, bởi “căn do tại mình” Không dừng lại ở đó, con người hướng đến những ý nghĩa tự do lớn lao hơn Nhưng cũng bởi vì thế, con người rơi vào một thách đố giữa tự do và nô lệ
Thật vậy, con người dễ rơi vào nhầm lẫn tai hại, con người biện minh cho hành động bằng mục đích đi tìm tự do Khi đó con người trở thành nô lệ, nô lệ cho tội lỗi của chính mình hoặc nô lệ cho cái nhìn của kẻ khác Những hình thức nô lệ
về mặt tinh thần này không dễ nhận thấy như nô lệ thân xác, nhưng nó khiến con người không được sống là chính mình
Từ những suy tư trên, tiểu luận này đề cập đến ý nghĩa của tự do đích thực, cũng như sự khủng hoảng ý nghĩa của tự do và nô lệ, trên quan điểm đồng ý rằng
con người có tự do.
1 Louis P Pojman Who Are We? Theories of Human Nature Oxford University Press 2006 tr 250.
Trang 2Chương I TỰ DO TRONG CÁI NHÌN CỦA MỘT SỐ QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC
1.1 Thời kỳ Cổ đại và Trung cổ
Đối với Plato (khoảng 428/427 - 348/347 TCN), tự do là một kiểu tự chủ, đạt được bằng cách phát triển các đức tính khôn ngoan, dũng cảm và tiết độ, dẫn đến việc giải phóng một người khỏi sự thống trị của những ham muốn thấp hèn và đạt được sự hiểu biết chính xác hơn và kiên quyết theo đuổi điều tốt đẹp2
Trong Quyển III của Đạo đức học Nicomachean, Aristotle (384 - 322 TCN) nói rằng, không giống như các sinh vật phi lý trí, con người có quyền làm hoặc không làm, và phần lớn những gì chúng ta làm là tự nguyện, do đó bản chất của tự
do là ở trong chúng ta và chúng ta nhận thức được 3
Augustine (354 - 430) đấu tranh để tập hợp lại thành một tổng thể chặt chẽ các học thuyết cho rằng việc lạm dụng tự do của con người, là nguồn gốc của tội ác trên thế giới Ông khẳng định rõ ràng rằng ý chí về bản chất là một sức mạnh tự quyết định không có sức mạnh nào bên ngoài nó quyết định sự lựa chọn của nó
-và đặc điểm này là cơ sở cho sự tự do của nó4
Thomas Aquinas (1225 - 1274) đồng ý với Aristotle rằng những sinh vật như chúng ta được phú cho cả trí tuệ và ý chí với một số mục đích chung nhất định hướng tới mục tiêu tốt đẹp Tự do xuất hiện khi chúng ta xem xét các phương tiện khác nhau để đạt được những mục đích này và chuyển sang hành động cụ thể để theo đuổi một số phương tiện trong số đó Ý chí của chúng ta tự do ở chỗ nó không
bị cố định bởi bản chất trên bất kỳ phương tiện cụ thể nào5
1.2 Thời kỳ Cận đại và Thế kỷ XX
Theo Descartes (1596 - 1650), con người khác với cỗ máy tự động là ở chỗ
có năng lực tư duy để, thông qua ngôn ngữ, có thể trao đổi với người khác Nhờ tính
2 Hecht, Jonathan, 2014 “Freedom of the Will in Plato and Augustine” British Journal for the History of
Philosophy 22: 196–216.
3 O’Connor, Timothy and Franklin, Christopher “Free Will” The Stanford Encyclopedia of Philosophy
(Summer 2019 Edition).
4 Như trên
5 Như trên.
Trang 3chất phổ quát của lý tính của mình, con người mới có thể vượt ra khỏi những hoàn cảnh nhất định, biểu lộ suy nghĩ của mình về sự vật và có sự tự do lựa chọn Chỉ trong tính chất ấy, con người mới có thể chịu trách nhiệm cũng như có thể bị quy trách nhiệm về hành đông của mình Con người là tự do! Ngược lại, thú vật và những cỗ máy tự động thì dửng dưng và trung lập về luân lý, đạo đức6
Immanuel Kant (1724 - 1804) quan niệm tự do là khả năng tự quyết của con người trước đòi buộc vô điều kiện của đạo đức Khi chúng ta, như một động vật, đi tìm niềm vui thú hay tránh né nỗi đau khổ, ta không thật sự hành động một cách tự
do Ta hành động như nô lệ của lòng thèm muốn và khao khát của ta Bất kỳ khi nào
ta tìm cách thỏa mãn mong muốn của ta, mọi điều ta làm là vì một mục đích cho trước bên ngoài chúng ta Hành động tự do không có nghĩa là chọn lựa phương tiện tốt nhất ứng với một mục đích cho trước; mà hành động tự do là sự lựa chọn chính bản thân mục đích, vì chính mục đích ấy - sự lựa chọn mà con người có thể thực hiện nhưng quả bóng billard (và hầu hết động vật) không thể thực hiện7
Như vậy, dù có những giải thích khác nhau, nhưng nhìn chung những triết gia được trích dẫn trong chương này đều đồng ý rằng tự do không phải là việc muốn làm gì thì làm Con người thực hiện tự do trong ý thức và quy hướng hành động về những giá trị tốt đẹp Việc tranh luận về tự do vẫn chưa đi đến được thống nhất cuối cùng trong triết học, và có lẽ cũng sẽ không đạt được điều đó Bên cạnh những triết gia công nhận con người có được tự do ý chí, một số quan niệm đồng ý với thuyết tiền định (Determinism) cho rằng số phận con người đã được định sẵn Tuy nhiên, trong khuôn khổ bài tiểu luận, tác giả chỉ đề cập vấn đề tự do trên cơ sở
đồng ý với quan niệm con người có tự do.
6 Bùi Văn Nam Sơn Trò chuyện triết học Nxb Tri thức Hà Nội 2012 tr 316-20.
7 Immanuel Kant (Bùi Văn Nam Sơn dịch) Phê phán lý tính thực hành Nxb Tri thức Hà Nội 2007 tr.54-56.
Trang 4Chương II NÓI VỀ TỰ DO VÀ NÔ LỆ
2.1 Tự do đích thực
Nếu quan niệm tự do là được toàn quyền hành động theo ý muốn của cá nhân, thì con người vốn không có được tự do Bởi con người không được quyết định việc có mặt trên cuộc đời này hay không, sinh ra trong gia đình thế nào, với một hình hài xấu hay đẹp Cũng thế, con người không lựa chọn được cái chết của mình xảy ra ra sao, vào thời điểm nào (trừ trường hợp tự tử) Như vậy, tự do đích
thực của con người không phải thứ tự do ngoài mặt thể xác Câu hỏi ‘tự do đích thực là gì?’ cũng khó trả lời như câu hỏi ‘liệu con người có thực sự được tự do hay không?’ Như đã trình bày ở chương I, mỗi triết gia có cách định nghĩa riêng của mình về tự do, nhưng trong khuôn khổ bài luận, chúng ta chấp nhận quan điểm con người có sự tự do đích thực
Tuy nhiên, để bàn sâu hơn về tự do đích thực, chúng ta cùng xem xét qua một vài ví dụ Một bệnh nhân tâm thần phải sống trong trung tâm bảo trợ, giới hạn cuộc đời trong căn phòng bí bách không khác một buồng giam là mấy Anh có giọng hát hay không kém gì ca sĩ chuyên nghiệp Điều đặc biệt hơn là mỗi màn biểu diễn anh đều gửi gắm rất nhiều cảm xúc trong đó Một lần anh chia sẻ rằng có thể viết được nhiều ca khúc về bạn gái, nhưng viết về mẹ thì khó quá, vì không thể nào nói hết tình cảm của mình đối với người mẹ kính yêu Câu nói của anh làm nhiều người nghe xúc động, nhưng kèm theo câu nói đó là ánh mắt vô hồn của một bệnh nhân tâm thần Nếu tự do được định nghĩa là quyền được đưa ra quyết định dựa trên những đánh giá nhận thức cá nhân, thì liệu người bệnh nhân tâm thần này có tự do?
Bị giới hạn về nhận thức, nhưng dường như anh vẫn không hề bị giam cầm, bởi trọn vẹn tâm trí anh được chiếm lấy bởi tình yêu dành cho mẹ Ví dụ khác, một bạn trẻ dành khoảng 6 giờ đồng hồ mỗi ngày cho các nền tảng mạng xã hội Cô ấy ăn gì, đi đâu, mua sắm những gì đều được cập nhật trên trang cá nhân Cô thích đọc những bình luận và đếm lượt tương tác của bạn bè trên mỗi bài viết Cuộc sống của cô gói gọn trong những “chiếc hộp”: “chiếc hộp” văn phòng, “chiếc hộp” phòng trọ Cô không thường xuyên ra ngoài gặp gỡ bạn bè vì cô nghĩ tương tác với nhau trên
Trang 5mạng xã hội đã đủ Cuộc sống của cô gái này có tự do? Rõ ràng không một ai bắt ép
cô phải sống theo lối sống đó, nhưng có vẻ cái “lưới” của mạng lưới hệ thống thông tin - internet đã bắt nhốt cô Như thế, giữa hai người này ai có được sự tự do đích
thực?
Nhìn ở một góc độ nào đó, rõ ràng chúng ta dễ dàng đồng ý cô gái có được
sự tự do, vì cô có quyền chọn giữa làm hoặc không làm theo ý thích của cô Anh bệnh nhân tâm thần cho dẫu muốn đi ra ngoài thì cũng không được gì anh bị giới hạn trong nhà bảo trợ, dưới sự coi sóc của người khác Việc tự do hành động theo bản tính, được làm điều mình muốn mà không bị một áp lực bởi ai và bởi cái gì, có thể làm điều mình muốn, theo cách mình muốn và tùy vào lúc nào mình muốn Tự
do theo cách hiểu này chính là tự do lựa chọn8 Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác chúng ta cũng nhận thấy cô gái sống không có mục đích, chỉ đưa ra lựa chọn dựa trên những cảm tính của bản thân ở thời khắc hiện tại: thích hoặc không thích, mà không lựa chọn dựa trên ý chí dẫn đến một cùng đích đời mình Hơn nữa, dù không
bị cưỡng chế bởi bất kỳ ai, nhưng cô gái lại bị lệ thuộc vào đời sống ảo, vào những lời khen, lượt tương tác thậm chí là của những người chưa bao giờ gặp mặt ngoài đời thực Do đó, những người sống một đời sống tưởng rằng có được tự do nhưng thực chất lại làm nô lệ cho một thói quen, một tật xấu, thì suy cho cùng họ cũng không có được tự do
Thật vậy, Thomas Aquinas quan niệm tự do là “khả năng của ý chí con người, từ đó con người có thể điều hướng những hoạt động của mình đến mục đích sau cùng”9 Vì thế, có thể nói tự do như một sức mạnh nội tại, giúp con người chọn lựa để thực hiện một hành vi nhằm đạt được mục đích mà mình đề ra Sự tự do của con người không phải là muốn làm gì thì làm, làm theo bản năng và sở thích riêng của mình, nhưng là để làm cho phẩm giá của con người được lớn lên trong chân lý
Tự do không nhất thiết đòi hỏi cái tự do phải là nguyên nhân đầu tiên của chính nó
8 X Dominique Morin Gọi Tên Thượng Đế Paris 1989 tr 90.
9 Pasnau, Robert, "Thomas Aquinas", The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Winter 2022 Edition),
Edward N Zalta & Uri Nodelman (eds.)
Trang 6Từ ý nghĩa trên, có thể nói tự do đích thực không chỉ là khả năng để ta chọn lựa và thực hiện theo ý muốn của mình, mà còn là khả năng để đưa ra những quyết định gắn liền với trách nhiệm dành cho tha nhân, và gắn với những giá trị tối hậu của cuộc đời, dẫn đưa về giá trị chân - thiện - mỹ
2.2 Con người dễ nhầm lẫn về ý nghĩa tự do đích thực
Cho đến nay, lịch sử loài người đã trải qua những chế độ chính trị khác nhau, trong đó dường như giai đoạn nào cũng tồn tại nô lệ, có khác chăng là sự nô lệ ở hình thức nào Dễ nhận biết nhất là thời kì chiếm hữu nô lệ hay phong kiến, con người làm nô lệ cho kẻ khác Đó là thời kì của nhân phẩm và giá trị con người bị coi thường, con người là món hàng có thể đổi chác bằng tiền Ngày nay con người dường như tự do hơn, họ được quyền thể hiện bản thân và tự do sống với ước vọng của mình Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội, con người lại đối mặt với một thứ
nô lệ khác, xiềng xích hơn bất cứ một nhà tù nào: nô lệ cho chính mình
Thật là vậy, những người này để cái tôi của bản thân lên trên hết mọi sự Họ
nô lệ cho chính họ Cái tôi khi được nuôi dưỡng sai cách có thể trở nên to lớn lấn át mọi giá trị tốt đẹp của một con người Nó che mất tiếng nói của lương tâm khiến họ
dễ dàng nói và làm theo cái tôi, lúc này trở thành tội lỗi Về cái tôi, ví dụ chúng ta hãy nghĩ tới các đam mê của thể xác: tham ăn, dâm dục, lười biếng, tham tiền, tham danh vọng, kiêu ngạo Những người cho phép bản thân sống theo những ham muốn này thì chính họ khi đó đã trở nên nô lệ các tính xấu10 Không có giới hạn nào cho một người tham tiền, đã có một sẽ mong muốn có thêm mười Họ cho phép bản thân hành động theo cái tôi và không quan trọng nếu có một chuẩn mực luân lý nào cấm cản Cũng vậy, con người ngày nay càng ngày muốn thoát khỏi những trách nhiệm đối với tha nhân, kể như tư tưởng không muốn kết hôn, không muốn có ràng buộc với nhau vì cho rằng sẽ mất tự do Điều đáng sợ hơn là họ nghĩ rằng chỉ khi đó
họ mới được tự do đích thực Một người nô lệ cái tôi của chính mình mà lại nhầm lẫn đó là sự tự do thì họ ở trong trạng thái tồi tệ hơn cả một nô lệ thời phong kiến, xiềng xích hơn một nhà tù và hơn bất cứ loại áp đặt nào
10 Viết lại dựa trên nội dung chia sẻ ở buổi Tiếp kiến chung của Đức Giáo hoàng Phanxico ngày 12/09/2018.
Trang 7Quay lại với ví dụ ở mục 2.1, có thể thấy cô gái không nô lệ cho chính mình
nhưng lại là một nô lệ cho cái nhìn của kẻ khác Những người sống làm nô lệ cho
cái nhìn của người khác thường không nhận ra tình trạng nô lệ của mình, chỉ cảm thấy đang mắc kẹt ở đâu đó, nhưng không chủ động đi tìm câu trả lời Tức là họ không có một thao thức về tự do đích thực Nguyên nhân của hiện tượng này lại trái ngược với hình thức nô lệ chính mình Nếu thứ nô lệ cho chính mình chính là vì cái tôi quá lớn, thì thứ nô lệ cho cái nhìn của người khác lại vì thiếu mất cái tôi Nếu nô
lệ chính mình vô tình hoặc cố ý hiểu sai ý nghĩa tự do đích thực, thì những người làm nô lệ cho cái nhìn kẻ khác lại không có ý thức đi tìm tự do, hoặc không có đủ can đảm để bước ra khỏi tình trạng nô lệ này Mặt khác, họ không có một lý tưởng sống của chính mình, nên phải vay mượn lý tưởng, mà những lý tưởng đó thể hiện trước hết là qua cách đánh giá của người khác
Dù dưới hình thức nộ lệ nào, nó đều dẫn đến việc con người đánh mất đi sự
tự do đích thực để có thể sống như là chính mình Cùng thử nhìn qua một vài nguyên nhân khiến con người nhầm lẫn giữa tự do đích thực và nô lệ Trước tiên có thể kể đến như là trào lưu duy thế tục Xã hội con người ngày nay bao phủ trong các thành tựu khoa học - kỹ thuật Xét về lợi ích, nó giúp con người giải quyết rất nhiều vấn đề, mang lại một đời sống chất lượng Nhưng ở một mặt khác, nó đưa con người đến ngã ba của nhiều sự lựa chọn, mà người ta thì vốn thích sự dễ dãi, tiện nghi trong cuộc sống, thậm chí dễ dãi trong nỗ lực muốn tìm một giải quyết thực sự cho đời mình Người ta quen dành một sự ưu tiên cho những hiểu biết trần thế, tách rời với mọi giả thuyết thần học; cho những phương pháp kỹ thuật hơn là sự thăng tiến nội tâm hay tâm linh11 Kèm theo đó là trào lưu vô thần, khi con người không muốn thừa nhận một đấng ở trên mình, thì họ mặc nhiên cho con người quyền tối thượng Xã hội nào, thời đại nào cũng có người nhân danh quyền tự do tối thượng
để thực hiện mục đích cá nhân Mở rộng hơn, nhân danh quyền tự do tập thể, giai cấp, dân tộc, để hành động theo đường hướng của hội nhóm mình Tất cả những thứ
11 Nguyễn Trọng Viễn O.P Triết học nhập môn 1995 Tr 115-16.
Trang 8tự do trên đều là nô lệ ngụy trang dưới dáng dấp của tự do, mà suy cho cùng là sản phẩm của những tư tưởng tôn thờ khoa học
Cũng vậy, một trào lưu khác như phong trào nữ quyền cũng hướng con người đối mặt với một thách đố lớn Chúng ta cần nhìn nhận vài điểm mạnh từ trào lưu này khi họ nhân danh tự do mà đề cao chủ thể tự quyết và tính độc đáo của nhân
vị Trong thời đại xưa, phụ nữ bị coi thường đến nỗi tư tưởng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” bén rễ sâu đến tận ngày nay Người ta tìm cách trả cho người phụ
nữ quyền được tôn trọng và quyền tự do Do đó về sau, vị trí phụ nữ được đề cao, thậm chí là tối đa, như ở một số nước phương Tây câu nói “phụ nữ, trẻ con, con chó rồi đến đàn ông” tưởng như đùa nhưng cũng đã cho thấy có một cuộc cải cách lớn
về quyền phụ nữ Tuy nhiên mặt trái đằng sau vô cùng phức tạp, người ta kêu gọi sự giải phóng người phụ nữ, nhưng hàm ẩn trong phong trào đó là âm mưu biến thân xác người phụ nữ thành một món hàng Người ta tô vẽ cho “món hàng” thật đẹp để bán cho được giá, giá trị người phụ nữ đáng lẽ được nhìn nhận bởi phẩm giá thì nay được định giá qua sắc đẹp Đáng buồn là chính những phụ nữ này cũng để bản thân chìm sâu dưới hình thức nô lệ tinh vi này Hàng loạt các cuộc thi sắc đẹp được tổ chức, rồi đâu vài năm sau nổi đầy các tiêu đề trên mặt báo: “hoa hậu X bị bắt vì bán dâm” Đằng khác, họ gọi tên tự do để biện minh cho hành vi tước đoạt mạng sống của thai nhi với lý lẽ “my body my choice” (tạm dịch: thân thể tôi, quyền lựa chọn của tôi) Những khủng hoảng này xuất phát từ việc nhìn mọi sự dựa vào giá trị vật chất, mà không thấy con người như một nhân vị, có phẩm giá không thể được cân
đo đong đếm
2.3 Con người tìm về ý nghĩa của tự do đích thực
Tự do là quyền căn bản và bởi vì con người có tự do nên con người dễ sa ngã vào tội lỗi Có được tự do là một chuyện nhưng sống đúng với tự do đích thực là một chuyện khác Tự do là món quà vô giá nhưng đồng thời cũng là một thách đố dành cho con người Vì thế, con người cần tìm lại ý nghĩa của tự do đích thực để thăng tiến phẩm chất cá nhân trong chân lý vẹn toàn
2.3.1 Khả năng phản tỉnh
Trang 9Khi đánh giá tầm quan trọng của tự do, chúng ta buộc phải xem xét các câu hỏi về đúng và sai, thiện và ác, đức hạnh và thói xấu, đổ lỗi và khen ngợi, khen thưởng và trừng phạt Nghĩa là con người phải ý thức được bản chất của từng thái cực trong mỗi cặp lựa chọn trên Việc nhầm lẫn và có thái độ mơ hồ ở bất kì thái cực nào cũng có khả năng hướng con người đến việc ý thức sai lệch về tự do đích thực Để có được khả năng đánh giá các lựa chọn này, con người cần liên tục phản tỉnh chính mình Chính trong tiến trình phản tỉnh, con người nhìn nhận được bản thân và căn chỉnh nhận thức của chính mình
2.3.2 Tự do là thoát khỏi gọng kìm tội lỗi
Tự do là mưu cầu chính đáng, nhưng để tự do trở nên nguyên do để ta sa ngã
vào tội lỗi thì tự do khi đó biến một người khát khao tự do trở nên nô lệ cho tội lỗi.
Như đã nói trước đó về ý nghĩa tự do đích thực, con người phải quy hướng đời mình
về giá trị chân - thiện - mỹ Tự do đích thực là giải thoát khỏi tội lỗi Con người luôn có xu hướng muốn sử dụng tự do một cách sai lầm, dẫn đến đau khổ cho tha nhân Vì vốn dĩ tự do bị giới hạn trong chính thân phận hữu hạn của loài người, nó
dễ lầm lạc vì ảnh hưởng của thói quen tội lỗi Con người hiện đại khi trải qua những kinh nghiệm đau thương về tự do, đã dễ dàng trở nên quan niệm rằng tự do là “tôi
có quyền làm tất cả điều gì mà tôi muốn”, thì ngay thời khắc đó họ không phải một hữu thể tự do đích thực, mà đang là nô lệ cho một thói quen hoặc bản năng của mình Cái mà họ gọi là tự do chỉ là một mặt nạ che đậy bản chất nô lệ bên trong, một thứ nô lệ xấu xa nhất - nô lệ tội lỗi Do đó, con người phải thao thức đi tìm ý nghĩa của tự do và ý thức bản thân thoát khỏi sự ràng buộc của tội lỗi
2.3.3 Tự do trong sự tôn trọng phẩm giá người khác
Con người cảm nghiệm tự do từng giây từng phút trong đời mình, từ việc lựa chọn ngồi hay đứng, rẽ phải hay trái đến những lựa chọn khó khăn hơn Nhưng kèm theo từng lựa chọn đó là trách nhiệm Vì con người không phải hữu thể sống đơn độc một mình, mà là hữu thể xã hội sống trong một tập thể, sống với người khác
Do đó tự do của cá nhân liên hệ với tự do của người khác và tự do cá nhân phải ở trong sự tôn trọng tự do của người khác Tự do của con người gắn với luật đạo đức,
Trang 10luật luân lý, không phải là sự giới hạn tự do của con người, nhưng là để hướng dẫn con người sống quyền tự do của mình cách trọn hảo Mỗi người phải nhìn nhận bản
vị cá nhân ở người khác, việc biến bản thân mình hoặc kẻ khác nên một phương tiện đều có thể đưa dẫn chúng ta đến thái độ sai lạc trong thực hiện quyền tự do
KẾT
Như thế, có thể tạm kết rằng con người được trao ban tự do như một món quà vô giá Nhưng giữ món quà đó được vẹn tuyền chính là thách đố của phận người Xác thịt con người hướng về tự do căn bản, hành động theo ham thú bản năng; nhưng tinh thần con người phải nhất thiết quy hướng về tự do đích thực, tức
là tìm về chân - thiện - mỹ Hành trình đó không dễ dàng có được mà phải qua tôi luyện trong sự thừa nhận tính giới hạn của con người và ý chí thành toàn cuộc đời mình trong chân lý
“Anh em thân mến, tôi biết rằng sự lành không ở trong tôi, nghĩa là trong huyết nhục của tôi Vì chưng ước muốn thì tôi vẫn có, nhưng làm cho sự lành nên hoàn hảo thì không sao được Bởi vì sự lành tôi muốn thì tôi không làm, còn sự dữ tôi không muốn thì tôi lại làm Thực ra nếu tôi làm điều tôi không muốn, thì bấy giờ không phải chính tôi làm điều đó, nhưng là sự tội ở trong mình tôi Thành ra khi tôi muốn làm sự lành, tôi nhận thấy trong tôi có lề luật, vì sự dữ vẫn kèm bên tôi Theo như con người bên trong, tôi cũng ưa thích lề luật Thiên Chúa: nhưng tôi thấy trong chi thể tôi có một lề luật khác đối địch với lề luật tâm thần tôi, và giam hãm tôi dưới ách lề luật sự tội trong chi thể tôi Tôi là con người vô phúc! Ai sẽ cứu tôi khỏi cái xác chết này? Cảm tạ Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta Như thế, chính tôi lấy tâm thần mà phục vụ lề luật Thiên Chúa; còn về xác thịt, thì vâng phục lề luật của sự tội.”
(Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma, Rm 7, 18-25a.)