Xác định QPPL hình sự tương ứng Xác định cấu thành tội phạm Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3Do biết A là người kinh doanh karaoke và có cho nữ tiếp viên bán dâm ở quán,nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của A.
Khoảng 16h ngày 21/4/2008, B bàn với C là Công an phường X (không quản lýđịa bàn nơi A kinh doanh karaoke) để chiếm đoạt tài sản của A bằng cách : C giả Công
an của Bộ Công an đến kiểm tra việc kinh doanh của A khi phát hiện có dấu hiệu muabán dâm nên yêu cầu A đưa 5 triệu đồng nếu không sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự A
sợ nên đã đưa tiền cho C C chia số tiền chiếm đoạt được cho B
xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh
Bước 1 Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án).
- Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện
- Việc thu thập các tình tiết khách quan phải chính xác, trung thực, khách quan,khoa học
=> Phương pháp nhận thức:
Việc nhận thức chân lý về vụ án phải tuân theo những quy tắc logic nhất địnhnhư việc nhận thức mọi sự vật, hiện thực khách quan
Bước 2 Xác định QPPL hình sự tương ứng (Xác định cấu thành tội phạm)
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình
sự (xác định khách thể loại)? Từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng vớihành vi phạm tội trên thực tế Chúng ta cần kiểm tra các dấu hiệu của từng cấu thànhtội phạm này để xác định được cấu thành tội phạm phù hợp với tình tiết thực tế của vụ
án nhất
Trang 4Bước 3 Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS.
Người định tội danh sau khi xác định sự thật khách quan của vụ án và lựa chọnđược CTTP có dấu hiệu tương ứng cần phải kiểm tra lại để xác định sự phù hợp chínhxác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS Nếu thấycác tình tiết của hành vi đã thực hiện hoàn toàn phù hợp với các dấu hiệu của tội phạm
cụ thể thì phải kết luận hành vi đã thực hiện phạm tội đó Nếu thấy không phù hợp thìphải xác định lại xem hành vi đó có thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một tội khác khônghay là không phạm tội
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Việc xác định khung hình phạt chính xác cũng là cơ sở để xác định đúng tộidanh, đặc biệt là trong những trường hợp dấu hiệu định khung của một tội có thể làdấu hiệu định tội của một tội khác
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của A vì B biết A là người kinh doanhkaraoke và có cho nữ tiếp viên bán dâm ở quán Chiều ngày 21/04/2008, B đã bàn bạcvới C là Công an phường X (không quản địa bàn nơi A kinh doanh) về kế hoạch phạmtội, cả hai đã thống nhất với nhau chiếm đoạt số tiền 5 triệu của A Kế hoạch phạm tội
mà B, C đã thống nhất như sau: C đóng giả là Công an của Bộ Công an đến kiểm traviệc kinh doanh của A, khi phát hiện có dấu hiệu mua bán dâm tại nơi kinh doanh của
A sẽ yêu cầu A đưa 5 triệu đồng nếu không sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự Kế hoạchthực hiện thành công khiến A sợ nên đã đưa tiền cho C sau đó C chia số tiền chiếmđoạt được cho B
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của B và C trong vụ án này.
Trả lời:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì B, C đã thống nhất với nhau để C đóng giảCông an đến kiểm tra việc kinh doanh của A và phát hiện có dấu hiệu mua bán dâmnhằm chiếm đoạt số tiền 5 triệu đồng từ A
Trang 5- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản vì C có chức vụ là công annhưng đã sử dụng chức vụ, quyền hạn mà C có để lừa dối A nhằm thực hiện hành vichiếm đoạt tài sản của A
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của B và C trong vụ án.
Trả lời:
- B và C phạm Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
+ Khách thể: Xâm phạm đến quyền sở hữu của A
+ Chủ thể: B và C có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệmhình sự, C có chức vụ, quyền hạn
+ Mặt khách quan:
• Hành vi: B biết được quán A bán dâm nên cho C giả danh Bộ công an vàochiếm đoạt tài sản của A với số tiền 5 triệu đồng
• Hậu quả: A bị B, C chiếm đoạt số tiền 5 triệu đồng
+ Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp
B và C nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thựchiện
- B và C không phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì kế hoạch của B, C là để Cđóng giả làm công an của Bộ công an chiếm đoạt tài sản của A, tuy nhiên C là người
có chức vụ, quyền hạn là công an cụ thể là công an phường X và C đã dùng chức vụcông an của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của A Không thể định tội này vì A là người
có chức vụ và sử dụng chức vụ của mình nhằm chiếm đoạt tài sản
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của B và C?
Trả lời:
Thứ nhất, định tội danh theo 4 yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan,chủ thể, khách thể vì chủ thể là C là người có chức vụ quyền hạn dùng chức vụ củamình để lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trang 6Thứ hai, lý thuyết về đồng phạm vì B và C đều có bàn bạc và lên kế hoạch trước,việc xác định hành vi khách quan phải dựa trên cả mỗi hành vi của hai người này
BÀI TẬP 3
A làm nghề chăn bò thuê, khoảng 15h ngày 9/2/2006, trong lúc đang chăn bò, Athấy một con bò đực không rõ của ai đến ăn chung với bò của A, đến chiều không thấychủ bò đến lùa về, nên A đã đưa con bò này về cột ở trại của A Đến ngày 12/2/2006, Adẫn bò đi giấu ở nơi khác và đến ngày 17/2/2006, A thuê xe vận chuyển con bò đó đitiêu thụ Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện Tài sản bị thiệt hại là con bòđực được định giá 5.500.000đ
xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh
Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực,khách quan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình
sự, từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thựctế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
Trang 7Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện.
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phầncác tội phạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểmcho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
Chủ thể: A là người chăn bò thuê Lúc 15h ngày 9/2/2006, A chăn bò thì thấy con
bò đực khác đến ăn chung với bò của mình, A không biết con bò đực đó là của ai Vềchiều A cũng không thấy chủ bò dắt bò về, A đã đợi chủ nhân của con bò đực đến dắt
bò về Không thấy chủ của con bò đực đến, A cột con bò đực ở trại của mình, A chưa
có ý định chiếm đoạt con bò đực Ngày 12/2/2006, A dẫn bò đi giấu ở nơi khác, A bộc
lộ ý đồ xấu muốn chiếm đoạt con bò đực nên đã giấu đi nơi khác Ngày 17/2/2006, Athuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêu thụ A đã thực hiện hành vi của mình khi đemcon bò đực đi tiêu thụ Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện Chưa tiêu thụđược con bò đực thì A đã bị cơ quan chức năng phát hiện
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của A trong vụ án này.
Trả lời:
Cấu thành tội danh dự kiến đối với A:
- Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015): A có hành vi lén lút giấu bò vàkhông thông báo cho người khác cũng như các cơ quan nhà nước
- Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS 2015): do A chiếm đoạt tàisản trước sự bất lực của chủ nhân con bò
- Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015): do A có hành vi chiếmgiữ con bò đực, cột con bò ở trại của mình
Trang 8- A không có tội do bò đực tự đến ăn chung với bò của A, về chiều thì A khôngthấy chủ bò đến dắt bò về nên A mới dắt về cột ở trại mình.
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án.
Trả lời:
Mục đích của A là muốn chiếm đoạt con bò nên A đã có hành vi lén lút giấu bò
để chuẩn bị vận chuyển bò đi tiêu thụ Khi thuê xe vận chuyển con bò đực đi tiêu thụthì trên đường vận chuyển bị cơ quan chức năng phát hiện
A phạm tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015)
Dấu hiệu định tội:
- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác
- Mặt khách quan: A đã có hành vi lén lút đưa con bò về cột ở trại mà khôngthông báo cho hàng xóm cũng như cơ quan chức năng mà đem đi tiêu thụ
- Chủ thể: A có năng lực chịu trách nhiệm hình sự cũng như đạt được độ tuổi luậtđịnh
- Chủ quan: A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
A không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS 2015) vì lúcdắt bò về cũng như thực hiện hành vi tiêu thụ con bò, A vẫn chưa biết chủ nhân con bò
là ai, chủ con bò cũng không biết tài sản của mình bị A chiếm đoạt
A không phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015) vì chủ nhân
và cơ quan chức năng không biết A đang giữ con bò đực nên không có yêu cầu nhậnlại tài sản Hơn nữa, để buộc tội chiếm giữ trái phép tài sản thì giá trị tài sản phải từ10.000.000đ đến dưới 200.000.000đ
A có tội do có hành vi lén lút di chuyển bò đực đi tiêu thụ mà không thông báocho người dân, lực lượng chức năng cũng như không tìm kiếm chủ nhân con bò đểthông báo cho chủ biết, mục đích chiếm đoạt con bò đực được thể hiện rõ ràng trong ýchí của A
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A ?
Trang 9Trả lời:
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của Atrong vụ án trên là hành vi khách quan Căn cứ vào Điều 172 BLHS 2015, Điều 173BLHS 2015, Điều 176 BLHS 2015 để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vicủa A
BÀI TẬP 4:
Lâm, Sanh và một số bạn khác cùng xóm đến nhà Thắm chơi Khi đi Lâm cómang theo một con dao bấm để trong túi Trong lúc nói chuyện, Lâm có lấy con daobấm mới được anh rể cho ra khoe với bạn bè
Khoảng 22 giờ cùng ngày, Quân, Sự, Hiệp đi đến nhà Thắm, lại gần chỗ nhómbạn của Lâm đang ngồi và hỏi: “Thằng nào là Lâm đứng lên nói chuyện chút coi”(trước đó Lâm và Quân đã xảy ra ẩu đả lẫn nhau) Lâm đứng lên nói: “Tao là Lâm nè,
có chuyện gì không?” Vừa dứt lời, Quân liền nhảy vào dùng tay đánh Lâm nhưngLâm tránh được; Sự và Hiệp dùng dây thắt lưng xông vào đánh Lâm Thấy vậy, Sanhnhảy vào can ra nhưng cũng bị nhóm của Quân đánh nên Sanh đã đánh lại Lúc nàyLâm lấy con dao nhíp trong túi ra đâm vào ngực Quân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát;Sanh cũng bị Lâm đâm nhầm một nhát vào vai Sau đó, Lâm vứt dao xuống sông vàđến thẳng công an xã trình báo toàn bộ sự việc
Do vết thương quá nặng, Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu; Sự bị tổn hạisức khỏe 21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
(Nguồn: Bản án HSST số 62/2003 của TAND tỉnh Sóc Trăng).
Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này, cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước.
Trả lời:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết phải toàn diện, đầy đủ Bên cạnh đó phải chính xác,trung thực, khách quan, khoa học và tuân theo những quy tắc logic nhất định như sựnhận thức mọi sự vật, hiện tượng khách quan
Bước 2 Dự kiến các CTTP tương ứng
Trang 10Trong bước này, cần xác định khách thể loại của hành vi phạm tội Nghĩa là trên
cơ sở hành vi khác quan của vụ án cần xác định hành vi đó hướng tới nhóm quan hệ xãhội nào được pháp luật bảo vệ Từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứngvới hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3 Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (Định tội danh)
Trong bước này, quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh phải được tiến hành vớitừng hành vi chủ thể đã thực hiện Nếu có đồng phạm thì phải xác định vai trò củatừng chủ thể, nhất là vai trò của người thực hành hoặc người tổ chức)
Tiếp đến, lần lượt kiểm tra, đối chiếu với từng cấu thành tội phạm cụ thể Vàkiểm tra các quy định của phần chung và phần các tội phạm liên quan đến cấu thànhtội phạm
Từ kết quá của việc so sánh, đối chiếu, lựa chọn điều luật tương ứng trongphần các tội phạm của Bộ luật Hình sự đối với các tình tiết cụ thể của hành vi nguyhiểm cho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Việc xác định khung hình phạt chính xác cũng có thể là cơ sở để xác định đúngtội danh, đặc biệt là trong những trường hợp dấu hiệu định khung của một tội có thể làdấu hiệu định tội của một tội khác
Trong quá trình xác định khung HP cần phân biệt giá trị pháp lý của các dấuhiệu định tội, định KHP (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS)
Xác định khung hình phạt trên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
Trong các tình tiết thực tế được cho, các tình tiết sau đây có giá trị định tội:
Về thời gian: Khoảng 22h
Địa điểm: Nhà Thắm
Công cụ: Con dao bấm để trong túi
Trang 11Về hành vi khách quan: Quân liền nhảy vào dùng tay đánh Lâm nhưng Lâmtránh được; Sự và Hiệp dùng dây thắt lưng xông vào đánh Lâm Thấy vậy, Sanh nhảyvào can ra nhưng cũng bị nhóm của Quân đánh nên Sanh đã đánh lại Lúc này Lâm lấycon dao nhíp trong túi ra đâm vào ngực Quân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát; Sanhcũng bị Lâm đâm nhầm một nhát vào vai Sau đó, Lâm vứt dao xuống sông và đếnthẳng công an xã trình báo toàn bộ sự việc.
Về hậu quả: Do vết thương quá nặng, Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu;
Sự bị tổn hại sức khỏe 21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của Lâm trong vụ án này.
Trả lời:
Trường hợp 1: Lâm bị truy tố theo 2 tội là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổnhại cho sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) và Tội giết người ( Điều 123BLHS)
Thứ nhất, là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người kháctheo Điều 134 BLHS với tình tiết làm chết người Bởi lẽ, vì trước đó đó có mâu thuẫnvới Quân nên cả đã ẩu đả Trong lúc ẩu đả, Lâm lấy con dao nhíp trong túi ra đâm vàongực Quân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát; Sanh cũng bị Lâm đâm nhầm một nhát vàovai Sau đó, Lâm vứt dao xuống sông và đến thẳng công an xã trình báo toàn bộ sựviệc Hậu quả Quân bị thương và chết trên đường đi cấp cứu; Sự bị tổn hại sức khỏe21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
Thứ hai, là tội giết người theo Điều 123 BLHS Bởi lẽ, khi xảy ra ẩu đả, Lâm đãdùng dao bấm đâm vào ngực của Quân và Sự Vì ngực là vị trí trọng yếu trên cơ thể,Lâm biết rõ khi đâm có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn thực hiện
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của Lâm trong vụ án.
Trả lời:
Đối với hành vi của Lâm trong vụ án, theo tôi Lâm phạm tội giết người theoĐiều 123 BLHS bởi các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, về khách thể.
Trang 12Hành vi của Lâm xâm phạm tính mạng con người Đối tượng tác động là Quân
và Sự
Thứ hai, về mặt khách quan.
Lâm lấy con dao nhíp trong túi ra đâm vào ngực Quân, Sự, Hiệp mỗi người mộtnhát Hành vi này thể hiện dưới dạng hành động với vị trí đâm là ngực của Quân, Sự,Hiệp
Hậu quả do vết thương quá nặng, Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu; Sự bịtổn hại sức khỏe 21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
Giữa hành vi và hậu quả có mối quan hệ nhân quả với nhau Hành vi dùng daođâm vào ngực là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Quân và gây tổn hại sứckhỏe cho Sự và Hiệp
Thứ ba, về mặt chủ quan
Lâm thực hiện hành vi thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.Lâm biết rõ hành vi dùngdao đâm vào ngực Quân, Sự và Hiệp có thể gây ra chết người nhưng vẫn cố ý đâm vàmong muốn hậu quả xảy ra
- Mục đích của hành vi phạm tội:
+ Tội giết người: Người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích tước đoạttính mạng của nạn nhân
Trang 13+ Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người: Người phạm tội thực hiện hành vichỉ nhằm mục đích gây tổn hại đến thân thể nạn nhân Việc nạn nhân chết nằm ngoài ýthức chủ quan của người phạm tội.
- Yếu tố lỗi:
+ Tội giết người: Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý Trong trườnghợp một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi củamình là có tính nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mongmuốn hậu quả xảy ra thì được xác định là lỗi cố ý trực tiếp Trong trường hợp mộtngười thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hộicủa hành vi của mình, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy khôngmong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra thì được xác định là lỗi cố
ý gián tiếp
+ Tội cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người: Người thực hiện hành vi cólỗi vô ý đối với hậu quả chết người xảy ra Nghĩa là họ thấy trước hành vi của mình cóthể gây ra hậu quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra, có thểngăn ngừa được hoặc họ không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chếtngười, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó Hậu quả chết ngườixảy ra là vì những thương tích do hành vi của người phạm tội gây ra
- Trong trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích, người phạm tội chỉ mongmuốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả gây thương tích xảy ra Còn trường hợp phạm tội giếtngười chưa đạt là người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, hậu quả chết ngườikhông xảy ra là ngoài ý muốn của họ
Trang 14-Trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có khả năng làmchết người mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao cũng được, nếu hậuquả là gây thương tích thì định tội cố ý gây thương tích, nếu hậu quả là chết người thìngười phạm tội phạm vào tội giết người.
Như vậy, hành vi của lâm là lỗi cố ý trực tiếp với vị trí đâm là ngực của nạnnhân Hậu quả Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu; còn Sự bị tổn hại sức khỏe21% và Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17% mà không chết là nằm ngoài ý muốn của Lâmnên thuộc trường hợp giết người chưa đạt
BÀI TẬP 5:
Đức, Thắng, Thủy, Chinh là 4 công nhân sống cùng trong khu tập thể Sau khi đilàm về, Đức ra bể nước công cộng tắm Khi Đức quay vào thì thấy anh Thủy và Chinhđến tắm Năm phút sau, Đức quay lại hỏi anh Thủy và Chinh có nhặt được đồng hồ doĐức để quên không nhưng 2 anh xác nhận là không lấy
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đức và Thắng gọi anh Thủy và Chinh ra quán nướchỏi về việc chiếc đồng hồ nhưng hai anh Thủy và Chinh vẫn nói là không nhặt được.Thắng thấy vậy đứng dậy rút dao rựa từ trong người ra, đập xuống bàn và nói: “Chúngmày không trả, tao băm nát chúng mày ra” và tát anh Chinh một cái; Đức đấm anhThủy một cái vào bụng rồi bỏ về Sau khi Đức bỏ về, Thắng bắt anh Thủy và Chinhlên cầu Long Biên, tiếp tục tra hỏi hai anh và nói: “Nếu chúng mày không trả đồng hồthì phải nhảy xuống sông Hồng” Hai anh van xin nhưng Thắng không chấp nhận Sợ
bị đánh nên anh Chinh nhảy từ độ cao 12 mét xuống sông Hồng, bơi vào bờ thì bịngất Anh Thủy nói với Thắng là mình không biết bơi và van xin Thắng tha cho nhưngThắng không tha Anh Thủy phải bám vào lan can cầu và tiếp tục van xin Thắng Lúcnày tổ tuần tra Công an thị trấn Gia Lâm phát hiện, kéo anh Thủy lên, bắt Thắng đưa
về công an giải quyết
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)
Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước ?
Trả lời:
Trang 15• Định tội danh là một quá trình nhận thức logic, một dạng hoạt động của thựctiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách, trên cơ sởcác chứng cứ, tài liệu thu thập được, xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho
xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh
• Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực,khách quan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình
sự, từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thựctế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
• Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
• Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
• Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phầncác tội phạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểmcho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
- Khoảng 20 giờ, Thắng thấy anh Thủy và Chinh vẫn nói không nhặt được đồng
hồ do Đức để quên nên đã đứng dậy rút dao rựa từ trong người ra, đập xuống bàn và
Trang 16nói nếu hai anh không trả, Thắng sẽ băm nát hai anh ra Sau đó Thắng còn tát anhChinh một cái.
- Thắng bắt anh Thủy và Chinh lên cầu Long Biên, tiếp tục tra hỏi hai anh và nóinếu hai anh không trả đồng hồ thì phải nhảy xuống sông Hồng Hai anh van xin nhưngThắng không chấp nhận
- Thủy nói với Thắng là mình không biết bơi và van xin Thắng tha cho nhưngThắng không tha Thủy phải bám vào lan can cầu và tiếp tục van xin Thắng
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến
áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Dấu hiệu định tội:
Chủ thể: Thắng là chủ thể thường là người có năng lực trách nhiệm hình sự và
đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Khách thể: xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của Thủy Đối
tượng tác động là anh Thủy
Mặt chủ quan: Thắng thực hiện hành vi với lỗi cố ý Thắng biết hành vi đe dọa
giết người là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, đồng thời mong muốnThủy sẽ lo sợ và tin rằng mình có thể sẽ bị giết
Mặt khách quan:
Trang 17+ Hành vi: Thắng đã thực hiện hành vi tra hỏi Thủy, Chinh và nói nếu hai anhkhông trả đồng hồ thì bắt cả hai phải nhảy xuống sông Hồng Sau đó, Thắngtiếp tục không tha khi nghe Thủy không biết bơi.
+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Từ hành vi đe dọa của Thắng là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến việc anh Thủy và anh Chinh lo sợ rằng mình bị giết
5 Các định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của Thắng trong vụ án trên?
Trả lời:
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của củaThắng trong vụ án trên là dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm mà cụ thể là mặt chủquan Trong trường hợp này là về mục đích Mục đích của Thắng là đe dọa để lấy lạiđồng hồ do Đức để quên, không có mục đích tước đoạt tính mạng người khác khi thựchiện hành vi đe dọa do đó không cấu thành tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015
ra, A đi đi lại lại để tìm xe Một người giữ xe chạy đến hỏi, A bảo rằng xe gửi đâynhưng giờ không thấy Cả bãi dò thẻ xe của A rồi nháo nhào tìm Một hồi, chủ bãi giữ
xe thừa nhận: xe máy của A đã mất A yêu cầu chủ bãi giữ xe phải bồi thường cho mình
5 triệu đồng Tưởng là yêu cầu của mình sẽ nhanh chóng được thực hiện nhưng Akhông ngờ chủ bãi xe dùng dằng: “Chuyện này phải báo công an rồi mới tính”
Sự việc được đưa đến Công an huyện T Sau khi ghi nhận diễn biến sự việc vàtiến hành điều tra, cơ quan điều tra mời A lên làm việc Ban đầu A quanh co chối cãi,nhưng trước những chứng cứ của cơ quan điều ra đưa ra, A đã phải khai ra toàn bộ sựthật như đã nêu trên
(Nguồn: Theo Báo Pháp luật Tp.HCM)
Trang 18xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh.
Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực,khách quan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình
sự, từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thựctế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phầncác tội phạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểmcho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Trong quá trình xác định khung hình phạt cần phân biệt giá trị pháp lý của cácdấu hiệu định tội, định khung hình phạt (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS)
Trang 19Xác định khung hình phạt trên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung.
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
Vi nhận thấy việc giữ xe tại bãi giữ xe chợ huyện lỏng lẻo, lúc đông đúc người
ra vào nhưng người giữ xe không soát vé, nên đầu năm 2005, A đến gửi xe vào bãi,chờ đến khi người ra vào lộn xộn, A lẳng lặng dắt xe ra mà không ai phát hiện để soát
vé Ra khỏi bãi, A nổ máy phóng xe về nhà
A quay lại bãi giữ xe, giả vờ tìm xe của mình nhưng không thấy Chủ bãi giữ xethừa nhận: xe máy của A đã bị mất, A yêu cầu chủ bãi giữ xe phải bồi thường 5 triệuđồng
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS), vì A có hành vi lợi dụng lúcđông người, lộn xộn, người giữ xe không soát vé tất cả các xe ra vào bãi đã lẳng lặngdắt xe ra khỏi bài mà không cần soát vé, chạy xe về nhà, sau đó A quay lại bãi giữ xegiả vờ tìm xe của mình nhưng không tìm thấy để quy tội cho nhà xe là mất xe của A,thực chất A có mục đích lừa chủ bãi giữ xe, yêu cầu bồi thường 5 triệu đồng
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án trên.
Trả lời:
* A phạm Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS)
Trang 20- Khách thể:
+Quan hệ sở hữu
+Đối tượng tác động: tài sản là chiếc xe máy
- Mặt khách quan:
+Hành vi: A đã lén lấy chiếc xe máy được gửi trong bãi giữ xe, lẳng lặt dắt xe
ra khỏi bãi giữ xe trong lúc đông người, lộn xộn, người giữ xe không soát hết vé vàphóng về nhà
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp
- Chủ thể: A đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự
* Hành vi của A không phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) domặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tàisản của người khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối
Đó là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tựnguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt Hai dấu hiệu đặctrưng của tội phạm này là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt Trong vụ án trên, A
có hành vi gian dối chủ nhà giữ xe, cho rằng xe của A đã bị mất và yêu cầu chủ bãi giữ
xe phải bồi thường 5 triệu đồng nhưng bên phía chủ giữ xe không bồi thường 5 triệu
mà đề nghị để công an giải quyết (tức không tự nguyện giao tài sản)
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của A trong vụ án trên?
xe dùng kiềm cộng lực và mỏ lết mang theo sẵn, cắt xích bảo hiểm để lấy 02 nắp đậy
Trang 21của trụ cấp nước PCCC thì bị lực lượng công an PCCC tuần tra phát hiện bắt quả tangcùng vật chứng, giao cho Công an phường lập biên bản xử lý.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T khai nhận hành vi mở lấy 2 nắp đậy của trụ cấpnước PCCC nhằm mang đi bán phế liệu để lấy tiền tiêu xài
Theo công văn số X/QĐ –CNCL-TCHC ngày 20/09/2003 của Chi nhánh cấpnước Chợ Lớn trực thuộc Tổng công ty nước Sài Gòn xác định: Hệ thống các trụ cứuhỏa và đường ống cấp nước trên tuyến Quốc lộ 1A, đoạn trước Công ty P, đã được Chinhánh Cấp nước Chợ lớn thi công lắp đặt hoàn chỉnh phục vụ công tác chữa cháy trênđịa bàn, chưa có biên bản bàn giao cho Công an PCCC để đưa vào sử dụng, nhưng khicần lấy nước thì lúc nào cũng có thể sử dụng được
Căn cứ vào công văn phúc đáp số Y/CV-KHVT ngày 29/06/2004 của Chi nhánhCấp nước Chợ Lớn và hợp đồng mua bán trụ cứu hỏa số 2392 ngày 20/06/2002 xácđịnh đơn giá của nắp trụ cứu hỏa là 650 ngàn đồng/ 1 cái cộng thuế giá trị gia tăng là5%
Sau khi thu hồi được 2 nắp trụ cứu hỏa, Chi nhánh cấp nước Chợ Lớn đã lắp đặttrở lại vị trí nắp trụ cứu hỏa bị T lấy cắp, thì kết quả được xác định các thao tác đóng
mở van của trụ cứu hỏa này vẫn thực hiện tốt, nghĩa là trụ vẫn hoạt động bình thường
xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh
Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Trang 22Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực,khách quan, khoa học.
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danhcần xác định hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình
sự, từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thựctế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phầncác tội phạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểmcho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Trong quá trình xác định khung hình phạt cần phân biệt giá trị pháp lý của cácdấu hiệu định tội, định khung hình phạt (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS)
Xác định khung hình phạt trên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
Anh T làm nghề mua bán phế liệu Vào lúc 8h30’ ngày 19/9/2003, T phát hiện có
1 trụ cấp nước phòng cháy chữa cháy (PCCC) và vắng người qua lại, T xuống xe dùngkiềm cộng lực và mỏ lết mang theo sẵn, cắt xích bảo hiểm để lấy 02 nắp đậy của trụcấp nước PCCC thì bị lực lượng công an PCCC tuần tra phát hiện bắt quả tang cùngvật chứng, giao cho Công an phường lập biên bản xử lý
T khai nhận hành vi mở lấy 2 nắp đậy của trụ nước PCCC nhằm mục đích mang
đi bán phế liệu lấy tiền tiêu xài
Trang 23Theo công văn số X/QĐ –CNCL-TCHC ngày 20/09/2003 của Chi nhánh cấpnước Chợ Lớn trực thuộc Tổng công ty nước Sài Gòn: Hệ thống các trụ cứu hoả vàđường ống dẫn nước trên thi công lắp đặt hoàn chỉnh phục vụ công tác chữa cháy trênđịa bàn, chưa có biên bản bàn giao cho Công an PCCC để đưa vào sử dụng, nhưng khicần lấy nước thì lúc nào cũng có thể sử dụng được.
Đơn giá của nắp trụ cứu hoả là 650 ngàn đồng/ 1 cái cộng thuế giá trị gia tăng là5% Sau khi thu hồi 2 nắp cứu hoả mà T lấy cắp, lắp lại chỗ cũ thì trụ cứu hoả này vẫnhoạt động bình thường
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Trong vụ án trên, T không có tội
Về mặt khách thể: khách thể là tài sản, cụ thể là 2 nắp đậy của trụ cấp nước trịgiá dưới 2 triệu đồng
=> Như vậy, dù T có hành vi dùng kiềm cộng lực và mỏ lết mang theo sẵn, cắt xíchbảo hiểm để lấy 02 nắp đậy của trụ cấp nước PCCC nhưng giá trị tài sản dưới 2 triệuđồng nên không đủ căn cứ để kết tội T phạm Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều172) hay Tội trộm cắp tài sản (Điều 173)
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của T trong vụ án trên?
Trả lời:
Trang 24Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của Ttrong vụ án trên là Định tội theo bốn yếu tố cấu thành tội phạm ( mặt chủ quan, mặtkhách quan, chủ thể, khách thể) Trong vụ án trên, để định tội danh của T ta chủ yếudựa vào mặt khách quan là tài sản.
BÀI TẬP 8:
Khoảng 9 giờ ngày 19.10.2003, Võ Thành Trung (sinh năm 1980) mượn xe đạpcủa Huỳnh Văn Quý (sinh năm 1986, thường trú tại Tp.Cần Thơ), sau đó mang xe đếncầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi được 150.000 đồng để trả nợ
Khoảng 17 giờ ngày 20.10.2003, không thấy Trung trả lại xe nên Quý đi tìm.Quý gặp Trung tại quán cà-phê Ut Sinh thì Quý nói dối là đã cho người bạn mượn xe
và dẫn Quý đi lấy xe Trung dẫn Quý đi ra sau vườn thuộc phần đất nhà ông Lâm VănThông với ý định giết Quý để không phải trả lại chiếc xe đạp
Trên đường đi, Trung thấy Quý có đeo một sợi dây chuyền vàng ở cổ nên càng cóquyết tâm giết Quý để chiếm đoạt dây chuyền vàng
Khi đến mương nước ở vườn nhà ông Thông, Trung tạo cớ đã gần đến nơi lấy xeđạp, kêu Quý xuống mương rửa chân rồi vào nhà Lợi dụng lúc Quý đang rửa chân nênkhông để ý, Trung nhào đến ôm và xiết cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước chođến khi chết Sau đó, Trung lấy sợi dây chuyền vàng 24k, trọng lượng 1 chỉ của Quý
và lôi xác Quý giấu dưới cỏ cặp sát Rạch Điều, cách mương nước của ông Thôngkhoảng 4 mét
Trung mang sợi dây chuyền của Quý đi bán được 670.000 đồng để tiêu xài cánhân
Ngày 24.10.2003, vợ chồng ông Thông ra vườn đốn chuối bán thì phát hiện xáccủa Quý trương thối nổi trên mặt nước nên báo cho công an Ngày 25.10.2003, Trung
bị bắt
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được các vật chứng gồm: 1
xe đạp Trung Quốc, 01 đôi dép xốp hiệu Bitis, 01 đồng hồ điện tử đeo tay Tại bản kếtluận giám định pháp y số 322GĐ-KTHS ngày 29.10.2003 của Phòng kỹ thuật hình sựCông an tỉnh Cần Thơ kết luận: Nạn nhân Huỳnh Văn Quý tử vong do ngạt nước
Câu hỏi:
Trang 251 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước ?
Trả lời:
Định tội danh là một quá trình nhận thức logic, một dạng hoạt động của thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách, trên cơ sở cácchứng cứ, tài liệu thu thập được, xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quy định
Để xác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện 4 bước:
Bước 1 Xác định các tình tiết thực tế của vụ án.
- Việc thu thập các tình tiết thực tế của vụ án phải chính xác, đầy đủ, toàn diện.
- Việc thu thập các tình tiết của vụ án (chứng cứ) phải đảm bảo:
+ Tính khách quan: là những gì có thật, nó xảy ra và tồn tại 1 cách khách quan,không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người và phù hợp với các tình tiết kháccủa vụ án
+ Tính liên quan: các tình tiết của của vụ án được thu thập được nó phải liênquan trực hoặc gián tiếp với vấn đề cần chứng minh (có tội hay không có tội, ngườiphạm tội, hành vi phạm tội, các vấn đề khác)
+ Tính hợp pháp: có 2 nội dung
• Thứ nhất, việc thu thập, kiểm tra đánh giá các tình tiết của vụ án (chứng cứ) nóphải đúng theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định
• Thứ hai, rút ra từ các nguồn do BLTTHS quy định
Bước 2 Xác định nhóm QPPL hình sự tương ứng (khoanh vùng tội danh).
- Hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào
- Hành vi đó thuộc chương nào trong BLHS (khách thể loại)
- Tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
- Kiểm tra các dấu hiệu của từng CTTP để xác định được CTTP phù hợp với tìnhtiết thực tế của vụ án nhất
Trang 26Bước 3 Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS (xác định tội danh hay định tội danh).
- Phù hợp về khách thể và đối tượng tác động của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm
Bước 4: Xác định khung hình phạt.
Xác định khung hình phạt được quy định trong cấu thành nào:
- CTTP cơ bản: là cấu thành chỉ có dấu hiệu định tội, là cấu thành có sự mô tả và
sự mô tả đó cho phép chúng ta phân biệt tội danh này với tội danh khác Thường đượcquy định ở khoản 1
- CTTP tăng nặng: ngoài có dấu hiệu định tội còn có dấu hiệu định khung tăngnặng
- CTTP giảm nhẹ: ngoài có dấu hiệu định tội còn có dấu hiệu định khung giảmnhẹ
-> Xác định được điều, khoản áp dụng đối với hành vi phạm tội trên thực tế
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
Chủ thể: Võ Thành Trung
Hành vi:
- Khoảng 9 giờ ngày 19.10.2003:
Võ Thành Trung (sinh năm 1980) mượn xe đạp của Huỳnh Văn Quý (sinh năm
1986, thường trú tại Tp.Cần Thơ), sau đó mang xe đến cầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi
- Khoảng 17 giờ ngày 20.10.2003:
Trang 27+Trung mượn xe Quý không thấy Trung trả lại xe nên Quý đi tìm Quý gặpTrung tại quán cà-phê Ut Sinh thì Quý nói dối là đã cho người bạn mượn xe và dẫnQuý đi lấy xe
+Trung thấy Quý có đeo một sợi dây chuyền vàng ở cổ nên càng có quyết tâmgiết Quý để chiếm đoạt dây chuyền vàng
+Trung lừa Quý đến mương nhà ông Thông để lấy xe đạp, sau đó Trung nhàođến ôm và xiết cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước cho đến khi chết
+Trung lấy sợi dây chuyền vàng 24k, trọng lượng 1 chỉ của Quý và lôi xác Quýgiấu dưới cỏ cặp sát Rạch Điều, cách mương nước của ông Thông khoảng 4 mét
+Trung mang sợi dây chuyền của Quý đi bán được 670.000 đồng để tiêu xài cánhân
Hậu quả:
- Xe đạp của Quý được cầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi được 150.000 đồng
- Dây chuyền 24K của Quý được đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân
- Quý tử vong
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến
áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Trả lời:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửađổi bổ sung 2017 vì Võ Thành Trung mượn xe đạp của Huỳnh Văn Quý sau đómang xe đến cầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi được 150.000 đồng để trả nợ màkhông được sự đồng ý của Quý
Tội giết người Điều 123 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vì Trung ôm và xiết
cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước cho đến khi chết
Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vì Trung sau khilừa Quý đến vườn nhà ông Thông để giết Quý nhằm che giấu chuyện Trung lấy
xe của Quý đi cầm, thấy Quý có sợi dây chuyền vàng 24K nên càng quyết tâm
có ý định giết Quý để lấy sợi dây chuyền vàng
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của Trung trong vụ án trên.
Trang 28Trả lời:
Về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 BLHS
2015 sửa đổi bổ sung 2017 Ta thấy, tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm này phải có giátrị từ bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc một trong cáctrường hợp quy định tại khoản 1 Điều 175 Luật này
=> Như vậy, dù Trung có hành vi mượn xe của Quý rồi sau đó đi cầm nhưng giá trị tàisản dưới bốn triệu đồng (150.000 đồng) và không thuộc các trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều 175 Luật này nên không đủ căn cứ để kết tội Trung phạm Tội lạm dụngtín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017
Còn về Tội cướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung
2017 và Tội giết người Điều 123 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017:
Tội giết người
Võ Thành Trung phạm Tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015 bởi vì hành vicủa anh Trung có dấu hiệu để cấu thành Tội giết người như sau: Dấu hiệu của tội này
là hành vi giết người: Trung xiết cố Quý rồi dìm xuống nước dẫn đến hậu quả là Quýchết và hành vi đó trực tiếp dẫn đến cái chết của Quý nên đủ căn cứ để kết tội choTrung trong trường hợp này
- Chủ thể: Võ Thành Trung có năng lực trách nhiệm hình sự
- Khách thể: Xâm phạm quyền nhân thân cụ thể là tính mạng của Huỳnh VănQuý (Quý đã chết)
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý Vì Trung nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm(xiết cổ Quý dìm xuống nước) cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mongmuốn hậu quả đó xảy ra (Quý chết)
- Mặt khách quan:
+ Hành vi: Trung dẫn Quý đi ra sau vườn thuộc phần đất nhà ông Lâm VănThông với ý định giết Quý để không phải trả lại chiếc xe đạp Trên đường đi, Trungthấy Quý có đeo một sợi dây chuyền vàng ở cổ nên càng có quyết tâm giết Quý đểchiếm đoạt dây chuyền vàng Khi đến mương nước ở vườn nhà ông Thông, Trung tạo
cớ đã gần đến nơi lấy xe đạp, kêu Quý xuống mương rửa chân rồi vào nhà Lợi dụnglúc Quý đang rửa chân nên không để ý, Trung nhào đến ôm và xiết cổ Quý đè xuốngmương dìm dưới nước cho đến khi chết
Trang 29+ Hậu quả: Quý chết ngay tại chỗ
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi xiết cổ và dìm Quý xuống nước của Trung lànguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Quý
Tội cướp tài sản
Võ Thành Trung phạm Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS bởi vì hành vi của anh
Trung có dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản như sau: Anh Trung có hành vi khác
làm cho anh B lâm vào tình trạng không thể chống cự được (dùng vũ lực: Xiết cổ, dìmanh Quý xuống nước) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản
- Chủ thể: Võ Thành Trung có năng lực trách nhiệm hình sự
- Mặt khách thể: Hành vi của Trung đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản cụthể là dây chuyền vàng và xâm phạm đến quyền nhân thân của anh Quý
- Mặt khách quan:
Hành vi: Trung có hành vi dùng vũ lực là xiết cổ Quý sau đó dìm Quýxuống nước đến chết làm cho nạn nhân không thể chống cự được nhằm chiếm đoạtsợi dây chuyền 24K
Hậu quả: Dây chuyền cũng được đem đi bán lấy tiền để Trung tiêu xài
- Mặt chủ quan: Lỗi của Trung là lỗi cố ý trực tiếp biết hành vi của mình à tráipháp luật và thấy được hậu quả nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra Mục đích lànhằm chiếm đoạt tài sản của anh Quý
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của Trung trong vụ án trên?
Trả lời:
Lý thuyết về mặt khách quan:
Về mặt hậu quả, tình tiết anh Quý chết đã trở thành dấu hiệu định tội theo quyđịnh tại Điều 123 BLHS 2015 mà không trở thành dấu hiệu định khung tăng nặng theođiểm c khoản 4 Điều 168 BLHS 2015
BÀI TẬP 9:
Trang 30Khoảng 12h ngày 8/11/2005, Trương Thị Kim T đi bộ đến cổng trường Hà HuyTập phường 3 Quận Bình Thạnh thấy cháu Nguyễn Nhật Vy (sinh năm 1998) là họcsinh đang đứng trước cửa trường chờ vào lớp, trên người cháu Vy có đeo nữ trang (2nhẫn và một vòng đeo tay bằng vàng) T giả vờ đến nói với cháu Vy hôm qua Vy đánhcháu của T, cháu Vy nói không đánh ai cả, thì T bảo” “Nếu không đánh thì cũng phải
đi theo T đến nhà cho cháu T nhìn mặt và xin lỗi cháu T” Cháu Vy tin lời nên đi theo
T T đón một chiếc xích lô đạp đi cùng Vy đến đường Nguyễn Đình Chiểu thì xuống xevào hẻm vắng T nói với Vy “có thằng theo dõi Vy đeo nữ trang, lột nữ trang ra cất đi”
Vy tin lời nên tháo 2 chiếc nhẫn cất vào cặp và đưa cặp cho T giữ giùm, còn chiếcvòng đeo tay do chật Vy tháo không được Để chiếm đoạt chiếc vòng đeo tay, T đón xe
ôm chở đến đường Hàn Hải Nguyên phường 16 Quận 11, trên đường đi T mua một câykềm cắt móng tay Khi đến hẻm 83 đường Hàn Hải Nguyên, T cùng Vy xuống xe, Tdẫn Vy vào hẻm và dùng kềm cắt chiếc vòng nhưng không cắt được nên T đi bộ rangoài mua cây kéo nhỏ và thực hiện cắt vòng nhưng không cắt được nên T mang ratiệm đổi cây kéo lớn và sau đó T đang dùng kéo cắt chiếc vòng của cháu Vy thì bị nhândân phát hiện bắt giữ giao về Công an phường 3 Quận Bình Thạnh xử lý
Tại cơ quan điều tra Công an Quận Bình Thạnh, T đã khai nhận hành vi thực hiệnnhư đã nêu trên
xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quyđịnh
• Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)