Bước 2: Xác định QPPL hình sự tương ứng Xác định cấu thành tội phạm Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạ
Trang 1BÀI TẬP BÀI TẬP 2:
Do biết A là người kinh doanh karaoke và có cho nữ tiếp viên bán dâm ở quán, nên
B nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của A Khoảng 16h ngày 21/4/2008, B bàn với C làCông an phường X (không quản lý địa bàn nơi A kinh doanh karaoke) để chiếm đoạt tàisản của A bằng cách : C giả Côngan của Bộ Công an đến kiểm tra việc kinh doanh của A.khi phát hiện có dấu hiệu mua bán dâm nên yêu cầu A đưa 5 triệu đồng nếu không sẽ truycứu trách nhiệm hình sự A sợ nên đã đưa tiền cho C C chia số tiền chiếm đoạt được cho
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án).
- Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện
- Việc thu thập các tình tiết khách quan phải chính xác, trung thực, khách quan, khoa học
=> Phương pháp nhận thức: Việc nhận thức chân lý về vụ án phải tuân theo những quy tắclogic nhất định như việc nhận thức mọi sự vật, hiện thực khách quan
Bước 2: Xác định QPPL hình sự tương ứng (Xác định cấu thành tội phạm)
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự (xácđịnh khách thể loại)? Từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành viphạm tội trên thực tế Chúng ta cần kiểm tra các dấu hiệu của từng cấu thành tội phạmnày để xác định được cấu thành tội phạm phù hợp với tình tiết thực tế của vụ án nhất
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS
Người định tội danh sau khi xác định sự thật khách quan của vụ án và lựa chọn đượcCTTP có dấu hiệu tương ứng cần phải kiểm tra lại để xác định sự phù hợp chính xác giữahành vi phạm tội trên thực tế với CTTP được quy định trong BLHS Nếu thấy các tình tiếtcủa hành vi đã thực hiện hoàn toàn phù hợp với các dấu hiệu của tội phạm cụ thể thì phải
Trang 2kết luận hành vi đã thực hiện phạm tội đó Nếu thấy không phù hợp thì phải xác định lạixem hành vi đó có thỏa mãn dấu hiệu pháp lý của một tội khác không hay là không phạmtội.
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Việc xác định khung hình phạt chính xác cũng là cơ sở để xác định đúng tội danh, đặc biệt
là trong những trường hợp dấu hiệu định khung của một tội có thể là dấu hiệu định tội củamột tội khác
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của A vì B biết A là người kinh doanh karaoke
và có cho nữ tiếp viên bán dâm ở quán Chiều ngày 21/04/2008, B đã bàn bạc với C làCông an phường X (không quản địa bàn nơi A kinh doanh) về kế hoạch phạm tội, cả hai
đã thống nhất với nhau chiếm đoạt số tiền 5 triệu của A Kế hoạch phạm tội mà B, C đãthống nhất như sau: C đóng giả là Công an của Bộ Công an đến kiểm tra việc kinh doanhcủa A, khi phát hiện có dấu hiệu mua bán dâm tại nơi kinh doanh của A sẽ yêu cầu A đưa
5 triệu đồng nếu không sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự Kế hoạch thực hiện thành côngkhiến A sợ nên đã đưa tiền cho C sau đó C chia số tiền chiếm đoạt được cho B
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của B và C trong vụ án này.
Trả lời:
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì B, C đã thống nhất với nhau để C đóng giả Công anđến kiểm tra việc kinh doanh của A và phát hiện có dấu hiệu mua bán dâm nhằm chiếmđoạt số tiền 5 triệu đồng từ A
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản vì C có chức vụ là công an nhưng
đã sử dụng chức vụ, quyền hạn mà C có để lừa dối A nhằm thực hiện hành vi chiếm đoạttài sản của A
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của B và C trong vụ án.
Trả lời:
- B và C phạm Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
+ Khách thể: Xâm phạm đến quyền sở hữu của A
+ Chủ thể: B và C có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, C
có chức vụ, quyền hạn
+ Mặt khách quan:
Trang 3• Hành vi: B biết được quán A bán dâm nên cho C giả danh Bộ công an vào chiếm đoạt tàisản của A với số tiền 5 triệu đồng
• Hậu quả: A bị B, C chiếm đoạt số tiền 5 triệu đồng
+ Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp B và C nhận thức được hành vi của mình là trái phápluật nhưng vẫn cố ý thực hiện
- B và C không phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì kế hoạch của B, C là để C đónggiả làm công an của Bộ công an chiếm đoạt tài sản của A, tuy nhiên C là người có chức
vụ, quyền hạn là công an cụ thể là công an phường X và C đã dùng chức vụ công an củamình nhằm chiếm đoạt tài sản của A Không thể định tội này vì A là người có chức vụ và
sử dụng chức vụ của mình nhằm chiếm đoạt tài sản
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của B và C?
Trả lời:
Thứ nhất, định tội danh theo 4 yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan,
chủ thể, khách thể vì chủ thể là C là người có chức vụ quyền hạn dùng chức vụ của mình
để lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thứ hai, lý thuyết về đồng phạm vì B và C đều có bàn bạc và lên kế hoạch trước,
việc xác định hành vi khách quan phải dựa trên cả mỗi hành vi của hai người này
BÀI TẬP 3:
A làm nghề chăn bò thuê, khoảng 15h ngày 9/2/2006, trong lúc đang chăn bò, Athấy một con bò đực không rõ của ai đến ăn chung với bò của A, đến chiều không thấychủ bò đến lùa về, nên A đã đưa con bò này về cột ở trại của A Đến ngày 12/2/2006, Adẫn bò đi giấu ở nơi khác và đến ngày 17/2/2006, A thuê xe vận chuyển con bò đó đi tiêuthụ Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện Tài sản bị thiệt hại là con bò đựcđược định giá 5.500.000đ
Trang 4Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực, kháchquan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự, từ đótìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với
CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phần các tộiphạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
Chủ thể: A là người chăn bò thuê Lúc 15h ngày 9/2/2006, A chăn bò thì thấy con
bò đực khác đến ăn chung với bò của mình, A không biết con bò đực đó là của ai Vềchiều A cũng không thấy chủ bò dắt bò về, A đã đợi chủ nhân của con bò đực đến dắt bò
về Không thấy chủ của con bò đực đến, A cột con bò đực ở trại của mình, A chưa có ýđịnh chiếm đoạt con bò đực Ngày 12/2/2006, A dẫn bò đi giấu ở nơi khác, A bộc lộ ý đồxấu muốn chiếm đoạt con bò đực nên đã giấu đi nơi khác Ngày 17/2/2006, A thuê xe vậnchuyển con bò đó đi tiêu thụ A đã thực hiện hành vi của mình khi đem con bò đực đi tiêuthụ Trên đường đi chưa kịp tiêu thụ thì bị phát hiện Chưa tiêu thụ được con bò đực thì A
đã bị cơ quan chức năng phát hiện
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của A trong
vụ án này.
Trả lời:
Cấu thành tội danh dự kiến đối với A:
- Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS 2015): A có hành vi lén lút giấu bò và khôngthông báo cho người khác cũng như các cơ quan nhà nước
Trang 5- Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS 2015): do A chiếm đoạt tài sản trước
sự bất lực của chủ nhân con bò
- Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015): do A có hành vi chiếm giữ con
bò đực, cột con bò ở trại của mình
- A không có tội do bò đực tự đến ăn chung với bò của A, về chiều thì A không thấy chủ
bò đến dắt bò về nên A mới dắt về cột ở trại mình
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án.
Trả lời:
Mục đích của A là muốn chiếm đoạt con bò nên A đã có hành vi lén lút giấu bò đểchuẩn bị vận chuyển bò đi tiêu thụ Khi thuê xe vận chuyển con bò đực đi tiêu thụ thì trênđường vận chuyển bị cơ quan chức năng phát hiện A phạm tội trộm cắp tài sản (Điều
173 BLHS 2015)
Dấu hiệu định tội:
- Khách thể: Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác
- Mặt khách quan: A đã có hành vi lén lút đưa con bò về cột ở trại mà không thông báocho hàng xóm cũng như cơ quan chức năng mà đem đi tiêu thụ
- Chủ thể: A có năng lực chịu trách nhiệm hình sự cũng như đạt được độ tuổi luật định
- Chủ quan: A thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp
A không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172 BLHS 2015) vì lúc dắt
bò về cũng như thực hiện hành vi tiêu thụ con bò, A vẫn chưa biết chủ nhân con bò là ai,chủ con bò cũng không biết tài sản của mình bị A chiếm đoạt
A không phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 176 BLHS 2015) vì chủ nhân
và cơ quan chức năng không biết A đang giữ con bò đực nên không có yêu cầu nhận lạitài sản Hơn nữa, để buộc tội chiếm giữ trái phép tài sản thì giá trị tài sản phải từ10.000.000đ đến dưới 200.000.000đ
A có tội do có hành vi lén lút di chuyển bò đực đi tiêu thụ mà không thông báo chongười dân, lực lượng chức năng cũng như không tìm kiếm chủ nhân con bò để thông báocho chủ biết, mục đích chiếm đoạt con bò đực được thể hiện rõ ràng trong ý chí của A
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A ?
Trả lời:
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A trong
vụ án trên là hành vi khách quan Căn cứ vào Điều 172 BLHS 2015, Điều 173 BLHS
2015, Điều 176 BLHS 2015 để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của A
Trang 6BÀI TẬP 4:
Lâm, Sanh và một số bạn khác cùng xóm đến nhà Thắm chơi Khi đi Lâm có mang theomột con dao bấm để trong túi Trong lúc nói chuyện, Lâm có lấy con dao bấm mới đượcanh rể cho ra khoe với bạn bè Khoảng 22 giờ cùng ngày, Quân, Sự, Hiệp đi đến nhàThắm, lại gần chỗ nhóm bạn của Lâm đang ngồi và hỏi: “Thằng nào là Lâm đứng lên nóichuyện chút coi” (trước đó Lâm và Quân đã xảy ra ẩu đả lẫn nhau) Lâm đứng lên nói:
“Tao là Lâm nè, có chuyện gì không?” Vừa dứt lời, Quân liền nhảy vào dùng tay đánhLâm nhưng Lâm tránh được; Sự và Hiệp dùng dây thắt lưng xông vào đánh Lâm Thấyvậy, Sanh nhảy vào can ra nhưng cũng bị nhóm của Quân đánh nên Sanh đã đánh lại Lúcnày Lâm lấy con dao nhíp trong túi ra đâm vào ngực Quân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát;Sanh cũng bị Lâm đâm nhầm một nhát vào vai Sau đó, Lâm vứt dao xuống sông và đếnthẳng công an xã trình báo toàn bộ sự việc Do vết thương quá nặng, Quân bị chết trênđường đưa đi cấp cứu; Sự bị tổn hại sức khỏe 21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
(Nguồn: Bản án HSST số 62/2003 của TAND tỉnh Sóc Trăng).
Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này, cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước.
Trả lời:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết phải toàn diện, đầy đủ Bên cạnh đó phải chính xác, trungthực, khách quan, khoa học và tuân theo những quy tắc logic nhất định như sự nhận thứcmọi sự vật, hiện tượng khách quan
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trong bước này, cần xác định khách thể loại của hành vi phạm tội Nghĩa là trên cơ
sở hành vi khác quan của vụ án cần xác định hành vi đó hướng tới nhóm quan hệ xã hộinào được pháp luật bảo vệ Từ đó tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành
vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS (Định tội danh)
Trong bước này, quá trình kiểm tra, đối chiếu, so sánh phải được tiến hành với từnghành vi chủ thể đã thực hiện Nếu có đồng phạm thì phải xác định vai trò của từng chủthể, nhất là vai trò của người thực hành hoặc người tổ chức)
Tiếp đến, lần lượt kiểm tra, đối chiếu với từng cấu thành tội phạm cụ thể Và kiểmtra các quy định của phần chung và phần các tội phạm liên quan đến cấu thành tội phạm
Trang 7Từ kết quá của việc so sánh, đối chiếu, lựa chọn điều luật tương ứng trong phầncác tội phạm của Bộ luật Hình sự đối với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho
xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Việc xác định khung hình phạt chính xác cũng có thể là cơ sở để xác định đúng tộidanh, đặc biệt là trong những trường hợp dấu hiệu định khung của một tội có thể là dấuhiệu định tội của một tội khác
Trong quá trình xác định khung HP cần phân biệt giá trị pháp lý của các dấu hiệuđịnh tội, định KHP (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS)
Xác định khung hình phạt trên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung
2 Tình tiết thực tế nào trong vụ án có giá trị định tội?
Trả lời:
Trong các tình tiết thực tế được cho, các tình tiết sau đây có giá trị định tội:
- Về thời gian: Khoảng 22h
- Địa điểm: Nhà Thắm
- Công cụ: Con dao bấm để trong túi
Về hành vi khách quan: Quân liền nhảy vào dùng tay đánh Lâm nhưng Lâm tránh được;
Sự và Hiệp dùng dây thắt lưng xông vào đánh Lâm Thấy vậy, Sanh nhảy vào can ranhưng cũng bị nhóm của Quân đánh nên Sanh đã đánh lại Lúc này Lâm lấy con dao nhíptrong túi ra đâm vào ngực Quân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát; Sanh cũng bị Lâm đâmnhầm một nhát vào vai Sau đó, Lâm vứt dao xuống sông và đến thẳng công an xã trìnhbáo toàn bộ sự việc
Về hậu quả: Do vết thương quá nặng, Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu; Sự bị tổn
hại sức khỏe 21%; Hiệp bị tổn hại sức khỏe 17%
3 Nêu những cấu thành tội phạm (với các tội danh cụ thể) mà người tiến hành tố tụng cần dự kiến trước khi đưa ra kết luận về tội danh đối với hành vi của Lâm trong vụ án này.
Trả lời:
Trường hợp 1: Lâm bị truy tố theo 2 tội là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác (Điều 134 BLHS) và Tội giết người (Điều 123 BLHS)
Thứ nhất, là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác
theo Điều 134 BLHS với tình tiết làm chết người Bởi lẽ, vì trước đó đó có mâu thuẫn vớiQuân nên cả đã ẩu đả Trong lúc ẩu đả, Lâm lấy con dao nhíp trong túi ra đâm vào ngựcQuân, Sự, Hiệp mỗi người một nhát; Sanh cũng bị Lâm đâm nhầm một nhát vào vai Sau
Trang 8đó, Lâm vứt dao xuống sông và đến thẳng công an xã trình báo toàn bộ sự việc Hậu quảQuân bị thương và chết trên đường đi cấp cứu; Sự bị tổn hại sức khỏe 21%; Hiệp bị tổnhại sức khỏe 17%.
Thứ hai, là tội giết người theo Điều 123 BLHS Bởi lẽ, khi xảy ra ẩu đả, Lâm đã
dùng dao bấm đâm vào ngực của Quân và Sự Vì ngực là vị trí trọng yếu trên cơ thể, Lâmbiết rõ khi đâm có thể dẫn đến chết người nhưng vẫn thực hiện
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của Lâm trong vụ án.
Thứ ba, về mặt chủ quan
Lâm thực hiện hành vi thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Lâm biết rõ hành vi dùng dao đâmvào ngực Quân, Sự và Hiệp có thể gây ra chết người nhưng vẫn cố ý đâm và mong muốnhậu quả xảy ra
- Mục đích của hành vi phạm tội:
Trang 9+ Tội giết người: Người phạm tội thực hiện hành vi nhằm mục đích tước đoạttính mạngcủa nạn nhân.
+ Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người: Người phạm tội thực hiện hành vi chỉnhằm mục đích gây tổn hại đến thân thể nạn nhân Việc nạn nhân chết nằm ngoài ý thứcchủ quan của người phạm tội
ra thì được xác định là lỗi cố ý trực tiếp Trong trường hợp một người thực hiện hành vinguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấytrước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức
để mặc cho hậu quả xảy ra thì được xác định là lỗi cố ý gián tiếp
+ Tội cố ý gây thương tích gây hậu quả chết người: Người thực hiện hành vi có lỗi vô ýđối với hậu quả chết người xảy ra Nghĩa là họ thấy trước hành vi của mình có thể gây rahậu quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra, có thể ngăn ngừa đượchoặc họ không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả chết người, mặc dù phảithấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó Hậu quả chết người xảy ra là vì những thươngtích do hành vi của người phạm tội gây ra
- Trong trường hợp phạm tội cố ý gây thương tích, người phạm tội chỉ mong muốn hoặc
bỏ mặc cho hậu quả gây thương tích xảy ra Còn trường hợp phạm tội giết người chưa đạt
là người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, hậu quả chết người không xảy ra là ngoài ýmuốn của họ
- Trường hợp người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có khả năng làm chếtngười mà vẫn có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra muốn sao cũng được, nếu hậu quả là
Trang 10gây thương tích thì định tội cố ý gây thương tích, nếu hậu quả là chết người thì ngườiphạm tội phạm vào tội giết người.
Như vậy, hành vi của lâm là lỗi cố ý trực tiếp với vị trí đâm là ngực của nạn nhân.Hậu quả Quân bị chết trên đường đưa đi cấp cứu; còn Sự bị tổn hại sức khỏe 21% và Hiệp
bị tổn hại sức khỏe 17% mà không chết là nằm ngoài ý muốn của Lâm nên thuộc trườnghợp giết người chưa đạt
BÀI TẬP 5:
Đức, Thắng, Thủy, Chinh là 4 công nhân sống cùng trong khu tập thể Sau khi đilàm về, Đức ra bể nước công cộng tắm Khi Đức quay vào thì thấy anh Thủy và Chinhđến tắm Năm phút sau, Đức quay lại hỏi anh Thủy và Chinh có nhặt được đồng hồ doĐức để quên không nhưng 2 anh xác nhận là không lấy Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đức
và Thắng gọi anh Thủy và Chinh ra quán nước hỏi về việc chiếc đồng hồ nhưng hai anhThủy và Chinh vẫn nói là không nhặt được Thắng thấy vậy đứng dậy rút dao rựa từ trongngười ra, đập xuống bàn và nói: “Chúng mày không trả, tao băm nát chúng mày ra” và tátanh Chinh một cái; Đức đấm anh Thủy một cái vào bụng rồi bỏ về Sau khi Đức bỏ về,Thắng bắt anh Thủy và Chinh lên cầu Long Biên, tiếp tục tra hỏi hai anh và nói: “Nếuchúng mày không trả đồng hồ thì phải nhảy xuống sông Hồng” Hai anh van xin nhưngThắng không chấp nhận Sợ bị đánh nên anh Chinh nhảy từ độ cao 12 mét xuống sôngHồng, bơi vào bờ thì bị ngất Anh Thủy nói với Thắng là mình không biết bơi và van xinThắng tha cho nhưng Thắng không tha Anh Thủy phải bám vào lan can cầu và tiếp tụcvan xin Thắng Lúc này tổ tuần tra Công an thị trấn Gia Lâm phát hiện, kéo anh Thủy lên,bắt Thắng đưa về công an giải quyết
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)
Trang 11Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực, kháchquan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự, từ đótìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS (định tội danh)
• Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
• Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
• Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phần các tộiphạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện
- Thắng bắt anh Thủy và Chinh lên cầu Long Biên, tiếp tục tra hỏi hai anh và nói nếu haianh không trả đồng hồ thì phải nhảy xuống sông Hồng Hai anh van xin nhưng Thắngkhông chấp nhận
- Thủy nói với Thắng là mình không biết bơi và van xin Thắng tha cho nhưng Thắngkhông tha Thủy phải bám vào lan can cầu và tiếp tục van xin Thắng
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Trang 12Trả lời:
Mục đích của Thắng là đe dọa để lấy lại đồng hồ do Đức để quên, không có mụcđích giết người khi thực hiện hành vi đe dọa nên không thể định tội theo Điều 123 BLHS.Tuy nhiên, việc làm cho Thủy là người bị đe dọa lo sợ và tin rằng mình sẽ bị giết, điềunày thỏa mãn các dấu hiệu định tội của Điều 133 BLHS, cụ thể:
Dấu hiệu định tội:
Chủ thể: Thắng là chủ thể thường là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độtuổi chịu trách nhiệm hình sự
Khách thể: xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của Thủy Đối tượng tácđộng là anh Thủy
Mặt chủ quan: Thắng thực hiện hành vi với lỗi cố ý Thắng biết hành vi đe dọa giếtngười là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện, đồng thời mong muốn Thủy sẽ lo sợ vàtin rằng mình có thể sẽ bị giết
Mặt khách quan:
+ Hành vi: Thắng đã thực hiện hành vi tra hỏi Thủy, Chinh và nói nếu hai anh không trảđồng hồ thì bắt cả hai phải nhảy xuống sông Hồng Sau đó, Thắng tiếp tục không tha khinghe Thủy không biết bơi
+ Hậu quả và mối quan hệ nhân quả: Từ hành vi đe dọa của Thắng là nguyên nhân trựctiếp dẫn đến việc anh Thủy và anh Chinh lo sợ rằng mình bị giết
5 Các định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của Thắng trong vụ án trên?
Trả lời:
Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của Thắngtrong vụ án trên là dựa vào yếu tố cấu thành tội phạm mà cụ thể là mặt chủ quan Trongtrường hợp này là về mục đích Mục đích của Thắng là đe dọa để lấy lại đồng hồ do Đức
để quên, không có mục đích tước đoạt tính mạng người khác khi thực hiện hành vi đe dọa
do đó không cấu thành tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015
BÀI TẬP 6:
Sau nhiều lần gửi xe để vào chợ huyện mua sắm, A nhận thấy việc giữ xe tại bãinày rất lỏng lẻo, lúc đông đúc có nhiều người lấy xe ra nhưng người giữ xe không soát vé.Cho rằng có thể lợi dụng tình hình này để “làm tiền” bãi xe nên A đã hành động… Đầunăm 2005, A đến gửi xe vào bãi Chờ đến khi người ra vào lộn xộn, A lẳng lặng dắt xe ra
mà không ai phát hiện để soát vé Ra khỏi bãi, A nổ máy phóng về nhà Sau khi cất giấu
xe an toàn, A chậm rãi quay trở lại bãi xe Giả vờ như vừa từ trong chợ ra, A đi đi lại lại
Trang 13để tìm xe Một người giữ xe chạy đến hỏi, A bảo rằng xe gửi đây nhưng giờ không thấy.
Cả bãi dò thẻ xe của A rồi nháo nhào tìm Một hồi, chủ bãi giữ xe thừa nhận: xe máy của
A đã mất A yêu cầu chủ bãi giữ xe phải bồi thường cho mình 5 triệu đồng Tưởng là yêucầu của mình sẽ nhanh chóng được thực hiện nhưng A không ngờ chủ bãi xe dùng dằng:
“Chuyện này phải báo công an rồi mới tính” Sự việc được đưa đến Công an huyện T Saukhi ghi nhận diễn biến sự việc và tiến hành điều tra, cơ quan điều tra mời A lên làm việc.Ban đầu A quanh co chối cãi, nhưng trước những chứng cứ của cơ quan điều ra đưa ra, A
đã phải khai ra toàn bộ sự thật như đã nêu trên
(Nguồn: Theo Báo Pháp luật Tp.HCM) Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước?
Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực, kháchquan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự, từ đótìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS (định tội danh)
Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phần các tộiphạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Trang 14Trong quá trình xác định khung hình phạt cần phân biệt giá trị pháp lý của các dấu hiệuđịnh tội, định khung hình phạt (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS)
Xác định khung hình phạt trên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
Vi nhận thấy việc giữ xe tại bãi giữ xe chợ huyện lỏng lẻo, lúc đông đúc người ra vàonhưng người giữ xe không soát vé, nên đầu năm 2005, A đến gửi xe vào bãi, chờ đến khingười ra vào lộn xộn, A lẳng lặng dắt xe ra mà không ai phát hiện để soát vé Ra khỏi bãi,
- Tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS), vì A có hành vi lén lút, lẳng lặt dắt xe ra khỏi bãigiữ xe trong lúc đông người, lộn xộn, người giữ xe không soát hết vé và phóng về nhà.Hành vi này của A cho rằng người soát vé không thể biết được hành vi chiếm đoạt tài sảncủa A
- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS), vì A có hành vi lợi dụng lúc đôngngười, lộn xộn, người giữ xe không soát vé tất cả các xe ra vào bãi đã lẳng lặng dắt xe rakhỏi bài mà không cần soát vé, chạy xe về nhà, sau đó A quay lại bãi giữ xe giả vờ tìm xecủa mình nhưng không tìm thấy để quy tội cho nhà xe là mất xe của A, thực chất A cómục đích lừa chủ bãi giữ xe, yêu cầu bồi thường 5 triệu đồng
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của A trong vụ án trên.
Trang 15+ Hành vi: A đã lén lấy chiếc xe máy được gửi trong bãi giữ xe, lẳng lặt dắt xe ra khỏi bãigiữ xe trong lúc đông người, lộn xộn, người giữ xe không soát hết vé và phóng về nhà.
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp
- Chủ thể: A đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự
* Hành vi của A không phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS) do mặtkhách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm hữu trái phép tài sản củangười khác để tạo cho mình khả năng định đoạt tài sản đó một cách gian dối Đó là hành
vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin là sự thật nên đã tự nguyện giao tàisản cho người có hành vi gian dối để họ chiếm đoạt Hai dấu hiệu đặc trưng của tội phạmnày là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt Trong vụ án trên, A có hành vi gian dối chủnhà giữ xe, cho rằng xe của A đã bị mất và yêu cầu chủ bãi giữ xe phải bồi thường 5 triệuđồng nhưng bên phía chủ giữ xe không bồi thường 5 triệu mà đề nghị để công an giảiquyết (tức không tự nguyện giao tài sản)
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của A trong vụ án trên?
Trả lời:
Lý thuyết về định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội phạm Cụ thể: hành vi thuộc yếu
tố cấu thành khách quan của tội phạm
để lấy tiền tiêu xài Theo công văn số X/QĐ –CNCL-TCHC ngày 20/09/2003 của Chinhánh cấp nước Chợ Lớn trực thuộc Tổng công ty nước Sài Gòn xác định: Hệ thống cáctrụ cứu hỏa và đường ống cấp nước trên tuyến Quốc lộ 1A, đoạn trước Công ty P, đã đượcChi nhánh Cấp nước Chợ lớn thi công lắp đặt hoàn chỉnh phục vụ công tác chữa cháy trênđịa bàn, chưa có biên bản bàn giao cho Công an PCCC để đưa vào sử dụng, nhưng khicần lấy nước thì lúc nào cũng có thể sử dụng được Căn cứ vào công văn phúc đáp sốY/CV-KHVT ngày 29/06/2004 của Chi nhánh Cấp nước Chợ Lớn và hợp đồng mua bántrụ cứu hỏa số 2392 ngày 20/06/2002 xác định đơn giá của nắp trụ cứu hỏa là 650 ngàn
Trang 16đồng/ 1 cái cộng thuế giá trị gia tăng là 5% Sau khi thu hồi được 2 nắp trụ cứu hỏa, Chinhánh cấp nước Chợ Lớn đã lắp đặt trở lại vị trí nắp trụ cứu hỏa bị T lấy cắp, thì kết quảđược xác định các thao tác đóng mở van của trụ cứu hỏa này vẫn thực hiện tốt, nghĩa làtrụ vẫn hoạt động bình thường.
Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực, kháchquan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự, từ đótìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS (định tội danh)
Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phần các tộiphạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm cho xãhội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
Trong quá trình xác định khung hình phạt cần phân biệt giá trị pháp lý của các dấu hiệuđịnh tội, định khung hình phạt (tăng nặng, giảm nhẹ TNHS) Xác định khung hình phạttrên cơ sở nhận thức các tình tiết định khung
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc định tội?
Trả lời:
Trang 17Anh T làm nghề mua bán phế liệu Vào lúc 8h30’ ngày 19/9/2003, T phát hiện có 1 trụcấp nước phòng cháy chữa cháy (PCCC) và vắng người qua lại, T xuống xe dùng kiềmcộng lực và mỏ lết mang theo sẵn, cắt xích bảo hiểm để lấy 02 nắp đậy của trụ cấp nướcPCCC thì bị lực lượng công an PCCC tuần tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng,giao cho Công an phường lập biên bản xử lý T khai nhận hành vi mở lấy 2 nắp đậy củatrụ nước PCCC nhằm mục đích mang đi bán phế liệu lấy tiền tiêu xài.
Theo công văn số X/QĐ –CNCL-TCHC ngày 20/09/2003 của Chi nhánh cấp nước ChợLớn trực thuộc Tổng công ty nước Sài Gòn: Hệ thống các trụ cứu hoả và đường ống dẫnnước trên thi công lắp đặt hoàn chỉnh phục vụ công tác chữa cháy trên địa bàn, chưa cóbiên bản bàn giao cho Công an PCCC để đưa vào sử dụng, nhưng khi cần lấy nước thìlúc nào cũng có thể sử dụng được Đơn giá của nắp trụ cứu hoả là 650 ngàn đồng/ 1 cáicộng thuế giá trị gia tăng là 5% Sau khi thu hồi 2 nắp cứu hoả mà T lấy cắp, lắp lại chỗ
cũ thì trụ cứu hoả này vẫn hoạt động bình thường
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Không có tội: giá trị 2 nắp cứu hoả mà T có hành vi chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T trong vụ án trên.
Trả lời:
Trong vụ án trên, T không có tội
Về mặt khách thể: khách thể là tài sản, cụ thể là 2 nắp đậy của trụ cấp nước trị giá dưới
2 triệu đồng
=> Như vậy, dù T có hành vi dùng kiềm cộng lực và mỏ lết mang theo sẵn, cắt xích bảohiểm để lấy 02 nắp đậy của trụ cấp nước PCCC nhưng giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng nênkhông đủ căn cứ để kết tội T phạm Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172) hay Tộitrộm cắp tài sản (Điều 173)
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của T trong vụ án trên?
Trả lời:
Trang 18Cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của Ttrong vụ ántrên là Định tội theo bốn yếu tố cấu thành tội phạm (mặt chủ quan, mặt khách quan, chủthể, khách thể) Trong vụ án trên, để định tội danh của T ta chủ yếu dựa vào mặt kháchquan là tài sản.
BÀI TẬP 8:
Khoảng 9 giờ ngày 19.10.2003, Võ Thành Trung (sinh năm 1980) mượn xe đạpcủa Huỳnh Văn Quý (sinh năm 1986, thường trú tại Tp.Cần Thơ), sau đó mang xe đếncầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi được 150.000 đồng để trả nợ Khoảng 17 giờ ngày20.10.2003, không thấy Trung trả lại xe nên Quý đi tìm Quý gặp Trung tại quán cà-phê
Ut Sinh thì Quý nói dối là đã cho người bạn mượn xe và dẫn Quý đi lấy xe Trung dẫnQuý đi ra sau vườn thuộc phần đất nhà ông Lâm Văn Thông với ý định giết Quý để khôngphải trả lại chiếc xe đạp Trên đường đi, Trung thấy Quý có đeo một sợi dây chuyền vàng
ở cổ nên càng có quyết tâm giết Quý để chiếm đoạt dây chuyền vàng
Khi đến mương nước ở vườn nhà ông Thông, Trung tạo cớ đã gần đến nơi lấy xe đạp, kêuQuý xuống mương rửa chân rồi vào nhà Lợi dụng lúc Quý đang rửa chân nên không để ý,Trung nhào đến ôm và xiết cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước cho đến khi chết Sau
đó, Trung lấy sợi dây chuyền vàng 24k, trọng lượng 1 chỉ của Quý và lôi xác Quý giấudưới cỏ cặp sát Rạch Điều, cách mương nước của ông Thông khoảng 4 mét Trung mangsợi dây chuyền của Quý đi bán được 670.000 đồng để tiêu xài cá nhân
Ngày 24.10.2003, vợ chồng ông Thông ra vườn đốn chuối bán thì phát hiện xác của Quýtrương thối nổi trên mặt nước nên báo cho công an Ngày 25.10.2003, Trung bị bắt
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ được các vật chứng gồm: 1 xe đạpTrung Quốc, 01 đôi dép xốp hiệu Bitis, 01 đồng hồ điện tử đeo tay Tại bản kết luận giámđịnh pháp y số 322GĐ-KTHS ngày 29.10.2003 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnhCần Thơ kết luận: Nạn nhân Huỳnh Văn Quý tử vong do ngạt nước
Câu hỏi:
1 Để xác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện các bước nào? Tóm tắt nội dung của từng bước?
Trả lời:
Định tội danh là một quá trình nhận thức logic, một dạng hoạt động của thực tiễn
áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách, trên cơ sở cácchứng cứ, tài liệu thu thập được, xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP tương ứng do luật Hình sự quy định Đểxác định đúng tội danh trong vụ án này cần thực hiện 4 bước:
Trang 19Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án.
- Việc thu thập các tình tiết thực tế của vụ án phải chính xác, đầy đủ, toàn diện
- Việc thu thập các tình tiết của vụ án (chứng cứ) phải đảm bảo:
+ Tính khách quan: là những gì có thật, nó xảy ra và tồn tại 1 cách khách quan, không phụthuộc vào ý thức chủ quan của con người và phù hợp với các tình tiết khác của vụ án.+ Tính liên quan: các tình tiết của của vụ án được thu thập được nó phải liên quan trựchoặc gián tiếp với vấn đề cần chứng minh (có tội hay không có tội, người phạm tội, hành
vi phạm tội, các vấn đề khác)
+ Tính hợp pháp: có 2 nội dung
• Thứ nhất, việc thu thập, kiểm tra đánh giá các tình tiết của vụ án (chứng cứ) nó phảiđúng theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định
• Thứ hai, rút ra từ các nguồn do BLTTHS quy định
Bước 2: Xác định nhóm QPPL hình sự tương ứng (khoanh vùng tội danh).
- Hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào
- Hành vi đó thuộc chương nào trong BLHS (khách thể loại)
- Tìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
- Kiểm tra các dấu hiệu của từng CTTP để xác định được CTTP phù hợp với tình tiết thực
tế của vụ án nhất
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với CTTP
được quy định trong BLHS (xác định tội danh hay định tội danh)
- Phù hợp về khách thể và đối tượng tác động của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm
- Phù hợp về các dấu hiệu thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm
Bước 4: Xác định khung hình phạt.
Xác định khung hình phạt được quy định trong cấu thành nào:
- CTTP cơ bản: là cấu thành chỉ có dấu hiệu định tội, là cấu thành có sự mô tả và sự mô tả
đó cho phép chúng ta phân biệt tội danh này với tội danh khác Thường được quy định ởkhoản 1
- CTTP tăng nặng: ngoài có dấu hiệu định tội còn có dấu hiệu định khung tang nặng
- CTTP giảm nhẹ: ngoài có dấu hiệu định tội còn có dấu hiệu định khung giảm nhẹ
-> Xác định được điều, khoản áp dụng đối với hành vi phạm tội trên thực tế
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong việc
định tội?
Trang 20Trả lời:
Chủ thể: Võ Thành Trung
Hành vi:
- Khoảng 9 giờ ngày 19.10.2003:
Võ Thành Trung (sinh năm 1980) mượn xe đạp của Huỳnh Văn Quý (sinh năm 1986,thường trú tại Tp.Cần Thơ), sau đó mang xe đến cầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi
- Khoảng 17 giờ ngày 20.10.2003:
+ Trung mượn xe Quý không thấy Trung trả lại xe nên Quý đi tìm Quý gặp Trung tạiquán cà-phê Ut Sinh thì Quý nói dối là đã cho người bạn mượn xe và dẫn Quý đi lấy xe+ Trung thấy Quý có đeo một sợi dây chuyền vàng ở cổ nên càng có quyết tâm giết Quý
để chiếm đoạt dây chuyền vàng
+ Trung lừa Quý đến mương nhà ông Thông để lấy xe đạp, sau đó Trung nhào đến ôm vàxiết cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước cho đến khi chết
+ Trung lấy sợi dây chuyền vàng 24k, trọng lượng 1 chỉ của Quý và lôi xác Quý giấu dưới
cỏ cặp sát Rạch Điều, cách mương nước của ông Thông khoảng 4 mét
+ Trung mang sợi dây chuyền của Quý đi bán được 670.000 đồng để tiêu xài cá nhân.Hậu quả:
- Xe đạp của Quý được cầm tại tiệm cầm đồ Thành Lợi được 150.000 đồng
- Dây chuyền 24K của Quý được đem đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân
Tội giết người Điều 123 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vì Trung ôm và xiết cổ Quý
đè xuống mương dìm dưới nước cho đến khi chết
Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vì Trung sau khi lừa Quýđến vườn nhà ông Thông để giết Quý nhằm che giấu chuyện Trung lấy xe của Quý đicầm, thấy Quý có sợi dây chuyền vàng 24K nên càng quyết tâm có ý định giết Quý để lấysợi dây chuyền vàng
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của Trung trong vụ án trên.
Trang 21Trả lời:
Về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 BLHS 2015 sửa đổi
bổ sung 2017 Ta thấy, tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm này phải có giá trị từ bốn triệuđồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tạikhoản 1 Điều 175 Luật này
=> Như vậy, dù Trung có hành vi mượn xe của Quý rồi sau đó đi cầm nhưng giá trị tài sảndưới bốn triệu đồng (150.000 đồng) và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1Điều 175 Luật này nên không đủ căn cứ để kết tội Trung phạm Tội lạm dụng tín nhiệmchiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 Còn về Tộicướp tài sản quy định tại Điều 168 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 và Tội giết ngườiĐiều 123 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017:
Tội giết người
Võ Thành Trung phạm Tội giết người theo Điều 123 BLHS 2015 bởi vì hành vi của anhTrung có dấu hiệu để cấu thành Tội giết người như sau: Dấu hiệu của tội này là hành vigiết người: Trung xiết cố Quý rồi dìm xuống nước dẫn đến hậu quả là Quý chết và hành vi
đó trực tiếp dẫn đến cái chết của Quý nên đủ căn cứ để kết tội cho Trung trong trường hợpnày
- Chủ thể: Võ Thành Trung có năng lực trách nhiệm hình sự
- Khách thể: Xâm phạm quyền nhân thân cụ thể là tính mạng của Huỳnh Văn Quý (Quý
đã chết)
- Mặt chủ quan: Lỗi cố ý Vì Trung nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm (xiết cổQuý dìm xuống nước) cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậuquả đó xảy ra (Quý chết)
- Mặt khách quan:
+ Hành vi: Trung dẫn Quý đi ra sau vườn thuộc phần đất nhà ông Lâm Văn Thông với ýđịnh giết Quý để không phải trả lại chiếc xe đạp Trên đường đi, Trung thấy Quý có đeomột sợi dây chuyền vàng ở cổ nên càng có quyết tâm giết Quý để chiếm đoạt dây chuyềnvàng Khi đến mương nước ở vườn nhà ông Thông, Trung tạo cớ đã gần đến nơi lấy xeđạp, kêu Quý xuống mương rửa chân rồi vào nhà Lợi dụng lúc Quý đang rửa chân nênkhông để ý, Trung nhào đến ôm và xiết cổ Quý đè xuống mương dìm dưới nước cho đếnkhi chết
+ Hậu quả: Quý chết ngay tại chỗ
+ Mối quan hệ nhân quả: Hành vi xiết cổ và dìm Quý xuống nước của Trung là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến cái chết của Quý
Trang 22 Tội cướp tài sản
Võ Thành Trung phạm Tội cướp tài sản Điều 168 BLHS bởi vì hành vi của anh Trung códấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản như sau: Anh Trung có hành vi khác làm cho anh Blâm vào tình trạng không thể chống cự được (dùng vũ lực: Xiết cổ, dìm anh Quý xuốngnước) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản
- Chủ thể: Võ Thành Trung có năng lực trách nhiệm hình sự
- Mặt khách thể: Hành vi của Trung đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản cụ thể là dâychuyền vàng và xâm phạm đến quyền nhân thân của anh Quý
- Mặt khách quan:
Hành vi: Trung có hành vi dùng vũ lực là xiết cổ Quý sau đó dìm Quý xuống nước đếnchết làm cho nạn nhân không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt sợi dây chuyền 24K
Hậu quả: Dây chuyền cũng được đem đi bán lấy tiền để Trung tiêu xài
- Mặt chủ quan: Lỗi của Trung là lỗi cố ý trực tiếp biết hành vi của mình à trái pháp luật
và thấy được hậu quả nhưng mong muốn hậu quả đó xảy ra Mục đích là nhằm chiếmđoạt tài sản của anh Quý
5 Xác định cơ sở lý thuyết dùng để giải quyết tranh chấp tội danh đối với hành vi của của Trung trong vụ án trên?
Trả lời:
Lý thuyết về mặt khách quan:
Về mặt hậu quả, tình tiết anh Quý chết đã trở thành dấu hiệu định tội theo quy định tạiĐiều 123 BLHS 2015 mà không trở thành dấu hiệu định khung tăng nặng theo điểm ckhoản 4 Điều 168 BLHS 2015
BÀI TẬP 9:
Khoảng 12h ngày 8/11/2005, Trương Thị Kim T đi bộ đến cổng trường Hà HuyTập phường 3 Quận Bình Thạnh thấy cháu Nguyễn Nhật Vy (sinh năm 1998) là học sinhđang đứng trước cửa trường chờ vào lớp, trên người cháu Vy có đeo nữ trang (2 nhẫn vàmột vòng đeo tay bằng vàng) T giả vờ đến nói với cháu Vy hôm qua Vy đánh cháu của T,cháu Vy nói không đánh ai cả, thì T bảo” “Nếu không đánh thì cũng phải đi theo T đếnnhà cho cháu T nhìn mặt và xin lỗi cháu T” Cháu Vy tin lời nên đi theo T T đón mộtchiếc xích lô đạp đi cùng Vy đến đường Nguyễn Đình Chiểu thì xuống xe vào hẻm vắng
T nói với Vy “có thằng theo dõi Vy đeo nữ trang, lột nữ trang ra cất đi” Vy tin lời nêntháo 2 chiếc nhẫn cất vào cặp và đưa cặp cho T giữ giùm, còn chiếc vòng đeo tay do chật
Vy tháo không được Để chiếm đoạt chiếc vòng đeo tay, T đón xe ôm chở đến đường HànHải Nguyên phường 16 Quận 11, trên đường đi T mua một cây kềm cắt móng tay Khi
Trang 23đến hẻm 83 đường Hàn Hải Nguyên, T cùng Vy xuống xe, T dẫn Vy vào hẻm và dùngkềm cắt chiếc vòng nhưng không cắt được nên T đi bộ ra ngoài mua cây kéo nhỏ và thựchiện cắt vòng nhưng không cắt được nên T mang ra tiệm đổi cây kéo lớn và sau đó T đangdùng kéo cắt chiếc vòng của cháu Vy thì bị nhân dân phát hiện bắt giữ giao về Công anphường 3 Quận Bình Thạnh xử lý Tại cơ quan điều tra Công an Quận Bình Thạnh, T đãkhai nhận hành vi thực hiện
như đã nêu trên
• Các bước định tội danh:
Bước 1: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án (sự thật khách quan của vụ án)
Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đầy đủ, toàn diện, chính xác, trung thực, kháchquan, khoa học
Bước 2: Dự kiến các CTTP tương ứng
Trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án đã thu thập được, người định tội danh cần xácđịnh hành vi đó hướng tới xâm phạm nhóm quan hệ xã hội nào trong luật hình sự, từ đótìm kiếm các tội phạm có dấu hiệu tương ứng với hành vi phạm tội trên thực tế
Bước 3: Xác định sự phù hợp chính xác giữa hành vi phạm tội trên thực tế với
CTTP được quy định trong BLHS (định tội danh)
• Kiểm tra, đối chiếu với từng hành vi mà chủ thể đã thực hiện
• Nếu vụ án có đồng phạm thì kiểm tra vai trò của từng người
• Kiểm tra với từng CTTP cụ thể, kiểm tra các quy định của phần chung, phần
các tội phạm liên quan đến 1 CTTP
=> Lựa chọn điều luật tương ứng với các tình tiết cụ thể của hành vi nguy hiểm
cho xã hội đã được thực hiện
Bước 4: Xác định khung hình phạt
2 Những tình tiết thực tế nào trong vụ án trên có giá trị pháp lý trong
việc định tội?
Trang 24Trả lời:
Chủ thể: bà Trương Thị Kim T
Hành vi:
Khoảng 12h ngày 8/11/2005, T thấy cháu Vy đeo nhiều nữ trang trên người mà lại đứng
ở cổng trường một mình nên T đã lừa đưa cháu Vy đến nơi vắng người nhằm chiếm đoạttài sản
T lừa kêu cháu Vy đưa trang sức (nhẫn, vòng tay) đang đeo cho T giữ
T lừa cháu Vy đi nơi khác mua dụng cụ (kìm và kéo) để cắt chiếc vòng đeo tay còn lạinhưng chưa cắt được thì bị phát hiện
3 Nêu những cấu thành tội phạm cụ thể mà người định tội danh cần dự kiến
áp dụng khi định tội danh trong vụ án này?
Trả lời:
Tội cưỡng đoạt tài sản Điều 170 BLHS 2015 vì bà T có hành vi đe dọa tinh thần ép cháu
Vy đi theo mình và chiếm đoạt tài sản của cháu Vy
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Điều 174 BLHS 2015 vì bà T đã lừa cháu Vy đến nơi vắngngười để lừa lấy tài sản của cháu
4 Hãy xác định tội danh đối với hành vi của T trong vụ án trên.
- Khách thể: quan hệ sở hữu tài sản
+ Đối tượng tác động: nữ trang đang đeo trên người cháu Vy
- Mặt khách quan:
+ Hành vi: Lợi dụng cháu Vy còn nhỏ tuổi nên bà T đã lừa cháu đến nơi vắng người để dễdàng thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Bà T đã lừa cháu Vy đưa nữ trang đang đeocho mình cất giữ, nhưng do vòng tay quá chật không thể tháo ra được, bà T đã 2 lần đưa
Vy đến nơi khác nhằm mua kềm và kéo cắt chiếc vòng tay này
+ Hậu quả: gây thiệt hại về tài sản cho cháu Vy cụ thể là số trang sức mà Vy đang
đeo
- Mặt chủ quan: