Tuy nhiên, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân c
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
“Tôi cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các kết quả
trong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác Các số liệu, ví dụ, bảng kê, và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tính chính xác và trung thực, không gian dối hay bịa đặt Tôi đã hoàn thành tất các môn học
và hoàn thành tất cá các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Vinh – Nghệ An”
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thảo Nguyên
Trang 4CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
VKSND Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại “Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
do Đảng lãnh đạo Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và
tư pháp Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014
thì VKSND vẫn giữ chức năng kiểm sát điều tra Việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra, xử lý kịp thời” “ Thời gian qua, với sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng tự hào Những thành tựu đã đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Cùng với những chủ trương, chính sách phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội, Nhà nước ta luôn quan tâm đến các biện pháp bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người kinh doanh, tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh Nhà nước tạo sự tự chủ cho các tổ chức và cá nhân, tập thể đăng ký, hoạt động kinh doanh ngoài những ngành nghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sức khỏe của nhân dân”
“Tại Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Như vậy, việc chống
lại các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp đã được Nhà nước thể chế thành nguyên tắc hiến định Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và văn bản pháp luật nhằm phòng chống các tội phạm kinh tế nói chung, tội tàng trữ, vận chuyển
Trang 6hàng cấm nói riêng Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam do Quốc hội thông qua ngày 17/6/1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào năm 1989, 1990, 1992, 1997
có quy định về tội 2 buôn bán, tàng trữ hàng cấm trong chương “Các tội phạm kinh tế” BLHS 1999 đã đưa ra quy định điều chỉnh hành vi liên quan đến hàng cấm rải rác ở các chương khác nhau quy định về các hành vi liên quan đến hàng cấm và một số hàng cấm cụ thể khác như chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu
nổ, vũ khí hoặc công cụ hỗ trợ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc BLHS 2015 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều BLHS 2015 (ban hành năm 2017) ngoài những nội dung cấu thành tội phạm trong BLHS 1999, bộ luật còn có nhiều thay đổi về việc xây dựng cấu thành tội phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nên cần thiết phải có cách hiểu thống nhất để áp dụng pháp luật đối với tội phạm này Bên cạnh các quy định của Luật hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, còn
có các quy định của các văn bản pháp luật thuộc Ngành và lĩnh vực khác cũng điều chỉnh các quan hệ và hành vi liên quan đến hàng cấm”
“Tuy nhiên, do đặc thù của nền kinh tế thị trường, sức ép cạnh tranh và những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế nên nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm kinh tế ngày càng có môi trường phát sinh, phát triển, trong đó tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đang ngày càng tăng về số lượng với nhiều mặt hàng cấm nguy hiểm, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, hơn hết là tác động tiêu cực tới con người, môi trường và xã hội, nó đã trở thành một vấn đề nhức nhối của xã hội Công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này cần phải quyết liệt mạnh mẽ, để làm được điều đó cần có sự đánh giá chính xác, chi tiết, đầy đủ về tội phạm này”
“Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh Long An trong thời gian gần đây không chỉ có chiều hướng tăng về số lượng, chủng loại mà còn diễn biến phức tạp về cả tính chất, quy mô Đối tượng phạm tội có rất nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, táo bạo và có tính chất rất quyết liệt Trong khi đó, hoạt động điều tra xử lý tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu trước tình hình thực tế tại địa
Trang 7kinh tế xã hội Tình hình trên đã đặt ra một vấn đề rất bức thiết là phải có những giải pháp hữu hiệu, phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Để xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo lòng tin trong nhân dân và điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh
tế xã hội tại địa phương cũng như của đất nước Tuy nhiên, việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện vẫn chưa được thực hiện một cách có hệ thống và chuyên sâu trên địa bàn tỉnh Long An”
“Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An” làm luận văn thạc sĩ
Luật học.”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là nội dung được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong thực tế đã có những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ở nhiều góc độ khác nhau như:
“ Lục Thị Út (2014),“Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Cao Bằng) [48] ”.
“Ở công trình này, tác giả nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm hiện nay ở Việt Nam Phân tích các quy định của BLHS về tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự đối với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm ở tỉnh Cao Bằng, làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng loại tội phạm này, nêu lên những vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện BLHS và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của BLHS về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.”
Trang 8“Nguyễn Thị Hạnh (2013), “Thực hành pháp luật trong giải quyết các vụ án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” Luận văn đã trình
bày một số vấn đề lý luận về thực hành pháp luật trong giải quyết các vụ án buôn
bán, vận chuyển hàng cấm Phân tích thực trạng thực hành pháp luật trong giải
quyết các vụ án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chỉ
ra số hạn chế và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hành pháp luật trong giải quyết các vụ án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, còn một số bài viết đăng trong các
báo Pháp Luật, các tạp chí TAND, VKSND, bài nghiên cứu trao đổi trên website của Bộ Tư Pháp, TAND tối cao, VKSND tối cao Ngoài ra, còn một số sách tham khảo, chuyên khảo có đề cập nội dung rất nhỏ liên quan đến đề tài luận văn như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (phần các tội phạm), của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS.ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001”
“Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây đã phân tích và làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến công tác kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, những giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác này, qua đó đã đưa ra những phương pháp, cách làm để nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra Tuy nhiên tất cả các đề tài và bài viết mới chỉ tập trung nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể và nội dung nghiên cứu đều ở những địa bàn khác nhau
Vì vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách đầy
đủ và có hệ thống về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh
Long An Chính vì vậy việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An” theo tác giả là đề tài vừa đảm bảo
được tính kế thừa các công trình đã công bố, nhưng cũng đảm bảo được tính độc lập tương đối, tính mới và tính cấp thiết của đề tài.”
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
“Mục đích của Luận văn là nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong kiểm
sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, trên địa bàn tỉnh Long An Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong thực tiễn hiện nay”
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
“Để thực hiện được các mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết các
nhiệm vụ sau: Phân tích cơ sở lý luận, khái niệm, thẩm quyền, căn cứ pháp luật
trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Nội dung áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; các yếu tố ảnh hưởng đến việc dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.”
Làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An” “Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An trong thời gian tới.”
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.1 Đối tượng nghiên cứu
‘Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp
luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An”
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- “ Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề
xung quanh chức năng trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh, các quy định của các
Bộ luật và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trên của VKSND cấp huyện Thông qua
Trang 10đó, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn.”
Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Long An
Phạm vi thời gian: Trong thời gian 05 năm (từ năm 2015 - 2019)
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
“ Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nhất là các quan điểm chỉ đạo của Đảng về tăng cường áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
“Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn có sự kế thừa, tham khảo
những kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của các công trình nghiên cứu trước.”
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng như: Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp của các bộ môn khoa học khác: Thống kê tội phạm, phương pháp hệ thống…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án
tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Trang 11Chương 1
“LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN”
1.1 “Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
“1.1.1 “Khái niệm về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
1.1.1.1.” Khái niệm hàng cấm, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
“Khái niệm hàng cấm: Hàng cấm được rất nhiều người sử dụng trong đời
sống kinh tế Tuy nhiên, hiểu một cách chính xác về bản chất của từ này trong khoa học pháp luật hình sự thì chưa có cách hiểu và giải thích thống nhất Để tìm hiểu khái niệm hàng cấm chúng ta tìm hiểu thông qua ngữ nghĩa của hai từ cụ thể:
- “hàng” là sản phẩm để bán, - “cấm” là không cho phép làm việc gì đó hoặc không cho phép tồn tại [51] Từ đó hàng cấm được hiểu là những sản phẩm không cho phép tồn tại.”
“Theo từ điển Luật học giải thích: “hàng cấm là hàng hoá bị Nhà nước cấm kinh doanh [51, tr.319] Một số từ điển hoặc các văn bản có liên quan có đề cập đến hàng cấm là hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán, kinh doanh [52, tr.16] Hàng cấm còn được nhắc đến trong giải thích tội buôn lậu: buôn lậu là buôn bán trốn thuế hoặc hàng cấm Tuy được nhắc đến nhiều nhưng chưa có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ này”
“Hiện nay, nhiều tác giả đồng tình với cách giải thích: Hàng cấm là hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh [52, tr.110] Hàng cấm theo nghĩa rộng là loại hàng hoá
bị cấm kinh doanh dưới mọi hình thức Bản chất của hàng cấm có thể được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau.”
Dưới góc độ xã hội, “hàng cấm được hiểu phổ biến nhất là những mặt hàng đặc biệt do Nhà nước trực tiếp quản lý độc quyền, cấm sản xuất, kinh doanh Theo
Trang 12triết học Mác - Lê nin hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua hoạt động trao đổi, mua bán Hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình mà nhờ vào tính chất của
nó thoả mãn nhu cầu của con người Trong nền kinh tế thị trường, hàng hoá ngày càng trở nên đa dạng phong phú Việc quản lý đối với các loại hàng hoá và các hoạt động kinh doanh liên quan đến hàng hoá ngày càng phức tạp, khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hàng hoá gây ảnh hưởng xấu tới con người, môi trường và xã hội Từ sự phát triển của tự do thương mại mà Nhà nước thống nhất quản lý những mặt hàng có tính chất đặc biệt, có những đặc tính riêng cần phải hạn chế cách ly các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán những mặt hàng đó trong xã hội Pháp luật quy định cấm tuyệt đối với những mặt hàng khi lưu thông hoặc sử dụng có thể gây nguy hại cho an ninh, quốc phòng, trật
tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa, môi trường và sức khỏe nhân dân, vì vậy Nhà nước cần phải độc quyền quản lý loại hàng hoá đó Trong xã hội gọi những
hàng hoá này là “hàng cấm” hay “hàng quốc cấm””
Dưới góc độ kinh tế thì “hàng cấm là hàng hoá nhưng thuộc loại do Nhà nước thống nhất quản lý cấm các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán Hàng hóa và sản xuất, buôn bán hàng hóa gắn liền với hoạt động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong quá trình kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hội nhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu Việc sản xuất hàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng thời
nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh doanh Qua các thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội lượng hàng hóa sản xuất ngày một nhiều và đa dạng Có hàng hoá được tự do sản xuất, kinh doanh; có những mặt hàng do tính chất đặc thù của nó mà Nhà nước phải cấm thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, do những lợi nhuận mà các mặt hàng này đem lại, các cá nhân,
tổ chức lén lút sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Mặc dù vậy, cho đến nay khái niệm hàng
Trang 13Trong quá trình giải quyết về loại vụ việc liên quan đến hàng cấm, một vấn đề đặt
ra đối với các cơ quan chức năng là phải hiểu rõ thế nào là hàng cấm và các loại hàng cấm để từ đó mới ra được những quyết định phù hợp, đúng đắn phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự kinh tế nói chung, tội phạm về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm” nói riêng
Dưới góc độ pháp lý, “hàng cấm là đối tượng đặc biệt, được Nhà nước quản
lý và xử lý đối với hành vi liên quan đến nó Trong pháp luật thương mại, đầu tư đều có quy định những đối tượng cấm hoạt động kinh doanh đầu tư và có các chế tài xử phạt đối với hành vi liên quan đến hàng cấm.”
Khoản 1 Điều 25 Luật thương mại xác định: ““ Căn cứ vào điều kiện kinh tế -
xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó” Đối với pháp luật về thương mại đầu tư,
các nhà làm luật không định nghĩa hàng cấm là gì mà được quy định thành danh mục cụ thể những mặt hàng cấm kinh doanh Danh mục này do Chính phủ quy định và từng thời kỳ khác nhau thì danh mục hàng hoá cấm kinh doanh cũng thay đổi [52, tr.5].”
Nghị định 185/2013/NĐ-CP của “Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán
hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giải thích: “Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa
chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam”
Dưới góc độ pháp lý hình sự, “hàng cấm được xác định là đối tượng của tội phạm về kinh tế, bị xem là đối tượng: “bất hợp pháp” Việc lưu thông và kinh doanh đối với đối tượng này ở mức độ nhất định là hành vi tội phạm, bị pháp luật hình sự nghiêm cấm Để hiểu rõ về hàng cấm, ngoài việc xem xét khái niệm hàng hóa nói chung, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu các văn bản pháp luật quy định về hàng cấm và dấu hiệu nhận biết hàng cấm Tuy nhiên, cho tới trước khi BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được ban hành, các quy định pháp lý về
Trang 14hàng cấm còn chưa chỉ ra khái niệm hàng cấm và chưa quy định cụ thể dấu hiệu nhận biết đối tượng hàng cấm đã được điều chỉnh tại các điều luật khác với Điều
155 BLHS năm 1999 Điều này đã gây những khó khăn nhất định cho việc nghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức cho đúng về hàng cấm dưới góc độ pháp lý”
“Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm
về hàng cấm mà hàng cấm chỉ được nhắc đến một cách chung chung Để đưa ra 10 khái niệm đầy đủ nhất về hàng cấm dưới góc độ pháp luật hình sự cần chú ý một
số nội dung cơ bản sau”:
Một là, hàng cấm là loại hàng hoá đặc biệt do nhà nước thống nhất quản lý và quy định cụ thể danh mục hàng hoá thuộc loại này
Hai là, danh mục hàng cấm không cố định mà có sự thay đổi theo từng thời
kỳ khác nhau Có nhiều loại hàng hoá có tính chất cấm vĩnh viễn, cũng có những hàng hoá chỉ cấm tạm thời
Ba là, hàng cấm có tác hại về kinh tế, có khả năng gây hại cho tính mạng, sức khoẻ con người và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị của mỗi quốc gia”
“Bốn là, tuỳ thuộc vào chế độ quản lý của mỗi quốc gia mà việc quy định các mặt hàng cấm sản xuất kinh doanh khác nhau BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có nhiều điều luật quy định hành vi phạm tội liên quan đến hàng cấm ở các chương khác nhau, là đối tượng tác động của nhiều tội phạm khác nhau như: hàng cấm là chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, văn hoá phẩm đồi truỵ Những hàng cấm còn lại chưa quy định cụ thể ở Điều luật nào khác thì được quy định tại Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017 quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
Như vậy, diện hàng cấm nói chung rộng hơn diện hàng cấm là đối tượng tác động của Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Nhìn nhận diện hàng cấm theo nghĩa rộng chúng ta cần nhìn nhận diện hàng cấm trên tất cả các lĩnh vực và có sự liên hệ với diện hàng cấm là đối tượng tác động của các tội phạm
cụ thể về hàng cấm kể trên Vì vậy, từ những phân tích nêu trên và thực tiễn áp
Trang 15hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam” [53, tr.205].
Khái niệm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
“Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi cất giữ, chuyển dịch hàng hoá
mà Nhà nước cấm kinh doanh Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ chỗ nào một cách trái phép Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cách giấu bất kỳ một vị trí nào khác mà người tàng trữ đã chọn, không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất ra hàng cấm khác hoặc vận chuyển từ nơi này đến nơi khác Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không
có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý Nếu tàng trữ hàng cấm cho người khác mà biết rõ người này buôn bán hàng cấm thì hành vi cất giữ hàng cấm không phải là hành vi tàng trữ mà là hành vi giúp sức người buôn bán hàng cấm và
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò đồng phạm Tuy nhiên, hành vi buôn bán, vận chuyển đã được quy định trong cùng một điều luật nên việc xác định chính xác hành vi tàng trữ, hành vi vận chuyển hay hành vi buôn bán chỉ có ý nghĩa trong việc định tội theo hành vi (một hoặc một số hành vi hay định tội theo hành vi đầy đủ), nếu cùng một loại hàng cấm.”
“ Khi xác định hành vi tàng trữ hàng cấm, cần phân biệt với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Nếu tài sản do người khác phạm tội mà có là hàng cấm, người đó chứa chấp thì hành vi chứa chấp sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hàng cấm hoặc hành vi tiêu thụ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm”
“Vận chuyển hàng cấm là hành vi đưa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác một cách trái phép Hình thức vận chuyển có thể là trực tiếp mang hoặc gửi hàng cấm
từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng bất cứ đường nào (đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, đường bưu điện) bằng bất kỳ phuơng thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục đích buôn bán, tàng trữ Tuy nhiên nếu vận chuyển hàng cấm qua biên giới thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Nếu vận chuyển hàng cấm hộ cho người khác mà biết rõ mục đích buôn bán hàng cấm của người mà
Trang 16mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò giúp sức Nguyên nhân cũng
do việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán hàng cấm mang lại nguồn lợi kinh tế rất lớn nên nhiều người, nhiều cá nhân, tổ chức hám lợi mà bất chấp những quy định của pháp luật để thực hiện Đó đều là những hành vi gây nguy hiểm cho
xã hội không chỉ vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính mà còn bị coi là tội phạm
và buộc phải xử lý, áp dụng chế tài hình sự”
“Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ xem hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là tội phạm khi hành vi đó ở mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội, cụ thể như: phải thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm với số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính, hoặc bị kết án về một số hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế được quy định trong Bộ luật hình sự như trong phần nghiên cứu dưới đây”
Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
“Tội phạm nói chung, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nói riêng đều là hiện tượng tiêu cực của xã hội có nguồn gốc từ sự phát triển của xã hội Mỗi quốc gia,
để bảo vệ lợi ích của đất nước mình và phù hợp với tập quán thương mại quốc tế đều đưa ra những chính sách nhằm đấu tranh, phòng ngừa và giảm bớt tác hại của loại tội phạm này Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.”:
Hành vi thoả mãn các yếu tố nêu trên mới được coi là tội phạm Hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm để được coi là tội phạm cũng phải thoả mãn các yếu tố theo quy định của pháp luật Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được quy định tại
Trang 17Điều 191 thuộc chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của BLHS năm 2015
“Để tìm ra khái niệm chính xác về tội này, cần tìm hiểu khái niệm của các cụm từ, thuật ngữ tạo nên tội danh và nguồn gốc, bản chất của hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Từ trước đến nay các văn bản có liên quan hay các Từ điển tiếng Việt có đề cập đến khái niệm hoặc giải thích các cụm từ: vận chuyển hàng cấm, tàng trữ hàng cấm Tổng kết lại người nghiên cứu hiểu một cách ngắn gọn: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong BLHS là các hành vi cất giữ hàng cấm bằng bất kỳ hình thức nào, di chuyển hàng cấm từ nơi này đến nơi khác bằng bất kỳ hình thức nào” [51]
“Để tìm ra khái niệm chính xác về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, bên cạnh việc tìm hiểu những cụm thuật ngữ tạo nên tội danh, người nghiên cứu cũng cần tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của tội danh này Các hoạt động sản xuất, kinh doanh liên quan đến hàng cấm xuất hiện trước hết là do sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội dẫn đến sự phát triển của những hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá trong nội địa không đồng nhất cả về sức sản xuất (nguồn cung), nhu cầu tiêu dùng (nguồn cầu) Một số mặt hàng với tính chất đặc biệt có nguy cơ gây nguy hại cho nền kinh tế và cho sức khoẻ con người Các loại hàng hoá này mang lại lợi nhuận lớn khiến các cá nhân, tổ chức bất chấp sự quản lý của Nhà nước để lưu thông hàng hoá loại này Đây chính là nguyên nhân sâu xa khiến hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan”
“Với bản chất là hoạt động kinh tế mang tính xã hội, hoạt động lưu thông hàng cấm luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế Việc quan niệm về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của từng quốc gia trong từng giai đoạn và điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội cũng vì thế mà khác nhau Những quốc gia có nền kinh tế phát triển có hệ thống quy phạm pháp luật về thương mại, đầu tư, kinh doanh trong nước rất chặt chẽ, do đó hệ thống mặt hàng lưu thông nội địa quy định nghiêm ngặt, chế tài xử phạt đối với những hoạt động lưu thông hàng hoá kém chất lượng, hàng hoá không được kinh doanh rất nghiêm khắc, do đó những mặt hàng cấm vĩnh viễn mới được áp dụng trong chế tài của luật hình sự theo hướng
Trang 18quy định đối với hành vi lưu thông loại hàng hoá cụ thể như ma tuý, chất phóng xạ Đối với các quốc gia khác, các quốc gia có nền kinh tế kém phát triển hơn, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế hơn, các hành vi lưu thông hàng cấm phức tạp và tinh vi hơn, do đó các quốc gia này áp dụng biện pháp nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với các hành vi lưu thông hàng hoá thuộc danh mục hàng cấm do Chính phủ quy định”
“Với những đặc điểm nêu trên, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại Điều 191: “Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305,
306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ””
“Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về tội tàng trữ, vận
chuyển hàng cấm như sau: Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là những hành vi cất giữ trái phép, vận chuyển trái phép những mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng với số lượng, trọng lượng hoặc giá trị cụ thể mà pháp luật quy định, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một
số loại hàng hóa nhất định [53, tr.205].”
Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học pháp lý hình sự Luật hình sự Việt Nam khẳng định:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại [46, tr.86]
“Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi xâm hại đến một trong các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ quy định tại Điều 8 BLHS Khách thể của tội phạm
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành
vi phạm tội cũng như đối với việc định tội danh và quyết định hình phạt trên thực
Trang 19độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cẩm mà pháp luật quy định”
“Hành vi khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bao gồm hành vi tàng trữ hàng cấm và hành vi vận chuyển hàng cấm Tàng trữ hàng cấm như đã phân tích ở trên là hành vi cất giữ trái phép những mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng trong người, trong nhà hoặc ở bất kỳ nơi nào không phụ thuộc và thời gian cất giữ dài hay ngắn [6, tr.301]”
“Vận chuyển hàng cấm là hành vi đưa những mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào từ địa điểm này đến địa điểm khác mà không nhằm mục đích bán [4, tr.301]”
1.1.1.2. “Khái niệm về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
“Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm án là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc trường hợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hình thức giám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trong các quan hệ điều tra, KSĐT các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụng pháp luật của VKSND đó là các quyết định của cơ quan điều tra, các hành vi của những người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS Các quyết định và các hành vi đó
có thể được ban hành, thực hiện theo đúng hoặc không đúng quy định của pháp luật Khi đó Nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND, nhằm phát hiện những sai phạm, kịp thời đề ra các yêu cầu, kiến nghị các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được tuân thủ theo các quy định của pháp luật”
Dưới góc độ lý luận chung về “áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhà nước
Trang 20của các cơ quan có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những vi phạm pháp luật vào từng trường hợp cụ thể đối với những cá nhân, đơn vị, tổ chức cụ thể Áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có thể coi là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
Như vậy, áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
Hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của VKSND có một số đặc điểm cơ bản sau”:
Thứ nhất, “áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển
hàng cấm là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành theo pháp luật quy định”
Theo quy định của “pháp luật thì VKSND các cấp là cơ quan có chức năng thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp thực hiện quyền tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bảo đảm mọi hành
vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp pháp của công dân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.”
VKSND “thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Hoạt động thực hành quyền công tố và KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được quy định tại Điều
Trang 21Tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong giai đoạn điều tra:
- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật
- Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Với những quy định của pháp luật như trên thì VKSND có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong hoạt động kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật Đảm bảo cho việc khởi tố điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được tuân theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội và đúng pháp luật”
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng
cấm của VKSND phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
Hoạt động điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của cơ quan điều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND, đây là một quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơ quan: Công an - VKS, là những hoạt động rất quan trọng có tính quyết định trong quá trình giải quyết những vụ án hình sự Chính hoạt động KSĐT có vai trò quan trọng như vậy nên pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hiện hành nói riêng đã quy định rất chặt chẽ việc áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các vụ
Trang 22án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Pháp luật TTHS quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục của các hoạt động điều tra, hoạt động giám sát như: khởi tố vụ án; khởi tố bị can; các biện pháp điều tra; các biện pháp ngăn chặn; nhập, tách vụ án hình sự; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; thời hạn điều tra”
Tóm lại, tất cả các bước trong quá trình điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND đều được quy định chặt chẽ theo các trình tự thủ tục do pháp luật TTHS hiện hành quy định”
Thứ ba, quyết định áp dụng pháp luật trong KSĐT của VKSND được pháp
luật bảo đảm thi hành
Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật đã ban hành là giai đoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng Khi một quyết định áp dụng pháp luật sau khi ban hành mà không được thi hành trên thực
tế thì cũng đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa pháp luật, vô hiệu hóa cơ quan thực thi
và bảo vệ pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng đến pháp chế XHCN”
Các quyết định áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đã được Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định chặt chẽ và đầy đủ Việc thực hiện các quyết định áp dụng pháp luật của VKSND sẽ đảm bảo cho quá trình giải quyết những vụ án hình sự được đúng theo quy định của pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất”
Tại Điều 23, khoản 2 BLTTHS năm 2003 quy định: Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này.”
Trang 231.2.3 “Vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
“Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005) đã nêu rõ: “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra” Mục tiêu của việc tăng cường vai áp dụng pháp luật trong kiểm
sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện kịp thời để từ đó Cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội,,…Đây là một trong những yêu cầu quan trọng của cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công
lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với
hệ thống tổ chức Toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng kiểm sát điều tra; tăng cường trách nhiệm trong hoạt động điều tra.”
“Từ sự quan trọng đó mà ngày 06/12/2013 Viện trưởng VKSND tối cao đã
ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” Chỉ thị yêu cầu toàn ngành Kiểm sát “Thực hiện tốt chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không để xảy ra oan, sai””
Tại Điều 3 Quy chế THQCT & KSĐT xác định: Công tác kiểm sát điều tra
vụ án án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát có vai trò:
- Đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội;
- Đảm bảo không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự
và nhân phẩm một cách trái pháp luật;
Trang 24- Đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện kịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh;
- Đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật
1.2 “Nội dung áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
1.2.1 “Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
-“ Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm tuân theo pháp luật trong tố tụng được quy định trong BLTT
và chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự
và các hoạt động tố tụng hình sự khác của các chủ thể tham gia vào các quan hệ tố tụng”
- Nguyên tắc này chứa đựng những nội dung thể hiện phương châm, định hướng quan trọng về hoạt động tố tụng của Đảng và Nhà nước ta và được thể hiện trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng
-“Nguyên tắc này là sự kết hợp giữa hai chức năng của Viện kiểm sát là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng Tóm lại, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ
án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tuân theo pháp luật trong tố tụng là nguyên tắc
cơ bản của luật tố tụng được quy định trong BLTTHS, thể hiện ở vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố, quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và kiểm sát việc pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được
xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”
Trang 251.2.2 “Thẩm quyền áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 khi áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền sau:
(1) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can
(2) Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trái pháp luật
( 3) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định
(4) Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân
(5) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật
(6) Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (7) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can
(8) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật
mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục
Trang 26(9) Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm
(10) Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ
án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
(11) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công
tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.” Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì cơ quan có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra là Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiện thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền pháp lý trong tố tụng hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định cụ thể, chặt chẽ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong THQT và trong hoạt động kiểm sát điều tra Điểm mới trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015 liên quan đến vấn đề thực hành quyền công tố là hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự, VKSND có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu cơ quan CSĐT tiến hành hoạt động điều tra, đây là nhiệm vụ được coi là quan trọng nhất của VKS trong giai đoạn này Để bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành tốt, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra phải nghiên cứu
kỹ hồ sơ vụ án, bám sát quá trình hoạt động của cơ quan điều tra nhằm kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra một cách toàn diện để đảm bảo quá trình điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp thực hiện một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật như: Hỏi cung bị can; Ghi lời khai bị hại, người làm chứng, người liên quan; Tiến hành đối chất;…để củng cố các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm đánh giá một cách khách quan và toàn diện toàn bộ vụ án
“Khi áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển
Trang 27phân công theo quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm việc điều tra khách quan, toàn diện, đúng pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra trường hợp oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm Tùy từng trường hợp, VKS có thể tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan điều tra nếu quá trình nghiên cứu phát hiện cơ quan điều tra đã thực hiện không đúng quy định của pháp luật Đối với các vụ án có tính chất phức tạp, còn nhiều quan điểm khác nhau thì tăng cường họp liên ngành; Kiểm sát viên, Điều tra viên cần tăng cường trao đổi thống nhất việc đánh giá chứng cứ, chứng minh các tình tiết vụ án.”
“Trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thay đổi theo hướng tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viên nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, chống oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, nhiệm vụ, quyền hạn của Kiểm tra viên là quy định mới, được quy định cụ thể tại Điều 43 Bộ luật Tố tụng hình sự Các chủ thể thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đều phải chịu trách nhiệm trách pháp luật về hành vi, quyết định của mình”
“Theo quy định tại Điểm b, c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự thì Viện trưởng Viện kiểm sát có quyền phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Việc phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự được thể hiện bằng Quyết định phân công theo mẫu do Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định phân công do Viện trưởng ký, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên có tên trong quyết định có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo quy định của pháp luật Phân cấp thực hành quyền kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự được thực hiện ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện theo thẩm quyền xét xử của Tòa án các cấp tương đương”
“Công tác áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát được chú trọng từ khi Cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, xét xử các vụ án Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
Trang 28khởi tố là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm”
“Viện kiểm sát chỉ trực tiếp giải quyết khi phát hiện Cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát
đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra đang thụ
lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được văn bản mà không khắc phục thì Viện kiểm sát sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ nội dung vụ án và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trên”
Thẩm quyền áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát thể hiện bằng các hình thức như:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, khởi tố bị can trong các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, quyết định không khởi tố các vụ
án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trong các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trái pháp luật
- Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong những trường hợp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
- Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân đối với những người phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân
Trang 29- Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bổ các quyết định tố tụng khác liên quan đến hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Sau khi phê chuẩn các quyết định, các lệnh, Kiểm sát viên phải khẩn trương đề ra các nội dung cần làm rõ để yêu cầu điều tra viên củng cố chứng cứ điều tra mở rộng vụ án Các yêu cầu điều tra phải được lập bằng văn bản và lưu hồ sơ kiểm sát, hồ sơ chính
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã
bị can
- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra,
bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục đối với những vụ
án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có dấu hiệu tội phạm
- Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ án,
áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với vụ án và bị can phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố đối với các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự
“Theo quy định của BLTTHS 2015, VKS chỉ tiếp nhận tố giác, kiến nghị khởi tố đối với tội mà hàng cấm sau đó chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để xác minh, giải quyết và có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với nguồn tin này, VKS phải trực tiếp xác minh nguồn tin khi
Trang 30phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin và khi phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.”
“Đặc điểm của tội phạm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thường có tính liên quan giữa đối tượng thực hiện hành vi phạm tội đối với đối tượng cung cấp và tiêu thụ Thực tế cho thấy, các vụ án phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thường là kết quả của nhiều năm theo dõi, tổng hợp, xâu chuỗi các hành vi phạm tội của các đối tượng trong các vụ án khác nhau.”
Do vậy, “qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, các Kiểm sát viên nên có biện pháp theo dõi, tích lũy được các thông tin tội phạm sẽ giúp ích rất nhiều trong việc chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra đấu tranh với tội phạm tàng trữ, vận chuyển hàng cấmViện kiểm sát chủ động phối hợp với cơ quan điều tra là nhiệm
vụ quan trọng cho sự thành công của các vụ án Trong các vụ án phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được phát hiện xử lý thì số lượng các vụ án có sử dụng đặc tình chiếm một tỷ lệ” không nhỏ
Khi phê chuẩn khởi tố bị can, Kiểm sát viên cần chú ý phát hiện các tài liệu trinh sát chưa được chuyển hóa chứng cứ để phối hợp với Điều tra viên tiến hành loại các tài liệu này ra khỏi hồ sơ tố tụng và chuyển hóa chứng cứ, bảo vệ đặc tính Kiểm sát viên cần xây dựng mối quan hệ tốt với Điều tra viên Khi Điều tra viên thu thập tài liệu đến đâu thì yêu cầu chuyển ngay cho Kiểm sát viên để cùng nghiên cứu, phối hợp đề ra yêu cầu điều tra Kiểm sát viên phải chủ động, chú trọng tham gia hoặc tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS để làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án, như: Sử dụng chiến thuật hỏi cung, đấu tranh với bị can phải sắc bén Tâm lý chung trong các vụ án hình sự nhất là vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, các bị can thường che đậy hành vi phạm tội và người đồng phạm đã thực hiện trước khi bị phát hiện, bắt giữ
Do đó, kỹ năng của Kiểm sát viên, Điều tra viên là phải tập hợp các tài liệu trong quá trình theo dõi, trinh sát Cơ quan điều tra đã thu thập được để đấu tranh Cân
Trang 31quy định của BLTTHS Tuy nhiên, Điều tra viên, Kiểm sát viên cần phải tính toán, lựa chọn khi nào, trường hợp nào mới cho đối chất về án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, trường hợp bị can kiên quyết không khai nhận hoặc là kẻ chủ mưu có ảnh hưởng lớn trong đồng bọn không nên cho đối chất vì kết quả không cao, thậm chí tác động ngược lại, dẫn đến bị can phản cung, gây bất lợi cho quá trình giải quyết vụ án
1.2.3 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
Việc áp dụng pháp luật luôn phải tiến hành theo những quy trình chặt chẽ, chính xác mà pháp luật đã quy định Do tồn tại nhiều quy phạm pháp luật khác nhau thuộc các lĩnh vực, các ngành luật khác nhau, nên việc áp dụng chúng cũng
có những trình tự, thủ tục khác nhau Có những quy phạm được áp dụng với quy trình đơn giản, nhưng có những quy phạm việc áp dụng chúng là cả một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân”
Thông thường để áp dụng một cách chính xác và đạt hiệu quả cao trong kiểm sát điều tra các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cần tuân thủ những giai đoạn sau:
1.2.3.1 Nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan đến sự kiện pháp lý, đối tượng và quyết định xử lý do cơ quan điều tra cung cấp
“Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Việc VKS xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng do cơ quan điều tra tiến hành trong các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, nhằm xác định tính có căn cứ, qua đó xác định tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng
đã gây ra: có hay không có hành vi phạm tội? Hành vi đó ở mức độ nào? Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? Năng lực trách nhiệm hình sự? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ?”
Nếu trước đó cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ không đúng trình tự, thủ tục, không đầy đủ, không toàn diện thì việc xem xét đánh giá (kiểm sát việc tuân theo pháp luật) của VKSND sẽ gặp khó khăn, dễ dẫn tới sai lầm trong khi ra
Trang 32văn bản áp dụng pháp luật Do đó phạm vi thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND phải được bắt đầu từ khâu tiếp nhận, xử lý tin báo liên quan tới tội phạm
Theo quy định của pháp luật TTHS thì VKSND tự mình thông qua các nguồn tin báo hoặc từ các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra gửi tới để xem xét đánh giá sự kiện pháp lý đã xảy ra: Việc thu thập tài liệu chứng cứ có hợp pháp hay không? hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đến lúc phải xử lý bằng hình sự hay chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính? người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là ai? năng lực chịu trách nhiệm hình sự? đối tượng phạm tội có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn? Tức là phải xem xét đánh giá các yếu tố cấu thành tội phạm của đối tượng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong quá trình xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ ban đầu của các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, VKSND cần phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể rõ ràng cho cán bộ, Kiểm sát viên, có sự phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra Có thể nói rằng, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo cho việc ra quyết định áp dụng pháp luật của VKS có chất lượng, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được tuân thủ theo quy định của pháp luật.”
1.2.3.2 Xem xét các quy phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động kiểm sát điều tra các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm”
Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết kiến thức pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong KSĐT các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra, những công việc đã xử lý của cơ quan điều tra, yêu cầu và đề nghị của cơ quan điều tra đối với việc giải quyết vụ án Để từ đó xác định nội dung quy phạm được
áp dụng, phạm vi vi phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động KSĐT của VKSND Muốn làm được điều đó, đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải tiến hành giải thích quy phạm pháp luật; phải làm sáng tỏ tư tưởng; nội dung
Trang 33luật đúng thì việc ra quyết định áp dụng pháp luật sẽ rất chính xác Tóm lại, giai đoạn áp dụng pháp luật này cần đòi hỏi: lựa chọn đúng quy phạm pháp luật được trù tính cho trường hợp đó; quy phạm pháp luật áp dụng phải là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm này; nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật”.
1.2.3.3 Ban hành văn bản áp dụng pháp luật
“Ban hành văn bản áp dụng pháp luật là việc VKSND ra các quyết định; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Đây là giai đoạn trọng tâm, quan trọng nhất của cả quá trình KSĐT các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Quyết định, quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn của VKS trong lĩnh vực này được ban hành sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng, khách quan với toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ
án Vì quyết định của VKSND đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, đến trật tự trị an trên địa bàn và đến quyền tự do thân thể của công dân, nên đòi hỏi người có thẩm quyền ra văn bản áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật tố tụng hiện hành Đặc biệt văn bản áp dụng pháp luật của VKSND phải có tính khả thi và hiện thực Tóm lại, để ban hành văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND phải hiểu biết về mặt pháp luật, biết tổng hợp, đánh giá các tình tiết vụ án, đồng thời phải có
kỹ năng soạn thảo văn bản, đảm bảo chất lượng kỹ thuật văn bản”
1.2.3.4 Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật
Việc tổ “chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Khác với các văn bản áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác, văn bản áp dụng pháp luật của VKS trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nó là lệnh, quyết định, quyết định không phê chuẩn, quyết định phê chuẩn buộc cơ quan điều tra phải thi hành và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Giám sát việc thực hiện các văn bản áp dụng pháp luật của VKS đối với toàn bộ hoạt động điều tra vừa là chức năng, vừa là nhiệm vụ của
Trang 34ngành kiểm sát đã được pháp luật quy định chặt chẽ và đầy đủ Đó là một trong những đảm bảo quan trọng để quyết định của VKSND được thực hiện một” cách nghiêm chỉnh
Việc nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát triển lý luận về áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể nói riêng gúp phần nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật và hiệu quả vai trò của VKSND về hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1.3 “Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện”
1.3.1 Yếu tố về mặt pháp lý
Khi “áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, KSV phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình
sự, pháp luật hình sự và các ngành luật khác có liên quan nhằm đảm bảo việc xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Do vậy, các quy định của pháp luật có liên quan trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có ảnh hưởng rất lớn đến việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều, khi các quy định của pháp luật đầy
đủ, phù hợp, thống nhất, cụ thể, rõ ràng thì việc hiểu, thực hiện, áp dụng các quy định của pháp luật, của KSV chính xác, thống nhất Ngược lại, nếu các quy định của pháp luật này không đầy đủ, cụ thể hoặc mâu thuẫn, chồng chéo sẽ gây khó khăn cho KSV tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động này Nói cách khác, hoạt động áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm phụ thuộc vào sự hoàn thiện của hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động này tập trung ở tiêu chuẩn” cơ bản là:
i) Tính” toàn diện của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động, đòi
Trang 35chỉnh bằng pháp luật, không có hoạt động điều tra nào nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật”;
ii) Sự toàn diện của hệ thống pháp luật liên quan không những thể hiện ở sự đầy đủ của các nhóm văn bản trên mà còn thể hiện ở sự đầy đủ của từng văn bản, thậm chí là từng quy định của pháp luật;
iii) Tính đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động, đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật này thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau;
iv) Tính phù hợp của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của KSV tại phiên tòa xét xử đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật này phù hợp với trình độ phát triển của xã hội mà cụ thể ở đây là điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan, ý thức pháp luật của những người tiến hành kiểm sát điều tra và tham gia tại phiên tòa, trình độ quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
1.3.2 Yếu tố về kinh tế - xã hội
“Điều kiện kinh tế – xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với pháp luật Khi nền kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà Nước Khi đó, niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật được củng cố Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích cực , thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành”
“Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức pháp luật trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ Điều
đó giúp cho hoạt động thực hiến pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự
Trang 36giác Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật, như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế từ phía các doanh nghiệp; trộm cắp, cướp giật, buôn bán ma túy… trong các thành phần xã hội bất hảo…”
Cơ “chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.Cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại; do đó, nhận thức pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnh lệnh – chấp hành mệnh lệnh Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sáng tạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó sẽ tác động tích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thế trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng Nhưng mặt trái của kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả, bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm, hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo để đánh giá các quan
hệ giữa người với người Đây lại là nguyên nhân phát sinh các hành vi trái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.”
“Việc thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng
xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Nó là điều kiện cần thiết cho sự
ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lý tưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham gia quản lý nhà nước,
Trang 37được nâng lên một bước và việc thực hiện pháp luật của các chủ thể trở nên tự giác
và chủ động hơn.”
1.3.3 “Yếu tố về con người
“Yếu tố con người đảm bảo cho việc thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chủ yếu phụ thuộc vào đội ngũ KSV của VKS trên các phương diện: Ý thức chính trị, đạo đức của KSV; Ý thức pháp luật của KSV;
Kỹ năng nghề nghiệp của KSV Trong đó kỹ năng nghề nghiệp là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm sát điều tra”
“Bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm còn đòi hỏi trình độ pháp lí của cán bộ, nhân dân trong xã hội
và sự sáng tạo của mỗi cơ quan tổ chức Sự hoàn thiện của hoạt động ADPL đòi hỏi trình độ văn hóa pháp lí cao của cán bộ và nhân dân trong xã hội Vì vậy cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật để từ đó họ có những hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác và đấu tranh không khoan nhượng với các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội Trong tổ chức
và hoạt động của các cơ quan ADPL phải đảm bảo tính năng động, chủ động, sáng tạo, sự độc lập của mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ phận đồng thời đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, giữa các bộ phận cùng tham gia ADPL cũng như sự phối hợp, hợp tác giữa các cơ quan ADPL với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc với các tổ chức xã hội”
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của Luận văn tác giả đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về
việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng
cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
“Nội dung phân tích, đánh giá tại Chương này nhằm cung cấp các luận cứ khoa học hình sự, khoa học pháp lý để nhận diện rõ hơn, toàn diện hơn về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của
Trang 38Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tạo cơ sở cho việc đánh giá nội dung, quy định
cụ thể của pháp luật hiện hành về điều tra vụ án cũng như thực tiễn áp dụng các quy định đó trong thực tiễn Đồng thời, các vấn đề lý luận được làm sáng tỏ tại Chương này cũng là cơ sở xuyên suốt để tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải pháp
để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác kiểm sát điều tra tại Luận văn.”
Trang 39Chương 2
“THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, TỈNH LONG AN”
2.1 “Các điều kiện ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An”
2.1.1 “Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Long An”
“ Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Vương Quốc Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam”
Tỉnh “Long An có vị trí địa lý khá đặc biệt là tuy nằm ở vùng ĐBSCL song lại thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam (VPTKTTĐPN), được xác định
là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam Long An có đường ranh giới quốc gia với Campuchia dài: 132,977 km, với hai cửa khẩu Bình Hiệp (Mộc Hóa) và Tho Mo (Đức Huệ) Long
An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với ĐBSCL, nhất là có chung đường ranh giới với TP Hồ Chí Minh, bằng hệ thống giao thông đường bộ như : quốc lộ 1A, quốc lộ 50,…các đường tỉnh lộ : ĐT.823, ĐT.830, ĐT.838 v.v Đường thủy liên vùng và quốc gia đã có và đang được nâng cấp, mở rộng, xây dựng mới, tạo động lực và cơ hội mới cho phát triển Ngoài ra, Long An còn được hưởng nguồn nước của hai hệ thống sông Mê Kông và Đồng Nai”
Là tỉnh nằm cận kề với TP.HCM có mối liên hệ kinh tế ngày càng chặt chẽ với Vùng Phát Triển Kinh Tế Trọng Điểm Phía Nam (VPTKTTĐPN), nhất là Thành phố Hồ Chí Minh một vùng quan trọng phía Nam đã cung cấp 50% sản lượng công nghiệp cả nước và là đối tác đầu tư, chuyển giao công nghệ, là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)
Trang 40Diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là 449.194,49 ha, dân số 1.542.606 (theo số liệu dân số tính đến tháng 5 năm 2013) Tọa độ địa lý : 105030' 30'' đến 106047' 02'' kinh độ Đông và 10023' 40'' đến 11002' 00'' vĩ độ Bắc
Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các huyện: Đức Hòa, Đức Huệ, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Thủ Thừa, Tân Trụ, Châu Thành, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân Hưng, thị xã Kiến Tường và thành phố Tân An
Bản đồ hành chính tỉnh Long An
(Nguồn: cổng thông tin điện tử tỉnh Long An )
Thời gian qua, tỉnh Long An đã nỗ lực thực hiện nhiều giải pháp để phát huy tiềm năng, phát triển kinh tế - xã hội và đạt được nhiều kết quả khả quan Kể từ năm 2012, tỉnh đã lập quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội và được Thủ tướng phê duyệt Theo đó, Long An được chia làm 3 vùng cụ thể: vùng một là định hướng phát triển nông nghiệp kết hợp với du lịch sinh thái; vùng hai định hướng phát triển công nghiệp, đô thị và dịch vụ; vùng ba là vùng đệm để dự trữ