1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÁP LUẬT về hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa hợp ĐỒNG MUA bán HÀNG hóa

50 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa - Thực Tiễn Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Tại Liên Doanh Việt – Nga Vietsovpetro
Người hướng dẫn PGS.TS ...
Trường học Trường Đại Học ...
Chuyên ngành Chuyên ngành: ...
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 741 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về HĐ mua bánhàng hóa quốc tế, nó không được định nghĩa trong Luật thương mại 2005, nhưngqua quy định tại Điều 758 “Bộ luật dân sự 2015” về quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài, có thể suy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC ………

-

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA - THỰC TIỄN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI LIÊN DOANH VIỆT – NGA VIETSOVPETRO

Chuyên ngành: ………

Mã số: ……….

………., năm 2020

1

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình quý báu

của PGS.TS ……… , được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của Trường

Đại học………

Nhân đây cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS ………….

- người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian qua, tôi cũng xin

chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp, những nhận xét quý báu của các thầy

cô giáo giúp tôi hoàn thành bài Khóa luận của mình

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, nhà lãnh đạo bè đãluôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm Khóa luận

Học viên

………

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 2

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 4

2.Tình hình nghiên cứu 5

3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6.Những đóng góp mới của Khóa luận 7

7 Cơ cấu của Khóa luận 7

CHƯƠNG 1 8

CƠ SỞ LÝ LUẬN 8

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.1.2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa 10

1.2 Khung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa 14

1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 21

1.3.1 Yếu tố pháp luật, kinh tế 21

1.3.2 Yếu tố khác ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá 21

CHƯƠNG 2 22

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 22

2.1 Một số bất câp của pháp luật điều chỉnh hợp đồng… 22

2.1.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa 22

2.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa 23

2.1.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa 25

2.1.4 Thực hiện chuyển quyền sở hữu và rủi ro trong hợp đồng mua 26

bán hàng hóa 26

2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa 26

2.2.1 Tình hình thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp 26

đồng bán hàng hóa ở nước ta trong những năm gần đây 26

2.2.2 Thực tiễn và những vướng mắc trong áp dụng pháp luật để 27

giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam 27

2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro 33

CHƯƠNG 3 45

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG MUA SẮM HÀNG HÓA TẠI LIÊN DOANH VIỆT – NGA VIETSOVPETRO 45

3.1 Giải pháp hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam 45

3.2 Giải pháp hoàn thiện hợp đồng mua bán hàng hóa Tại liên doanh Việt – Nga 51

KẾT LUẬN 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Mua bán hàng hoá là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầunối giữa sản xuất và tiêu dùng và không chỉ giới hạn ở phạm vi mỗi quốc gia màcònmở rộng ra cả các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới

Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thếgiới (WTO) thì nhu cầu hoàn thiện Pháp luật về hợp đồng và hợp đồng mua bánhàng hoá (MBHH) càng trở nên cấp thiết hơn bao gìơ hết Trước đòi hỏi của tìnhhình mới hiện nay, hàng loạt văn bản pháp luật mới đã được ban hành thay thế chonhững quy định cũ đã trở nên lạc hậu Vấn đề được đặt ra là hệ thống các văn bảnmới được ban hành đó đạt được hiệu quả đến mức nào, đáp ứng nhu cầu thực tiễn

ở mức độ nào trong việc điều chỉnh quan hệ mua bán hàng hoá hiện nay ở ViệtNam, những vấn đề nào cần được tiếp tục hoàn thiện để đảm bảo sự đồng bộ,thống nhất của hệ thống các quy định pháp luật về hợp đồng MBHH ở Việt Namhiện nay, đảm bảo hiệu quả của pháp luật trong thực tiễn, tạo một môi trường pháp

lý an toàn cho hoạt động MBHH, đồng thời đảm bảo yêu cầu hội nhập kinh tếquốc tế

Mặt khác, tình hình mua bán hàng hóa ở Việt Nam ngày càng phát triển, phátsinh giữa các chủ thể khác nhau, hình thức đa dạng, trong khi đó pháp luật điềuchỉnh vấn đề này bao gồm những quy phạm để xác định pháp luật điều chỉnh,quyền và nghĩa vụ các bên còn nhiều vướng mắc Đặc biệt khi có tranh chấp xảy rathì việc áp dụng pháp luật để giải quyết còn nhiều bất cập do pháp luật quy địnhchưa rõ ràng hoặc có quy định nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể Do vậy, nghiêncứu về HĐMBHH sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồngđược thuận lợi, an toàn và hiệu quả, tránh các tranh chấp, rủi ro đáng tiếc Chính vì

vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng mua bánhàng

hóa - thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa tại Liên doanh Việt – Nga Vietsovpetro”

Qua việc triển khai nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa một số vấn đề lý luận vàthực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật về HĐMBHH ở Việt Nam nói

Trang 5

chung, tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro nói riêng để từ đó đưa ra nhữngkiến nghị trong việc nâng cao hiệu quả hơn nữa trong các quy định pháp luật vàthực tiễn áp dụng những quy định này.

2.Tình hình nghiên cứu

Hợp đồng mua bán hàng hoá là một chế định truyền thống của pháp luật

thương mại Do đó, những vấn đề liên quan đến chế định này đã được nhiều nhàkhoa học và nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, cụ thể

có các công trình nghiên cứu và bài viết như:

“Tìm hiểu một số quy định của WTO về các lĩnh vực thương mại hàng hoáđặc thù và việc tham gia của các nước” của Th.s Bùi Thị Lý, “ Một số vấn đề lýluận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay” do PGS TS.Nguyễn Như Phát ( chủ biên), “ Chuyên khảo Luật Kinh tế” của PGS.TS PhạmDuy Nghĩa, “ Pháp luật thương mại về mua bán hàng hoá - Thực trạng và nhu cầuhoàn thiện” của Ths Đặng Quốc Tuấn, “ Các chế định cụ thể về các loại hành vithương mại nên được xử lý như thế nào trong Luật Thương mại sửa đổi và phươngpháp điều chỉnh” của PGS TS Mai Hồng Quỳ… Tuy nhiên, trong vài năm trở lạiđây, do nhu cầu phát triển mạnh mẽ của thực tiễn mà có một số lượng lớn các vănbản pháp luật quan trọng được sửa đổi hoặc ban hành mới để thay thế cho nhữngvăn bản và quy định pháp luật cũ đã lỗi thời, không còn đáp ứng được nhu cầuthực tiễn hiện nay Các công trình nghiên cứu, bài viết trên lại được hình thànhtrên cơ sở các văn bản pháp luật cũ, do vậy, cơ sở pháp lý của các vấn đề nêu ratrong các công trình đó phần nào bị sai lệch và không còn phù hợp với thực tiễnpháp lý hiện nay Vì vậy, nghiên cứu về những vẫn đề lý luận về hợp đồng muabán hàng hóa và thực tiễn tại Việt Nam là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa quan trọng

Trang 6

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, Khóa luận có các nhiệm vụ cụ thể sau:

Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về HĐMBHH, trên cơ sở đó làm rõ

một số khái niệm, nội dung liên quan HĐMBHH theo pháp luật Việt Nam như

khái niệm, đặc điểm, phân tích pháp luật điều chỉnh

Thứ hai, nghiên cứu, phân tích đánh giá tiễn áp dụng pháp luật về HĐMBHH

theo pháp luật Việt Nam và thực trạng hợp đồng mua bán hàng hóa tại Liên doanhViệt - Nga Vietsovpetro

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về HĐMBHH tại Việt

Nam và tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro phù hợp với tình hình mới, bảođảm hiệu lực, hiệu quả đáp ứng được các yêu cầu mới trong nền kinh tế

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu

Các quan điểm về HĐMBHH để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giápháp luật và thựctiễn áp dụng; các quy định của pháp luật hiện hành về HĐMBHH (LTM 2005 vàBLDS 2015), các văn bản liên quan và các trường hợp thực tế điển hình để chỉ ranhững vướng mắc trong các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Nghiên cứu HĐMBHH trong nước Cụ thể là nghiên cứu

thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro

Phạm vi không gian: Khóa luận các quy định pháp luật về HĐMBHH theo

pháp luật Việt Nam

Phạm vi thời gian: Từ năm 2013 đến na

5.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1.Phương pháp luận nghiên cứu

Khóa luận được trình bày dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩaMác – Lenin về nhà nước và pháp luật và những quan điểm của Đảng và Nhà nước

về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổimới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, Khóa luận sử dụng kết hợp cácphương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau bao gồm: Phương pháp phân tích vàtổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp diễn giải quy nạp.

6.Những đóng góp mới của Khóa luận

Khóa luận góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận về mua bán hànghóa và HĐMBHH; Khóa luận góp phần đánh giá tình hình thực thi pháp luật vềHĐMBHH tại Việt Nam nói chung, tại Liên doanh Việt - Nga Vietsovpetro nóiriêng Tập trung đề xuất và luận giải một số quan điểm, giải pháp nhằm góp phầnhoàn thiện và thực thi pháp luật về HĐMBHH tại Việt Nam

7 Cơ cấu của Khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Khóaluận gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và kiến nghị về tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam

Trang 8

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụgiao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bênmua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóatheo thỏa thuận Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, nó

là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụtrong quan hệ mua bán

Luật thương mại không đưa ra định nghĩa về HĐ mua bán hàng hóa trongthương mại, nhưng có thể dựa vào khái niệm HĐ mua bán tài sản trong luật dân sự

để xác định bản chất của HĐ mua bán hàng hóa Theo Điều 428 “Bộ luật dân sự2015”, HĐ mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa

vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản vàtrả tiền cho bên bán Hàng hóa được hiểu là động sản, kể cả động sản hình thànhtrong tương lai, và các vật gắn liền với đất Như vậy, hàng hóa thuộc tài sản và cóphạm vi hẹp hơn tài sản

Từ đó cho thấy, HĐ mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thểcủa HĐ mua bán tài sản Điểm phân biệt giữa HĐ mua bán hàng hóa trong thươngmại và HĐ mua bán tài sản khác là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thứcpháp lý là HĐMBHH HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏathuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệmua bán

Tuy có sự quy định khác nhau giữa HĐMBTS và HĐMBHH, nhưng bảnchất là giống nhau: Người bán phải giao đối tượng được bán và quyền sở hữu đốitượng đó cho người mua và nhận tiền, còn người mua thì nhận đối tượng đượcmua và trả tiền Như vậy, có thể hiểu HĐMBHH trong thương mại là một dạng cụ

Trang 9

thể của HĐMBTS, tuy nhiên, trong thương mại, HĐMBHH có những điểm riêngbiệt xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa

ăn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, HĐ muabán hàng hóa được chia thành HĐ mua bán hàng hóa trong nước và HĐ mua bánhàng hóa có yếu tố nước ngoài (HĐ mua bán hàng hóa quốc tế) Về HĐ mua bánhàng hóa quốc tế, nó không được định nghĩa trong Luật thương mại 2005, nhưngqua quy định tại Điều 758 “Bộ luật dân sự 2015” về quan hệ dân sự có yếu tố nướcngoài, có thể suy ra rằng một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóaquốc tế khi có một trong các yếu tố sau:

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùngquốc tịch

Căn cứ vào yếu tố đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồntại ở nước ngoài

Căn cứ vào nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng được giao kết ởnước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch) và

có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba

Điều cần chú ý ở HĐ mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia giao kết hợpđồng sẽ rất dễ gặp phải các rủi ro đặc thù như xung đột pháp luật, do quá trình vậnchuyển, thanh toán, thực thi cam kết hợp đồng Vì vậy, các bên cần thỏa thuận vàsoạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết Khoản 2 Điều 27 Luật thương mại quyđịnh rằng HĐ mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản

1.1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa

Có thể xem xét các đặc điểm của HĐ mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với HĐmua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung

Đặc điểm chung của HĐ mua bán hàng hóa:

Là hợp đồng ưng thuận – tức là nó được coi là giao kết tại thời điểm các bênthỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của HĐ không phụthuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa, việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi làhành động của bên bán nhắm thực hiện nghĩa vụ của HĐ mua bán đã có hiệu lực

Có tính đền bù – bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì

sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuậndưới dạng khoản tiền thanh toán

Trang 10

Là hợp đồng song vụ – mỗi bên trong HĐ mua bán hàng hóa đều bị ràngbuộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bênkia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong HĐ mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa

vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: nghĩa vụ của bênbán phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua phải thanh toáncho bên bán

Đặc điểm riêng của HĐ mua bán hàng hóa:

Về chủ thể, HĐ mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là

thương nhân Luật thương mại 2005 quy định thương nhân bao gồm tổ chức kinh

tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mai một cách độc lập,thường xuyên và có đăng ký kinh doanh Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân khôngphải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của HĐ mua bán hàng hóa Theokhoản 3 Điều 1 Luật thương mại, hoạt động của bên chủ thể không phải là thươngnhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phảituân theo Luật thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại

Về hình thức, HĐ mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói,

bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Trong một số trườnghợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thứcvăn bản, ví dụ như HĐ mua bán hàng hóa quốc tế- phải được thể hiện dưới hìnhthức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điệnbáo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu

+ Về đối tượng: HĐ mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa Theo Luậtthương mại Việt Nam 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể làhàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể làđộng sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại

1.1.2 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa

1.1.2.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước

Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là một dạng của Hợp đồng mua bántài sản, nó là sự thỏa thuận của các thương nhân về việc chuyển quyền sở hữu hànghóa cho bên mua và bên mua phải nhận hàng, trả tiền cho bên bán, hoạt động muabán diễn ra trên lãnh thổ của nước Việt Nam

Trang 11

Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005, thì đối tượng của Hợp đồng làhàng hóa bao gồm: động sản (ví dụ như ô tô, xe máy,…), kể cả động sản hìnhthành trong tương lai; và những vật gắn liền với đất đai Nhằm đảm bảo các bêngiao kết, thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng, bên cạnh việc tôn trọng thiệnchí của hai bên thì pháp luật về thương mại quy định đầy đủ quyền và nghĩa của cảngười mua và người bán.

Theo quy định tại mục 2 Chương II – mua bán hàng hóa Luật Thương mại

2005 quy định về quyền và nghĩa vụ của hai bên như sau:

Quyền và nghĩa vụ của bên bán:

Bên bán phải giao hàng phù hợp với hợp đồng cùng các chứng từ liên quanđến hàng hóa đã thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thứcđóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng

Bên bán cũng phải giao hàng tại địa điểm và thời hạn đã giao ước trướcđó.Bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa như không bị tranh chấp bởi bên thứ

ba, hàng hóa phải hợp pháp và được phép lưu thông trên thị trường

Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa không bị tranh chấp với bênthứ ba

Quyền và nghĩa vụ của bên mua:

Có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng,được xác định trên mục đích sử dụng, ý định cụ thể của bên mua, chất lượng nhưchất lượng của mẫu hàng hóa và sự bảo quản, cách thức đóng gói thông thường

Bên mua có nghĩa vụ phải thanh toán và nhận hàng theo thỏa thuận và tuânthủ các phương thức thanh toán, thực hiện theo trình tự, thủ tục luật định

1.1.2.2 Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là thương nhânViệt Nam thì về nguyên tắc, CISG sẽ được áp dụng để điều chỉnh hợp đồng này.Mặc dù giữa Luật Thương mại 2005 và CISG chưa thực sự tương thích vớinhau về mua bán hàng hóa quốc tế Tuy nhiên, có thể hiểu hợp đồng mua bán hànghóa quốc tế về bản chất là một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường giữa cácthương nhân có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau Theo CISG tạiĐiều 11 thì hình thức của hợp đồng không nhất thiết phải được lập bằng văn bản

và có thể được chứng minh bằng mọi cách về sự tồn tại của Hợp đồng

Trang 12

Theo quy định tại Chương II, III Phần III CISG, quy định về quyền và nghĩa

vụ của hai bên như sau:

Quyền và nghĩa vụ của người bán:

Người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng từ liên quan đến hàng hoá vàchuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng quy định của hợp đồng và CISGĐảm bảo sự phù hợp của hàng hóa bao gồm số lượng, chất lượng, phẩm chất

và mô tả như thỏa thuận, đúng bao bì hay đóng gói theo hợp đồng Và quyền củacầu người mua thực hiện các nghĩa vụ của họ

Quyền và nghĩa vụ của người mua:

Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định hợpđồng và CISG

Họ phải kiểm tra hàng hóa hoặc bảo đảm đã có sự kiểm tra hàng hóa trongmột thời hạn ngắn nhất Và yêu cầu người bán thực hiện các nghĩa vụ của họ

1.1.2.3 Hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết thông qua Sở

giao dịch hàng hóa

Theo quy định hiện nay thì mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa làhoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán mộtlượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hoá theonhững tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểmgiao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trongtương lai

Theo quy định tại Điều 64 Luật Thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hànghóa qua Sở giao dịch hàng hoá bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyềnchọn

+ Trường hợp người bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thì bên mua

có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán

Trang 13

+ Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên mua có thể thanh toán bằngtiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán cho bên bán một khoản tiềnbằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sởgiao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

+ Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bán có thể thanh toán bằngtiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán cho bên mua một khoản tiềnbằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thờiđiểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng

- Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đóbên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mứcgiá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để muaquyền này (gọi là tiền mua quyền) Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặckhông thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó

Đối với hình thức hợp đồng này thì các bên trong hợp đồng kỳ hạn có quyền

và nghĩa vụ sau:

+ Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền mua quyềnchọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán Số tiềnphải trả cho việc mua quyền chọn do các bên thoả thuận

+ Bên giữ quyền chọn mua có quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải muahàng hoá đã giao kết trong hợp đồng Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyếtđịnh thực hiện hợp đồng thì bên bán có nghĩa vụ phải bán hàng hoá cho bên giữquyền chọn mua Trường hợp bên bán không có hàng hoá để giao thì phải thanhtoán cho bên giữ quyền chọn mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giáthoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tạithời điểm hợp đồng được thực hiện

+ Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụ phải bánhàng hoá đã giao kết trong hợp đồng Trường hợp bên giữ quyền chọn bán quyếtđịnh thực hiện hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hoá của bên giữquyền chọn bán Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán cho bêngiữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sởgiao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoảthuận trong hợp đồng

Trang 14

+ Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán quyết địnhkhông thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng đươngnhiên hết hiệu lực.

1.2 Khung pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1 Nguồn luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa

Như vậy, đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, nguồn luật chủ yếuđiều chỉnh hiện hành là: BLDS là nguồn luật chung cho tất cả các quan hệ hợpđồng như quy định những nguyên tắc chung, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng,hợp đồng vô hiệu, các biện pháp đảm bảo giao kết và thực hiện hợp đồng

LTM 2005 quy định những vấn đề cụ thể về hợp đồng mua bánhàng hóa Khi có những vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa màLTM không quy định thì áp dụng quy định của BLDS (Điều 4 BLDS 2015) Đốivới HĐMBHH có yếu tố nước ngoài trong kinh doanh, thương mại được điềuchỉnh bởi nhiều nguồn luật khác nhau như luật quốc gia, các điều ước quốc tế vàcác tập quán quốc tế

Ngoài ra, còn có một số luật chuyên ngành khác liên quan như:Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Đất đai, Luật nhà ở điều chỉnh các quan hệhợp đồng trong HĐMBTS có đối tượng đặc biệt như đất đai, nhà ở

1.2.2 Nội dung của pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.2.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

Về chủ thể: hợp đồng mua bán hàng hoá được thiết lập giữa các chủ thể chủyếu là thương nhân Theo quy định của Luật thương mại 2005, thương nhân baogồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại 1cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh

Thương nhân là chủ thể của hợp đồng mua bán có thể là thương nhân Việt Namhoặc thương nhân nước ngoài (trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế) Ngoàichủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng cóthể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá

Hoạt động của bên chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đíchlợi nhuận trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hoá phải tuân theo Luật thươngmại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật thương mại

Trang 15

1.2.2.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lậpquyền và nghĩa vụ của họ trong việc mua bán Do đó, nội dung của hợp đồng muabán hàng hóa trước hết là những điều khoản do các bên thỏa thuận Các bên cóquyền quyết định nội dung của hợp đồng Bởi vì quyền và nghĩa vụ của các bêntrong quan hệ hợp đồng phát sinh chủ yếu từ những điều khoản mà các bên thỏathuận đó Do đó, các bên thỏa thuận các điều khoản trong hợp đồng càng rõ ràngbao nhiêu thì càng thuận lợi trong việc thực hiện hợp đồng bấy nhiêu

Xuất phát từ nguyên tắc tự do hợp đồng, pháp luật không giới hạn các điều khoản

mà các bên thỏa thuận với nhau Nội dung của hợp đồng trước hết là những điềukhoản mà các bên phải thỏa thuận được với nhau Trên cơ sở các quy định củaBLDS và LTM, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóatrong thương mại, có thể thấy những điều khoản quan trọng của hợp đồng mua bánhàng hóa bao gồm: đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn

và địa điểm giao nhận hàng

Mặc dù nội dung của hợp đồng do các bên thỏa thuận, nhưng trong mọi quan

hệ hợp đồng nói chung và trong quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, các bênkhông chỉ chịu sự ràng buộc bởi các điều khoản mà các bên thỏa thuận mà cònchịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật Như vậy, nội dung của hợpđồng mua bán hàng hóa không chỉ là các điều khoản do các bên thỏa thuận mà còn

có thể bao gồm cả những điều khỏan do các bên không thỏa thuận nhưng theo quyđịnh của pháp luật các bên có nghĩa vụ phải thực hiện

1.2.2.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thiết lập theo cáchthức mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận mua bán hàng hóa giữa các bên Hợpđồng mua bán có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằnghành vi cụ thể của các bên giao kết Trong những trường hợp nhất định, pháp luậtbắt buộc các bên phả thiết lập hợp đồng mua bán hàng hóa bằng hình thức văn bản(Điều 24 LTM 2005) Các hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa đó đã tạo điềukiện thuận lợi giúp cho các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hóa có thể lựachọn hình thức phù hợp nhất đảm bảo quyền lợi của mình

1.2.2.4 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 16

HĐMBHH sau khi đã được giao kết, các bên cần phải thực hiện nghiêm chỉnh tất

cả những cam kết trong hợp đồng, cụ thể là thực hiện theo đúng nội dung về quyền

và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng LTM quy định những nội dung đặc thù vềmua bán hàng hóa với tính chất là một hoạt động thương mại Trong trường hợpcần có những quy định chuyên biệt trong những hoạt động thương mại cụ thể thìluật chuyên ngành sẽ điều chỉnh theo tính chất chuyên biệt trong hoạt động chuyênngành theo nguyên tắc áp dụng luật thì sẽ ưu tiên áp dụng các quy định về hợpđồng chuyên ngành đó Các quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ hợp đồngmua bán hàng hóa được LTM năm 2005 quy định chi tiết trên cơ sở kế thừa nhữngquy định về mua bán hàng hóa trong LTM năm 1997, tham khảo Công ước Viên

1980 và các tập quán, thông lệ quốc tế về mua bán hàng hóa để xây dựng được quyđịnh về HĐMBHH phù hợp nhất với điều kiện thực tế của Việt Nam

a Nguyên tắc thực hiện hợp đồng mua bán:

Những thỏa thuận trong hợp đồng có hiệu lực sẽ có giá trị ràng buộc các bên.Các bên phải thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận theo đúng hợp đồng Để đảmbảo việc thực hiện hợp đồng mang lại lợi ích cho các bên đồng thời không xâm hạiđến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ, pháp luật quy định những nguyên tắc

có tính chất bắt buộc phải tuân theo đối với các chủ thể trong quá trình thực hiệnhợp đồng Theo quy định của Bộ luật dân sự, việc thực hiện hợp đồng nói chung

và hợp đồng mua bán nói riêng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

- Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thờihạn,

phương thức và các thỏa thuận khác

- Thực hiện 1 cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên,đảm bảo tin cậy lẫn nhau

- Không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợiích hợp pháp của người khác

b Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán:

* Nghĩa vụ cơ bản của bên bán:

- Giao hàng: giao hàng là nghĩa vụ cơ bản nhất của bên bán trong hợp đồng muabán hàng hoá Việc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên bán đều có liên quan vànhằm mục đích hoàn thành

Trang 17

nghĩa vụ giao hàng cho bên mua Theo quy định của Luật thương mại 2005, bênbán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chấtlượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng Trườnghợp không có thoả thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liênquan theo quy định của pháp luật.

+ Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng:

Đối tượng và chất lượng hàng hoá là những nội dung cơ bản của hợp đồng muabán hàng hoá Bên bán phải thực hiện giao hàng đúng đối tượng và chất lượng theothỏa thuận và quy định của pháp luật Trong việc giao nhận hàng hoá, vấn đề xácđịnh hàng hoá có phù hợp với hợp đồng về đối tượng và chất lượng hay không có

ý nghĩa rất quan trọng Về nguyên tắc, phải căn cứ vào nội dung cụ thể của hợpđồng để xác định vấn đề này, nếu không thì phải căn cứ vào các quy định của phápluật

Khi hàng hoá giao không phù hợp với hợp đồng, bên mua có quyền tự chối nhậnhàng

+ Giao chứng từ kèm theo hàng hóa:

Trong nhiều trường hợp, việc giao hàng hoá còn bao gồm việc giao các chứng từ

có liên quan đến hàng hoá (chứng nhận chất lượng, chứng nhận nguồn gốc, xuất

xứ, vận đơn ) Theo Luật thương mại 2005, trường hợp có thỏa thuận về việc giaochứng từ thì bên bán có nghĩa vụ giao chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bênmua trong thời hạn, tại địa điểm và bằng phương thức đã thỏa thuận

+ Giao hàng đúng thời hạn:

Những nội dung liên quan đến điều khoản giao hàng như thời gian, địa điểm,phương thức giao hàng thường được các bên thỏa thuận phù hợp với đặc điểm củahàng hoá trong hợp đồng Trường hợp các bên không thỏa thuận những vấn đề nàytrong hợp đồng thì áp dụng quy định của pháp luật hoặc tập quán Theo Luậtthương mại 2005, trường hợp chỉ có thoả thuận về thời hạn giao hàng mà khôngxác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thờiđiểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua; trường hợpkhông có thoả thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong 1 thờihạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng

+ Giao hàng đúng địa điểm:

Trang 18

Bên bán phải giao hàng đúng địa điểm theo thỏa thuận trong hợp đồng Nếu cácbên không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xácđịnh như sau:

Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi

Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh củabên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú củabên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán

+ Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng:

Việc kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng là yêu cầu cần thiết đối với giao dịchmua bán trong thương mại, ngăn ngừa những sai sót trong việc giao hàng, tăng khảnăng thực hiện hiệu quả việc mua bán Bên bán phải kiểm tra hàng hoá trước khigiao hàng nếu các bên không có thoả thuận khác

- Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá mua bán:

Bên bán phải đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hoá giao cho bên mua Bên bánphải đảm bảo tính hợp pháp về quyền sở hữu và việc chuyển giao quyền sở hữuđối với hàng hoá giao cho bên mua; đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối vớihàng hoá đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ 3, Trong trường hợp hàng hoá bịngười thứ 3 tranh chấp thì bên bán phải đứng về phía bên mua để bảo vệ quyền lợicủa bên mua; nếu người thứ 3 có quyền sở hữu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản muabán thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bên bán bồi thường thiệthại

- Chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua:

Theo Luật thương mại 2005, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc cácbên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ

Trang 19

thời điểm hàng hoá được chuyển giao Trong trường hợp các bên không có thỏathuận, quyền sở hữu hàng hoá có thể được chuyển giao ở những thời điểm khácnhau, tùy thuộc tính chất của việc chuyển giao hàng hoá và phương thức mua bán.

- Rủi ro đối với hàng hoá:

Trong thực tiễn mua bán hàng hoá, có thể xảy ra những sự kiện khách quan làmmất mát, hư hỏng hàng hoá trên đường vận chuyển, trước hoặc sau khi nhận hàng

Về nguyên tắc chung, việc xác định trách nhiệm chịu rủi ro đối với hàng hoá trướchết cần căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng Trường hợp các bênkhông có thỏa thuận thì áp dụng theo các quy định của pháp luật Theo Luậtthương mại 2005, vấn đề xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hoá được quyđịnh như sau:

+ Rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: nếu bên bán có nghĩa

vụ giao hàng cho bên mua tại 1 địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hưhỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên muahoặc người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng hoá tại địa điểm đó, kể cả trongtrường hợp bên bán được ủy quyền giữ lại các

chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá

+ Rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: nếu hợp đồng cóquy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại

1 địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển chobên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên

+ Rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải

là người vận chuyển: nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ

mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoáđược chuyển cho bên mua khi: bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá; khingười nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua

+ Rủi ro trong trường hợp hàng hoá đang trên đường vận chuyển: rủi ro về mấtmát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kếthợp đồng

Ngoài ra, rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể

từ thời điểm hàng hoá thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạmhợp đồng do không nhận hàng

Trang 20

- Nghĩa vụ bảo hành hàng hoá:

Bảo hành là việc bên bán, trong 1 thời gian nhất định phải chịu trách nhiệm vềhàng hoá sau khi đã giao hàng hoá cho bên mua Việc bảo hành được thực hiệntheo thỏa thuận hoặc theo các quy định của pháp luật Bên bán phải thực hiệnnghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép Bênbán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

* Nghĩa vụ cơ bản của bên mua:

- Nghĩa vụ nhận hàng:

Nhận hàng là nghĩa vụ cơ bản của bên mua tương ứng với nghĩa vụ giao hàng củabên bán Nhận hàng được hiểu là việc bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hoá từbên bán Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận Khi nhận hàng, bên muaphải thực hiện các công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng, những công việcnày có thể khác nhau trong những trường hợp cụ thể Cần lưu ý, việc nhận hàngtrên thực tế không đồng nghĩa với việc người mua đã chấp nhận về hàng hoá đượcgiao Theo Luật thương mại, sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bán vẫn phảichịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá đã được giao, nếu cáckhiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm trabằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếmkhuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua

- Nghĩa vụ thanh toán:

Thanh toán là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua trong quan hệ hợp đồng muabán hàng hoá Bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán theo thỏa thuận tronghợp đồng Điều khoản thanh toán được các bên thỏa thuận thông thường bao gồmnhững nội dung cụ thể về đồng tiền thanh toán, phương thức thanh toán, thời hạn,địa điểm thanh toán, trình tự, thủ tục thanh toán Bên mua phải thực hiện đúngnhững nội dung này theo thỏa thuận Trường hợp các bên không có thỏa thuận vềnhững nội dung cụ thể liên quan đến việc thanh toán thì áp dụng quy định của phápluật

1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

1.3.1 Yếu tố pháp luật, kinh tế

Môi trường pháp luật có tác động trực tiếp đến HĐMBHH Sự ổn định vềchính trị, đường lối ngoại giao, sự cân bằng các chính sách của nhà nước, vai trò

Trang 21

và chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Chính phủ, sự điều tiết và khuynhhướng can thiệp của Chính phủ vào đời sống kinh tế xã hội, các quyết định bảo vệngười tiêu dùng, hệ thống pháp luật, sự hoàn thiện và hiện thực thi hành chúng

có ảnh hường rất lớn đến hoạt động bán hàng hoá của doanh nghiệp

Hệ thống pháp luật càng hoàn thiện, thống nhất thì nền kinh tế càng phát triển

ổn định Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động bán hàng hoá.Kinh tế phát triển ổn định thì sẽ làm nhu cầu tăng lên, rồi lạm phát cũng ảnh hưởngrất lớn và nhất là khả năng quan hệ ngoại thương với nước ngoài đó là buôn bánvới nước ngoài, là khả năng cạnh tranh với hàng nhập ngoại Một nền kinh tế pháttriển ổn định, không lạm phát sẽ là môi trường lý tưởng để thu hút các thươngnhân thực hiện HĐMBHH hiệu quả Đất nước ta đang trong giai đoạn hội nhập mởcủa nền kinh tế cạnh tranh trên thị trường ngày càng găy gắt, do đó các doanhnghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn, thách thức vì 8 vậy nhà nước ta cần đưa

ra các chính sách kinh tế phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiệnHĐMBHH của các doanh nghiệp

1.3.2 Yếu tố khác ảnh hưởng đến thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

Ngoài yếu tố pháp luật và kinh tế còn có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt độngmua bán hàng hoá của Doanh nghiệp, sau đây là một số nhân tố cơ bản:Hàng hoá,giá cả và chất lượng, Nhà cung cấp, Nguồn lực của doanh nghiệp, Nguồn nhânlực

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Trang 22

2.1 Một số bất cập của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam

2.1.1 Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa

HĐMBHH có thể được giao kết giữa thương nhân với thương nhânhoặc giữa thương nhân với một bên không phải là thương nhân Thương nhân cóthể là cá nhân hoặc pháp nhân có tiến hành hoạt động thương mại độc lập, thườngxuyên và có đăng kí kinh doanh

Thương nhân khi là chủ thể của HĐMBHH phải phù hợp với phạm

vi và lĩnh vực của họ trong đăng kí kinh doanh Chủ thể khác không phải là thươngnhân khi kí một hợp đồng với một thương nhân khác mà bản thân họ không nhằmmục đích sinh lời thì họ có thể là chủ thể của HĐMBHH trong hoạt động thươngmại nếu bên không phải là thương nhân lựa chọn LTM để áp dụng khi giao kết hợpđồng Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam cũng có quyền kí cácHĐMBHH

Thực tế hiện nay các HĐMBHH giữa các doanh nghiệp đa số đềuđược thực hiện đúng theo quy định của pháp luật về vấn đề chủ thể giao kết hợpđồng Tuy nhiên, cũng không ít trường hợp chủ thể giao kết hợp đồng là ngườikhông có thẩm quyền giao kết dẫn đến phát sinh tranh chấp giữa các bên và hậuquả là hợp đồng đã giao kết vô hiệu Cụ thể như người ký hợp đồng không có thẩmquyền ký (Không phải là người đại diện theo pháp luật, không được ủy quyền hoặc

là người đại diện theo pháp luật nhưng không có thẩm quyền ký kết)

2.1.2 Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

2.1.2.1 Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá

Đối tượng của HĐMBHH là hàng hoá Hàng hoá là những sản phẩm lao độngcủa con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn nhu cầu của conngười Hàng hoá có thể là vật, là sức lao động của con người, là các quyền tài sản.Khoản 2- Điều 3 năm LTM 2005 đã mở rộng hàng hoá hơn Theo đó hàng hoá baogồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắnliền với đất đai Tuy nhiên, khái niệm về hàng hoá vẫn còn sự hạn chế, chúng ta dễdàng nhận thấy trong quy định này hàng hoá chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình.Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trítuệ… chưa được thừa nhận là hàng hoá

Trang 23

1.1.2.2 Giá và phương thức thanh toán

Giá của HĐMBHH là số tiền mà người mua phải trả cho người bán, được cácbên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của cácbên Các bên tự thỏa thuận giá nhưng giá đó phải được xác định và ghi vào hợpđồng (đối với hợp đồng được giao kết dưới hình thức văn bản), các bên có thể xácđịnh giá bằng một lượng tiền chính xác theo một đơn vị cụ thể Phương thức thanhtoán là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng Theo quy định BLDS 2005, thìphương thức thanh toán do các bên thỏa thuận Bởi phương thức thanh toán rất đadạng như thanh toán trực tiếp, chuyển tiền, nhờ thu, ghi sổ, tín dụng chứng từ…Vìthế, bên bán và bên mua có thể thỏa thuận áp dụng phương thức thanh toán nào màmình cho là tiện lợi, dễ dàng và phù hợp với tính chất của hợp đồng Tuy nhiên,BLDS 2015 có quy định thêm trường hợp pháp luật quy định phương thức thanhtoán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận củacác bên phải phù hợp với quy định đó

1.1.2.3 Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá

Thời hạn thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của hợpđồng, vì nó có liên quan đến vấn đề thực hiện hợp đồng và trách nhiệm dân sự củacác bên, nên thời gian phải được xác định một cách cụ thể Chính vì vậy, tại Điều

434 BLDS 2015 (Điều 432 BLDS 2005) quy định rất rõ ràng “Thời hạn thực hiệnhợp đồng mua bán do các bên thoả thuận” Điều này có nghĩa, các bên có thể thựchiện hợp đồng mua bán ngay sau khi giao kết hợp đồng hoặc một thời gian sau đó

1.1.2.4 Chất lượng của tài sản mua bán hàng hoá

Chất lượng hàng hoá là vấn đề quan tâm của các bên khi ký kết HĐMBHH.Hàng đúng chất lượng phải đảm bảo khả năng sử dụng, bảo đảm đúng phẩm chất,bao bì đóng gói, quy cách, chủng loại của sản phẩm theo tiêu chuẩn hoặc theo sựthoả thuận của các bên

2.1.2.5.Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá

Căn cứ vào việc thực hiện hợp đồng của các bên mà BLDS có các quy định

về quyền và nghĩa vụ của các bên, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trongquá trình giao kết và thực hiện HĐMBHH Quyền và nghĩa vụ của bên bán: Quyềncủa bên bán chủ yếu xoay quanh quyền được bên mua thanh toán Bên bán cóquyền nhận tiền bán hàng theo thỏa thuận 11 trong HĐMBHH Nếu bên bán chậm

Trang 24

nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán cóquyền áp dụng các biện pháp do LTM quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng củamình Điều 306 LTM 2005 quy định bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên sốtiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểmthanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận kháchoặc pháp luật có quy định khác Ngoài ra, bên bán có thể áp dụng các biện phápchế tài theo LTM Bên bán có nghĩa vụ cơ bản là: nghĩa vụ giao tài sản và nghĩa vụđảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán Bên bán có nghĩa vụgiao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tàisản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý (Khoản 1 Điều 434 BLDS2015) Ngoài ra, bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng số lượng, đồng bộ,đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng Nếu bên bán vi phạm thì bên bán phảichịu trách nhiệm và có nghĩa vụ: Quyền và nghĩa vụ của bên mua: HĐMBTS làmột hợp đồng song vụ Vì thế, mỗi bên chủ thể tham gia vừa là người có quyềnvừa là người có nghĩa vụ Do vậy, trong HĐMBTS, quyền của chủ thể tham giađối lập tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng kia và ngược lại.Như vậy, quyền của bên bán sẽ là nghĩa vụ của bên mua và nghĩa vụ của bên bán

sẽ là quyền của bên mua Nhận hàng là một nghĩa vụ pháp lý của người mua màviệc vi phạm nghĩa vụ đó có thể kéo theo một số hậy quả pháp lý được quy địnhtrong LTM Nếu người bán đã sẵn sàng giao hàng mà người mua không nhận thìngười bán phải có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản vàyêu cầu bên mua thanh toán chi phí hợp lý Người mua phải chịu rủi ro từ thờiđiểm chậm tiếp nhận hàng LTM 2005 đã bổ sung Điều 56 về nghĩa vụ nhận hàngcủa bên mua nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên bán: “Bên mua có nghĩa vụ nhậnhàng theo thoả thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giaohàng” Người mua phải thanh toán tiền mua hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng.Nếu người mua chậm thanh toán tiền thì người bán có quyền đòi tiền lãi trên sốtiền trả chậm theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy địnhtại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả Nếu các bên không cóthỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định khác

2.1.3 Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa

Trang 25

Hình thức của hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dunghợp đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công

bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại củahợp đồng

Theo Điều 24 của LTM 2005, HĐMBHH có thể được thể hiện bằnglời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với những trường hợppháp luật quy định phải lập thành văn bản thì bắt buộc các bên giao kết hợp đồngphải tuân theo Ví dự như đổi với hợp đồng mua bán hàng hóa đặc biệt như vật gắnliền với đất đai (nhà cửa, cây cối, công trình xây dựng) thì còn chịu sự điều chỉnhcủa Luật đất đai 2013 và Luật nhà ở 2014

Theo quy định tại Điều 401 Bộ luật Dân sự 2005 thì: Hợp đồngmua bán hàng hoá có thể giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.Hình thức của hợp đồng là do các bên giao kết hợp đồng lựa chọn trừ trường hợppháp luật có quy định hình thức bắt buộc, thủ tục nhất định Song không phải bất

cứ chủ thể nào được phép kinh doanh những mặt hàng nhất định Căn cứ vào mức

độ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội của một số loại hàng hoá, pháp luật quy định, chỉ

có một số thương nhân được kinh doanh một số mặt hàng nhất định Bao gồmnhững loại hàng hoá:

- Chỉ được một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh do Thủ tướng quy địnhtheo đề nghị của Bộ trưởng, Tổng cục quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật

- Chỉ được các doanh nghiệp kinh doanh, cá nhân không được phép kinh doanh

- Chỉ được các doanh nghiệp hoặc cá nhân nhất định sau khi được Bộ trưởng,Tổng cục trưởng ngành kinh tế, kỹ thuật hoặc chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp Tỉnhxem xét và cho phép Ngoài ra, đối với những loại hàng hóa này, khi kinh doanhthương nhân phải có một số điều kiện như: - Điều kiện về cơ sở vật chất - Điềukiện về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người kinh doanh…

2.1.4 Thực hiện chuyển quyền sở hữu và rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Ngày đăng: 22/09/2022, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w