Nhưng hơn 5 năm được ban hành cùng với một số văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành như: Nghị định Chính phủ số 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số đi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TPHCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
LÊ THỊ THÚY HẰNG
PHÁP LUẬT THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG NHẬP KHẨU
VÀO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HCM – 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu của chính bản thân Khóa luận này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Thị Thu Hiền Mọi sự trích dẫn thực hiện đúng theo quy định của Khoa luật Thương mại Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước khoa và nhà trường về lời cam đoan này
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 2 tháng 8 năm 2010 Sinh viên thực hiện
LÊ THỊ THÚY HẰNG
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về bán phá giá hàng nhập khẩu 6
1.1.1 Khái niệm về bán phá giá hàng nhập khẩu 6
1.1.2 Đặc điểm của bán phá giá hàng nhập khẩu 9
1.1.3 Tác động tiêu cực của bán phá giá hàng nhập khẩu đối với hoạt động thương mại quốc tế 11
1.1.4 Các biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu 13
1.2 Thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam 16
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của thuế chống bán phá giá 16
1.2.2 Quy trình điều tra để áp thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu 21
1.2.2.1 Điều kiện phát sinh vụ kiện 21
1.2.2.2 Bộ máy chống bán phá giá 22
1.2.2.3 Thủ tục điều tra chống bán phá giá 24
1.2.3 Áp thuế chống bán phá giá 31
1.2.3.1 Điều kiện áp thuế chống bán phá giá 31
1.2.3.2 Cách tính thuế chống bán phá giá 31
1.2.3.3 Nguyên tắc áp dụng thuế chống bán phá giá 32
Trang 41.2.3.4 Thực hiện quyết định áp thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam 33
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
2.1 Thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu ở Việt Nam 36 2.1.1 Thành tựu đạt được 36 2.1.2 Những hạn chế việc áp dụng thuế chống bán phá giá 39 2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện pháp luật thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam 44 2.2.1 Hoàn thiện pháp luật về Bộ máy chống bán phá giá hàng nhập khẩu 44 2.2.2 Một số giải pháp cụ thể trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu ở Việt Nam 46
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI qua đi, chúng ta chứng kiến sự vươn mình trở dậy một cách mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam không chỉ có bề rộng mà còn ở chiều sâu Một trong những thành công lớn nhất của chúng ta trên con đường đổi mới là Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO Điều này đã đem đến cho Việt Nam nhiều cơ hội thuận lợi hơn nữa để vươn mình ra biển lớn Nhưng bất cứ vấn đề nào cũng có hai mặt của nó, bên cạnh những cơ hội lớn là những thách thức cũng xứng tầm mà chúng ta phải đối mặt tìm cách hạn chế, khắc phục và có thể loại bỏ nó trong một chừng mực nhất định Những mặt yếu kém vốn
dĩ đã tồn tại ngay trong lòng của nền kinh tế - xã hội của Việt Nam nếu chúng ta không có những biện pháp và những bước đi đúng đắn vững chắc thì cùng với nó là những thách thức bên ngoài do quá trình hội nhập kết hợp với nhau sẽ tạo ra những cơn sóng dữ có thể nhấn chìm nền kinh tế đang vươn lên Thị trường Việt Nam được xem là một thị trường năng động, hấp dẫn nhiều nhà đầu tư nước ngoài và càng cuốn hút hơn khi mà thị trường này ngày càng mở cửa hội nhập với thị trường khu vực và thế giới
Cuộc chạy đua giữa các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài ngày càng khốc liệt hơn để dành được miếng ngon trong chiếc bánh thị phần của thị trường Việt Nam Trong quá trình đó, giá cả sản phẩm luôn là một con bài lợi hại nằm trong tay của nhả sản xuất, đặc biệt là các nhà sản xuất nước ngoài luôn sử dụng nó một cách triệt để để dò xét sau đó là tấn công và đi đến chiếm lĩnh thị trường nước nhập khẩu Vì vậy, các doanh nghiệp trong nước phải đối đầu với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt khi mà các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng đa dạng phức tạp hơn do sự nỗ lực và sáng tạo không ngừng của con người trên con đường tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh
Một trong những hành vi cạnh tranh không lành mạnh ngày càng trở nên phổ biến là bán phá giá hàng nhập khẩu.Vấn đề bán phá giá được nhà nước cũng như các ngành sản xuất trong nước quan tâm trong những năm gần đây và nhà nước cũng có những bước đi tích cực để điều chỉnh hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu tại Việt Nam Đó là Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh chống bán phá giá vào tháng 4 năm 2004 có hiệu lực vào ngày 1 tháng 10 năm 2004 Việc ban
Trang 6hành Pháp lệnh này có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại quốc tế, và là công cụ hữu hiệu để nhà nước bảo đảm sự phát triển thị trường một cách lành mạnh, đồng thời cũng là vũ khí hữu hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam tự bảo vệ mình trước các nhà sản xuất nước ngoài khi muốn chiếm lĩnh thị trường nước ta
Nhưng hơn 5 năm được ban hành cùng với một số văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành như: Nghị định Chính phủ số 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm
2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, Nghị định Chính phủ số 04/2006/NĐ-CP ngày 9 tháng 1 năm 2006 về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ cấu tổ chức của Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá và một số văn bản khác, cho đến nay Pháp lệnh này nói chung và thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu nói riêng – một biện pháp nặng tay nhất đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh này vẫn chưa một lần được áp dụng trên thực tế Trong khi đó, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng gia tăng cả về số lượng và chủng loại Các ngành sản xuất Việt Nam cho đến nay chỉ mới chuyển đổi mô hình sản xuất và kinh doanh sang cơ chế thị trường trong thời gian hơn hai thập kỉ làm sao có thể ứng phó với sự cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh nước ngoài thông hiểu thị trường với những chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, thuế chống bán phá giá được xem
là biện pháp quan trọng để bảo vệ doanh nghiệp trong nước trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh này Nhưng việc áp dụng thuế chống bán phá giá cho đến nay vẫn là một câu hỏi chưa có lời đáp Phải chăng pháp luật còn nhiều vấn đề tranh cãi hay cơ chế thực hiện còn nhiều bất cập?
Vì vậy, nghiên cứu vấn đề bán phá giá và thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu cả về lí luận và thực tiễn, từ đó tìm ra nguyên nhân cũng như đề xuất kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện thuế chống bán phá nói riêng cũng như pháp luật chống bán phá nói chung là yêu cầu vô cùng quan trọng, trong bối cảnh kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu hơn, rộng hơn vào kinh tế khi vực và quốc tế
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật thuế
chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam” để nghiên cứu và viết khóa
luận tốt nghiệp cử nhân luật
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận:
Trang 7Mục đích nghiên cứu của khoá luận luận là nghiên cứu các vấn đề lí luận, các quy định của pháp luật về hành vi bán phá giá hàng hoá nhập khẩu Đồng thời khoá luận đi sâu vào nghiên cứu vế thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các giải pháp cụ thể để hoàn thiện sắc thuế này cũng như pháp luật về chống bán phá giá hàng nhập khẩu taị thị trường Việt Nam
Từ những mục đích nghiên cứu trên, khoá luận có các nhiệm vụ cụ thể sau:
động của nó đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
nhập khẩu, đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tạo cơ chế thực thi loại thuế này trong thực tiễn
3 Đối tượng nghiên cứu:
Khóa luận tập trung vào nghiên làm rõ khái niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu Quy định của pháp luật quốc tế về thuế chống bán phá giá của WTO, EU, Hoa Kì trong đó tập trung phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu Đồng thời khóa luận cũng nêu lên thực trạng áp dụng thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như cơ chế thực hiện
Sơn (2005, NXB Tư pháp) Ngoài sách chuyên khảo cũng có các bài viết về vấn đề
thuế chống bán phá giá như: “Thuế chống bán phá giá, trợ cấp thương mại quốc tế: Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Bùi Thanh Hải, hay “Để áp dụng thành công thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá ở Việt Nam” của Nguyễn Đình
Chiến và Lê Xuân Trường (Tạp chí Tài chính tháng 4 năm 2003) Đề tài về chống bán phá giá cũng được nhiều sinh viên lựa chọn để viết khoá lụân tốt nghiệp cử nhân luật: Nguyễn Gia Huy Chương (2001) “ Một số vấn đề pháp lí về bán phá giá hàng hóa và xây dựng pháp lí về chống bán phá giá ở Việt Nam”; Trần Thị Bích
Trang 8Thảo (2004) “Pháp luật chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập”
Một cách khái quát, những công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào việc phân tích pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống bán phá giá nói chung mà chưa đi sâu vào phân tích thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Một số tài liệu chỉ dừng lại ở việc tiếp cận khía cạnh kinh tế của đề tài Nói cách khác, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống về thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Vì vậy, khóa luận đi vào nghiên cứu một cách chi tiết cụ thể về thuế chống bán phá giá để từ đó có cái nhìn tổng quát của biện pháp chống bán phá giá này mà chưa
có luận văn cử nhân nào nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế trong thời kì đổi mới, đặc biệt là đường lối phát triển kinh tế đối ngoại Các nội dung mà luận văn phân tích và làm rõ đều dựa trên văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn đồng thời các tài liêu thực tế và các tài liệu khoa học trong các tạp chí chuyên ngành
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử cùng với sự kết hợp các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp… để làm rõ các vấn đề đặt ra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu về thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam, thông qua việc cung cấp cho người đọc những kiến thức lí luận và thực tiễn về bán phá giá và pháp luật thuế chống bán phá giá Với những kết quả đạt được của khóa luận sẽ tạo nền tảng cho việc nghiên cứu sâu sắc hơn về việc áp dụng thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Qua đó, khóa luận có thể góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng pháp luật chống bán phá giá nói chung và cũng như thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam
Trang 97 Cơ cấu của khoá luận
Khoá luận có những nội dung chính sau:
Chương 1: Những vấn đề lí luận về bán phá giá và thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và pháp luật thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 10CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BÁN PHÁ GIÁ HÀNG HÓA NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ HÀNG
HÓA NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về bán phá giá hàng hoá nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm về bán phá giá hàng hoá nhập khẩu
“Bán phá giá” nói chung và “bán phá giá hàng hóa nhập khẩu” nói riêng là một hiện tượng mang tính phổ biến của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận là mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh doanh Để tối đa hoá lợi nhuận, rất nhiều nhà sản xuất đã bất chấp mọi thủ đoạn, hành vi bất chính để đạt được nó Bán phá giá hàng hóa nhập khẩu là một trong những hành vi bất chính, cạnh tranh không lành mạnh diễn ra phổ biến trong thương mại quốc tế
Nếu bán phá giá hàng hóa trong nước là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nước, (Khoản 3 Điều 4 Pháp
khác nhau
Thứ nhất, bán phá giá hàng nhập khẩu được hiểu là hành vi bán hàng hóa ở thị trường nước ngoài với giá rẻ hơn thị trường nước xuất khẩu – nơi mà hàng hóa được sản xuất ra 1 Như vậy, trong cách hiểu này khi xác định một hành vi có
bán phá giá hay không ta phải xác định giá cả ở hai thị trường: giá bán tại thị trường nhập khẩu và giá bán hàng hóa tương tự tại thị trường xuất khẩu; sau đó so sánh hai mức giá này Nhưng công việc xác định giá bán hàng hóa tại thị trường xuất khẩu không phải đơn giản và cũng có thể không thực hiện được, nếu hàng hóa đó chỉ sản xuất ra với mục đích là xuất khẩu không bán ở thị trường trong nước Trường hợp xác định được giá bán tại nước xuất khẩu thì những rào cản về thông tin, ngôn ngữ, tập quán kinh doanh… tác động đến quá trình xác định giá có thể sẽ làm giảm mức
độ chính xác của kết quả thu được Vì vậy, việc áp dụng cách hiểu này trong việc xác định bán phá giá hàng nhập khẩu là rất hạn chế
1
Bryan A Ganner (1999), Black’s law dictionary, tr 518
Trang 11Cách hiểu thứ hai cho rằng bán phá giá hàng nhập khẩu là hành vi bán hàng hóa ra thị trường nước ngoài thấp hơn chi phí sản xuất 2 Theo cách hiểu này, để xác định có bán phá giá hay không ta phải so sánh giữa giá bán của hàng hóa tại thị trường nhập khẩu với chi phí sản xuất ra mặt hàng đó Chi phí sản xuất là
số tiền mà nhà kinh doanh bỏ ra để mua những yếu tố đầu vào để sản xuất hàng hóa bao gồm chi phí cố định và biến phí Tùy ở mỗi nơi lại có cách tính toán chi phí sản xuất khác nhau Có những nước quan niệm chi phí sản xuất chỉ là số tiền bỏ ra mua những yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản phẩm tại nhà xưởng Một số nước khác lại cho rằng, chi phí sản xuất ngoài số tiền để làm ra sản phẩm tại nhà xưởng, còn bao gồm cả chi phí để lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng thông qua các kênh phân phối Những chi phí này có thể thay đổi và phát sinh nhiều yếu
tố mới Theo đó, việc xác định chi phí sản xuất cũng không phải là công việc dễ dàng
Nhưng ưu điểm của cách hiểu này là nói lên được bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu Vì đứng trên quan điểm của
một người bỏ vốn ra kinh doanh thì ai cũng mong được một vốn bốn lời, mà theo
cách thức này thì họ chấp nhận lỗ vốn Đây không thể là điều mà người kinh doanh mong muốn Điều này cũng có nghĩa là ẩn chứa đằng sau hành vi bán phá giá hàng hóa của người kinh doanh là những toan tính không lành mạnh Đây là chiêu thức
mà những nhà sản xuất lớn thường sử dụng để bóp chết những nhà sản xuất yếu thế
hơn mình Lợi dụng vào giá cả thấp, những nhà sản xuất lớn sẽ thu hút được khách hàng nhiều hơn, làm các nhà sản xuất nhỏ sản xuất cùng mặt hàng phải đối mặt với nguy cơ ế ẩm, thua lỗ và thậm chí đi đến phá sản
Từ sự phân tích trên, có thể thấy rằng cả hai quan điểm trên về bán phá giá hàng nhập khẩu đều có những mặt hạn chế nhất định Nhằm khắc phục những hạn
chế này, trong thương mại quốc tế hình thành một cách hiểu thứ ba về bán phá giá
hàng nhập khẩu Theo đó, việc xác định có hay không hành vi bán phá giá được
thực hiện trên cơ sở so sánh giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng
hóa bị nghi là bán phá giá Như vậy, cách hiểu này không chỉ khắc phục được
những hạn chế của hai quan điểm trên, mà còn phản ánh được bản chất không lành mạnh của hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
2 HoànVăn Châu – Đỗ An Chi (2003), Từ điển kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Thống kê, tr297
Trang 12Chính vì vậy, cách hiểu thứ ba về bán phá giá hàng nhập khẩu đã đựơc pháp điển hóa tại Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1947 (GATT) của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Hiệp định thực thi Điều VI và Điều II Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ADA (Anti Dumping
Agreement)… Theo các văn bản này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá, (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm đó), nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường Cách hiểu này được các quốc gia thành viên của WTO nội luật hóa trong
pháp luật quốc gia mình Ví dụ: Liên minh Châu Âu ban hành luật chống bán phá giá theo quyết định số 384/96 ngày 22 tháng 12 năm 1995 của Hội đồng EC Theo
đó, một sản phẩm bị xem là bán phá giá khi nhập khẩu vào khối cộng đồng thấp hơn so với mức giá đối với sản phẩm tương tự theo tiến trình thương mại thông thường được thiết lập ở nước xuất khẩu 3
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã và đang nỗ lực trong việc hội nhập và khẳng định vị thế của mình trên thương trường quốc tế Theo
đó, ngay từ năm 2004, trong giai đoạn hoàn chỉnh hệ thống pháp luật cho phù hợp
với thông lệ quôc tế để xin gia nhập WTO, chúng ta đã ban hành Pháp lệnh về
chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với nội dung phù hợp với
quy định chung của WTO và thông lệ quốc tế Theo đó, Pháp lệnh này đưa ra định
nghĩa cụ thể về hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu như sau: Hàng hóa có xuất xứ
từ nước hoặc vùng lãnh thổ bị coi là bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam, (sau đây gọi là hàng hoá bán phá giá vào Việt Nam), nếu hàng hoá đó được bán với giá thấp hơn giá thông thường 4
Như vậy, theo quy định của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam, việc xác định có hành vi bán phá giá hay không phải dựa trên kết quả của việc so sánh giữa giá xuất khẩu với giá trị thông thường của hàng hóa bị nghi là bán phá giá Trước tiên cần phải xác định giá trị thông thường của hàng hóa là gì, sản
phẩm tương tự là sản phẩm như thế nào? Giá thông thường của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là giá có thể so sánh được của hàng hoá tương tự đang được bán trên thị trường nội địa của nước hoặc vùng lãnh thổ xuất khẩu theo các điều
3 Quy chế số 348/96 ngày 22/12/1995 của Hội đồng EC
4 Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam
Trang 13kiện thương mại thông thường (Khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu) Việc xác định giá trị thông thường sẽ được cơ quan có thẩm quyền xác
, hoặc
hàng hoá bị yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc trong trường hợp không có hàng hoá nào như vậy thì là hàng hoá có nhiều đặc tính cơ bản giống với
hàng hoá nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam rõ ràng chính là cách hiểu phổ biến hiện nay được các quốc gia trên thế giới thừa nhận
1.1.2 Đặc điểm của bán phá giá hàng hoá nhập khẩu
Như đã phân tích ở trên, bán phá giá hàng nhập khẩu là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, vấn đề rất quan trọng là cần phải có biện pháp hạn chế, khắc phục hành vi này để đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường Tuy nhiên, để đạt được mục đích này, cần phải hiểu được bản chất của hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu Bản chất của bán phá giá hành nhập khẩu được thể hiện rõ nét
thông qua các đặc điểm sau đây
Thứ nhất, bán phá giá hàng nhập khẩu xảy ra trong quan hệ thương mại quốc tế Thương mại quốc tế là việc trao đổi, mua bán hàng hoá giữa hai nước hoặc
nhiều nước khác nhau, hay nói chính xác là giữa các thị trường khác nhau Mục đích của toàn cầu hóa suy cho cùng là nhằm tự do hoá thương mại toàn cầu thông qua việc hình thành nên một thị trường chung giữa các quốc gia, đồng thời dỡ bỏ các rào cản trong thương mại Theo đó, hàng hóa của các nước được tự do buôn bán
là lúc cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn Trong bối cảnh đó, các nhà sản xuất, kinh
7
Nguyên tắc tối huệ quốc được hiểu là nếu một nước dành cho một nước thành viên một đối xử ưu đãi nào
đó thì nước này cũng phải dành sự ưu đãi cho tất cả các nước thành viên khác
8 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia được hiểu là hàng hóa nhập khẩu, dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài phải được đối xử không kém thuận lợi hơn so với hàng hóa cùng loại trong nước
Trang 14doanh luôn không ngừng sáng tạo nhằm tìm kiếm các phương cách cạnh tranh hiệu
quả để tối đa hoá lợi nhuận cho hoạt động kinh doanh của mình
Hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu xảy ra khi hàng hóa dịch chuyển qua biên giới và được bán ở thị trường nhập khẩu với một mức giá thấp hơn giá bán cùng mặt hàng đó ở thị trường nước xuất khẩu theo những điều kiện thông thường Điều này rõ ràng là rất vô lý Vì theo lẽ thông thường, giá bán của hàng hoá phải luôn luôn lớn hơn chi phí sản xuất ra hàng hoá Do vậy, thực hiện hành vi bán phá giá đồng nghĩa với việc doanh nghiệp xuất khẩu “cố tình” kinh doanh thua lỗ Rõ ràng đằng sau hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu phải là những toan tính cạnh tranh không lành mạnh nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh trên thị trường nứơc nhập khẩu
Từ đó, chúng ta thấy rằng chủ thể thực hiện hành vi bán phá giá hàng hoá nhập khẩu phải là các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài có những lợi thế nhất định về quy mô, năng lực sản xuất, tiềm năng tài chính… thì mới có thể thực hiện được hành vi bán phá giá
Thứ hai, bán phá giá hàng nhập khẩu là hành vi phân biệt giá quốc tế Bán
phá giá hàng nhập khẩu được xác định trên cơ sở so sánh giữa giá bán một loại hàng hóa tại thị trường nhập khẩu và giá trị thông thường của nó tại nơi mà nó được sản
xuất Nếu có sự chênh lệch, trong đó giá bán ở nơi nhập khẩu thấp hơn giá trị thông
thường và mức chênh lệch này không nằm trong giới hạn cho phép (thấp hơn 3 % giá xuất khẩu) thì điều này cũng đồng nghĩa là hành vi bán phá giá đã và đang xảy
ra So sánh giữa bán phá giá hàng nhập khẩu và bán phá giá trong thương mại nội địa, chúng ta thấy là việc xác định hành vi bán phá giá nội địa đơn giản hơn nhiều
Vì bán phá giá nội địa chỉ xảy ra trong cùng một thị trường, nên việc xác định giá bán của hàng hóa đó có bán dưới chi phí sản xuất, hoặc dưới mức giá thông thường hay không sẽ dễ dàng hơn Trong khi đó, việc xác định hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu phải trên cơ sở xem xét giá của hàng hoá này tại hai thị trường, thị trường xuất khẩu và thị trường nhập khẩu Và dấu hiệu cụ thể của việc phân biệt giá quốc tế này chính là giá xuất khẩu lại thấp hơn giá trị thông thường của hàng hoá
Thứ ba, đối tượng của hành vi bán phá giá hàng hoá nhập khẩu là hàng hóa Hàng hóa (commordity) là khái niệm dùng để chỉ bất kì một mặt hàng nào
thương mại quốc tế, đối tượng giao dịch giữa các bên bao gồm cả hàng hóa, và dịch
9
Walter Good (1997), Từ điển chính sách thương mại quốc tế, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội, tr 55
Trang 15vụ Tuy nhiên, trong pháp luật thương mại quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia chỉ điều chỉnh hành vi bán phá giá hàng hóa chứ không điều chỉnh hành vi phá giá trong việc cung ứng dịch vụ
Hàng hóa là vật hiện hữu mà con người có thể cầm nắm, trao đổi với nhau, còn dịch vụ không hiện hữu, ta chỉ nhận biết được nó thông qua hoạt động của người thực hiện dịch vụ Theo đó, cơ quan hải quan có thể kiểm soát được hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, nhưng hầu như không thể quản lý được việc xuất khẩu, nhập khẩu dịch vụ Từ những lí do đó, hàng hóa không chỉ là đối tượng trong bán phá giá hàng nhập khẩu mà nó cũng là đối tượng của một số hành vi không lành mạnh trong thương mại quốc tế như: biện pháp chống trợ cấp, biện pháp tự vệ Đây cũng chính
là điểm khác biệt giữa bán phá giá nội địa và phá giá trong ngoại thương Vì đối tượng của hành vi bán phá giá trong nước không chỉ có hàng hóa mà còn có cả dịch
vụ Cụ thể, Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh giá của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
ngày 26 tháng 4 năm 2002 quy định: phá giá là hành vi bán hàng hóa, dịch vụ với giá thấp hơn giá thông thường trên thị trường Việt Nam
Có thể thấy là những đặc điểm nêu trên chính là dấu hiệu để xác định thế nào
là bán phá giá hàng hoá nhập khẩu Đồng thời, những đặc điểm này cũng chính là căn cứ giúp chúng ta phân biệt giữa hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu và bán phá giá hàng hoá, dịch vụ trong nứơc Việc phân định rõ hai hành vi này có một ý nghĩa nhất định trong quá trình nghiên cứu, cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật chống bán phá giá trên thị trường
1.1.3 Tác động tiêu cực của hành vi bán phá giá hàng hoá nhập khẩu
Mục đích của việc bán phá giá hàng hóa vào thị trường nước nhập khẩu của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài suy cho cùng là nhằm làm suy giảm tính cạnh tranh của hàng hóa nước nội địa, đi đến loại bỏ những nhà sản xuất trong nước
để độc chiếm thị trường nước nhập khẩu Chính điều này đã gây nên tác động rất lớn đến thị trường nội địa và cả thị trường quốc tế Những tác động xấu được biểu hiện ở những mặt sau đây:
Thứ nhất, bán phá giá hàng nhập khẩu gây thiệt hại rất lớn cho nền sản xuất của nước nhập khẩu
Chủ thể bị tác động trực tiếp từ hành vi bán phá giá này chính là các doanh nghiệp sản xuất trong nước Nói một cách chính xác hơn, đó là các nhà sản xuất các
Trang 16mặt hàng cùng loại hoặc tương tự với hàng hoá được bán phá giá Bán phá giá hàng nhập khẩu làm tổn hại đến quá trình sản xuất của những nhà sản xuất nội địa mà khâu quan trọng nhất là tiêu thụ hàng hóa Vì có tiêu thụ hàng hóa thì một quy trình sản xuất mới có thể tiếp tục được thực hiện Bán phá giá hàng nhập khẩu đã tạo nên một lợi thế cạnh tranh giả tạo về giá, vì chủ thể thực hiện hành vi đã chấp nhận hi sinh một phần lợi nhuận của mình trong một thời gian nhất định để lôi kéo khách hành nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh Như vậy, trong cuộc cạnh tranh này cả hai đều bị tổn hại, một bên phải hi sinh lợi nhuận của mình, còn bên kia sẽ bị mất khách hàng và có nguy cơ bị loại ra khỏi thị trường Tuy nhiên, việc bán phá giá sẽ chấm dứt sau khi chủ thể bán phá đạt được mục đích là loại bỏ đối thủ cạnh tranh Tiếp sau đó, vị trí độc quyền trên thị trường được các nhà xuất khẩu tận dụng một cách triệt để thông qua việc nâng giá hàng để bù đắp phần thiệt hại, và thu lợi nhuận tối
đa Người tiêu dùng lúc này đây không còn là thượng đế nữa mà trở thành nô lệ cho
nhà sản xuất khi họ cần tiêu dùng mặt hàng đó
Trên đây chỉ là tác động bề nổi đối với thị trường nội địa, nếu chỉ dừng ở đó thì chưa thấy hết được bản chất cạnh tranh không lành mạnh của hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu Việc các nhà sản xuất nội địa bị phá sản vì không thể cạnh tranh với hàng nhập khẩu giá thấp do được bán phá giá sẽ làm gia tăng tỷ lệ thất nghiệp, làm giảm mức sống của người lao động, và kéo theo đó là sự gia tăng của tệ nạn xã hội Nếu các mặt hàng bán phá giá là yếu tố đầu vào của các ngành sản xuất khác trong nước thì tác động của bán phá giá hàng hoá nhập khẩu còn “lan truyền” sang các ngành kinh tế khác do chi phí sản xuất sẽ tăng cao Rõ ràng là khó khăn sẽ chồng chất khó khăn
Thứ hai, bán phá giá hàng hoá nhập khẩu sẽ bóp méo những nguyên lí cơ bản của kinh tế thị trường Đó là nguyên lí cạnh tranh tự do và công bằng Thị
trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán dựa trên những lợi ích mà các bên khi tham gia thị trường hướng đến và mong muốn đạt được Tính hai mặt của cạnh tranh được thể hiện ở chỗ: nếu thị trường vận động trên nền tảng của cạnh tranh lành mạnh thì đó động lực để nền kinh tế thị trường tồn tại và phát triển; ngược lại, nếu
đó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh thì thị trường sẽ không còn được tự do
mà lại nằm trong tay một số người thao túng quyết định thị trường Trong thương mại quốc tế cũng như vậy Tự do hóa thương mại là nhằm xây dựng một thị trường
tự do Khi hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu được thực hiện bởi các nhà sản xuất nước ngoài với mục đích là loại bỏ đối thủ cạnh tranh thì sự tự do và tính chất cạnh
tranh của thị trường nước nhập khẩu đã bị bóp méo Hành vi thủ tiêu nền sản xuất
Trang 17nội địa của nước nhập khẩu cũng gắn liền với sự hủy diệt những lợi thế có thể có của nước nhập khẩu trong cạnh tranh quốc tế10
Thứ ba, bán phá giá hàng nhập làm tổn hại đến quan hệ kinh tế và trong những chừng mực nhất định nó thậm chí còn gây phương hại cho quan hệ chính trị giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu
Quan hệ ngoại thương có những tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế giữa các bên Khi hoạt động ngoại thương có những dấu hiệu của cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại đến lợi ích chung của toàn xã hội, bắt buộc Nhà nước phải
ra tay hành động để thực hiện nhiệm vụ ổn định kinh tế xã hội của mình Theo đó, Nhà nước sử dụng các công cụ quản lí để can thiệp vào thị trừơng, định hướng cho các quan hệ cạnh tranh đi vào đúng trật tự và khuôn khổ Điều này cũng đồng nghĩa
với việc Nhà nước có thể đụng đến các nhà sản xuất nước ngoài đang được bảo vệ
bởi nhà nước của họ Vì vậy, bán phá giá không chỉ là cậu chuyện giữa các nhà sản xuất trong nước với các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài khi mà hành vi bán phá giá tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của quốc gia nhập khẩu Bởi, để bảo vệ nền sản xuất của mình đòi hỏi nhà nước phải lên tiếng
Thực tiễn thế giới đã cho thấy rằng sự can thiệp của nứơc nhập khẩu nhằm ngăn chặn hàng hóa từ nước khác đựơc bán phá giá vào nước mình thường là mở đầu cho những ảnh hưởng tiêu cực về chính trị giữa các nhà nước này Vào tháng 9 năm 2009, Hoa Kì quyết định áp thuế chống bán phá giá vào sản phẩm lốp xe được nhập khẩu từ Trung Quốc với thuế suất 35% trong năm đầu tiên, 30% trong năm thứ hai và 25% trong năm thứ ba Ngay lập tức phía Trung Quốc cũng áp dụng thuế chống bán phá giá đối với ô tô và sản phẩm thịt gà của Hoa Kì Những tranh chấp thương mại cũng đã gây nên những căng thẳng chính trị giữa hai nước khi mà cả hai nước này đang nỗ lực cùng nhau vực dậy nền kinh tế toàn cầu và giải quyết những
Trên thực tế còn những ảnh hưởng không thể kể hết và đây cũng là tác động chung của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quan hệ ngoại thương Chính tác động này cũng là điểm để ta có thể phân biệt rõ giữa hành vi bán phá giá nội địa và hành vi bán phá giá trong thương mại quốc tế Đó là việc bán phá trong
Trang 18thương mại nội địa chỉ có ảnh hưởng trong phạm vi của một quốc gia, còn bán phá giá hàng hoá nhập khẩu lại gây ra những ảnh hưởng tiêu cực ở tầm quốc tế
1.1.4 Các biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu
Xuất phát từ sự khác biệt giữa bán phá giá hàng hoá nhập khẩu và bán phá giá trong thương mại nội địa, những biện pháp nhằm ngăn chặn, xử lý hai hành vi này cũng rất khác nhau Cụ thể, hành vi bán phá giá trong nước bị xử lí mạnh tay hơn so với việc xử lí hành vi bán phá giá trong thương mại quốc tế Vì đây là công việc nội
bộ quốc gia, do đó quốc gia có toàn quyền trong việc giải quyết Ngược lại, hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu lại được xử lí bằng những biện pháp dung hòa như cam kết về giá hay thuế chống bán phá giá Vì bán phá giá hàng hoá nhập khẩu không chỉ liên quan đến các nhà sản xuất trong nước và các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài mà còn liên quan đến các quan hệ kinh tế và chính trị giữa hai nước với nhau
Vì vậy, việc áp dụng những biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu phải hết sức cẩn trọng để không làm tổn hại đến quan hệ ngoại thương giữa các nước Theo pháp luật thương mại quốc tế, các biện pháp chống bán phá giá tiêu biểu là: các cam kết loại trừ bán phá giá hàng nhập khẩu; và thuế chống bán phá giá
hàng nhập khẩu
a Cam kết về các biện loại trừ bán phá giá hàng nhập khẩu
Đây là biện pháp do các nhà sản xuất, xuất khẩu mặt hàng bị nghi là bán phá giá chủ động đưa ra Theo đó, các chủ thể này cam kết về giá đối với mặt hàng đang
bị điều tra bán phá giá với cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu Đây là biện pháp dung hòa trong các biện pháp chống bán phá giá Pháp luật quốc tế, pháp luật các nước trên thế giới và cả pháp luật Việt Nam cũng quy định về biện pháp này Ví
dụ, Điều 8 Hiệp định chống bán phá giá ADA quy định: Các thủ tục có thể được đình chỉ hoặc chấm dứt mà không áp dụng bất cứ biện pháp tạm thời hay thuế chống bán phá giá nào, nếu như các nhà xuất khẩu có cam kết ở mức thỏa đáng sẽ điều chỉnh giá bán của mình hoặc đình chỉ hành động bán phá giá vào khu vực đang điều tra, để cơ quan có thẩm quyền thấy được rằng tổn hại do việc bán phá giá gây ra đã được loại bỏ
Có thể thấy rằng cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá là một giải pháp
có nhiều ưu điểm, đem lại lợi ích cho cả hai bên Đối với nhà xuất khẩu, họ có thể chủ động đưa ra một mức điều chỉnh giá hợp lí để một mặt vẫn thu được lợi nhuận, đồng thời đảm bảo đựơc thị phần của mình ở nước nhập khẩu không bị giảm sút từ
Trang 19việc tăng giá bán Đối với các nhà sản xuất trong nước, việc các nhà xuất khẩu cam kết loại trừ bán phá phá giá có nghĩa là họ sẽ giảm đựơc nguy cơ phải cạnh tranh không công bằng về giá với hàng nhập khẩu Khi các nhà xuất khẩu chủ động đưa
ra cam kết thì việc điều tra của cơ quan có thẩm quyền cũng sẽ dừng lại, giúp tiết kiệm nhiều chi phí nhưng vẫn đạt được kết quả mà hai bên mong muốn
Theo pháp luật quốc tế và pháp luật chống bán phá giá Việt Nam, cam kết về giá
của các nhà xuất khẩu có thể thực hiện theo cách thức sau: các nhà xuất khẩu tự
nguyện điều chỉnh giá bán; hoặc tự nguyện hạn chế khối lượng, số lượng hoặc giá trị hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam12
Việc áp dụng các cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá hàng nhập khẩu của nhà xuất khẩu phải thỏa mãn các điều kiện: Khoản giá tăng thêm khi cam kết về giá không được cao hơn mức cần thiết để có thể loại bỏ biên độ bán phá giá Khuyến khích việc chỉ yêu cầu mức tăng giá thấp hơn biên độ bán phá giá nếu như mức đó đủ loại bỏ tổn hại đối với sản xuất trong nước Cam kết đưa ra không được chấp nhận nếu như các cơ quan có thẩm quyền xét thấy việc chấp nhận đó không mang tính thực tế (như số lượng các nhà xuất khẩu thực sự hoặc tiềm năng quá lớn hoặc các lí do khác, bao gốm các lí do liên quan đến chính sách chung) (điều 8 Hiệp định chống bán phá giá ADA)
Cam kết về các biện pháp loại trừ bán phá giá hàng nhập khẩu được xem là một biện pháp mềm dẻo và linh hoạt Vì các cam kết này được đưa ra từ các nhà xuất khẩu có mặt hàng đang bị điều tra chống bán phá giá, và một nguyên tắc quan trọng trong biệc áp dụng biện pháp này là cơ quan nhà nước có thẩm quyền không được ép buộc cũng như đưa ra các cam kết này, mà phải dựa trên tinh thần tự nguyện của các nhà xuất khẩu hàng hóa Điều đó cũng có nghĩa là biện pháp này chỉ
có thể thực hiện được khi các nhà xuất khẩu tự mình đưa ra các cam kết và được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Do đó, nếu như các các kết không được đưa ra thì cũng không thể nào áp dụng Đây chính là điểm hạn chế của biệp pháp này Vì vậy, cần phải có một biện pháp mạnh tay hơn để loại bỏ, ngăn ngừa thiệt hại từ hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu gây ra
b Thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu:
Thuế chống bán hàng nhập khẩu là biện pháp mạnh tay nhất đánh vào hàng hóa nhập khẩu được bán phá giá Tuy nhiên, biện pháp này chỉ được thực hiện khi
12
Điều 21 Pháp lệnh chống bán phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam
Trang 20thỏa mãn các điều kiện mà nước áp dụng dựa trên Hiệp định chống bán phá giá ADA:
- Thứ nhất là phải có hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu tồn tại ở thị trường nội địa;
- Thứ hai là phải có thiệt hại thực tế đáng kể xảy ra đối với ngành sản xuất
trong nước thể hiện qua biên độ bán phá giá - Biên độ bán phá giá là khoảng chênh
lệch có thể tính được giữa giá thông thường của hàng hóa so với giá xuất khẩu hàng hóa đó vào nước nhập khẩu (giá xuất khẩu – giá trị thông thường>0), biên độ bán phá giá phải>2%; nếu biên độ phá giá < 2% được xem là không gây tổn hại hoặc không đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
- Thứ ba là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại xảy ra Khi đánh giá mối quan hệ này ta phải xem xét thiệt hại trong tổng thể các mối quan
hệ, kể cả các yếu tố khác ngoài việc hàng nhập khẩu bán phá giá Chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi xác định được hàng nhập khẩu chính là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra cho các ngành sản xuất trong nước
Việc xác định những yếu tố trên phải trải qua một quá trình điều tra của những chủ thể có thẩm quyền Và thuế chống bán phá giá sẽ đựơc áp dụng khi có quyết định chính thức của người có thẩm quyền Việc áp dụng thuế chống bán phá giá
phải dựa trên cơ sở không phân biệt đối xử đối với các hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn bị coi là bán phá giá và gây tổn hại, trừ những nguồn đã cam kết về giá đã được chấp nhận 13
So sánh giữa các biện pháp chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu, ta có thể thấy rằng biện pháp cam kết về giá là dung hòa và mềm mỏng hơn Những thống kê
về việc giải quyết tranh chấp về bán phá giá của WTO cho thấy, trong giai đoạn từ
1995 – 2001, các nước đã tiến hành 1.845 vụ điều tra, trong đó có 108 lần các nước
Như vậy, việc áp dụng biện pháp cam kết về giá là rất hạn chế Nguyên nhân của hiện tượng này là do khi chấp nhận cam kết giá cũng có nghĩa là các nhà xuất khẩu
tự thừa nhận mình đã thực hiện hành vi bán phá giá, mặc dù là quá trình điều tra xác định bán phá giá chưa kết thúc Điều này sẽ ảnh hưởng đến uy tín của nhà sản xuất,
13
Điều 9.2 Hiệp định chống bán phá giá ADA
14
Bộ thương mại (2000), Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu ở Việt
Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tố quốc tế, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ.
Trang 21xuất khẩu, ảnh hưởng đến thương hiệu của mặt hàng xuất khẩu nên tỉ lệ áp dụng biện pháp cam kết là chưa cao
1.2 Thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
a Khái niệm:
Theo pháp luật Việt Nam, hành vi bán phá giá trong nước có thể bị xử lí hành
Trong khi đó, chế tài nghiêm khắc nhất đối với hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu là áp thuế chống bán phá giá Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Pháp lệnh chống bán phá giá
hàng nhập khẩu vào Việt Nam thì thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu là thuế nhập khẩu bổ sung áp dụng trong trường hợp hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
Văn bản pháp luật điều chỉnh trực tiếp hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu là Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam Nội dung của Pháp lệnh quy định về các biện pháp chống bán phá giá hàng nhập khẩu; trình tự, thủ tục điều tra để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, trong đó biện pháp chủ yếu là
áp thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, Pháp lệnh không quy định rõ về các nội dung
của thuế chống bán phá giá mà chỉ quy định “thuế chống bán phá giá hàng nhập
khẩu là thuế nhập khẩu bổ sung” Như vậy, để hiểu rõ khái niệm cũng như các nội
dung của thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu phải căn cứ vào quy định của pháp luật thuế nhập khẩu
Theo quy định của Luật thuế xuất khẩu – thuế nhập khẩu và hệ thống các văn
bản hướng dẫn thi hành thì Thuế nhập khẩu là loại thuế thu vào hành vi nhập
khẩu hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới vào Việt Nam Đây là một
loại thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ và là một loại thuế độc lập trong hệ thống thuế quốc gia Thuế nhập khẩu trước đây được xem là một khoản thu rất quan trọng trong ngân sách của một quốc gia Nhưng hiện nay, với xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại, thuế nhập khẩu không còn là một khoản thu lớn vì các nước phải
15 Điều 26 Pháp lệnh giá
Trang 22thực hiện các cam kết thương mại quốc tế và khu vực là dần xóa bỏ hàng rào thuế quan để việc luân chuyển hàng hóa giữa các thị trường ngày càng dễ dàng, thông thoáng
Tại sao thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu lại là thuế nhập khẩu bổ sung? Hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu trước hết là hành vi nhập khẩu hàng hoá
từ nước ngoài vào thị trường nội địa Theo đó, nếu hành vi nhập khẩu là hợp pháp, hàng hóa nhập khẩu là hợp pháp, được phép nhập khẩu và không thuộc các trường hợp không chịu thuế, thì chủ thể thực hiện hành vi nhập khẩu là đối tượng nộp thuế nhập khẩu theo đúng quy định của pháp luật thuế nhập khẩu Tuy nhiên, khác với các trường hợp nhập khẩu hàng hoá thông thường, trong trường hợp này, hàng hoá khi nhập khẩu vàoViệt Nam đã bị bán phá giá, tức khi đó giá của hàng hoá này ở thị trường nội địa sẽ rất thấp Ở các phần trên, chúng ta đã phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của hàng hoá bán phá giá khi nhập khẩu vào thị trường nội địa Do vậy, để ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực này, ngoài thuế nhập khẩu, hàng hoá bán phá giá còn phải chịu thêm một mức thuế nữa là thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu nhằm làm cho giá hàng hoá tăng lên trước khi bán vào thị trường nội địa Như vậy, thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu chỉ áp dụng cho hàng hoá nhập khẩu trong điều kiện cụ thể, được thu cùng với thuế nhập khẩu, do cơ quan hải quan quản lý cửa khẩu thu Đó là lý do tại sao thuế chống bán phá giá được xem là một loại thuế nhập khẩu bổ sung
Tóm lại, thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu là một khoản thuế phụ thêm vào thuế nhập khẩu khi hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu, là một chế tài để ngăn ngừa, giảm thiểu thiệt hại do hàng hoá nhập khẩu bị phá giá gây ra, để việc cạnh tranh trong thương mại quốc tế được bình đẳng và lành mạnh Đây cũng là nguyên tắc cơ bản nhằm xây dựng một thị trường ổn định, lành mạnh trong quá trình tự do hóa thương mại
b Đặc điểm của thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu:
Thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu là loại thuế nhập khẩu bổ sung với những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đối tượng chịu thuế của thuế chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu là đối tượng chịu thuế nhập khẩu bị bán phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam Do đó, hàng hóa bị áp dụng thuế chống bán phá phải thỏa mãn các điều kiện
Trang 23sau: (i) hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu, (ii) hàng hóa bị bán phá giá
ở Việt Nam
(i) Hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định Luật thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn thi hành là hàng hóa nhập
vào thị trường trong nước Hàng hóa là đối tượng chịu thuế chống bán phá giá phải thỏa mãn các điều kiện của hàng hóa chịu thuế nhập khẩu:
- Hàng hóa phải được dịch chuyển hợp pháp qua biên giới Việt Nam Có nghĩa
là hàng hóa không rơi vào trường hợp hàng hóa không được vận chuyển qua biên giới Việt Nam: không phải là hàng cấm, không phải là hàng cấm nhập khẩu, hàng hoá nhập khẩu trái phép Ranh giới xác định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam là
“biên giới”, nhưng biên giới trong luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu không đơn thuần đường biên giới để ngăn cách lãnh thổ giữa các quốc gia, nhằm xác định chủ quyền của nhà nước lên lãnh thổ đó Biên giới theo quy định của pháp luật thuế nhập khẩu
là biên giới kinh tế, là nơi phân định giữa nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế nước ngoài, bao gồm biên giới hành chính, và các địa điểm khác như cửa khẩu bưu điện, cửa khẩu khu chế xuất, kho ngoại quan…
- Hàng hóa dịch chuyển hợp pháp qua biên giới Việt Nam và không thuộc trường hợp không chịu thuế nhập khẩu quy định tại điều 3 của Luật thuế xuất khẩu,
(ii) Hàng hóa có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là bị bán phá giá ở thị trường Việt Nam, (biên độ bán phá giá vượt quá 2% giá xuất khẩu và nhà
xuất khẩu không cam kết áp dụng các biệp pháp loại trừ bán phá giá)
Việc áp dụng thuế chống bán phá giá dựa trên các kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyết định áp thuế của Bộ trưởng Bộ Công thương Do vậy, khi có hành vi bán phá giá xảy ra và có thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước thì thuế chống bán phá được áp dụng đối với hành vi này
Trang 24Thứ hai, đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân có hành vi nhập khẩu hàng hóa là đối tượng chịu thuế nhập khẩu bị bán phá giá vào thị trường Việt Nam
Những chủ thể này có hành vi tác động lên đối tượng chịu thuế, và theo quy định của pháp luật thuế, hành vi đó làm phát sinh nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu và thuế chống bán phá giá hàng nhập khẩu Nhưng không phải mọi đối tượng nộp thuế nhập khẩu đều đồng thời là đối tượng nộp thuế chống bán phá giá, mà chỉ có tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa được kết luận là bán phá giá vào thị trường Việt Nam thì phải nộp thêm khoản thuế nhập khẩu bổ sung này Người có trách nhiệm nộp khoản tiền thuế này chính là các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa bị kết luận là bán phá giá Theo đó, việc áp dụng thuế chống bán phá giá không tác động trực tiếp đến chủ thể thực hiện hành vi bán phá giá, mà chỉ có thể tác động trực tiếp đến chủ thể thực hiện hành vi nhập khẩu hàng hóa Khi phải nộp thêm thuế chống bán phá giá, giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên, khả năng tiêu thụ hàng trên thị trường nội địa sẽ giảm xuống Theo quy luật cung cầu, khi cầu giảm thì cung sẽ giảm, tức lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuống Từ đó, thuế chống bán
phá gía gián tiếp tác động tới nhà sản xuất, xuất khẩu hàng hoá đựơc bán phá giá
Thứ ba, căn cứ để xác định mức thuế suất thuế chống bán phá giá là biên
độ bán phá giá của hàng nhập khẩu Thuế suất là một yếu tố không thể thiếu trong
việc xác định số tiền thuế mà đối tượng nộp thuế phải nộp Thuế suất áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có 3 loại: thuế suất ưu đãi đặc biệt, thuế suất ưu
đãi và thuế suất thông thường căn cứ vào xuất xứ của hàng hoá
Tuy nhiên, mức thuế chống bán phá giá được xác định dựa trên biên độ bán phá giá của hàng nhập khẩu, mà không căn cứ vào xuất xứ của hàng hóa Biên độ bán phá giá là khoản chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá trị thông thường của hàng hóa bị bán phá giá Theo đó, nếu giá xuất khẩu – giá trị thông thường >0, tức là tồn tại hành vi bán phá giá hàng nhập khẩu Theo quy định Khoản 3 Điều 2 Pháp lệnh
chống bán phá giá hàng nhập khẩu, Biên độ bán phá giá không đáng kể là biên độ bán phá giá không vượt quá 2% giá xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam Điều đó có
nghĩa là, nếu biên độ bán phá giá hàng nhập khẩu lớn hơn 2% tức là gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu Từ biên độ bán phá giá này cơ quan có thẩm quyền sẽ đưa ra mức thuế suất
áp dụng cho hàng hóa bán phá giá theo nguyên tắc là mức thuế suất này không được cao hơn biên độ bán phá giá Từ đó ta thấy được mặc dù thuế chống bán phá giá là
loại thuế nhập khẩu bổ sung nhưng mức thuế suất được xác định căn cứ vào biên độ phá giá, chỉ số thể hiện mức độ nguy hại của hành vi bán phá giá đối với ngành sản
Trang 25xuất nội địa nói riêng và cả nền kinh tế của nước nhập khẩu nói chung, mà không căn cứ vào Biểu thuế nhập khẩu đã có trước đó
Việc pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia quy định mức thuế suất áp dụng không được cao hơn biên độ bán phá giá là đúng với bản chất và mục đích điều chỉnh hành vi này là ngăn ngừa, hạn chế thiệt hại Không chỉ trong có bán phá giá, việc áp dụng thuế suất đối kháng áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu được trợ cấp chỉ nằm trong mức độ cho phép mà trong cả biện pháp đối kháng áp dụng cho hàng hóa
được trợ cấp thì khi mọi yêu cầu để có thể áp dụng thuế đối kháng đã được thoả mãn, thì quyết định có đánh thuế đối kháng hay không và số tiền thuế đối kháng sẽ thu phải bằng mức trợ cấp hay thấp hơn mức trợ cấp, do cơ quan có thẩm quyền của Thành viên nhập khẩu đưa ra 18 Có thể nói rằng, các biện pháp chống hành vi
cạnh tranh không lành mạnh (chống bán phá giá, chống trợ cấp) đều được xây dựng trên những nguyên tắc nhất định trong quan hệ kinh tế quốc tế với mục đích đảm bảo việc phát triển lành mạnh của một thị trường thương mại toàn cầu, đồng thời không làm cản trở các hoạt động có liên quan, trong đó bao hàm cả quan hệ chính trị giữa các nước
1.2.2 Quy trình điều tra để áp dụng thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu
1.2.2.1 Điều kiện phát sinh vụ kiện
Thuế chống bán phá giá là một biện pháp ngăn chặn thiệt hại cho các doanh nghiệp nội địa, cũng như nền kinh tế của nước nhập khẩu, nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh Việc áp dụng loại thuế này sẽ có những tác động đến nước xuất khẩu Do vậy, nó có thể bị lạm dụng nhằm ngăn chặn sự phát triển của tự
do thương mại và để bảo hộ nền sản xuất nội địa Vì vậy, để phát huy vai trò của thuế chống bán phá giá, cũng như hạn chế việc thuế chống bán phá giá bị lạm dụng, pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều có những quy định chặt chẽ về quy trình áp dụng thuế chống bán phá giá vào thực tiễn Cụ thể, việc áp dụng thuế chống bán phá giá phải dựa trên kết quả của vụ kiện chống bán phá giá giữa các nhà sản xuất nội địa với các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài có hàng hóa bán phá giá trong thị trường nước nhập khẩu Trong đó, các nhà sản xuất trong nước là người đi kiện, là nguyên đơn; các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài có hàng hóa bị bán phá
18
Điều 19.2 Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Trang 26giá là người bị kiện, là bị đơn Theo đó, việc kiện chống bán phá giá chỉ hợp pháp khi bên đi kiện phải thỏa mãn các điều kiện sau:
- Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá do họ sản xuất hoặc đại diện chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của ngành sản xuất trong nước;
- Khối lượng, số lượng hoặc trị giá của hàng hoá và của các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hoá tương tự của các nhà sản xuất trong nước phản đối yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá.19
1.2.2.2 Bộ máy chống bán phá giá
Trường hợp đơn khởi kiện yêu cầu áp dụng thuế chống bán phá giá của các nhà sản xuất trong nứơc được chấp nhận cũng là lúc phát sinh trách nhiệm của Bộ máy chống bán phá giá Bán phá giá hàng hoá nhập khẩu là một tranh chấp thương mại quốc tế rất phức tạp vì liên quan đến các doanh nghiệp thụôc các nền kinh tế khác nhau, liên quan đến tập quán kinh doanh khác nhau, và chịu sự điều chỉnh của những hệ thống pháp luật khác nhau Vì vậy, việc điều tra áp thuế chống bán phá giá yêu cầu phải được thực hiện bởi những cơ quan chuyên trách, có trình độ Theo pháp luật Việt Nam, bộ máy này bao gồm các chủ thể chịu trách nhiệm chính là: Cơ quan điều tra chống bán phá giá, Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá và Bộ trưởng Bộ Công thương
a Cơ quan điều tra chống bán phá giá
Cơ quan điều tra chống bán phá giá, (sau đây gọi là cơ quan điều tra), trực
áp thuế chống bán phá giá của các nhà sản xuất trong nứơc Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 7 Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hoá nhập khẩu, chức
năng của cơ quan điều tra là tiến hành điều tra, rà soát vụ việc chống bán phá giá
và trong trường hợp cần thiết kiến nghị Bộ trưởng Bộ công thương 21
Trang 27áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời Với chức năng trên, nhiệm vụ chính của
cơ quan điều tra là:
- Xác định hàng hóa bán phá giá vào Việt Nam và biên độ bán phá giá;
- Xác định thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước;
- Xác định quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước
Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra sẽ ra kết luận sơ bộ và kết luận cuối cùng Trong thời hạn 90 ngày, Cơ quan điều tra chống bán phá giá phải đưa ra kết luận sơ bộ về nội dung điều tra Đây là căn cứ cho Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá kiến nghị lên Bộ trưởng Bộ công thương áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời, nhằm mục đích ngăn ngừa thiệt hại đã xảy ra, hoặc có thể xảy ra trên thực
tế Còn kết luận cuối cùng được cơ quan điều tra đưa ra khi cuộc điều tra kết thúc về các nội dung điều tra Kết luận này rất quan trọng, vì đây là căn cứ để Bộ trưởng Bộ công thương ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu
b Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá hàng nhập khẩu
Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá do Chính phủ thành lập là tổ chức thuộc Bộ công thương Hội đồng này có chức năng giúp Bộ trưởng xem xét việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam trên cơ sở
Về tổ chức, Hội đồng xử lí vụ việc bao gồm một số thành viên thường trực và một số thành viên khác làm việc theo từng vụ việc để xem xét các kết luận của cơ
công thương bổ nhiệm, miễn nhiệm trên cơ sở danh sách được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ngoài ra giúp việc cho Hội đồng xử lí vụ việc có Ban thư kí Hội đồng xử lí vụ việc có nhiệm vụ, quyền hạn sau: (1) Xem xét các kết luận của cơ quan điều tra; (2) Thảo luận và quyết định theo đa số về việc có hay không có bán
Trang 28phá giá hàng nhập khẩu vào Việt Nam gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước; (3) Kiến nghị Bộ trưởng Bộ công thương ra quyết
Tóm lại, cơ quan điều tra và Hội đồng xử lý vụ việc là hai cơ quan nằm trong
Bộ công thương có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá Cơ quan điều tra có chức năng chính là điều tra về hành vi phá giá, về thiệt hại của ngành sản xuất nội địa và mối quan hệ giữa hai nội dung trên; còn Hội đồng
xử lí vụ việc lại là cơ quan xem xét lại kết quả hoạt động của cơ quan điều tra Ý kiến của Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá có một vai trò quan trọng Vì dựa vào kiến nghị này và kết luận của cơ quan điều tra để Bộ trưởng Bộ công thương ra quyết định áp thuế chống bán phá giá hay không cũng như áp dụng các biện pháp khác
c Bộ trưởng Bộ công thương
Bộ trưởng Bộ công thương là người chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc thực hiện quản lí nhà nước về chống bán phá giá Quyết định điều tra của Bộ trưởng
là căn cứ phát sinh quá trình điều tra của cơ quan điều tra chống bán phá Bộ trưởng
có quyền ra quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá và chịu trách nhiệm về quyết định này Như vậy, trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu, Bộ trưởng đóng vai trò quan trọng, là người có thẩm quyền xem xét ra quyết định áp thuế hay không áp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam Quyết định này của Bộ trưởng phải dựa trên các bằng chứng khoa học
Như vậy, trong Bộ máy chống bán phá giá, những chủ thể chịu trách nhiệm chính cơ quan điều tra, Hội đồng xử lí vụ việc chống bán phá giá và Bộ trưởng Bộ công thương Các chủ thể này phối hợp với nhau trong toàn bộ quá trình giải quyết
vụ viêc chống bán phá giá Kết quả hoạt động của Bộ máy Chống bán phá giá có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ nền sản xuất trong nước trước hàng hóa ngoại nhập bán phá giá, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của nền kinh tế nội địa
1.2.3.3 Thủ tục điều tra chống bán phá giá
a Giai đoạn khởi đầu điều tra
24
Điều 11 Nghị định 90/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 7 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Trang 29Việc tiến hành điều tra chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu của cơ quan điều tra phải dựa trên những căn cứ cụ thể do pháp luật quy định:
Điều kiện thứ nhất là phải có hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá
giá của các tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước
Việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá xuất phát từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh là bán phá giá hàng hoá của nhà xuất khẩu gây thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu Do vậy, các nhà sản xuất trong nứơc có quyền đựơc thực hiện các biện pháp luật định để bảo vệ
quyền lợi của mình Điều 5 Hiệp định chống bán phá giá của WTO quy định: “Một cuộc điều tra sẽ không được bắt đầu khi không có đơn yêu cầu bằng văn bản của ngành sản xuất trong nước hoặc của người nhân danh ngành sản xuất trong nước Đơn yêu cầu sẽ được coi là được yêu cầu bởi ngành sản xuất trong nước hoặc đại diện cho ngành sản xuất trong nước nếu như đơn này được ủng hộ bởi các nhà sản xuất chiếm tối thiểu 50% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được làm bởi các nhà sản xuất đã bày tỏ ý kiến tán thành hoặc phản đối đơn yêu cầu đó Tuy nhiên, cuộc điều tra sẽ không được bắt đầu nếu như các nhà sản xuất bày tỏ ý kiến tán thành điều tra chiếm ít hơn 25% tổng sản lượng của sản phẩm tương tự được ngành sản xuất trong nước làm ra” 25
Như vậy, việc xác định tư cách pháp lý của người nộp đơn yêu cầu áp thuế chống bán phá giá có hợp pháp hay không là rất quan trọng Nhưng cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm tiến hành xác minh hay chính chủ thể có quyền phải tự chứng minh tư cách đại diện của mình? Điều này pháp luật Việt Nam còn bỏ ngỏ, nhưng pháp luật quốc tế và các nước khác quy định rất rõ ràng Theo quy định tại Hiệp định chống bán phá giá của WTO thì cơ quan có thẩm quyền xác minh tư cách của bên khởi kiện chính là cơ quan điều tra
Trong khi đó, pháp luật chống bán phá giá của Hoa Kì trao cho DOC (Department of Commerce ) kiểm tra, xác minh vấn đề này Đồng thời, Hiệp định chống bán phá giá ADA quy định trong trường hợp có các nhà sản xuất trong nứơc (bên đi kiện), có quan hệ với nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu hàng hóa bị nghi là bán phá giá, thì khái niệm ngành sản xuất trong nước được dùng để chỉ tất cả những
25
Điều 5 Hiệp định chống bán phá giá ADA
26 Điều 4 Hiệp định chống bán phá giá ADA