Đề tài: Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long AnTại Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND 2014 thì VKSND vẫn giữ chức năng kiểm sát điều tra. Việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra, xử lý kịp thời.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VẨN CHUYỂN, TÀNG TRỮ HÀNG CẤM, TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, TỈNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VẨN CHUYỂN, TÀNG TRỮ HÀNG CẤM, TỪ THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các kết quảtrong luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu khoa họcnào khác Các số liệu, ví dụ, bảng kê, và trích dẫn trong luận văn bảo đảm tínhchính xác và trung thực, không gian dối hay bịa đặt Tôi đã hoàn thành tất cácmôn học và hoàn thành tất cá các nghĩa vụ tài chính theo quy định của TrườngĐại học Vinh – Nghệ An
Tác giả luận văn
Trang 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra
Trang 5TTXH Trật tự xã hội
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6M C L C Ụ Ụ
Chương 1: Lý luận về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ
án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
13
1.1 Khái niệm, đặc điểm vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát
điều tra các vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểmsát nhân dân cấp huyện
13
1.2 Nội dung áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án
tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấphuyện
26
1.3 Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra
các vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhândân cấp huyện
36
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ
án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
41
2.1 Các điều kiện ảnh hưởng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều
tra các vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sátnhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
41
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án
tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấphuyện, tỉnh Long An
48
2.3 Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra
các vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhândân cấp huyện, tỉnh Long An
57
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo áp dụng pháp luật trong kiểm
sát điều tra các vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
70
3.1 Quan điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án
tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấphuyện, tỉnh Long An
70
3.2 Giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các
vụ án tàng trữ, vẩn chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân
72
Trang 7dân cấp huyện, tỉnh Long An
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: Nhànước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân,
do Đảng lãnh đạo Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc
Trang 8tập trung dân chủ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp
và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chứcVKSND 2014 thì VKSND vẫn giữ chức năng kiểm sát điều tra Việc áp dụngpháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm củaViện kiểm sát nhân dân cấp huyện góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấphành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải đượcđiều tra, xử lý kịp thời
Thời gian qua, với sự vận hành của nền kinh tế nhiều thành phần theo cơchế định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng tựhào
Những thành tựu đã đạt được chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Cùng với nhữngchủ trương, chính sách phát triển toàn diện nền kinh tế xã hội, Nhà nước ta luônquan tâm đến các biện pháp bảo đảm quyền tự do, bình đẳng trước pháp luật, bảo
hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người kinh doanh, tăng cường hiệu lực quản lýcủa Nhà nước đối với các hoạt động kinh doanh Nhà nước tạo sự tự chủ cho các
tổ chức và cá nhân, tập thể đăng ký, hoạt động kinh doanh ngoài những ngànhnghề gây phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội,truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục Việt Nam và sứckhỏe của nhân dân
Tại Điều 33 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” Như vậy, việc chống
lại các hoạt động kinh doanh bất hợp pháp đã được Nhà nước thể chế thànhnguyên tắc hiến định Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách và văn bản phápluật nhằm phòng chống các tội phạm kinh tế nói chung, tội tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm nói riêng Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam do Quốc hội thông quangày 17/6/1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào năm 1989, 1990, 1992,
1997 có quy định về tội 2 buôn bán, tàng trữ hàng cấm trong chương “Các tộiphạm kinh tế” BLHS 1999 đã đưa ra quy định điều chỉnh hành vi liên quan đến
Trang 9hàng cấm rải rác ở các chương khác nhau quy định về các hành vi liên quan đếnhàng cấm và một số hàng cấm cụ thể khác như chất ma túy, vũ khí quân dụng, vậtliệu nổ, vũ khí hoặc công cụ hỗ trợ, chất phóng xạ, chất cháy, chất độc BLHS
2015 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều BLHS 2015 (ban hành năm 2017)ngoài những nội dung cấu thành tội phạm trong BLHS 1999, bộ luật còn có nhiềuthay đổi về việc xây dựng cấu thành tội phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấmnên cần thiết phải có cách hiểu thống nhất để áp dụng pháp luật đối với tội phạmnày Bên cạnh các quy định của Luật hình sự đối với hành vi tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm, còn có các quy định của các văn bản pháp luật thuộc Ngành và lĩnhvực khác cũng điều chỉnh các quan hệ và hành vi liên quan đến hàng cấm
Tuy nhiên, do đặc thù của nền kinh tế thị trường, sức ép cạnh tranh vànhững sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế nên nhiều tệ nạn xã hội và tội phạmkinh tế ngày càng có môi trường phát sinh, phát triển, trong đó tội tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm đang ngày càng tăng về số lượng với nhiều mặt hàng cấm nguyhiểm, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế, hơn hết là tác động tiêu cực tới con người,môi trường và xã hội, nó đã trở thành một vấn đề nhức nhối của xã hội Công tácđấu tranh phòng chống loại tội phạm này cần phải quyết liệt mạnh mẽ, để làmđược điều đó cần có sự đánh giá chính xác, chi tiết, đầy đủ về tội phạm này
Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Hoạt động sảnxuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trên địa bàn tỉnh Long An trongthời gian gần đây không chỉ có chiều hướng tăng về số lượng, chủng loại mà còndiễn biến phức tạp về cả tính chất, quy mô Đối tượng phạm tội có rất nhiềuphương thức, thủ đoạn tinh vi, táo bạo và có tính chất rất quyết liệt Trong khi đó,hoạt động điều tra xử lý tội phạm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàngcấm hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu trước tình hình thực tế tại địaphương, làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự và sự phát triển toàn diện cácmặt kinh tế xã hội Tình hình trên đã đặt ra một vấn đề rất bức thiết là phải cónhững giải pháp hữu hiệu, phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương nhằm nângcao hiệu quả việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ,vận chuyển hàng cấm Để xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, góp phần thực
Trang 10hiện thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn
xã hội, tạo lòng tin trong nhân dân và điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triểnkinh tế xã hội tại địa phương cũng như của đất nước Tuy nhiên, việc nghiên cứutìm ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trong kiểmsát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dâncấp huyện vẫn chưa được thực hiện một cách có hệ thống và chuyên sâu trên địabàn tỉnh Long An
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài: “Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An” làm luận văn thạc
sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là nội dungđược nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Trong thực tế đã có những công trìnhnghiên cứu có liên quan đến đề tài ở nhiều góc độ khác nhau như:
Lục Thị Út (2014),“Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm trong Luật Hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Cao Bằng) [48].
Ở công trình này, tác giả nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về tộitàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm hiện nay ở Việt Nam Phân tích các quyđịnh của BLHS về tội tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Nghiên cứu thựctiễn áp dụng các quy định của pháp luật Hình sự đối với tội sản xuất, tàng trữ,vận chuyển, buôn bán hàng cấm ở tỉnh Cao Bằng, làm sáng tỏ thực tiễn áp dụngloại tội phạm này, nêu lên những vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử Đưa
ra các kiến nghị hoàn thiện BLHS và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng cácquy định của BLHS về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm,góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm
Nguyễn Thị Hạnh (2013), “Thực hành pháp luật trong giải quyết các vu
án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” Luận văn đã
trình bày một số vấn đề lý luận về thực hành pháp luật trong giải quyết các vụ án
buôn bán, vận chuyển hàng cấm Phân tích thực trạng thực hành pháp luật trong
Trang 11giải quyết các vụ án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên địa bàn tỉnh QuảngNinh Chỉ ra số hạn chế và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thựchành pháp luật trong giải quyết các vụ án buôn bán, vận chuyển hàng cấm trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay Bên cạnh đó, còn một số bài
viết đăng trong các báo Pháp Luật, các tạp chí TAND, VKSND, bài nghiên cứutrao đổi trên website của Bộ Tư Pháp, TAND tối cao, VKSND tối cao Ngoài ra,còn một số sách tham khảo, chuyên khảo có đề cập nội dung rất nhỏ liên quanđến đề tài luận văn như: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (phần các tộiphạm), của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS.ThS Phạm ThanhBình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, NxbCông an nhân dân, Hà Nội, 2001 Nhìn chung, các công trình nghiên cứutrên đây đã phân tích và làm sáng tỏ được những vấn đề liên quan đến công táckiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, những giải pháp nângcao hiệu quả, chất lượng của công tác này, qua đó đã đưa ra những phương pháp,cách làm để nâng cao chất lượng kiểm sát điều tra Tuy nhiên tất cả các đề tài vàbài viết mới chỉ tập trung nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể và nội dungnghiên cứu đều ở những địa bàn khác nhau Vì vậy, cho đến nay chưa có côngtrình nào nghiên cứu chuyên sâu một cách đầy đủ và có hệ thống về áp dụng phápluật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Việnkiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Long An Chính vì vậy việc lựa
chọn và nghiên cứu đề tài “Áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, từ thực tiễn Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An” theo tác giả là đề tài vừa đảm bảo được tính kế thừa các công trình
đã công bố, nhưng cũng đảm bảo được tính độc lập tương đối, tính mới và tínhcấp thiết của đề tài
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu việc áp dụng pháp luật trong kiểm
sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dâncấp huyện, trên địa bàn tỉnh Long An Từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu
Trang 12quả công tác áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm trong thực tiễn hiện nay.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết các
nhiệm vụ sau: Phân tích cơ sở lý luận, khái niệm, thẩm quyền, căn cứ pháp luật
trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; Nội dung ápdụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm;các yếu tố ảnh hưởng đến việc dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ ántàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàngtrữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
Đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định của phápluật về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An trong thời giantới
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp
luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Việnkiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề
xung quanh chức năng trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh, các quy địnhcủa các Bộ luật và những văn bản hướng dẫn khác có liên quan, kết hợp với việcnghiên cứu đánh giá thực tiễn thực hiện công tác trên của VKSND cấp huyện.Thông qua đó, chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị nhữnggiải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện trong thực tiễn
Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Long An
Phạm vi thời gian: Trong thời gian 05 năm (từ năm 2015 - 2019)
Trang 136 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN của dân, do dân, vì dân Nhất là các quan điểm chỉ đạo của Đảng
về tăng cường áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn có sự kế thừa, tham khảo
những kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến việc áp dụng phápluật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của các côngtrình nghiên cứu trước
Luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng như:Phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn; phương pháp phân tích và tổnghợp; phương pháp lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phươngpháp của các bộ môn khoa học khác: Thống kê tội phạm, phương pháp hệthống…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 : Lý luận về áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Chương 2 : Thực trạng áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, tỉnh Long An
Chương 3 : Quan điểm và giải pháp bảo đảm áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của viện kiểm sát nhân dân cấp huyện.
Chương 1
Trang 14LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
1.1.1 Khái niệm về áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
1.1.1.1 Khái niệm hàng cấm, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Khái niệm hàng cấm: Hàng cấm được rất nhiều người sử dụng trong đời
sống kinh tế Tuy nhiên, hiểu một cách chính xác về bản chất của từ này trongkhoa học pháp luật hình sự thì chưa có cách hiểu và giải thích thống nhất Để tìmhiểu khái niệm hàng cấm chúng ta tìm hiểu thông qua ngữ nghĩa của hai từ cụthể: - “hàng” là sản phẩm để bán, - “cấm” là không cho phép làm việc gì đó hoặckhông cho phép tồn tại [51] Từ đó hàng cấm được hiểu là những sản phẩmkhông cho phép tồn tại
Theo từ điển Luật học giải thích: “hàng cấm là hàng hoá bị Nhà nước cấmkinh doanh [51, tr.319] Một số từ điển hoặc các văn bản có liên quan có đề cậpđến hàng cấm là hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán, kinh doanh [52, tr.16].Hàng cấm còn được nhắc đến trong giải thích tội buôn lậu: buôn lậu là buôn bántrốn thuế hoặc hàng cấm Tuy được nhắc đến nhiều nhưng chưa có cách hiểuthống nhất về thuật ngữ này
Hiện nay, nhiều tác giả đồng tình với cách giải thích: Hàng cấm là hàng hoáNhà nước cấm kinh doanh [52, tr.110] Hàng cấm theo nghĩa rộng là loại hànghoá bị cấm kinh doanh dưới mọi hình thức Bản chất của hàng cấm có thể đượcnhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ xã hội, hàng cấm được hiểu phổ biến nhất là những mặt hàngđặc biệt do Nhà nước trực tiếp quản lý độc quyền, cấm sản xuất, kinh doanh.Theo triết học Mác - Lê nin hàng hoá là sản phẩm của lao động thông qua hoạt
Trang 15động trao đổi, mua bán Hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình mà nhờ vàotính chất của nó thoả mãn nhu cầu của con người Trong nền kinh tế thị trường,hàng hoá ngày càng trở nên đa dạng phong phú Việc quản lý đối với các loạihàng hoá và các hoạt động kinh doanh liên quan đến hàng hoá ngày càng phứctạp, khó khăn hơn bởi sự xuất hiện ngày càng nhiều của các loại hàng hoá gâyảnh hưởng xấu tới con người, môi trường và xã hội Từ sự phát triển của tự dothương mại mà Nhà nước thống nhất quản lý những mặt hàng có tính chất đặcbiệt, có những đặc tính riêng cần phải hạn chế cách ly các hoạt động sản xuất,tàng trữ, vận chuyển, buôn bán những mặt hàng đó trong xã hội Pháp luật quyđịnh cấm tuyệt đối với những mặt hàng khi lưu thông hoặc sử dụng có thể gâynguy hại cho an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, truyền thống văn hóa,môi trường và sức khỏe nhân dân, vì vậy Nhà nước cần phải độc quyền quản lýloại hàng hoá đó Trong xã hội gọi những hàng hoá này là “ hàng cấm” hay
“hàng quốc cấm”
Dưới góc độ kinh tế thì hàng cấm là hàng hoá nhưng thuộc loại do Nhà nướcthống nhất quản lý cấm các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động sản xuất,tàng trữ, vận chuyển và buôn bán Hàng hóa và sản xuất, buôn bán hàng hóa gắnliền với hoạt động kinh doanh, phản ánh mối quan hệ giữa người với người trongquá trình kinh doanh như: phân phối, trao đổi tiêu dùng của cải vật chất xã hộinhằm mục đích thu về một giá trị lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu Việc sản xuấthàng hóa là bắt nguồn từ yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế, đồng thời
nó cũng phù hợp với xu thế vận động của quá trình hoạt động kinh doanh Quacác thời kỳ phát triển kinh tế, xã hội lượng hàng hóa sản xuất ngày một nhiều và
đa dạng Có hàng hoá được tự do sản xuất, kinh doanh; có những mặt hàng dotính chất đặc thù của nó mà Nhà nước phải cấm thực hiện các hoạt động sản xuất,kinh doanh Tuy nhiên, do những lợi nhuận mà các mặt hàng này đem lại, các cánhân, tổ chức lén lút sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán, nếu đủ yếu tố cấuthành tội phạm (CTTP) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội sảnxuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm Mặc dù vậy, cho đến nay kháiniệm hàng cấm vẫn chưa có bất cứ văn bản pháp luật nào đưa ra một cách hiểu
Trang 16thống nhất Trong quá trình giải quyết về loại vụ việc liên quan đến hàng cấm,một vấn đề đặt ra đối với các cơ quan chức năng là phải hiểu rõ thế nào là hàngcấm và các loại hàng cấm để từ đó mới ra được những quyết định phù hợp, đúngđắn phục vụ tốt cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về trật tự kinh tếnói chung, tội phạm về tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nói riêng
Dưới góc độ pháp lý, hàng cấm là đối tượng đặc biệt, được Nhà nước quản
lý và xử lý đối với hành vi liên quan đến nó Trong pháp luật thương mại, đầu tưđều có quy định những đối tượng cấm hoạt động kinh doanh đầu tư và có các chếtài xử phạt đối với hành vi liên quan đến hàng cấm
Khoản 1 Điều 25 Luật thương mại xác định: “Căn cứ vào điều kiện kinh tế
-xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Cộng hoà -xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cu thể danh muc hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện và điều kiện để được kinh doanh hàng hoá đó ” Đối với pháp luật về thương mại đầu tư,
các nhà làm luật không định nghĩa hàng cấm là gì mà được quy định thành danhmục cụ thể những mặt hàng cấm kinh doanh Danh mục này do Chính phủ quyđịnh và từng thời kỳ khác nhau thì danh mục hàng hoá cấm kinh doanh cũng thayđổi [52, tr.5]
Nghị định 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 11 năm 2013 quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bánhàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có giải thích: “ Hàng cấm” gồm hàng hóa cấm kinh doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dụng; hàng hóa
chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam
Dưới góc độ pháp lý hình sự, hàng cấm được xác định là đối tượng của tộiphạm về kinh tế, bị xem là đối tượng: “bất hợp pháp” Việc lưu thông và kinhdoanh đối với đối tượng này ở mức độ nhất định là hành vi tội phạm, bị pháp luậthình sự nghiêm cấm Để hiểu rõ về hàng cấm, ngoài việc xem xét khái niệm hànghóa nói chung, chúng ta cần thiết phải tìm hiểu các văn bản pháp luật quy định vềhàng cấm và dấu hiệu nhận biết hàng cấm Tuy nhiên, cho tới trước khi BLHSnăm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 được ban hành, các quy định pháp lý về
Trang 17hàng cấm còn chưa chỉ ra khái niệm hàng cấm và chưa quy định cụ thể dấu hiệunhận biết đối tượng hàng cấm đã được điều chỉnh tại các điều luật khác với Điều
155 BLHS năm 1999 Điều này đã gây những khó khăn nhất định cho việcnghiên cứu, tìm hiểu để nhận thức cho đúng về hàng cấm dưới góc độ pháp lý Trong các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa đưa ra khái niệm
về hàng cấm mà hàng cấm chỉ được nhắc đến một cách chung chung Để đưa ra
10 khái niệm đầy đủ nhất về hàng cấm dưới góc độ pháp luật hình sự cần chú ýmột số nội dung cơ bản sau:
Một là, hàng cấm là loại hàng hoá đặc biệt do nhà nước thống nhất quản lý
và quy định cụ thể danh mục hàng hoá thuộc loại này
Hai là, danh mục hàng cấm không cố định mà có sự thay đổi theo từng thời
kỳ khác nhau Có nhiều loại hàng hoá có tính chất cấm vĩnh viễn, cũng có nhữnghàng hoá chỉ cấm tạm thời
Ba là, hàng cấm có tác hại về kinh tế, có khả năng gây hại cho tính mạng,sức khoẻ con người và ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị củamỗi quốc gia
Bốn là, tuỳ thuộc vào chế độ quản lý của mỗi quốc gia mà việc quy định cácmặt hàng cấm sản xuất kinh doanh khác nhau BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 có nhiều điều luật quy định hành vi phạm tội liên quan đến hàng cấm ởcác chương khác nhau, là đối tượng tác động của nhiều tội phạm khác nhau như:hàng cấm là chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc,văn hoá phẩm đồi truỵ Những hàng cấm còn lại chưa quy định cụ thể ở Điềuluật nào khác thì được quy định tại Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sungnăm 2017 quy định về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Như vậy, diện hàng cấm nói chung rộng hơn diện hàng cấm là đối tượng tácđộng của Điều 191 BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 Nhìn nhận diệnhàng cấm theo nghĩa rộng chúng ta cần nhìn nhận diện hàng cấm trên tất cả cáclĩnh vực và có sự liên hệ với diện hàng cấm là đối tượng tác động của các tộiphạm cụ thể về hàng cấm kể trên Vì vậy, từ những phân tích nêu trên và thựctiễn áp dụng pháp luật chúng ta nhận thức: “Hàng cấm gồm hàng hóa cấm kinh
Trang 18doanh; hàng hóa cấm lưu hành, sử dung; hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dung tại Việt Nam” [53, tr.205].
Khái niệm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là hành vi cất giữ, chuyển dịch hàng hoá
mà Nhà nước cấm kinh doanh Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ởbất kỳ chỗ nào một cách trái phép Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc,mang theo trong người, trong hành lý hoặc cách giấu bất kỳ một vị trí nào khác
mà người tàng trữ đã chọn, không nhằm mục đích mua bán hay sản xuất ra hàngcấm khác hoặc vận chuyển từ nơi này đến nơi khác Thời gian tàng trữ dài hayngắn không có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý Nếu tàng trữhàng cấm cho người khác mà biết rõ người này buôn bán hàng cấm thì hành vicất giữ hàng cấm không phải là hành vi tàng trữ mà là hành vi giúp sức ngườibuôn bán hàng cấm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấmvới vai trò đồng phạm Tuy nhiên, hành vi buôn bán, vận chuyển đã được quyđịnh trong cùng một điều luật nên việc xác định chính xác hành vi tàng trữ, hành
vi vận chuyển hay hành vi buôn bán chỉ có ý nghĩa trong việc định tội theo hành
vi (một hoặc một số hành vi hay định tội theo hành vi đầy đủ), nếu cùng một loạihàng cấm
Khi xác định hành vi tàng trữ hàng cấm, cần phân biệt với hành vi chứachấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Nếu tài sản do ngườikhác phạm tội mà có là hàng cấm, người đó chứa chấp thì hành vi chứa chấp sẽ bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hàng cấm hoặc hành vi tiêu thụ sẽ bịtruy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm
Vận chuyển hàng cấm là hành vi đưa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác mộtcách trái phép Hình thức vận chuyển có thể là trực tiếp mang hoặc gửi hàng cấm
từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng bất cứ đường nào (đường bộ, đườngthủy, đường sắt, đường hàng không, đường bưu điện) bằng bất kỳ phuơng thứcnào (trừ hình thức chiếm đoạt), nhưng đều không nhằm mục đích buôn bán, tàngtrữ Tuy nhiên nếu vận chuyển hàng cấm qua biên giới thì thuộc trường hợp quyđịnh tại Điều 189 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Nếu vận
Trang 19chuyển hàng cấm hộ cho người khác mà biết rõ mục đích buôn bán hàng cấm củangười mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển sẽ bị truycứu trách nhiệm hình sự về tội buôn bán hàng cấm với vai trò giúp sức Nguyênnhân cũng do việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển và buôn bán hàng cấm mang lạinguồn lợi kinh tế rất lớn nên nhiều người, nhiều cá nhân, tổ chức hám lợi mà bấtchấp những quy định của pháp luật để thực hiện Đó đều là những hành vi gâynguy hiểm cho xã hội không chỉ vi phạm luật xử lý vi phạm hành chính mà còn
bị coi là tội phạm và buộc phải xử lý, áp dụng chế tài hình sự
Tuy nhiên, pháp luật hình sự Việt Nam chỉ xem hành vi sản xuất, tàng trữ,vận chuyển, buôn bán hàng cấm là tội phạm khi hành vi đó ở mức độ nguy hiểmđáng kể cho xã hội, cụ thể như: phải thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vậnchuyển, buôn bán hàng cấm với số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xửphạt hành chính, hoặc bị kết án về một số hành vi xâm phạm đến trật tự quản lýkinh tế được quy định trong Bộ luật hình sự như trong phần nghiên cứu dưới đây
Khái niệm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm :
Tội phạm nói chung, tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm nói riêng đều là hiệntượng tiêu cực của xã hội có nguồn gốc từ sự phát triển của xã hội Mỗi quốc gia,
để bảo vệ lợi ích của đất nước mình và phù hợp với tập quán thương mại quốc tếđều đưa ra những chính sách nhằm đấu tranh, phòng ngừa và giảm bớt tác hại củaloại tội phạm này Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong
Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhânthương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế,nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp phápcủa tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theoquy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự
Hành vi thoả mãn các yếu tố nêu trên mới được coi là tội phạm Hành vitàng trữ, vận chuyển hàng cấm để được coi là tội phạm cũng phải thoả mãn cácyếu tố theo quy định của pháp luật Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được quy
Trang 20định tại Điều 191 thuộc chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tếcủa BLHS năm 2015
Để tìm ra khái niệm chính xác về tội này, cần tìm hiểu khái niệm của cáccụm từ, thuật ngữ tạo nên tội danh và nguồn gốc, bản chất của hành vi tàng trữ,vận chuyển hàng cấm Từ trước đến nay các văn bản có liên quan hay các Từđiển tiếng Việt có đề cập đến khái niệm hoặc giải thích các cụm từ: vận chuyểnhàng cấm, tàng trữ hàng cấm Tổng kết lại người nghiên cứu hiểu một cách ngắngọn: Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong BLHS là các hành vi cất giữ hàngcấm bằng bất kỳ hình thức nào, di chuyển hàng cấm từ nơi này đến nơi khác bằngbất kỳ hình thức nào [51]
Để tìm ra khái niệm chính xác về tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, bêncạnh việc tìm hiểu những cụm thuật ngữ tạo nên tội danh, người nghiên cứu cũngcần tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của tội danh này Các hoạt động sản xuất,kinh doanh liên quan đến hàng cấm xuất hiện trước hết là do sự phát triển kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội dẫn đến sự phát triển của những hoạt động sản xuất,kinh doanh hàng hoá trong nội địa không đồng nhất cả về sức sản xuất (nguồncung), nhu cầu tiêu dùng (nguồn cầu) Một số mặt hàng với tính chất đặc biệt cónguy cơ gây nguy hại cho nền kinh tế và cho sức khoẻ con người Các loại hànghoá này mang lại lợi nhuận lớn khiến các cá nhân, tổ chức bất chấp sự quản lýcủa Nhà nước để lưu thông hàng hoá loại này Đây chính là nguyên nhân sâu xakhiến hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tồn tại và phát triển như một tất yếukhách quan
Với bản chất là hoạt động kinh tế mang tính xã hội, hoạt động lưu thônghàng cấm luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế Việc quan niệm về tộitàng trữ, vận chuyển hàng cấm của từng quốc gia trong từng giai đoạn và điềukiện kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội cũng vì thế mà khác nhau Những quốc gia
có nền kinh tế phát triển có hệ thống quy phạm pháp luật về thương mại, đầu tư,kinh doanh trong nước rất chặt chẽ, do đó hệ thống mặt hàng lưu thông nội địaquy định nghiêm ngặt, chế tài xử phạt đối với những hoạt động lưu thông hànghoá kém chất lượng, hàng hoá không được kinh doanh rất nghiêm khắc, do đó
Trang 21những mặt hàng cấm vĩnh viễn mới được áp dụng trong chế tài của luật hình sựtheo hướng quy định đối với hành vi lưu thông loại hàng hoá cụ thể như ma tuý,chất phóng xạ Đối với các quốc gia khác, các quốc gia có nền kinh tế kém pháttriển hơn, ý thức chấp hành pháp luật của người dân còn hạn chế hơn, các hành vilưu thông hàng cấm phức tạp và tinh vi hơn, do đó các quốc gia này áp dụng biệnpháp nghiêm khắc nhất là hình phạt đối với các hành vi lưu thông hàng hoá thuộcdanh mục hàng cấm do Chính phủ quy định
Với những đặc điểm nêu trên, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tại Điều 191: “Người nào tàng trữ,vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộctrường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254,
304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồngđến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ”
Từ những phân tích ở trên có thể đưa ra khái niệm về tội tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm như sau: Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là những hành vi cất giữ trái phép, vận chuyển trái phép những mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dung, chưa được phép lưu hành, chưa được phép
sử dung với số lượng, trọng lượng hoặc giá trị cu thể mà pháp luật quy định, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một
số loại hàng hóa nhất định [53, tr.205].
Các dấu hiệu pháp lý của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa họcpháp lý hình sự Luật hình sự Việt Nam khẳng định:
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tộiphạm xâm hại [46, tr.86]
Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi xâm hại đến một trong các quan hệ xãhội được Luật hình sự bảo vệ quy định tại Điều 8 BLHS Khách thể của tội phạm
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính chất và mức độ nguy hiểm củahành vi phạm tội cũng như đối với việc định tội danh và quyết định hình phạt trên
Trang 22thực tế Khách thể của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là trật tự quản lý kinh
tế, chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một sốloại hàng cẩm mà pháp luật quy định
Hành vi khách quan của tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm bao gồm hành vitàng trữ hàng cấm và hành vi vận chuyển hàng cấm Tàng trữ hàng cấm như đãphân tích ở trên là hành vi cất giữ trái phép những mặt hàng Nhà nước cấm kinhdoanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sửdụng trong người, trong nhà hoặc ở bất kỳ nơi nào không phụ thuộc và thời giancất giữ dài hay ngắn [6, tr.301]
Vận chuyển hàng cấm là hành vi đưa những mặt hàng Nhà nước cấm kinhdoanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sửdụng dưới bất kỳ hình thức nào từ địa điểm này đến địa điểm khác mà khôngnhằm mục đích bán [4, tr.301]
1.1.1.2 Khái niệm về áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra (KSĐT) các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm án là một dạng của áp dụng pháp luật nói chung Áp dụng phápluật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc trườnghợp áp dụng pháp luật: Khi Nhà nước thấy cần thiết phải tham gia bằng hình thứcgiám sát hoạt động của các chủ thể tham gia trong các quan hệ điều tra, KSĐTcác vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Cơ sở phát sinh hoạt động áp dụngpháp luật của VKSND đó là các quyết định của cơ quan điều tra, các hành vi củanhững người tiến hành tố tụng trong hoạt động TTHS Các quyết định và cáchành vi đó có thể được ban hành, thực hiện theo đúng hoặc không đúng quy địnhcủa pháp luật Khi đó Nhà nước thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theopháp luật của VKSND, nhằm phát hiện những sai phạm, kịp thời đề ra các yêucầu, kiến nghị các chủ thể trong quá trình điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm, khắc phục, sửa chữa; đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án tàng trữ,vận chuyển hàng cấm được tuân thủ theo các quy định của pháp luật
Trang 23Dưới góc độ lý luận chung về áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật là mộthình thức thực hiện pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức quyền lực nhànước của các cơ quan có thẩm quyền nhằm cá biệt hóa những vi phạm pháp luậtvào từng trường hợp cụ thể đối với những cá nhân, đơn vị, tổ chức cụ thể Ápdụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có thể coi
là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa cácquy phạm pháp luật nói chung đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Như vậy, áp dung pháp luật trong kiểm sát điều tra các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của VKSND nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật nói chung đối với các chủ thể trong quá trình giải quyết các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.
1.1.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm của VKSND có một số đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển
hàng cấm là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành theo pháp luật quy định
Theo quy định của pháp luật thì VKSND các cấp là cơ quan có chức năngthực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Thông qua việc thựchiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếpthực hiện quyền tư pháp góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ chế độXHCN, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, bảo vệ tínhmạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Bảo đảmmọi hành vi xâm phạm tới lợi ích của Nhà nước, của tập thể và lợi ích hợp phápcủa công dân phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật
VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trongviệc điều tra vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và một số cơ quan khác đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Hoạt động thực hành quyền
Trang 24công tố và KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được quy định tạiĐiều 12, 13, 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002.
Tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định nhiệm vụ, quyền hạncủa VKSND trong giai đoạn điều tra:
- Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thayđổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trựctiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật
- Yêu cầu thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy địnhcủa pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vềhình sự
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam vàcác biện pháp ngăn chặn khác; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của
cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật
- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra; tạm đình chỉđiều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án
Với những quy định của pháp luật như trên thì VKSND có quyền áp dụngmọi biện pháp cần thiết trong hoạt động kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo cho hoạtđộng điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được tuân thủ đầy đủ cácquy định của pháp luật Đảm bảo cho việc khởi tố điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm được tuân theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc truy tốđúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Thứ hai, áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng
cấm của VKSND phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luậtquy định
Hoạt động điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của cơ quanđiều tra; hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư phápcủa VKSND, đây là một quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hai cơquan: Công an - VKS, là những hoạt động rất quan trọng có tính quyết định trongquá trình giải quyết những vụ án hình sự Chính hoạt động KSĐT có vai trò quan
Trang 25trọng như vậy nên pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hiện hành nói riêng
đã quy định rất chặt chẽ việc áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tracác vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Pháp luật TTHS quy định chặt chẽ trình
tự, thủ tục của các hoạt động điều tra, hoạt động giám sát như: khởi tố vụ án;khởi tố bị can; các biện pháp điều tra; các biện pháp ngăn chặn; nhập, tách vụ ánhình sự; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; thời hạn điều tra
Tóm lại, tất cả các bước trong quá trình điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND đềuđược quy định chặt chẽ theo các trình tự thủ tục do pháp luật TTHS hiện hànhquy định
Thứ ba , quyết định áp dụng pháp luật trong KSĐT của VKSND được pháp
luật bảo đảm thi hành
Việc tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật đã ban hành là giaiđoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng Khimột quyết định áp dụng pháp luật sau khi ban hành mà không được thi hành trênthực tế thì cũng đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa pháp luật, vô hiệu hóa cơ quanthực thi và bảo vệ pháp luật, gây tổn hại nghiêm trọng đến pháp chế XHCN Các quyết định áp dụng pháp luật trong KSĐT các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm đã được Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 quy định chặt chẽ và đầy đủ Việc thực hiện các quyết định áp dụng phápluật của VKSND sẽ đảm bảo cho quá trình giải quyết những vụ án hình sự đượcđúng theo quy định của pháp luật; đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêmchỉnh và thống nhất
Tại Điều 23, khoản 2 BLTTHS năm 2003 quy định: Viện kiểm sát, kiểm sátviệc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời viphạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, ápdụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luậtcủa những cơ quan hoặc cá nhân này
1.2.3 Vai trò áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Trang 26Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 02/6/2005) đã nêu rõ: “Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để VKSND thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra” Mục tiêu của việc tăng cường vai áp dụng pháp luật trong
kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhândân cấp huyện là nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải đượcphát hiện kịp thời để từ đó Cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử kịp thời, nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật không bỏ lọt tội phạm vàkhông làm oan người vô tội,,…Đây là một trong những yêu cầu quan trọng củacải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công
lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Viện kiểm sát được tổ chức phù hợp với
hệ thống tổ chức Toà án, bảo đảm tốt hơn các điều kiện để viện kiểm sát nhân dânthực hiện hiệu quả chức năng kiểm sát điều tra; tăng cường trách nhiệm tronghoạt động điều tra
Từ sự quan trọng đó mà ngày 06/12/2013 Viện trưởng VKSND tối cao đã
ban hành Chỉ thị số 06/CT-VKSTC về “Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” Chỉ thị yêu cầu toàn ngành Kiểm sát “Thực hiện tốt chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết không để xảy ra oan, sai”
Tại Điều 3 Quy chế THQCT & KSĐT xác định: Công tác kiểm sát điều tra
vụ án án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát có vai trò:
- Đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử
lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vôtội;
- Đảm bảo không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạnchế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh
dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật;
Trang 27- Đảm bảo việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác, đúngpháp luật; những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra phải được phát hiệnkịp thời; khắc phục và xử lý nghiêm minh;
- Đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ
- Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ,
vận chuyển hàng cấm tuân theo pháp luật trong tố tụng được quy định trongBLTT và chi phối toàn bộ quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành ánhình sự và các hoạt động tố tụng hình sự khác của các chủ thể tham gia vào cácquan hệ tố tụng
- Nguyên tắc này chứa đựng những nội dung thể hiện phương châm, địnhhướng quan trọng về hoạt động tố tụng của Đảng và Nhà nước ta và được thểhiện trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật tố tụng
- Nguyên tắc này là sự kết hợp giữa hai chức năng của Viện kiểm sát là chứcnăng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luậttrong tố tụng Tóm lại, nguyên tắc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm tuân theo pháp luật trong tố tụng là nguyêntắc cơ bản của luật tố tụng được quy định trong BLTTHS, thể hiện ở vị trí, vai tròcủa Viện kiểm sát trong việc thực hành quyền công tố, quyết định việc truy cứutrách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và kiểm sát việc pháp luật của các cơquan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng hình sựtrong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phảiđược xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người,đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làmoan người vô tội
Trang 281.2.2 Thẩm quyền áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 khi áp dụngpháp luật trong kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền sau:(1) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi
tố bị can
(2) Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê chuẩn,hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết địnhkhởi tố bị can trái pháp luật
(3) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can trongnhững trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định
(4) Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp,gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con người,quyền công dân
(5) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam,các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyềncông dân theo quy định của luật
(6) Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.(7) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ tộiphạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can
(8) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểmtra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơquan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều trahoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạmpháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục
Trang 29(9) Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi pháthiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm.(10) Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển
vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
(11) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công
tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.” Theo quy định của Luật tổ chứcViện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì cơ quan có thẩm quyền thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra là Viện kiểm sát nhân dân Hoạt động thực hànhquyền công tố và kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân được thực hiệnthông qua nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng có thẩmquyền pháp lý trong tố tụng hình sự Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định
cụ thể, chặt chẽ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong THQT và tronghoạt động kiểm sát điều tra Điểm mới trong Luật tổ chức cơ quan điều tra hình
sự năm 2015 liên quan đến vấn đề thực hành quyền công tố là hoạt động kiểm sátđiều tra của Viện kiểm sát nhân dân Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạnđiều tra vụ án hình sự, VKSND có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu cơquan CSĐT tiến hành hoạt động điều tra, đây là nhiệm vụ được coi là quan trọngnhất của VKS trong giai đoạn này Để bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hànhtốt, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát điều traphải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, bám sát quá trình hoạt động của cơ quan điều tranhằm kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra một cách toàn diện để đảm bảo quátrình điều tra được thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc giải quyết vụ
án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bên cạnh đó, để thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp thực hiện một số hoạt độngđiều tra theo quy định của pháp luật như: Hỏi cung bị can; Ghi lời khai bị hại,người làm chứng, người liên quan; Tiến hành đối chất;…để củng cố các chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án nhằm đánh giá một cách khách quan và toàn diện toàn bộ vụán
Trang 30Khi áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm, tùy từng trường hợp VKS có thể thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đượcphân công theo quy định của BLTTHS nhằm bảo đảm việc điều tra khách quan,toàn diện, đúng pháp luật, tuyệt đối không để xảy ra trường hợp oan sai hoặc bỏlọt tội phạm Tùy từng trường hợp, VKS có thể tiến hành khởi tố vụ án, khởi tố bịcan hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan điều tra nếuquá trình nghiên cứu phát hiện cơ quan điều tra đã thực hiện không đúng quyđịnh của pháp luật Đối với các vụ án có tính chất phức tạp, còn nhiều quan điểmkhác nhau thì tăng cường họp liên ngành; Kiểm sát viên, Điều tra viên cần tăngcường trao đổi thống nhất việc đánh giá chứng cứ, chứng minh các tình tiết vụ
án
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụnghình sự 2015 thay đổi theo hướng tăng cường trách nhiệm của Kiểm sát viênnhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ ánhình sự, chống oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm Bên cạnh đó, nhiệm vụ,quyền hạn của Kiểm tra viên là quy định mới, được quy định cụ thể tại Điều 43
Bộ luật Tố tụng hình sự Các chủ thể thực hành quyền công tố và kiểm sát điềutra đều phải chịu trách nhiệm trách pháp luật về hành vi, quyết định của mình Theo quy định tại Điểm b, c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự thìViện trưởng Viện kiểm sát có quyền phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng,Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Việc phân công thực hành quyền công tố và kiểmsát điều tra vụ án hình sự được thể hiện bằng Quyết định phân công theo mẫu doViện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quyết định phân công do Viện trưởng
ký, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên có tên trong quyết định cótrách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm theo quy định của pháp luật Phân cấp thực hành quyền kiểmsát điều tra các vụ án hình sự được thực hiện ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện theo thẩmquyền xét xử của Tòa án các cấp tương đương
Trang 31Công tác áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm của Viện kiểm sát được chú trọng từ khi Cơ quan điều tra tiếpnhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điềutra, xét xử các vụ án Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiếnnghị khởi tố là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thựchành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
Viện kiểm sát chỉ trực tiếp giải quyết khi phát hiện Cơ quan điều tra có viphạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát
đã yêu cầu bằng văn bản nhưng sau 15 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra đang thụ
lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhận được văn bản
mà không khắc phục thì Viện kiểm sát sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh làm rõ nộidung vụ án và trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tốtrên
Thẩm quyền áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ,vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát thể hiện bằng các hình thức như:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một sốhoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố các vụ ántàng trữ, vận chuyển hàng cấm, khởi tố bị can trong các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm
- Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyếtđịnh khởi tố các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, quyết định không khởi tốcác vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trái pháp luật; phê chuẩn, hoặc hủy bỏquyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị cantrong các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trái pháp luật
- Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối vớicác vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm trong những trường hợp do Bộ luật Tốtụng hình sự quy định
Trang 32- Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, giahạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp hạn chế quyền con người, quyềncông dân đối với những người phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam,các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền côngdân theo quy định của luật với những người phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàngcấm
- Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bổ các quyết định tố tụng khác liên quanđến hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Cơ quan điều tra, cơ quan đượcgiao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Sau khi phê chuẩn các quyếtđịnh, các lệnh, Kiểm sát viên phải khẩn trương đề ra các nội dung cần làm rõ đểyêu cầu điều tra viên củng cố chứng cứ điều tra mở rộng vụ án Các yêu cầu điềutra phải được lập bằng văn bản và lưu hồ sơ kiểm sát, hồ sơ chính
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giaonhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõhành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm; yêu cầu cơ quan điều tra truy nã
bị can
- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra,
bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định của Cơ quanđiều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặctrong trường hợp phát hiện dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật
mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được khắc phục đối vớinhững vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- Khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiệnhành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tộiphạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra các các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm có dấu hiệu tội phạm
- Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, chuyển vụ
án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với vụ án
và bị can phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Trang 33- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tốđối với các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo quy định của Bộ luật Tốtụng hình sự.
Theo quy định của BLTTHS 2015, VKS chỉ tiếp nhận tố giác, kiến nghịkhởi tố đối với tội mà hàng cấm sau đó chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩmquyền để xác minh, giải quyết và có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơquan điều tra đối với nguồn tin này, VKS phải trực tiếp xác minh nguồn tin khiphát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minhnguồn tin và khi phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằngvăn bản nhưng không được khắc phục
Đặc điểm của tội phạm tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thường có tính liênquan giữa đối tượng thực hiện hành vi phạm tội đối với đối tượng cung cấp vàtiêu thụ Thực tế cho thấy, các vụ án phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấmthường là kết quả của nhiều năm theo dõi, tổng hợp, xâu chuỗi các hành vi phạmtội của các đối tượng trong các vụ án khác nhau
Do vậy, qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sátxét xử các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, các Kiểm sát viên nên có biệnpháp theo dõi, tích lũy được các thông tin tội phạm sẽ giúp ích rất nhiều trongviệc chủ động phối hợp với Cơ quan điều tra đấu tranh với tội phạm tàng trữ, vậnchuyển hàng cấmViện kiểm sát chủ động phối hợp với cơ quan điều tra là nhiệm
vụ quan trọng cho sự thành công của các vụ án Trong các vụ án phạm tội tàngtrữ, vận chuyển hàng cấm được phát hiện xử lý thì số lượng các vụ án có sử dụngđặc tình chiếm một tỷ lệ không nhỏ
Khi phê chuẩn khởi tố bị can, Kiểm sát viên cần chú ý phát hiện các tài liệutrinh sát chưa được chuyển hóa chứng cứ để phối hợp với Điều tra viên tiến hànhloại các tài liệu này ra khỏi hồ sơ tố tụng và chuyển hóa chứng cứ, bảo vệ đặctính Kiểm sát viên cần xây dựng mối quan hệ tốt với Điều tra viên Khi Điều traviên thu thập tài liệu đến đâu thì yêu cầu chuyển ngay cho Kiểm sát viên để cùngnghiên cứu, phối hợp đề ra yêu cầu điều tra Kiểm sát viên phải chủ động, chútrọng tham gia hoặc tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của
Trang 34BLTTHS để làm rõ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án, như: Sử dụngchiến thuật hỏi cung, đấu tranh với bị can phải sắc bén Tâm lý chung trong các
vụ án hình sự nhất là vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, các bị can thường cheđậy hành vi phạm tội và người đồng phạm đã thực hiện trước khi bị phát hiện, bắtgiữ Do đó, kỹ năng của Kiểm sát viên, Điều tra viên là phải tập hợp các tài liệutrong quá trình theo dõi, trinh sát Cơ quan điều tra đã thu thập được để đấu tranh.Cân nhắc kỹ trước khi sử dụng biện pháp đối chất Đối chất là biện pháp điều tratheo quy định của BLTTHS Tuy nhiên, Điều tra viên, Kiểm sát viên cần phải tínhtoán, lựa chọn khi nào, trường hợp nào mới cho đối chất về án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm, trường hợp bị can kiên quyết không khai nhận hoặc là kẻ chủmưu có ảnh hưởng lớn trong đồng bọn không nên cho đối chất vì kết quả khôngcao, thậm chí tác động ngược lại, dẫn đến bị can phản cung, gây bất lợi cho quátrình giải quyết vụ án
1.2.3 Các giai đoạn áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
Việc áp dụng pháp luật luôn phải tiến hành theo những quy trình chặt chẽ,chính xác mà pháp luật đã quy định Do tồn tại nhiều quy phạm pháp luật khácnhau thuộc các lĩnh vực, các ngành luật khác nhau, nên việc áp dụng chúng cũng
có những trình tự, thủ tục khác nhau Có những quy phạm được áp dụng với quytrình đơn giản, nhưng có những quy phạm việc áp dụng chúng là cả một quá trìnhphức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân
Thông thường để áp dụng một cách chính xác và đạt hiệu quả cao trongkiểm sát điều tra các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm cần tuân thủ nhữnggiai đoạn sau:
1.2.3.1 Nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan đến sự kiện pháp lý, đối tượng và quyết định xử lý do cơ quan điều tra cung cấp
Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của áp dụng pháp luật tronghoạt động KSĐT các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Việc VKS xem xét,đánh giá các tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng do cơ quan điều tra tiến hànhtrong các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm, nhằm xác định tính có căn
Trang 35cứ, qua đó xác định tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của các đốitượng đã gây ra: có hay không có hành vi phạm tội? Hành vi đó ở mức độ nào?Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội?Nhân thân? Năng lực trách nhiệm hình sự? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệuchứng cứ?
Nếu trước đó cơ quan điều tra thu thập tài liệu chứng cứ không đúng trình
tự, thủ tục, không đầy đủ, không toàn diện thì việc xem xét đánh giá (kiểm sátviệc tuân theo pháp luật) của VKSND sẽ gặp khó khăn, dễ dẫn tới sai lầm trongkhi ra văn bản áp dụng pháp luật Do đó phạm vi thực hành quyền công tố vàkiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND phải được bắt đầu từ khâu tiếp nhận,
xử lý tin báo liên quan tới tội phạm
Theo quy định của pháp luật TTHS thì VKSND tự mình thông qua cácnguồn tin báo hoặc từ các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra gửi tới để xemxét đánh giá sự kiện pháp lý đã xảy ra: Việc thu thập tài liệu chứng cứ có hợppháp hay không? hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đến lúc phải xử lý bằng hình
sự hay chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính? người thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội là ai? năng lực chịu trách nhiệm hình sự? đối tượng phạm tội cóthể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn? Tức là phải xem xét đánh giá các yếu tố cấuthành tội phạm của đối tượng đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Trongquá trình xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ ban đầu của các vụ án tàng trữ,vận chuyển hàng cấm, VKSND cần phải có sự phân công trách nhiệm cụ thể rõràng cho cán bộ, Kiểm sát viên, có sự phối kết hợp chặt chẽ với cơ quan điều tra
Có thể nói rằng, việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ban đầu có một ý nghĩa hết sứcquan trọng đảm bảo cho việc ra quyết định áp dụng pháp luật của VKS có chấtlượng, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấmđược tuân thủ theo quy định của pháp luật
1.2.3.2 Xem xét các quy phạm pháp luật được áp dung trong hoạt động kiểm sát điều tra các các vu án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biếtkiến thức pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND
Trang 36Người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong KSĐT các các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm cần phải xem xét, đánh giá đầy đủ sự kiện pháp lý đã xảy ra,những công việc đã xử lý của cơ quan điều tra, yêu cầu và đề nghị của cơ quanđiều tra đối với việc giải quyết vụ án Để từ đó xác định nội dung quy phạm được
áp dụng, phạm vi vi phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động KSĐT củaVKSND Muốn làm được điều đó, đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng phápluật phải tiến hành giải thích quy phạm pháp luật; phải làm sáng tỏ tư tưởng; nộidung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật được lựa chọn Việc lựa chọn quy phạmpháp luật đúng thì việc ra quyết định áp dụng pháp luật sẽ rất chính xác Tóm lại,giai đoạn áp dụng pháp luật này cần đòi hỏi: lựa chọn đúng quy phạm pháp luậtđược trù tính cho trường hợp đó; quy phạm pháp luật áp dụng phải là quy phạmpháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạmpháp luật khác; xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp luật chứađựng quy phạm này; nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm phápluật
1.2.3.3 Ban hành văn bản áp dung pháp luật
Ban hành văn bản áp dụng pháp luật là việc VKSND ra các quyết định;quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn Đây là giai đoạn trọng tâm, quantrọng nhất của cả quá trình KSĐT các các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.Quyết định, quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn của VKS tronglĩnh vực này được ban hành sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng,khách quan với toàn bộ những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ
án Vì quyết định của VKSND đụng chạm trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, đếntrật tự trị an trên địa bàn và đến quyền tự do thân thể của công dân, nên đòi hỏingười có thẩm quyền ra văn bản áp dụng pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặttheo các trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật tố tụng hiện hành Đặc biệt vănbản áp dụng pháp luật của VKSND phải có tính khả thi và hiện thực Tóm lại, đểban hành văn bản áp dụng pháp luật trong hoạt động KSĐT các vụ án tàng trữ,vận chuyển hàng cấm, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật của VKSND phải
Trang 37hiểu biết về mặt pháp luật, biết tổng hợp, đánh giá các tình tiết vụ án, đồng thờiphải có kỹ năng soạn thảo văn bản, đảm bảo chất lượng kỹ thuật văn bản.
1.2.3.4 Tổ chức thực hiện văn bản áp dung pháp luật
Việc tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng củaquá trình áp dụng pháp luật Khác với các văn bản áp dụng pháp luật của các cơquan nhà nước khác, văn bản áp dụng pháp luật của VKS trong KSĐT các vụ ántàng trữ, vận chuyển hàng cấm nó là lệnh, quyết định, quyết định không phêchuẩn, quyết định phê chuẩn buộc cơ quan điều tra phải thi hành và tổ chức thựchiện nghiêm chỉnh Giám sát việc thực hiện các văn bản áp dụng pháp luật củaVKS đối với toàn bộ hoạt động điều tra vừa là chức năng, vừa là nhiệm vụ củangành kiểm sát đã được pháp luật quy định chặt chẽ và đầy đủ Đó là một trongnhững đảm bảo quan trọng để quyết định của VKSND được thực hiện một cáchnghiêm chỉnh
Việc nghiên cứu về áp dụng pháp luật trong hoạt động kiểm sát điều tra cáccác vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có ý nghĩa quan trọng, nhằm phát triển
lý luận về áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng pháp luật trong từng lĩnh vực
cụ thể nói riêng gúp phần nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luậtvà
hiệu quả vai trò của VKSND về hoạt động áp dụng pháp luật trong KSĐT các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1.3 Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các
vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
1.3.1 Yếu tố về mặt pháp lý
Khi áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyểnhàng cấm, KSV phải áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình
sự, pháp luật hình sự và các ngành luật khác có liên quan nhằm đảm bảo việc xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạmtội, không làm oan người vô tội Do vậy, các quy định của pháp luật có liên quantrong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm có ảnh hưởng rấtlớn đến việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều, khi các quy định của phápluật đầy đủ, phù hợp, thống nhất, cụ thể, rõ ràng thì việc hiểu, thực hiện, áp dụng
Trang 38các quy định của pháp luật, của KSV chính xác, thống nhất Ngược lại, nếu cácquy định của pháp luật này không đầy đủ, cụ thể hoặc mâu thuẫn, chồng chéo sẽgây khó khăn cho KSV tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, ảnh hưởng đến chất lượngcủa hoạt động này Nói cách khác, hoạt động áp dụng pháp luật trong kiểm sátđiều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm phụ thuộc vào sự hoàn thiệncủa hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan Mức độ hoàn thiện của hệ thốngpháp luật nói chung, hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động này tậptrung ở tiêu chuẩn cơ bản là:
i) Tính toàn diện của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động, đòihỏi việc áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra của KSV đều phải được điềuchỉnh bằng pháp luật, không có hoạt động điều tra nào nằm ngoài sự điều chỉnhcủa pháp luật;
ii) Sự toàn diện của hệ thống pháp luật liên quan không những thể hiện ở sựđầy đủ của các nhóm văn bản trên mà còn thể hiện ở sự đầy đủ của từng văn bản,thậm chí là từng quy định của pháp luật;
iii) Tính đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động, đòihỏi hệ thống các văn bản pháp luật này thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéolẫn nhau;
iv) Tính phù hợp của hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động củaKSV tại phiên tòa xét xử đòi hỏi hệ thống các văn bản pháp luật này phù hợp vớitrình độ phát triển của xã hội mà cụ thể ở đây là điều kiện cơ sở vật chất, điềukiện làm việc của các cơ quan, ý thức pháp luật của những người tiến hành kiểmsát điều tra và tham gia tại phiên tòa, trình độ quản lý của các cơ quan quản lýnhà nước có liên quan
1.3.2 Yếu tố về kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế – xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi ích và do đó,tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đốivới pháp luật Khi nền kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầnglớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởitin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và
Trang 39hoạt động điều hành, quản lý của Nhà Nước Khi đó, niềm tin của các chủ thể đốivới pháp luật được củng cố Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tíchcực , thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành.
Khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, các cán
bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phươngtiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng vàcập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được vớiđông đảo cán bộ và nhân dân; nhu cầu tìm hiểu, trang bị thông tin, kiến thức phápluật trở thành nhu cầu thị giác, thường trực trong suy nghĩ và hành động của họ.Điều đó giúp cho hoạt động thực hiến pháp luật của các chủ thể mang tính tíchcực, tự giác Còn khi kinh thế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thấtnghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ nhândân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh,tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật Đây chính là mảnh đất lý tưởngcho sự xuất hiện các loại hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại với giá trị,chuẩn mực pháp luật, như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũngtrong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; buôn lậu, gian lận thương mại, trốnthuế từ phía các doanh nghiệp; trộm cắp, cướp giật, buôn bán ma túy… trong cácthành phần xã hội bất hảo…
Cơ chế kinh tế cũng có ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật trong kiểm sátđiều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm.Cơ chế tập trung, quan liêu, baocấp trước đây đã tạo ra tâm lý thụ động, ỷ lại; do đó, nhận thức pháp luật và hoạtđộng thực hiện pháp luật thường mang tính phiến diện, một chiều theo kiểu mệnhlệnh – chấp hành mệnh lệnh Cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa hiện nay với những mặt tích cực của nó sẽ tạo ra tư duy năng động, sángtạo, coi trọng uy tín, chất lượng, hiệu quả của hoạt động kinh tế; từ đó sẽ tác độngtích cực hơn tới ý thức pháp luật và hành vi thực hiện pháp luật của các chủ thếtrong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và tiêu dùng Nhưng mặt tráicủa kinh tế thị trường cũng sẽ tạo ra tâm lý sùng bái đồng tiền, coi tiền là tất cả,bất chấp các giá trị đạo đức, pháp luật; đồng thời sẽ tạo ra những quan niệm,
Trang 40hành vi sai lệch trong thực hiện pháp luật, lấy đồng tiền làm thước đo để đánh giácác quan hệ giữa người với người Đây lại là nguyên nhân phát sinh các hành vitrái pháp luật, là môi trường cho các loại tội phạm nảy sinh và phát triển.
Việc thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo các nguyên tắc của công bằng
xã hội có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc áp dụng pháp luật trong kiểmsát điều tra các vụ án tàng trữ, vận chuyển hàng cấm Nó là điều kiện cần thiếtcho sự ổn định chính trị, tăng cường pháp chế và đoàn kết mọi tầng lớp nhân dântrong xã hội; củng cố ý thức của con người về cái chung trong các lợi ích, lýtưởng của họ, khơi dậy thái độ tích cực của quần chúng đối với việc tham giaquản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật; nhờ đó, ý thức tôn trọng, chấphành pháp luật cũng được nâng lên một bước và việc thực hiện pháp luật của cácchủ thể trở nên tự giác và chủ động hơn
1.3.3 Yếu tố về con người
Yếu tố con người đảm bảo cho việc thực hành quyền công tố trong giai đoạnxét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chủ yếu phụ thuộc vào đội ngũ KSV của VKS trêncác phương diện: Ý thức chính trị, đạo đức của KSV; Ý thức pháp luật của KSV;
Kỹ năng nghề nghiệp của KSV Trong đó kỹ năng nghề nghiệp là yếu tố quantrọng nhất đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm sát điều tra
Bảo đảm áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án tàng trữ, vậnchuyển hàng cấm còn đòi hỏi trình độ pháp lí của cán bộ, nhân dân trong xã hội
và sự sáng tạo của mỗi cơ quan tổ chức Sự hoàn thiện của hoạt động ADPL đòihỏi trình độ văn hóa pháp lí cao của cán bộ và nhân dân trong xã hội Vì vậy cầnphải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thứcpháp luật của nhân dân, tạo lòng tin của nhân dân vào pháp luật để từ đó họ cónhững hành vi pháp luật tích cực, biết sử dụng pháp luật vào việc bảo vệ quyền,lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác và đấu tranh không khoannhượng với các hiện tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật trong xã hội Trong tổchức và hoạt động của các cơ quan ADPL phải đảm bảo tính năng động, chủđộng, sáng tạo, sự độc lập của mỗi cơ quan hoặc mỗi bộ phận đồng thời đảm bảo
sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các cơ quan, giữa các bộ phận cùng tham