BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THANH PHONG ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ TP[.]
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH PHONG
ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH
VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THANH PHONG
ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH
VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM VĂN NĂNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các
thông tin, số liệu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể Kết
quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7 năm 2021 Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thanh Phong
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Văn Năng, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Kinh tế TP HCM Sự hướng dẫn nhiệt tình, tận tâm của Quý thầy cô đã giúp tôi hoàn thiện kiến thức và năng lực nghiên cứu để hoàn thành luận án này
Trong quá trình thực hiện luận án, một phần của luận án đã được sử dụng để công bố trên các tạp chí chuyên ngành tài chính – ngân hàng để gia tăng độ tin cậy của luận án, tôi xin cảm ơn Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Khoa học
và Đào tạo Ngân hàng, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng đã có nhiều ý kiến phản biện giúp hoàn chỉnh một số nội dung của luận án
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, đặc biệt là vợ và hai con tôi, cùng với bạn
bè đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận án này
Trang 5CHƯƠNG 2 - CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7
2.1.1 Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài 7 2.1.2 Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài 7 2.1.3 Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài 9 2.1.4 Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài 10
Trang 62.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN
2.2.3 Cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại 14 2.2.3.1 Đặc điểm cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại 14 2.2.3.2 Tác động của cạnh tranh đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng
2.2.4 Phương pháp đo lường cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
17 2.2.4.1 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận cấu trúc 17 2.2.4.2 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận phi cấu trúc 19 2.2.4.3 Lựa chọn phương pháp đo lường cạnh tranh trong luận án 30 2.2.5 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước 32 2.2.5.1 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận cấu trúc 32 2.2.5.2 Các nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận phi cấu trúc 33
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN
2.3.1 Khái niệm hiệu quả của ngân hàng thương mại 35 2.3.2 Phân loại hiệu quả của ngân hàng thương mại 37 2.3.3 Phương pháp đo lường hiệu quả của ngân hàng thương mại 41
2.3.4 Lý thuyết về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả
2.3.5 Tổng quan các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng nước ngoài đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại trong nước 53 2.3.5.1 Các nghiên cứu ở các quốc gia và khu vực 53
Trang 72.3.5.2 Các nghiên cứu ở trong phạm vi quốc gia 54
3.1.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm đối với RQ1 63 3.1.2 Tiêu chuẩn xác định ngân hàng nước ngoài 69
3.2.1 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp chỉ số tài chính 70 3.2.2 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp phân tích hiệu quả
3.2.2.1 Lựa chọn phương pháp phân tích hiệu quả biên trong luận án 76
3.2.2.3 Mô hình nghiên cứu đối với RQ2 bằng phương pháp DEA 80
3.3.1 Kiểm tra tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng 84
3.3.3 Kiểm định các giả định của mô hình hồi quy dữ liệu bảng 86
3.4 QUY TRÌNH KIỂM ĐỊNH GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 87
Trang 84.1 TỔNG QUAN MẪU DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 91
4.2.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng 98 4.2.2 Kiểm định tính cân bằng dài hạn của thị trường ngân hàng Việt Nam 99 4.2.3 Kết quả phân tích hồi quy mô hình nghiên cứu 102 4.2.4 Kiểm định giả thuyết H1 và thảo luận kết quả nghiên cứu 106
4.3.1 Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 109 4.3.2 Hiệu quả của ngân hàng thương mại Việt Nam theo phương pháp chỉ số tài
5.2 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM 127 5.3 THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 128
5.3.1 Chính sách mở cửa thị trường ngân hàng của Việt Nam 128 5.3.2 Xu hướng thâm nhập của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 129
5.4.1 Các gợi ý chính sách cho các nhà hoạch định chính sách 132 5.4.1.1 Tiếp tục thực hiện chính sách mở cửa thị trường ngân hàng 132 5.4.1.2 Hoàn thiện hệ thống luật về cạnh tranh 134 5.4.2 Các gợi ý chính sách cho các ngân hàng thương mại 135
Trang 95.4.2.1 Tăng cường năng lực cạnh tranh 135
5.5 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 146
Phụ lục 1: Dữ liệu thu nhập, giá đầu vào theo mô hình Panzar - Rosse 156 Phụ lục 2: Dữ liệu đầu vào, đầu ra theo DEA 171 Phụ lục 3: Hiệu quả kỹ thuật của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 - 2019
183 Phụ lục 4: ROA của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2009 - 2019 186 Phu lục 5: Xếp hạng chỉ số phát triển tài chính các nước tham gia CPTPP năm
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AE Allocative Efficiency Hiệu quả phân bổ
CRk Concentration Ratio Tỷ lệ tập trung của k ngân hàng
CPTPP Comprehensive and Progressive
Agreement for Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ Xuyên Thái Bình Dương DEA Data Envelopment Analysis Phân tích bao dữ liệu
DFA Distribution Free Approach Tiếp cận không phân phối
DOLS Dynamic Ordinary Least
Squares
Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát động
FEM Fixed Effects Model Mô hình ảnh hưởng cố định
FOLS Fully Modified Ordinary Least
Squares
Mô hình bình phương tối thiểu tổng quát hiệu chỉnh toàn phần
HHI Hirschman- Herfindahl Index Chỉ số Hirschman- Herfindahl
IRS Increasing Returns to Scale Tăng theo quy mô
LAC Long-run Average Cost Chi phí trung bình dài hạn
MES Minimum Efficient Scale Quy mô hiệu quả tối thiểu
OLS Ordinary Least Squares Phương pháp bình phương bé nhất PLS Pooled Ordinary Least Squares Bình phương bé nhất kết hợp
PTE Pure Technical Efficiency Hiệu quả kỹ thuật thuần
REM Random Effects Model Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên RQ1 Research Question 1 Câu hỏi nghiên cứu 1
RQ2 Research Question 2 Câu hỏi nghiên cứu 2
RSE Robust Standard Error Sai số chuẩn vững
Trang 11Ký hiệu Tiếng Anh Tiếng Việt
SAC Short-run Average Cost Chi phí trung bình ngắn hạn SBV State Bank of Vietnam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam SCP Structure-Conduct-Performance Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả
SFA Stochastic Frontier Approach Tiếp cận biên ngẫu nhiên
TFA Thick Frontier Approach Tiếp cận biên dày
VRS Variable Returns to Scale Thay đổi theo quy mô
WDI World Development Indicators Chỉ số phát triển thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 12DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp giá trị H-Statistic 29
Bảng 2.2: Tổng hợp ưu nhược điểm của các phương pháp đo lường cạnh tranh 31
Bảng 2.3: Tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước 34
Bảng 2.4: Tổng hợp các nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả ngân hàng trong nước 57
Bảng 3.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu đối với RQ1 65
Bảng 3.2: Mô tả các biến trong Mô hình 3.4 73
Bảng 3.3: Tổng hợp các nghiên cứu hiệu quả ngân hàng bằng DEA 78
Bảng 3.4: Mô tả các biến trong mô hình DEA 79
Bảng 3.5: Mô tả các biến trong Mô hình 3.4 82
Bảng 3.6: Quy trình kiểm định giả thuyết H1 87
Bảng 3.7: Quy trình kiểm định giả thuyết H2 89
Bảng 4.1: Các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu 91
Bảng 4.2: Số ngân hàng trong mẫu nghiên cứu giai đoạn 2009 – 2019 93
Bảng 4.3: Chi tiết thời gian nghiên cứu giai đoạn 2009 - 2019 94
Bảng 4.4: Nguồn dữ liệu của các biến trong các mô hình nghiên cứu 97
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng 98
Bảng 4.6: Thống kê mô tả biến trong Mô hình 3.3 99
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình 100
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định giả định mô hình 100
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định thị trường cân bằng giai đoạn 2009 - 2019 101
Bảng 4.10: Thống kê mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 102
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình 103
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định giả định mô hình 103
Trang 13Bảng 4.13: Kết quả hồi quy mô hình nghiên cứu thực nghiệm bằng mô hình PLS,
FEM, REM và REM-RSE 104
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định giả thuyết H1 106
Bảng 4.15: Biến thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam giai đoạn 2009 - 2019 109
Bảng 4.16: Tỷ suất lợi nhuận trung bình trên tài sản giai đoạn 2009 - 2019 110
Bảng 4.17: Thống kê mô tả biến trong mô DEA 111
Bảng 4.18: Hiệu quả kỹ thuật trung bình giai đoạn 2009 - 2019 112
Bảng 4.19: Kết quả kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu bảng 113
Bảng 4.20: Thống kê mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 114
Bảng 4.21: Kết quả kiểm định lựa chọn và khuyết tật mô hình 114
Bảng 4.22: Kết quả hồi quy Mô hình 3.4 115
Bảng 4.23: Thống kê mô tả biến trong mô hình nghiên cứu 116
Bảng 4.24: Kết quả hồi quy Mô hình 3.6 117
Bảng 4.25: Kết quả kiểm định giả thuyết H2 119
Bảng 5.1: Tổng hợp câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết và kết quả nghiên cứu 125
Bảng 5.2: Tổng hợp chính sách mở cửa thị trường ngân hàng Việt Nam 129
Bảng 5.3: Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam 130
Bảng 5.4: Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam 131
Bảng 5.5: Xếp hạng năng lực cạnh tranh các quốc gia ký CPTPP 136
Bảng 5.6: Tỷ lệ vốn tự có/tài sản có rủi ro trung bình các quốc gia ký CPTPP 137
Bảng 5.7: Tỷ lệ đầu vào, đầu ra trung bình giai đoạn 2009 - 2019 141
Trang 14DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí 37
Hình 2.2: Đường cong chi phí và lợi thế theo quy mô 39
Hình 2.3: Hiệu quả kỹ thuật thuần và hiệu quả quy mô 40
Hình 3.1: Quy trình phân tích dữ liệu bảng 83
Trang 15TÓM TẮT
Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế, các NHNNg đã kinh doanh tại Việt Nam hơn ba thập kỷ qua Tuy nhiên, vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận, và chưa được nghiên cứu rộng rãi tại Việt Nam
Mục tiêu của luận án này là phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của NHTM Việt Nam Nghiên cứu này sử dụng mô hình Panzar – Rosse với biến tương tác để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam Để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam, nghiên cứu thực hiện phân tích 2 bước: (i) Xác định hiệu quả của các NHTM Việt Nam bằng phương pháp chỉ số tài chính và phương pháp DEA; (ii) Các chỉ số đo lường hiệu quả của các NHTM trong nước sẽ được hồi quy với các biến thâm nhập của NHNNg
Kết quả nghiên cứu cho thấy thâm nhập NHNNg làm tăng mức độ cạnh tranh
và làm giảm hiệu quả của các NHTM Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên, luận án
đã đề xuất các nhóm giải pháp với các NHTM và một số kiến nghị với các nhà hoạch định chính sách nhằm tăng cường hội nhập, thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam
Từ khóa: Thâm nhập ngân hàng nước ngoài, cạnh tranh ngân hàng, mô hình
Panzar – Rosse, hiệu quả ngân hàng, phương pháp DEA
Trang 16ABSTRACT
Along with the process of opening up the economy, foreign banks have been doing business in Vietnam for more than three decades However, the issue of the impact of foreign bank penetration on the competition and efficiency of domestic commercial banks has so far been debated, and has not been widely studied in Vietnam
The objective of this thesis is to examine the impact of foreign bank penetration on competition and efficiency of Vietnamese commercial banks This research uses the Panzar - Rosse model with interactive variables to examine the effects of foreign bank penetration on Vietnam commercial banks' competition To examine the effects of foreign bank penetration on the efficiency of Vietnamese commercial banks, the research uses a 2-step analysis method: (i) Determine the effectiveness of Vietnamese commercial banks by the method of DEA main and method; (ii) Indicators measuring the efficiency of domestic commercial banks will
be regressed with foreign banks' penetration variables
The research results show that foreign bank penetration increases the level of competition and reduces the efficiency of Vietnamese commercial banks Based on the research results, the thesis has proposed groups of solutions to commercial banks and some recommendations to policy makers to enhance integration, promote competition and improve the efficiency of Vietnamese commercial banks
Keywords: Foreign banking penetration, banking competition, Panzar - Rosse
model, banking efficiency, DEA method
Trang 17CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Luận án này nghiên cứu ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của NHTM Việt Nam Chương này bắt đầu bằng việc giới thiệu bối cảnh nghiên cứu làm cơ sở cho việc xác định vấn đề nghiên cứu, phần tiếp theo trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu, điểm mới của luận án, và cuối cùng là giới thiệu cấu trúc của luận án
1.1 BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế, thâm nhập của NHNNg vào Việt Nam
đã gia tăng rất nhanh trong ba thập kỷ qua Đến cuối năm 2019, tổng tài sản của khối NHNNg đạt 1.346 nghìn tỷ đồng chiếm 10% tổng tài sản toàn hệ thống, tăng 573%
so với trước thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2006 Tuy nhiên, vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập của NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước vẫn ít được xem xét rộng rãi và còn nhiều tranh luận trong các nghiên cứu thực nghiệm
Từ các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu này có những kết quả không tương đồng, còn mâu thuẫn và chưa thống nhất Một
số nghiên cứu cho thấy thâm nhập của NHNNg làm tăng tính cạnh tranh của thị trường ngân hàng trong nước (Cho, 1990; Diallo, 2016; Jeon và cộng sự, 2011; Mulyaningsih và cộng sự, 2015) Ngược lại, nghiên cứu của Yeyati và Micco (2007) cho thấy NHNNg làm giảm cạnh tranh Trong khi đó, Poghosyan và Poghosyan (2010) chỉ ra rằng NHNNg thâm nhập bằng phương thức mua lại và sáp nhập làm giảm cạnh tranh, còn phương thức lập cơ sở kinh doanh mới làm tăng cạnh tranh Kết
Trang 18quả nghiên cứu của Yin (2020) cho thấy thâm nhập của NHNNg làm giảm cạnh tranh
ở các nước phát triển, và làm tăng cạnh tranh của thị trường ngân hàng ở các nước đang phát triển Mặt khác, theo tác giả chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về chủ
để này tại Việt Nam Vì vậy, tác giả nhận thấy cần thiết phải thực hiện nghiên cứu nhằm xác định thâm nhập của NHNNg ảnh hưởng như thế nào đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam
Đối với vấn đề ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM trong nước, các nghiên cứu hiện nay trên thế giới đều sử dụng phương pháp chỉ số tài chính (Barajas và cộng sự, 2000; Claessens và cộng sự, 2001; Claessens và Lee, 2003; Denizer, 2000; Lensink và Hermes, 2004; Luo và cộng sự, 2017; Manlagñit, 2011; Shen và cộng sự, 2009; Unite và Sullivan, 2003; Xu, 2011) Tuy nhiên, theo Manandhar và Tang (2002) phương pháp chỉ số tài chính có nhược điểm là mỗi chỉ
số chỉ thể hiện một mặt trong hoạt động của các NHTM, nên để đánh giá tổng quát
về hoạt động kinh doanh của một NHTM yêu cầu phải sử dụng hệ thống các chỉ số, công thức rất phức tạp và nếu chỉ căn cứ vào vài chỉ số có thể gây nhầm lẫn khi ra các quyết định quan trọng Do đó, nếu sử dụng một vài chỉ số tài chính để đánh giá tác động của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của ngân hàng trong nước có thể thiếu chính xác và không toàn diện
Trong khi đó, phương pháp phân tích hiệu quả biên DEA cho phép xác định hiệu quả của ngân hàng thông qua một chỉ số độ đo hiệu quả là hiệu quả kỹ thuật, giúp giải quyết hạn chế của phương pháp chỉ số tài chính Mặt khác, có 2 nghiên cứu tại Việt Nam của Lien và cộng sự (2015) và Pham và Nguyen (2020) về chủ đề này cũng sử dụng phương pháp chỉ số tài chính nhưng cho kết quả hoàn toàn trái ngược nhau Chính vì vậy, tác giả nhận thấy cần thiết phải tiến hành nghiên cứu sử dụng kết hợp 2 phương pháp là phương pháp chỉ số tài chính và phương pháp DEA để phân tích toàn diện nhất ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam
Trang 19Chính vì những lý do nêu trên, đề tài “Ảnh hưởng của thâm nhập ngân hàng
nước ngoài đến cạnh tranh và hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam”
được lựa chọn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp thông tin cần thiết để các nhà làm chính sách đánh giá được tác động của chính sách mở cửa thị trường ngân hàng đối với các ngân hàng trong nước, từ đó có những điều chỉnh chính sách để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của ngành ngân hàng, cũng như giúp các NHTM có cơ sở hoạch định chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm thích ứng với điều kiện thị trường có sự tham gia của các NHNNg
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát của luận án này là phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hội nhập, thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam Để đạt được mục tiêu tổng quát đó, luận án cần đạt được những mục tiêu cụ thể như sau:
(i) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các
NHTM Việt Nam;
(ii) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM
Việt Nam;
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đạt được những mục tiêu cụ thể nghiên cứu đặt ra, luận án đi trả lời 2 câu hỏi nghiên cứu sau đây:
RQ1: Thâm nhập của NHNNg ảnh hưởng như thế nào đến cạnh tranh của các
NHTM Việt Nam?
RQ2: Thâm nhập của NHNNg ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả của các
NHTM Việt Nam?
Trang 201.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào 5 nhóm chính:
(i) Đo lường thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam;
(ii) Đo lường cạnh tranh trong thị trường NHTM Việt Nam bằng mô hình Panzar – Rosse;
(iii) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam;
(iv) Đo lường hiệu quả của các NHTM Việt Nam bằng phương pháp chỉ số tài chính và phương pháp DEA;
(v) Phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tiến hành phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2019 Luận án chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 2009 là do trong giai đoạn này Việt Nam đã gia nhập WTO và thực hiện việc nới lỏng các rào cản cho các NHNNg thâm nhập vào Việt Nam, và đặc biệt là các ngân hàng 100% vốn nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN DỮ LIỆU
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Trang 21(i) Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận phi cấu trúc với mô
hình Panzar – Rosse để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM Việt Nam
(ii) Phân tích hồi quy để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu
quả của các NHTM Việt Nam
1.5.2 Nguồn dữ liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu được lấy từ Orbis Bank Focus từ năm 2009 đến năm 2019 do Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp Trong giai đoạn nghiên cứu, do có một số ngân hàng mới được thành lập hoặc một số ngân hàng được hợp nhất hoặc do thiếu số liệu chi tiết qua các năm của các ngân hàng nên dữ liệu được dùng trong nghiên cứu này là dữ liệu bảng không cân bằng Dữ liệu về số lượng NHNNg được thu thập từ các báo cáo thường niên của SBV Dữ liệu về tốc độ tăng trưởng GDP được thu thập từ WDI
1.6 ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án này có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, luận án đã chứng minh thâm nhập của NHNNg làm tăng tính cạnh
tranh và làm giảm hiệu quả của các NHTM Việt Nam, từ đó cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm củng cố các quan điểm của lý thuyết về thâm nhập của NHNNg
Thứ hai, luận án đã đo lường mức độ ảnh hưởng của NHNNg thông qua chỉ
số H-Statistic được xác định bằng hệ số hồi quy của các biến tương tác trong mô hình Panzar – Rosse vào cạnh tranh của thị trường NHTM Việt Nam
Thứ ba, luận án là nghiên cứu đầu tiên sử dụng đồng thời phương pháp DEA
và phương pháp chỉ số tài chính để phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của ngân hàng trong nước Việc sử dụng kết hợp 2 phương pháp cho phép đối chứng kết quả nghiên cứu từ 2 phương pháp, và vì vậy phát hiện của luận án sẽ chính xác hơn
Trang 22Cuối cùng, luận án đã đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường hội nhập,
thúc đẩy cạnh tranh và nâng cao hiệu quả của các NHTM Việt Nam
1.7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Để đạt mục tiêu nghiên cứu ngoài phần danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được cấu trúc thành 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Nội dung chương này giới thiệu tổng
quan về luận án
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Nội dung chương này
giới thiệu cơ sở lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của NHTM trong nước, làm cơ sở phát triển các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày phương pháp kiểm
định các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này thực hiện mô tả mẫu
dữ liệu dùng trong các mô hình nghiên cứu và kết quả kiểm định các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Chương này trình bày tóm lược các
kết luận về kết quả nghiên cứu; phân tích định hướng phát triển ngành ngân hàng và
xu hướng thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam, đề xuất các gợi ý chính sách cho các NHTM và các nhà làm chính sách, và trình bày hạn chế của luận án và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 23CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 đã trình bày tổng quan về luận án và xác định 2 câu hỏi nghiên cứu Chương này sẽ hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và khảo cứu các nghiên cứu thực nghiệm
về ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh và hiệu quả của các NHTM trong nước làm cơ sở cho việc phát hiện khe hở nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan đến 2 câu hỏi nghiên cứu
2.1 THÂM NHẬP CỦA NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI
2.1.1 Khái niệm về thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã làm xuất hiện các ngân hàng đa quốc gia Đây là những ngân hàng sở hữu và kiểm soát hoạt động kinh doanh ngân hàng ở hai hay nhiều nước Quá trình đầu tư kinh doanh của các ngân hàng này vào một quốc gia được gọi là thâm nhập của NHNNg
Thâm nhập của NHNNg có thể hiểu là quá trình mà các ngân hàng ở một quốc gia (nước đầu tư) thành lập và hoạt động tại một quốc gia khác (nước nhận đầu tư) bằng hình thức mở chi nhánh, liên doanh với ngân hàng trong nước, thành lập ngân hàng con hoặc mua cổ phần thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Makino và cộng sự, 2007; Slangen và Hennart, 2008)
2.1.2 Lý thuyết về động cơ thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Có 2 quan điểm lý thuyết chính giải thích về động cơ thúc đẩy NHNNg thâm nhập vào một quốc gia đó là theo sau khách hàng và tìm kiếm cơ hội đầu tư để nâng cao lợi nhuận Quan điểm theo sau khách hàng cho rằng thâm nhập của NHNNg là
để phục vụ khách hàng của họ khi khách hàng của ngân hàng đầu tư vào quốc gia mà NHNNg thâm nhập (Grubel, 1977) Mục tiêu của NHNNg khi thâm nhập vào một
Trang 24quốc gia là nhằm tiếp tục duy trì mối quan hệ giữa ngân hàng với các công ty mẹ tại nước đầu tư Khi các công ty mẹ thành lập chi nhánh ở nước nhận đầu tư, NHNNg sẽ thâm nhập vào quốc gia đó để ngăn chặn các chi nhánh của các công ty này chuyển sang ngân hàng mới Nhờ lợi thế về mối quan hệ từ trước với khách hàng tại nước đầu tư, các ngân hàng có nhiều thông tin về hoạt động kinh doanh của khách hàng, điều này giúp giảm phí dịch vụ, cũng như giảm rủi ro cho ngân hàng Khách hàng của ngân hàng cũng có xu hướng duy trì mối quan hệ với các ngân hàng có mối quan
hệ từ trước, nhằm tránh chi phí phát sinh từ việc phải cung cấp thông tin của mình cho ngân hàng mới (Lewis, 1991)
Quan điểm thứ hai cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm cơ hội nâng cao lợi nhuận (Aliber, 1984; Goldberg và Saunder, 1981) Lập luận chính của quan điểm này là NHNNg sẽ thâm nhập vào một quốc gia nếu nhận thấy môi trường kinh doanh ở đó có triển vọng phát triển và đạt được lợi nhuận kỳ vọng NHNNg có công nghệ vượt trội, tiềm lực tài chính mạnh, uy tín cao, nguồn nhân lực,
kỹ năng quản lý và chất lượng dịch vụ tốt hơn, mạng lưới rộng khắp, kiến thức và kinh nghiệm trong hoạt động đa quốc gia, tính chuyên nghiệp trong việc phục vụ từng loại khách hàng sẽ giúp họ giành được thị phần từ các ngân hàng trong nước và thu được lợi nhuận cao hơn (Cho, 1986; Yannopoulos, 1983)
Ngoài 2 lý thuyết chính giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg nêu trên, một số lý thuyết khác cho rằng động cơ thâm nhập của NHNNg là nhằm phân tán rủi
ro Qian và Delios (2008) nghiên cứu trong trường hợp lý thuyết đầu tư quốc tế cho rằng các ngân hàng mở rộng hoạt động quốc tế để tận dụng lợi thế trên thị trường nước ngoài và giảm thiểu những bất lợi và rủi ro tại thị trường trong nước García-Herrero và Vazquez (2013) lập luận trong lý thuyết danh mục đầu tư rằng việc đa dạng hóa đầu tư ở các vị trí địa lý khác nhau có thể làm giảm rủi ro kinh doanh và rủi
ro tài chính do chu kỳ kinh doanh, cấu trúc lãi suất, và biến động tỷ giá hối đoái, do
đó, các NHNNg sẽ thâm nhập vào ngành ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Trang 25Tóm lại, các lý thuyết giải thích động cơ thâm nhập của NHNNg đều cho rằng
cơ sở để một NHNNg thâm nhập vào một quốc gia là ngân hàng đó sở hữu lợi thế về công nghệ, sức mạnh tài chính, uy tín, nguồn nhân lực và kỹ năng quản trị hiệu quả,
và động cơ cho việc thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng và tìm kiếm lợi nhuận Nếu động cơ thâm nhập của NHNNg là theo sau khách hàng thì NHNNg sẽ ít cạnh tranh trực tiếp đối với các ngân hàng trong nước, còn trong trường hợp động cơ thâm nhập của NHNNg là tìm kiếm lợi nhuận sẽ tạo ra sức ép cạnh tranh rất lớn lên các ngân hàng trong nước
2.1.3 Phương thức thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
NHNNg thường sử dụng 2 phương thức thâm nhập vào một quốc gia là phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới và phương thức mua lại và sáp nhập (Clarke, 2005; Slangen và Hennart, 2008)
Phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới được thực hiện dưới hình thức
mở văn phòng đại diện, chi nhánh NHNNg, thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc ngân hàng liên doanh Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc hoạt động trên cơ sở vốn và uy tín của ngân hàng mẹ ở nước ngoài; chi nhánh NHNNg cũng là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân, được NHNNg bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ, cam kết của chi nhánh NHNNg ở nước nhận đầu tư; khác với văn phòng đại diện và chi nhánh, ngân hàng con 100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh có tư cách pháp nhân, hoạt động trên vốn tự có của mình
Cerutti và cộng sự (2007) cho rằng các NHNNg sẽ hoạt động dưới hình thức chi nhánh nếu nước nhận đầu tư có quy định hạn chế NHNNg thâm nhập và có mức thuế cao hơn nước đầu tư, và hình thức ngân hàng con thường được áp dụng trong trường hợp NHNNg muốn kinh doanh bán lẻ Trong khi đó, Makino và cộng sự (2007) cho rằng NHNNg có thể thâm nhập bằng hình thức thành lập ngân hàng liên doanh với ngân hàng trong nước, với hình thức này NHNNg sẽ tiết kiệm được chi phí điều tra thị trường, tư vấn chính sách và tìm hiểu môi trường kinh doanh có liên quan đến ngành ngân hàng trong nước
Trang 26Kim và Gray (2009) cho rằng nếu hoạt động của ngân hàng trong nước phát triển mạnh mẽ và văn hóa kinh doanh của ngân hàng trong nước và NHNNg không tương đồng, thì NHNNg sẽ thâm nhập bằng phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới Ưu điểm của phương thức thành lập cơ sở kinh doanh mới là tránh được việc kế thừa những tồn tại từ tổ chức cũ như các hợp đồng cho vay chưa giải ngân, sự khác biệt về cơ cấu tổ chức, văn hóa kinh doanh và hệ thống công nghệ không tương thích (Dikova và Van Witteloostuijn, 2007; Slangen và Hennart, 2008) Tuy nhiên, phương thức này có nhược điểm là NHNNg mất nhiều thời gian để am hiểu thị trường, xây dựng thương hiệu, và thiết lập mối quan hệ với khách hàng
Phương thức mua lại và sáp nhập được thực hiện thông qua việc NHNNg tiến hành mua lại và sáp nhập với một ngân hàng sẵn có trong nước Phương thức này thường được sử dụng khi thị trường chứng khoán của nước thu hút đầu tư đã được hình thành và phát triển, các NHNNg ít am hiểu về thị trường ngân hàng nội địa (Bhaumik và Gelb, 2003) Phương thức mua lại và sáp nhập có ưu điểm là tận dụng được uy tín và lượng khách hàng sẵn có, nhưng có nhược điểm là rất khó dung hòa
sự khác biệt trong văn hóa tổ chức và phương thức hoạt động giữa các bên với nhau
Theo Van Tassel và Vishwasrao (2007) NHNNg thích thâm nhập bằng phương thức mua lại và sáp nhập hơn lập cơ sở kinh doanh mới, vì chi phí cho việc xử lý các tồn tại của tổ chức cũ trong hoạt động mua lại và sáp nhập thường thấp hơn các lợi ích có được từ việc sở hữu nguồn dữ liệu sẵn có về khách hàng, kiến thức thị trường
và uy tín đã được xây dựng từ trước
2.1.4 Đo lường thâm nhập của ngân hàng nước ngoài
Có 2 phương pháp đo lường thâm nhập của NHNNg là phương pháp tổng hợp
và phương pháp không gian phân bổ Phương pháp tổng hợp đo lường thâm nhập của NHNNg bằng tỷ lệ số lượng và tỷ lệ tài sản của NHNNg
Tỷ lệ số lượng NHNNg = Số lượng NHNNg
Tổng số ngân hàng của toàn ngành
Trang 27Phương pháp không gian phân bổ đo lường thâm nhập của NHNNg thông qua chỉ số tiếp xúc giữa NHNNg và ngân hàng trong nước Xu (2011) là người đầu tiên
đề xuất phương pháp không gian phân bổ khi xây dựng chỉ số tiếp xúc thay cho phương pháp tổng hợp, vì cho rằng phương pháp tổng hợp chỉ nắm bắt sự hiện diện của NHNNg ở phạm vi tổng thể, không phản ánh mức độ tiếp xúc về mặt địa lý của một ngân hàng cụ thể trong nước với NHNNg Chỉ số tiếp xúc được tính bằng tỷ lệ giữa số chi nhánh NHNNg tại một địa phương với tổng số chi nhánh NHNNg mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc Luo và cộng sự (2017) đã bổ sung cách tính chỉ số tiếp xúc để xác định chính xác mức độ tiếp xúc qua mạng lưới chi nhánh Chỉ số tiếp xúc chi nhánh được tính bằng tỷ lệ giữa tổng số chi nhánh NHNNg tại tất cả các địa phương mà một ngân hàng trong nước có chi nhánh với tổng số chi nhánh NHNNg
mà một ngân hàng trong nước tiếp xúc Phương pháp không gian phân bổ được phát triển gần đây và chú trọng nhiều đến yếu tố tiếp xúc về mặt địa lý giữa NHNNg và ngân hàng trong nước, tuy nhiên điều kiện để áp dụng phương pháp này là trong giai đoạn nghiên cứu các NHNNg không bị giới hạn trong việc mở chi nhánh, và có đầy
đủ thông tin dữ liệu về mạng lưới chi nhánh của NHNNg và ngân hàng trong nước
Do trong giai đoạn nghiên cứu 2009 – 2019, các chi nhánh NHNNg bị giới hạn trong việc mở chi nhánh, cũng như không có thông tin dữ liệu về quá trình thành lập chi nhánh của các NHTM trong nước và NHNNg, nên nghiên cứu không sử dụng phương pháp không gian phân bổ, mà sử dụng phương pháp tổng hợp để đo lường thâm nhập của NHNNg tại Việt Nam trong phân tích ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam
Trang 282.2 ẢNH HƯỞNG CỦA THÂM NHẬP NGÂN HÀNG NƯỚC NGOÀI ĐẾN CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG TRONG NƯỚC
2.2.1 Khái niệm cạnh tranh
Có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh doanh nói riêng Các nhà kinh tế học cổ điển nhìn nhận cạnh tranh là một quá trình mà các đối thủ ganh đua để giành thị phần, và quá trình cạnh tranh tự do sẽ tạo
ra lực cân bằng thị trường, dẫn đến giá sản phẩm bằng chi phí sản xuất trong dài hạn
Theo Stigler (1957) cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể, và nó phát sinh bất cứ khi nào hai hoặc nhiều bên cố gắng vì điều gì đó mà tất cả đều không thể có được
Porter (1989) cho rằng cạnh tranh trong kinh doanh là giành lấy thị phần, và mục tiêu của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có
Như vậy có thể hiểu cạnh tranh là quá trình mà các chủ thể kinh tế ganh đua
để giành lấy thị phần nhằm thu được nhiều lợi ích nhất
2.2.2 Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành
Lý thuyết cấu trúc cạnh tranh ngành được hoàn thiện từ cuối những năm 1990
từ công trình nghiên cứu Porter (1989) Theo lý thuyết này, mức độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành (hay một thị trường cụ thể) chịu tác động của 5 yếu tố sau đây:
Thứ nhất, sự xuất hiện của các công ty (ngân hàng) mới Khi có sự thâm nhập
của các ngân hàng mới sẽ dẫn đến việc chia sẻ thị phần hiện có Điều này có thể ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng NHNNg sở hữu nhiều lợi thế như tiềm lực tài chính mạnh, công nghệ hiện đại, kỹ năng quản trị hiệu quả, sản phẩm dịch vụ mới, do đó, NHNNg trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp với các ngân
Trang 29hàng trong nước, và hoạt động của NHNNg sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng nội địa
Thâm nhập của ngân hàng mới phụ thuộc vào các rào cản gia nhập ngành Các rào cản gia nhập là những quy định đặc trưng của một ngành Các rào cản này
có thể do chính phủ tạo nên, hoặc do một số yếu tố đặc thù của ngành tạo ra Đối với ngành ngân hàng, các rào cản gia nhập chủ yếu do chính phủ thiết lập
Thứ hai, cạnh tranh giữa các đối thủ hiện có trong ngành Mức độ cạnh tranh
giữa các ngân hàng đang hoạt động sẽ ảnh hưởng đến cấu trúc cạnh tranh của thị trường Nếu quy mô giữa các ngân hàng chênh lệnh nhau nhiều thì áp lực cạnh tranh thấp, vì các ngân hàng nhỏ biết không thể cạnh tranh với ngân hàng lớn nên sẽ tập trung vào phân khúc khách hàng có đặc điểm riêng, mà các ngân hàng lớn không nhắm đến Nếu tất cả các ngân hàng đều có quy mô tương đồng thì khách hàng là đồng nhất, do đó, khách hàng có thể chuyển dịch từ ngân hàng này sang ngân hàng khác dẫn tới sự dành giật khách hàng, đẩy áp lực cạnh tranh tăng cao
Thứ ba, sức mạnh của nhà cung ứng NHTM là một trung gian tài chính, kinh
doanh trong lĩnh vực tiền tệ Vì vậy, nhà cung ứng đầu vào của ngân hàng chính là khách hàng gửi tiền Sức mạnh của nhà cung cấp thể hiện khả năng quyết định các điều kiện giao dịch của khách hàng gửi tiền đối với ngân hàng Những khách hàng gửi tiền với giá trị thấp có thể phải chấp nhận các điều khoản mà ngân hàng đưa ra, nhờ đó ngân hàng giảm được chi phí lãi, ngược lại, những khách hàng lớn có thể gây sức ép đối với ngân hàng bằng nhiều cách, chẳng hạn yêu cầu được trả mức lãi suất cao hơn
Thứ tư, sức mạnh của người mua Người mua của ngân hàng chính là khách
hàng vay vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng Sức mạnh của khách hàng chính là ảnh hưởng của khách hàng đối với ngân hàng Về mặt lý thuyết, khi sức mạnh khách hàng lớn thì sẽ dẫn đến độc quyền mua Trong điều kiện thị trường như vậy, khách hàng có khả năng áp đặt giá
Trang 30Thứ năm, các sản phẩm và dịch vụ thay thế Sản phẩm và dịch vụ thay thế
trong mô hình của Porter là do các ngành khác cung cấp, khi một ngành có nhiều sản phẩm thay thế thì sẽ chịu sự cạnh tranh của các ngành sản xuất sản phẩm, dịch vụ thay thế Trong ngành ngân hàng, vì sản phẩm của ngân hàng có một số đặc thù riêng,
do đó, yếu tố này thường ít ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh ngành Tuy vậy, sự phát triển của thị trường tài chính tạo ra nhiều kênh huy động vốn cho doanh nghiệp, điều này có thể ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng
Tóm lại, mô hình 5 yếu tố của Porter cung cấp cơ sở lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu ảnh hưởng của thâm nhập NHNNg đến cạnh tranh của các NHTM trong nước Theo đó, quá trình thâm nhập của NHNNg sẽ làm xuất hiện các ngân hàng mới tham gia vào thị trường và tạo ra sự cạnh tranh, từ đó ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng trong nước
2.2.3 Cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
2.2.3.1 Đặc điểm cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
Mục này trình bày đặc điểm cạnh tranh trong thị trường NHTM, từ đó cho thấy
sự khác biệt trong cạnh tranh của thị trường NHTM với các lĩnh vực khác của nền kinh tế Giống như những ngành kinh tế khác, các NHTM trong quá trình kinh doanh cũng tiến hành cạnh tranh gay gắt với nhau để chiếm lĩnh thị phần, gia tăng lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, do vai trò và chức năng đặc biệt của ngành ngân hàng, ngoài những điểm chung giống như sự cạnh tranh trong các lĩnh vực khác, cạnh tranh trong thị trường ngân hàng có những điểm khác biệt sau đây:
Thứ nhất, cạnh tranh trong thị trường NHTM có sự giám sát chặt chẽ của
Chính phủ (Sheng, 1990) Do hoạt động của các NHTM liên quan đến tất cả các chủ thể, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, cho nên, để tránh tình trạng cạnh tranh bằng mọi giá gây bất ổn hệ thống, chính phủ các nước đều có sự giám sát chặt chẽ hoạt động cạnh tranh giữa các NHTM Allen và Gale (2000b) cho rằng sự
ổn định của hệ thống ngân hàng là rất quan trọng, bởi vì bất kỳ sự bất ổn nào đều có
Trang 31thể ảnh hưởng đến thị trường cho vay liên ngân hàng và tín dụng, từ đó dẫn đến suy thoái kinh tế Việc kiểm soát sự cạnh tranh của các ngân hàng được thực hiện thông qua chính sách tiền tệ với các công cụ như hoạt động thị trường mở, công cụ lãi suất,
dữ trữ bắt buộc và các chính sách kiểm soát khác (Ghossoub và cộng sự, 2012)
Thứ hai, cạnh tranh trong thị trường NHTM đi đôi với hợp tác lẫn nhau
(Khanizad và Montazer, 2018) Trong quá trình tác nghiệp kinh doanh như kết nối thanh toán, hoạt động trên thị trường liên ngân hàng, liên kết cho vay, các NHTM thường có mối quan hệ hợp tác với nhau Một ngân hàng không thể tự mình hoạt động bình thường nếu không có mối quan hệ liên kết với các ngân hàng khác trên thị trường Do vậy, hoạt động kinh doanh của các NHTM vừa mang tính cạnh tranh, vừa mang tính hợp tác với nhau
Thứ ba, thị trường ngân hàng thường có giới hạn về số lượng đối thủ cạnh
tranh và rào cản gia nhập ngành cao (Alhadeff, 1974) Ngành ngân hàng giữ vị trí quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế, là trung gian tài chính gắn liền với sự vận động của toàn bộ nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng bao trùm tất cả các hoạt động kinh tế, xã hội Ngân hàng không trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế, song, giữ một vai trò quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế Do đó, chính phủ các nước đều ban hành các quy định chặt chẽ về việc thành lập và giải thể ngân hàng, nhằm tránh tổn thất cho nền kinh tế và công chúng
2.2.3.2 Tác động của cạnh tranh đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng thương mại
Cạnh tranh sẽ tạo ra tác động nhiều mặt đối với hoạt động của các NHTM Về mặt lý thuyết có 2 quan điểm khác nhau về tác động của cạnh tranh đối với hệ thống ngân hàng là cạnh tranh – bất ổn và cạnh tranh - ổn định
Quan điểm cạnh tranh – bất ổn cho rằng cạnh tranh sẽ làm suy giảm tính ổn định của hệ thống ngân hàng Cạnh tranh buộc các NHTM phải giảm lãi suất cho vay
và phí dịch vụ, tăng lãi suất huy động, dẫn đến lợi nhuận giảm (Bolt và Tieman, 2004) Nếu cạnh tranh diễn ra gay gắt, các NHTM có xu hướng hạ thấp tiêu chuẩn
Trang 32cho vay để tìm kiếm khách hàng, dẫn đến rủi ro vỡ nợ, tăng nguy cơ phá sản đối với ngân hàng, gây mất ổn định hệ thống ngân hàng (Keeley, 1990) Cạnh tranh với sự tham gia của nhiều ngân hàng là điều kiện lý tưởng cho sự lan truyền các cú sốc tài chính (Allen và Gale, 2000a) Tự do hóa tài chính dưới hình thức chuyển đổi dần từ trạng thái độc quyền sang cạnh tranh có thể gia tăng sự bất ổn của hệ thống ngân hàng (Chang và Velasco, 2001)
Quan điểm cạnh tranh - ổn định cho rằng cạnh tranh không phải là yếu tố gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng Cạnh tranh sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ Trong điều kiện cạnh tranh, các NHTM muốn tồn tại và phát triển phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút khách hàng bằng nhiều biện pháp như gia tăng tiềm lực tài chính, đầu tư đổi mới công nghệ, hoàn thiện quy trình cung cấp dịch vụ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo uy tín, thương hiệu và vị thế trên thị trường
Ở khía cạnh này, cạnh tranh sẽ làm cho hoạt động của ngành ngân hàng ngày càng lành mạnh và hiệu quả Ngoài ra, nếu ngân hàng gặp phải những vấn đề liên quan đến rủi ro đạo đức dẫn tới phải đối mặt với rủi ro về thanh khoản thì việc ngân hàng đó đứng trước nguy cơ phá sản trong một môi trường đầy tính cạnh tranh là cần thiết để ngân hàng điều chỉnh hành vi và cách thức hoạt động phù hợp hơn
Caminal và Matutes (2002) cho rằng cạnh tranh là cần thiết để tăng cường ổn định hệ thống ngân hàng do khắc phục được những hạn chế của thị trường độc quyền
Hệ thống ngân hàng có mức độ tập trung thấp hạn chế nguy cơ khủng hoảng tài chính Thị trường độc quyền sẽ hình thành nên các ngân hàng quá lớn, và làm phát sinh vấn
đề quá lớn để sụp đổ và quá lớn để giám sát Lập luận quá lớn để sụp đổ cho rằng các ngân hàng quá lớn trở nên quá trọng yếu đối với nền kinh tế, và nếu sụp đổ sẽ tạo ra chi phí xã hội rất lớn, do đó chính phủ buộc phải cứu trợ khi các ngân hàng này có nguy cơ phá sản Các ngân hàng này sẵn sàng chấp nhận rủi ro quá mức khi biết rằng
sẽ được chính phủ cứu trợ nếu thất bại Điều này sẽ dẫn đến sự bất ổn của hệ thống ngân hàng
Trang 33Lập luận quá lớn để giám sát cho rằng các ngân hàng càng lớn thì càng khó giám sát Do biết rằng cơ quan giám sát có thể không phát hiện các hạn chế của mình nên các ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro cao, từ đó làm suy yếu tính ổn định của hệ thống ngân hàng Như vậy độc quyền có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, hay nói cách khác cạnh tranh sẽ giúp tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng
2.2.4 Phương pháp đo lường cạnh tranh trong thị trường ngân hàng thương mại
Mục này thảo luận các phương pháp đo lường cạnh tranh trong thị trường ngân hàng làm cơ sở cho việc lựa chọn phương pháp đo lường cạnh tranh để kiểm định giả thuyết liên quan đến RQ1
2.2.4.1 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận cấu trúc
Tiếp cận cấu trúc dựa trên mô hình Cấu trúc – Hành vi – Hiệu quả Conduct-Performance -SCP) Mô hình SCP do Mason (1939) và Bain (1956) phát triển Mô hình SCP phản ánh mối quan hệ nhân quả giữa cấu trúc thị trường hay mức
(Structure-độ tập trung thị trường, hành vi của các công ty (ngân hàng) tham gia thị trường (hành
vi đặt giá, nghiên cứu và phát triển, quảng cáo, sản xuất, lựa chọn công nghệ, chiến lược hoạt động…) và hiệu quả trong hoạt động của công ty biểu hiện bằng quyền lực thị trường Mô hình này cho rằng nếu quyền lực thị trường chỉ tập trung vào một vài công ty thì hiệu quả trong cấu trúc và hành vi của các công ty thấp, hay tập trung cao hơn dẫn đến cạnh tranh ít hơn, do đó, sức mạnh thị trường lớn hơn và khả năng sinh lời cao hơn
Mô hình SCP cho thấy tính cạnh tranh trong một ngành được suy ra từ đặc điểm cấu trúc thị trường Các đặc điểm cấu trúc thị trường bao gồm số lượng công ty, quy mô công ty trong thị trường, điều kiện thâm nhập và rút khỏi thị trường, tính khác biệt của các sản phẩm trên thị trường Các chỉ số thường được sử dụng để đo lường
Trang 34mức độ tập trung trong thị trường ngân hàng là tỷ lệ thị phần của k ngân hàng lớn nhất (CRk) và chỉ số Hirschman- Herfindahl Index (HHI)
Chỉ số CRk có giá trị càng cao cho thấy mức độ tập trung thị trường lớn, hay quyền lực thị trường tập trung vào k NHTM lớn nhất Thông thường thì chỉ số này được tính dựa trên số lượng từ 3 ngân hàng trở lên tuỳ thuộc vào quy mô thị trường Chỉ số tập trung có giá trị từ 0% đến 100% Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân loại thị trường thành cạnh tranh hoàn hảo với tỷ lệ tập trung rất nhỏ, cạnh tranh một cách tương đối với CRk < 65%, mức độ tập trung trung bình, độc quyền nhóm hoặc có vị trí thống lĩnh thị trường với CRk > 65%, mức độ tập trung cao, độc quyền với CRk xấp xỉ 100%
Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) được tính bằng tổng bình phương của thị phần của tất cả các ngân hàng trong một thị trường nhất định Chỉ số HHI của một thị trường càng nhỏ thì mức độ cạnh tranh của thị trường đó càng lớn Ngược lại, HHI càng lớn thì độ tập trung thị trường càng cao Thông qua chỉ số HHI, mức độ cạnh tranh thị trường được phân thành cạnh tranh hoàn hảo với HHI < 0,01, cạnh tranh cao với HHI nằm trong đoạn từ 0,01 đến 0,1, cạnh tranh trung bình với HHI nằm trong đoạn từ 0,1 đến 0,018, và thị trường có có xu hướng độc quyền với mức
độ tập trung cao với HHI lớn hơn 0,18
Ưu điểm của cách tiếp cận cấu trúc là việc xác định các chỉ số tập trung thị trường yêu cầu dữ liệu đơn giản, dễ thực hiện
Hạn chế của cách tiếp cận cấu trúc là việc đo lường mức độ cạnh tranh trong thị trường được thực hiện gián tiếp thông qua các chỉ số phản ánh mức độ tập trung thị trường theo các giả định của mô hình SCP Mô hình SCP giả định rằng mức độ tập trung cao sẽ làm tăng cơ hội liên kết giữa các công ty, từ đó đẩy giá lên cao và công ty sẽ thu được lợi nhuận độc quyền Tuy nhiên, lý thuyết thị trường cạnh tranh (Baumol, 1982) cho rằng trong một thị trường tập trung cao vẫn có thể xảy ra tình trạng cạnh tranh nếu như các rào cản về gia nhập và rời khỏi ngành thấp Các mối đe dọa từ việc gia nhập ngành của các công ty mới buộc các công ty trong ngành phải
Trang 35cạnh tranh với nhau, do đó, sẽ không có sự liên kết giữa các công ty để hình thành thị trường độc quyền
Kết quả của một số nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy hạn chế của cách tiếp cận cấu trúc Nghiên cứu của Jackson (1992) và Anzoategui và cộng sự (2010) cho rằng mối quan hệ giữa tập trung và hiệu quả không phải lúc nào cũng tích cực Một số nghiên cứu khác cho thấy mức độ tập trung không thực sự phản ánh mức độ cạnh tranh của thị trường (Cetorelli, 1999; Fernández de Guevara, 2005) Như vậy, cách tiếp cận cấu trúc có nhiều hạn chế về nền tảng lý thuyết và những hạn chế này
đã được chứng minh bằng một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm Cách tiếp cận phi cấu trúc được phát triển để khắc phục những hạn chế của cách tiếp cận cấu trúc và được trình bày ở phần tiếp theo
2.2.4.2 Phương pháp đo lường cạnh tranh theo cách tiếp cận phi cấu trúc
Phương pháp tiếp cận phi cấu trúc đo lường mức độ cạnh tranh của thị trường một cách trực tiếp từ dữ liệu của từng công ty tham gia thị trường, và ước lượng bằng
mô hình hồi quy mà không cần xem xét cấu trúc thị trường Cách tiếp cận phi cấu trúc được chia thành 2 phương pháp chính là phương pháp tĩnh và phương pháp động
Phương pháp tĩnh
Phương pháp tĩnh dựa trên lý thuyết cho rằng trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, các công ty sản xuất ở điểm mà giá bán bằng chi phí biên và bằng doanh thu biên Cạnh tranh hoàn hảo đạt được cả hiệu quả phân bổ và hiệu quả sản xuất Trong
đó, hiệu quả phân bổ đạt được khi giá của một sản phẩm mà thị trường cung cấp bằng với chi phí cận biên, và hiệu quả sản xuất xảy ra khi các đơn vị hàng hóa đang được cung cấp với tổng chi phí sản xuất trung bình thấp nhất
Cạnh tranh độc quyền không tạo ra hiệu quả sản xuất, nghĩa là công ty không sản xuất ở mức chi phí trung bình tối thiểu, còn thị trường độc quyền tạo ra tổn thất
vô ích, do đó, kém hiệu quả hơn môi trường cạnh tranh Vì vậy, cạnh tranh hoàn hảo
là hiệu quả nhất, độc quyền kém hiệu quả nhất, còn độc quyền nhóm và cạnh tranh độc quyền nằm giữa hiệu quả nhất và kém hiệu quả nhất
Trang 36Các phương pháp đo lường cạnh tranh trong thị trường ngân hàng theo phương pháp tĩnh bao gồm chỉ số Lerner, mô hình biến phỏng đoán và mô hình Panzar – Rosse
Chỉ số Lerner
Chỉ số Lerner được phát triển từ nghiên cứu của Lerner (1934) là chỉ số đo lường sức mạnh thị trường Sức mạnh thị trường của một ngân hàng được xác định bằng chênh lệch giữa giá đầu ra và chi phí biên Nếu thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì giá đầu ra bằng với chi phí biên Trong điều kiện thị trường ít cạnh tranh thì giá đầu ra sẽ cao hơn chi phí biên, và chênh lệch giữa giá và chi phí biên sẽ lớn hơn trong trường hợp độc quyền
Chỉ số Lerner là chỉ số đo lường tốt về sức mạnh thị trường cho từng ngân hàng qua từng năm, từ đó có thể đánh giá sự thay đổi sức mạnh thị trường của từng ngân hàng theo thời gian, cũng như so sánh sức mạnh thị trường giữa các ngân hàng với nhau
Ưu điểm của chỉ số Lerner là đơn giản, không yêu cầu dữ liệu phức tạp, cho phép xác định sức mạnh thị trường của từng ngân hàng qua từng năm, qua đó có thể nghiên cứu hành vi định giá của mỗi ngân hàng theo thời gian Ngoài ra, chỉ số Lerner không yêu cầu số lượng quan sát lớn
Nhược điểm của chỉ số Lerner là chỉ số đo lường sức mạnh thị trường, không phải là chỉ số đo lường mức độ cạnh tranh Trong nhiều trường hợp sức mạnh thị trường tăng lên, nhưng cạnh tranh khốc liệt hơn Nghiên cứu thực nghiệm của Bulow
và Klemperer (2002) cho thấy chênh lệch giữa giá bán và chi phí biên tăng lên cùng với việc gia tăng mức độ cạnh tranh trong thị trường
Nghiên cứu của Boone (2008) và Boone và cộng sự (2013) chỉ ra rằng mặc dù chỉ số Lerner của từng đơn vị giảm cùng với cạnh tranh, nhưng sức mạnh trung bình của thị trường có thể tăng, giảm, hoặc không đổi do hiệu ứng tái phân bổ từ đơn vị hiệu quả sang đơn vị kém hiệu quả Những đơn vị hiệu quả có chênh lệch giữa giá bán và chi phí biên cao hơn các đơn vị khác Do đó, chỉ số Lerner trung bình có thể
Trang 37tăng nếu mức tăng trong thị phần của các đơn vị hiệu quả vượt quá mức giảm trong chỉ số Lerner của các đơn vị kém hiệu quả
Ngoài ra, chỉ số Lerner không phân biệt được các thị trường có chênh lệch giữa giá và chi phí biên cao là do cầu co giãn hay do thị trường ít cạnh tranh
Mô hình biến phỏng đoán
Mô hình biến phỏng đoán do Iwata (1974), Bresnahan (1982) và Lau (1982) phát triển để kiểm soát sự thay đổi của chỉ số Lerner do cầu thay đổi Mô hình này đo lường mức độ cạnh tranh thị trường ngân hàng dựa trên cấu trúc thị trường độc quyền nhóm với giả định các ngân hàng đều cung cấp các sản phẩm đồng nhất, và một ngân hàng biết được hành động của đối thủ nhằm phản ứng lại với những thay đổi giá và đầu ra của mình
Ưu điểm của mô hình biến phỏng đoán là ước tính trực tiếp hành vi của từng ngân hàng trong tất cả các cấu trúc cạnh tranh chính: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền, độc quyền và độc quyền nhóm
Hạn chế của mô hình biến phỏng đoán là rất khó ước lượng hàm cung cầu trong thị trường ngân hàng
Mô hình Panzar – Rosse
Panzar và Rosse (1987) giới thiệu một kiểm định thực nghiệm để xác định cấu trúc cạnh tranh thị trường là độc quyền, cạnh tranh độc quyền hay cạnh tranh hoàn hảo Việc kiểm định dựa trên phương pháp so sánh tĩnh từ phương trình doanh thu rút gọn, sau đó, tính tổng độ co giãn của đầu ra theo giá các yếu tố đầu vào để xác định mức độ cạnh tranh của thị trường ngân hàng Mô hình Panzar – Rosse dựa trên giả định là các công ty (ngân hàng) trong mẫu nghiên cứu đều tối đa hóa lợi nhuận, thị trường đạt cân bằng dài hạn
Để xác định cấu trúc cạnh tranh thị trường, Panzar và Rosse (1987) căn cứ vào giá trị chỉ số H-Statistic bằng tổng độ co giãn của doanh thu theo sự thay đổi của giá các yếu tố đầu vào từ phương trình doanh thu rút gọn trong 3 trạng thái cạnh tranh
Trang 38của thị trường là độc quyền, cạnh tranh độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo Giá trị hệ
số H-Statistic được xác định như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp độc quyền, mô hình Panzar – Rosse giả định thị
trường có một ngân hàng độc quyền với y là véc tơ của các biến đầu ra ảnh hưởng đến doanh thu của ngân hàng, và z là véc tơ gồm q biến ngoại sinh ảnh hưởng đến
đường cong hàm doanh thu, như vậy, hàm doanh thu của ngân hàng có thể được mô
Trong đó, w là véc tơ giá các yếu tố đầu vào của ngân hàng và t là véc tơ các
biến ảnh hưởng đến hàm chi phí của ngân hàng Lợi nhuận của ngân hàng được xác định như sau:
Gọi y1 là đối số của hàm lợi nhuận trong trường hợp y đạt cực đại khi cộng
thêm một đại lượng vô hướng ℎ ≥ 0 vào véc tơ giá các yếu tố đầu vào:
𝑦1 = 𝑎𝑟𝑔𝑚𝑎𝑥𝑦𝜋(𝑦, 𝑧, (1 + ℎ)𝑤, 𝑡) Gọi 𝑅0 = 𝑅(𝑦0, 𝑧) ≡ 𝑅∗(𝑧, 𝑤, 𝑡) và 𝑅1 = 𝑅(𝑦1, 𝑧) ≡ 𝑅∗[𝑧, (1 + ℎ)𝑤, 𝑡],
trong đó R * là hàm doanh thu rút gọn của ngân hàng Thay giá trị R0 và R1 vào công thức (2.3) và giữ giá các yếu tố tương ứng với R1, kết quả:
và
Trang 39Công thức (2.8) cho thấy khi chi phí tăng sẽ dẫn đến doanh thu giảm Giả sử
hàm doanh thu rút gọn là khả vi, lấy giới hạn của h và chia cho R * cho kết quả:
*
* 1
Thứ hai, trong trường hợp cạnh tranh độc quyền hay cạnh tranh không hoàn
hảo với cấu trúc thị trường có nhiều ngân hàng và sản phẩm của các ngân hàng có thể phân biệt được Mô hình Panzar - Rosse giả định rằng các ngân hàng hoạt động trong thị trường cân bằng dài hạn và mỗi ngân hàng tự quyết định khối lượng và giá cả sản phẩm dịch vụ cung cấp để tối đa hóa lợi nhuận Do đó, việc phân tích dựa trên cách thức hoạt động của từng ngân hàng trong trạng thái cân bằng dài hạn, khi giá cả và
số lượng ngân hàng hoạt động trên thị trường đã được điều chỉnh cân bằng
Trang 40Sử dụng phương pháp so sánh tĩnh và định nghĩa hàm doanh thu R(y,n,z) =
yP(y,n,z), trong đó n là số lượng ngân hàng trên thị trường Trường hợp cạnh tranh
độc quyền được định nghĩa bằng công thức (2.10) và công thức (2.11) mô tả trạng thái cân bằng dài hạn
Công thức (2.13) biểu diễn độ co giãn của doanh thu theo giá các yếu tố đầu
vào Lấy tổng đạo hàm công thức (2.10) và công thức (2.11) theo y * , n * và wi cho kết
i i
yw
w i