Câu 1: Triết học là gì? Các vấn đề cơ bản của triết học, các trường phái triết học?Phân tích những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật? Vì sao phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học của nhận thức và thực tiễn . Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề nghiên cứu. Phân tích nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho ví dụ và rút ra ý nghĩa phương pháp luận
Trang 1ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC Câu 1: Triết học là gì? Các vấn đề cơ bản của triết học, các trường phái triết học? Triết học là gì
Trong lịch sử phát triển của nhân loại đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng chung quy lại đều bao hàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Theo nghĩa gốc Hán, triết là trí, bao gồm cả sự hiểu biết, nhận thức sâu rộng, đạo lý Theo nghĩa gốc Hy Lạp, triết có nghĩa là yêu mến sự thông thái
Từ thế kỷ VI tcn cho đến giữa đầu thế kỷ XVIII loài người đã quan niệm triết học là khoa học của mọi khoa học, là khoa học đứng trên mọi khoa học Bởi thế, bất cứ ai thông thạo bất cứ môn khoa học nào cũng được gọi là nhà hiền triết hoặc nhà thông thái Người ta đã xem đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và đặc điểm của triết học là bao gồm mọi đối tượng, phương pháp và đặc điểm của mọi khoa học cụ thể
- Giữa thế kỷ XIX, người đầu tiên tách triết học ra khỏi các khoa học cụ thể khá thành công nhưng trên lập trường duy tâm khách quan là G.V.F Hêghen Người hoàn thành sự nghiệp đó là C.Mác và Ph.Ăng ghen
Khái quát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
– Triết học là một trong những hình thái ý thức xã hội, xét cho cùng, đều bị các quan hệ kinh tế của xã hội quy định Dù ở xã hội nào, triết học bao giờ cùng gồm hai yếu tốt: + Yếu tố nhận thức – sự hiểu biết về thế giới xung quanh, trong đó có con người;
+ Yếu tố nhận định – đánh giá về mặt đạo lý
– Triết học đã ra đời trong xã hội chiếm hữu nô lệ (ở phương Tây) và trong thời kỳ chuyển từ xã hội chiếm hữu nô lệ sang xã hội phong kiến (phương Đông), gắn liền với sự phân công lao động xã hội – tách lao động trí óc ra khỏi lao động chân tay (sau lần phân công lao động thứ 2)
– Phù hợp với trình độ phát triển thấp ở các giai đoạn đầu tiên của lịch sử loài người, triết học ra đời với tính cách là một khoa học tổng hợp các tri thức của con người về hiện thực
Trang 2xung quanh và bản thân mình Sau đó, do sự phát triển của thực tiễn xã hội và của quá trình tích luỹ tri thức, đã diễn ra quá trình tách các khoa học ra khỏi triết học thành các khoa học độc lập Triết học với tính cách là khoa học, nên nó có đối tượng và nhiệm vụ nhận thức riêng của mình, nó là hệ thống những quan niệm, quan điểm có tính chất chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật vất và tinh thần và mối liên hệ giữa chúng, về nhận thức và cải biến thế giới
Vấn đề cơ bản của triết học
– Theo Ăng-ghen, “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy với tồn tại” Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết
học là cơ sở và điểm xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của triết học
– Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
+ Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? Nói cách khác, giữa vật chất và ý thức cái nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai (bản thể luận) Vấn đề nàu có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến hình thành hai khuynh hướng triết học đối lập nhau:
Những quan điểm triết học cho rằng vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai hợp thành chủ nghĩa duy vật Trong lịch sử tư tưởng triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ cổ đại; Chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình thế kỷ XVII – XVIII; Chủ nghĩa duy vật biện chứng hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật chất phác: là kết quả nhận thức của các nhà triết học duy vật thời cổ đại, trong giai đoạn này họ lý giải sự hình thành của thế giới từ một hoặc một số dạng vật chất cụ thể, cảm tính, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của thế giới, những lý giải đó mang tính trực quan
Chủ nghĩa duy vật siêu hình: ( từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX ) chủ nghĩa duy vật giai đoạn này chịu sự tác động mạnh mẽ của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc của cơ học cổ điển Do đó, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình, thế giới giống như một cổ máy cơ giới khổng lồ mà mỗi bộ phận tạo nên nó luôn ở trạng thái biệt lập, tĩnh tại; nếu có biến đổi thì đó là sự tăng, giảm đơn thuần về số lượng và do những nguyên nhân bên ngoài gây nên
Chủ nghĩa duy vật biện chứng: Do C.Mác và Ph Ăngghen sáng lập từ những năm 40 của thế kỷ XIX, sau đó được Lênin và những người kế tục ông bảo vệ và phát triển Chủ nghĩa duy vật biện chứng ngay từ khi mới ra đời đã khắc phục được hạn chế của chủ
Trang 3nghĩa duy vật chất phác thời cổ đại và chủ nghĩa duy vật siêu hình thời cận đại, đạt tới trình độ là hình thức phát triển cao nhất của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối quan hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Chủ nghĩa duy vật và sự tồn tại, phát triển của nó có nguồn gốc từ sự phát triển của khoa học và thực tiễn, đồng thời thường gắn với lợi ích của giai cấp và lực lượng tiến bộ trong lịch sử
Ngược lại, những quan điểm triết học cho ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai, hợp thành chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy tâm lại được thể hiện qua hai trào lưu chính: Chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người và học cho
rằng sự vật hiện tượng là "phức hợp những cảm giác cá nhân" Họ phủ nhận sự tồn tại
của thế giới khách quan
Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận tính thứ nhất của tinh thần con người nhưng
ý thức tinh thần ấy được quan niệm là "tinh thần khách quan", "ý niệm khách quan" có trước và độc lập với thế giới và con người thực thể ấy có tên gọi là "ý niệm tuyệt đối",
"tinh thần tuyệt đối" hay "lý tính của thế giới" đại biểu tiêu biểu nhất của trường phái này
là Hêghen…)
Nguồn gốc của chủ nghĩa duy tâm có 2 nguồn gốc
+ Về nhận thức: CNDT bắt nguồn từ sự xem xét phiến diện tuyệt đối hóa, thần thánh hóa, một mặt, một đặc tính nào đó của quá trình nhận thức
+ Về nguồn gốc xã hội: CNDT gắn liền với nguồn gốc, giai cấp, tầng lớp áp bức, bóc lột nhân dân lao động mặt khác CNDT và tôn giáo cũng có mối liên hệ mật thiết với nhau lương tựa vào nhau để tồn tại
Mặt thứ hai trả lời cho câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? (Ý thức có thể phản ánh được vật chất hay không, tư duy có thể phản ánh được tồn tại hay không?) Mặt này còn được gọi là mặt nhận thức
Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới Song, do mặt thứ nhất quy định, nên sự nhận thức đó là sự phản ánh thế giới vật chất vào óc con người
Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới, nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy
Trang 4Mặt thứ hai giải quyết về vấn đề nhận thức luận: tất cả các nhà triết học đều phải trả lời câu hỏi: “Con người có khả năng nhận thức thế giới không?” Tùy theo câu trả lời của các nhà triết học mà các triết thuyết đã chia thành hai phái:
Khả tri (luận) gồm các nhà triết học trả lời con người có khả năng nhận thức thế giới Họ bao gồm tất cả các nhà triết học duy vật, hầu hết các nhà triết học duy tâm chủ quan và một số nhà triết học duy tâm khách quan
Bất khả tri (luận) gồm các nhà triết học trả lời con người không có khả năng nhận thức thế giới Họ bao gồm hầu hết các nhà triết học duy tâm khách quan và một số nhà triết học duy tâm chủ quan Họ bao gồm những nhà triết học hoài nghi (luận)
Trên cơ sở giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, lịch sử triết học chỉ ra Triết học có hai nguồn gốc: Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy vật là mối liên hệ của nó với các thành tựu của các khoa học cụ thể Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lượng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử Nguồn gốc nhận thức của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với các đấng siêu nhiên, hoặc tuyệt đối hóa một hay một số yếu tố nào đó của ý thức Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm thông thường là mối liên hệ của nó với các lực lượng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ, giai cấp thống trị đang trên đà tan rã trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử
Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can-tơ lại phủ nhận khả năng nhận thức thế giới của con người Đây là những người theo “Bất khả tri luận” (Thuyết không thể biết) Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò của nhận thức khoa học trong đời sống
xã hội
Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chủ được thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong các quan niệm chính trị – xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán hoặc là không nhất quán Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng trong triết học
Hai mặt vấn đề cơ bản của triết học này tác động qua lại lẫn nhau
Tại sao các mối quan hệ giữa VC và YT lại trở thành vấn đề cơ bản của triết học? Bởi vì đây là vấn đề xuyên suốt lịch sử của triết học từ trước đến nay mà bất cứ trường
phái, học thuyết triết học nào cũng phải đề cập giải quyết nó Việc giải quyết mối quan hệ giữa VC và YT sẽ đặt nền móng cho việc giải quyết các vấn đề căn bản khác trong triết học Từ việc giải quyết mối quan hệ này mà lịch sử triết học nhân loại phân chia thành 2
Trang 5trường phái đối lập nhau là Duy vật và Duy tâm
Chính vì vậy C.Mác – Ănghen đã khẳng định: "Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại "
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
Câu 1: Phân tích những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật? Vì sao phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học của nhận thức và thực tiễn Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề nghiên cứu
Phép biện chứng duy vật là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển
Phép biện chứng ra đời từ thời cổ đại Trong lịch sử triết học đã có ba hình thức cơ bản
về phép biện chứng: Phép biện chứng ngây thơ, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật
Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ gữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng, bao hàm nội dung hết sức phong phú bởi đối tượng phản ánh của
nó là thế giới vật chất vô cùng vô tận Trong đó nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển có ý nghĩa khái quát nhất Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăngghen còn đưa ra một định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật: “phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen, V.I.Lênin cho rằng, trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng
- Đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật (Vì sao phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học của nhận thức và thực tiễn)
Xét từ góc độ kết cấu nội dung, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin có hai đặc trưng cơ bản sau:
Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học Với đặc trưng này phép biện chứng
Trang 6của chủ nghĩa Mác - Lênin chẳng những có sự khác biệt căn bản với phép biện chứng duy tâm của G.Hêghen mà còn có sự khác biệt về trình độ so với phép biện chứng duy vật cổ đại
Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin có sự thống nhất giữa nội dung của thế giới quan (duy vật biện chứng) với phương pháp luận (biện chứng duy vật) do đó, nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Mỗi nguyên lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới
mà còn là phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới
Với những đặc trưng cơ bản trên mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò là nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tạo nên tính khoa học và tính cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời
nó cũng là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học
Nguyên lý có ý nghĩa như các tiên đề trong các khoa học cụ thể Nó là cái không phải chứng minh mà phải chấp nhận và tuân thủ nghiêm nghặt nó Nếu không tuân thủ sẽ dẫn đến sai lầm cả trong nhận thức lẫn hành động
Nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Tất cả mọi sự vật hiện tượng cũng như thế giới, bao giờ cũng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến quy định ràng buộc lẫn nhau, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại cô lập, riêng lẻ, không liên hệ
Phân tích nội dung của nguyên lý
Quan niệm của các nhà triết học duy tâm nếu có thừa nhận có mối liên hệ, thì mối liên hệ
đó do các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định
Quan niệm của các nhà triết học duy vật siêu hình coi sự vật, hiện tượng tồn tại tách rời nhau, nếu có mối liên hệ thì là những mối liên hệ ngẫu nhiên, hoặc không xét hết các khía cạnh của mối liên hệ
Phép biện chứng duy vật quan niệm các sự vật hiện tượng trong thế giới dù muôn hình muôn vẻ nhưng không tồn tại cô lập tách biệt mà chúng là một thể thống nhất, tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hóa lẫn nhau
Mối liên hệ này diễn ra trên mọi lĩnh vực, trên mọi quan hệ giữa các yếu tố, các thuộc tính, các quá trình làm nên bản thân sự vật hiện tượng và giữa các sự vật hiện tượng
Trang 7với nhau Mối liên hệ này là khách quan, nó bắt nguồn từ tính thống nhất của thế giới Thế giới là phong phú, đa dạng và nhiều vẻ, vì thế mọi sự phân loại mối liên hệ đều chỉ
có ý nghĩa tương đối, vì một mối liên hệ nào đó cụ thể thì chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung Tuy nhiên, sự phân loại mối liên
hệ là cần thiết trong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng không giống nhau Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến”
Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức cũng như trong hành động thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vật hiện tượng và thế giới, nhất là các vấn đề thuộc lĩnh vực xã hội Khi số mối liên hệ được xét đến càng nhiều thì kết luận về sự vật hiện tượng càng chính xác
Nội dung của nguyên lý về sự phát triển
Tất cả mọi sự vật, hiện tượng cũng như thế giới trong quá trình vận động của mình, dù có chấp nhận những bước lùi nhưng cuối cùng vẫn đạt được sự phát triển Không có sự vật hiện tượng nào là không phát triển
Phân tích nội dung nguyên lý
Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liền với nguyên lý
về sự phát triển Hai nguyên lý này thống nhất với nhau bởi liên hệ là vận động, không vận động không có sự phát triển nào cả
Khái niệm vận động là chỉ mọi biến đổi nói chung Khái niệm phát triển là chỉ những vận động đi lên, cái mới ra đời cao hơn, tiến bộ hơn cái cũ Sự phát triển diễn ra theo nhiều chiều hướng, đi từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện
Sự phát triển và đổi mới là hiện tượng khách quan diễn ra không ngừng trong vũ trụ Nó diễn ra trên mọi lĩnh vực và trên mọi mối liên hệ Nguồn gốc của phát triển là sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân sự vật hiện tượng Sự phát triển không phải bao giờ cũng diễn ra thẳng tắp, xét từng sự vật hiện tượng cụ thể, riêng lẻ thì có những vận động tuần hoàn, đi lên hoặc đi xuống, nhưng xét trong quá trình dài và phạm vi rộng thì vận động đi lên là khuynh hướng thống trị
Quan điểm biện chứng xem xét thế giới như là một quá trình tiến lên thông qua những bước nhảy vọt, cái cũ mất đi cái mới ra đời, sự đấu tranh của các mặt đối lập ngay trong
Trang 8bản thân sự vật hiện tượng là nguồn gốc của sự phát triển Lênin nói: “Lôgích biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự vận động, trong sự biến đổi của nó”
Đối lập với phép biện chứng, quan điểm duy tâm nếu thừa nhận có sự phát triển thì sự phát triển đó bị lệ thuộc bởi các đấng siêu nhiên hoặc do ý thức quyết định Các quan điểm siêu hình lại hoặc phủ nhận phát triển tuyệt đối hóa tính ổn định của sự vật hiện tượng, hoặc xem sự phát triển chỉ là sự tăng, giảm đơn thuần về lượng, hoặc sự lặp đi lặp lại đơn thuần về chất
Ý nghĩa phương pháp luận
Nắm vững nguyên lý về sự phát triển cần có quan điểm phát triển khi xem xét đánh giá
sự vật hiện tượng, phải ủng hộ cái mới, khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, nhìn nhận sự vật hiện tượng một cách trực quan tĩnh tại
Nắm vững hai nguyên lý đòi hỏi phải có quan điểm toàn diện khi xem xét đánh giá sự vật hiện tượng, đồng thời với việc đặt sự vật trong nhiều mối liên hệ thì cũng phải có quan điểm lịch sử cụ thể, quan điểm phát triển trong đánh giá xem xét
Câu 2: Phân tích nội dung nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho ví dụ và rút ra ý nghĩa phương pháp luận
Khái niệm mối liên hệ và mối liên hệ phổ biến: Trong phép biện chứng, khái niệm mối
liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới Thí dụ: Mối liên hệ giữa điện tích dương và điện tích âm trong một nguyên tử; mối liên hệ giữa các nguyên tử, giữa các phân tử, giữa các vật thể; mối liên hệ giữa vô cơ với hữu cơ; giữa sinh vật với môi trường; giữa xã hội với tự nhiên; giữa cá nhân với cá nhân; giữa cá nhân với tập thể, cộng đồng; giữa các quốc gia, dân tộc; giữa các mặt, các bộ phận của đời sống xã hội; giữa tư duy với tồn tại; giữa các hình thức, giai đoạn nhận thức; giữa các hình thái ý thức xã hội…
Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới
Trong mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, những mối liên hệ phổ biến nhất là mối liên
hệ giữa các mặt đối lập, mối liên hệ giữa lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng… Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi
Trang 9nhất định hoặc mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định
Những tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ
Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Sự quy định lẫn nhau, tác động và chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc trong bản thân chúng là cái vốn có của nó, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí con người; con người chỉ có khả năng nhận thức được những mối liên hệ
đó Vì mối liên hệ là vốn có của sự vật, hiện tượng Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác (như ánh sáng, nhiệt độ,
độ ẩm, áp suất không khí , đôi khi cũng chịu sự tác động của con người) Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên dù muốn hay không cũng luôn luôn bị tác động của các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân Ngoài sự tác động của tự nhiên, con người còn tiếp nhận sự tác động của xã hôị và của những người khác Chính con người và chỉ có con người mới tiếp nhận vô vàn các mối mối liên
hệ Do vậy, con người phải hiểu biết các mối quan hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình, giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và bản thân con người Chỉ có liên hệ với nhau sự vật hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển Ví dụ : con vật thì có mối liên hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi : con hổ với con nai…, nếu không có mối liên như vậy thì con vật không thể tồn tại Còn con người thì có các quan hệ xã hội giữa người này với người khác có như vậy con người mới tồn tại, vận động và phát triển
Tính phổ biến của mối liên hệ
Phép biện chứng duy vật khẳng định: Không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại một cách riêng lẻ, cô lập tuyệt đối với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác mà trái lại chúng tồn tại trong sự liên hệ, ràng buộc, phụ thuộc, tác động, chuyển hóa lẫn nhau Không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm các yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất
cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống mở tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Ph.Ăngghen chỉ rõ, tất cả thế giới tự nhiên mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một
hệ thống, một tập hợp các vật thể khăng khít với nhau Việc các vật thể ấy đều có liên
hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau, và sự tác động qua
Trang 10lại ấy chính là sự vận động” Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ.Xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhât Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn trong trong tư duy, các sự vật hiện tượng cũng liện hệ tác động qua lai lẫn nhau Không thể tìm bất cứ ở đâu, khi nào các sự vật, hiện tượng lại tồn tại một cách cô lập tách rời Ví dụ : Trong tự nhiên cây xanh có mối liên hệ với môi trường ( không khí, nhiệt độ…), còn có mối liên hệ với con người ( con người chăm sóc cây xanh, chặt phá rừng…) Trong xã hội, không có người nào mà không có các mối quan hệ xã hội như: quan hệ hàng xóm, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…, các hình thái kinh tế-xã hội cũng có mối liên hệ với nhau, hình thái kinh tế -xã hội sau ra đời từ hình thái kinh tế-xã hội trước(công xã nguyên thủy-chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa) Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các
sự suy đoán, các tâm tư, tình cảm, các cách suy nghĩ khác nhau ví dụ như : nhìn vào một
cô gái ta có các suy đoán cô ấy là người giàu có, cô ấy không được tốt, cô ấy rất khó tính… Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, không có liên
hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế, hiện nay, trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh và hoà bình.v.v
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định mối liên hệ còn có tính phong phú, đa dạng Tính chất này được biểu hiện ở chỗ:
- Các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó
- Cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có tính chất và vai trò khác nhau Do đó, không thể đồng nhất tính chất, vị trí vai trò
cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với mỗi sự vật nhất định Căn cứ vào tính chất, đặc trưng của từng mối liên hệ, có thể phân loại thành các mối liên hệ sau:
- Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài
- Mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp
- Mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu
Trang 11- Mối liên hệ cơ bản và mối liên hệ không cơ bản
- Mối liên hệ cụ thể, mối liên hệ chung, mối liên hệ phổ biến
Ý nghĩa phương pháp luận:
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể
Vì các mối liên hệ là sự tác động qua lại, chuyển hoá, quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và các mối liên hệ mang tính khách quan, mang tính phổ biến nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiến con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, phải tránh cách xem xét phiến diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy
đủ, nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả các mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc”
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, và lưu ý đến sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời, chúng ta phải biết sử dụng đồng
bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Để thực hiện mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", một mặt, chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác, phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại
- Vì các mối liên hệ có tính da dạng, phong phú - sự vật, hiện tượng khác nhau, không gian, thời gian khác nhau các mối liên hệ biểu hiện khác nhau nên trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể Quan
Trang 12điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu việc nhận thức các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần xét đến tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tác động; xác định rõ vị trí vai trò khác nhau của mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để đưa ra các biện pháp đúng đắn phù hợp với đặc điểm cụ thể của đối tượng cần tác động nhằm tránh quan điểm phiến diện, siêu hình, máy móc
Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển Thực tế cho thấy rằng, một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này, nhưng sẽ không là luận điểm khoa học trong điều kiện khác Vì vậy để xác định đúng đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kỳ xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời kỳ đó
và trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể
Câu 4: Phân tích nguyên lý về sự phát triển Rút ra ý nghĩa phương pháp luận
Khái niệm “phát triển”: Phép biện chứng duy vật cho rằng: Phát triển là sự vận động
theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng, giảm thuần túy về lượng, không có
sự thay đổi về chất của sự vật, đồng thời phát triển là quá trình tiến lên liên tục, không trải qua những bước quanh co phức tạp
Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ
sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Những tính chất cơ bản của sự phát triển
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát
triển Đó là quá trình bắt nguồn từ bản thân sự vật, hiện tượng; là quá trình giải quyết mâu thuẫn trong sự vật, hiện tượng đó Vì vậy, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn con người Ví dụ, quá trình phát sinh một giống loài mới hoàn toàn diễn ra một cách khách quan theo quy luật tiến hoá của giới tự nhiên Con
Trang 13người muốn sáng tạo một giống loài mới thì cũng phải nhận thức và làm theo quy luật đó
Tính phổ biến của sự phát triển được thể hiện ở các quá trình phát triển diễn ra trong
mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy; trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng và mọi quá trình; trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng Ví dụ, trong giới tự nhiên: đó
là sự phát triển từ thế giới vật chất vô cơ đến hữu cơ; từ vật chât chưa có năng lực sự sống đến sự phát sinh các cơ thể sống và tiến hoá dần lên các cơ thể có cơ cấu sự sống phức tạp hơn - sự tiến hoá của các giống loài làm phát sinh các giống loài thực vật và động vật mới đến mức có thể làm phát sinh loài người với các hình thức tổ chức xã hội từ đơn giản đến trình độ tổ chức cao hơn; cùng với quá trình đó cũng là quá trình không ngừng phát triển nhận thức của con người từ thấp đến cao
Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển được thể hiện ở chỗ: phát triển là khuynh
hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng song trong mỗi sự vật, hiện tượng có quá trình phát triển không giống nhau Sự vật, hiện tượng tồn tại trong thời gian, không gian khác nhau có sự phát triển khác nhau Trong quá trình phát triển, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, các hiện tượng hay quá trình khác, của nhiều yếu tố và điều kiện lịch sử
cụ thể, sự thay đổi của các yếu tố tác động đó có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật Ví dụ, không thể đồng nhất tính chất, phương thức phát triển của giới tự nhiên với sự phát triển của xã hội loài người Sự phát triển của giới tự nhiên thuần tuý tuân theo tính tự phát, còn sự phát triển của xã hội loài người lại có thể diễn ra một cách tự giác do
có sự tham gia của nhân tố ý thức
Ý nghĩa phương pháp luận
Nguyên lý về sự phát triển là cơ sở lý luận khoa học để định hướng việc nhận thức và cải tạo thế giới Trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải:
Xem xét sự vật và hiện tượng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó”
Luôn đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên Phát triển là quá trình biện chứng, bao hàm tính thuận, nghịch, đầy mâu thuẫn vì vậy, phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển
Xem xét sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển cần phải đặt quá trình đó trong nhiều giai đoạn khác nhau, trong mối liên hệ biện chứng giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trên cơ sở khuynh hướng phát triển đi lên đồng thời phải phát huy nhân tố chủ quan của con người để thúc đẩy quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng theo đúng quy luật Phải khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến, đối lập với sự phát triển
Trang 14Câu 7: Phân tích cặp phạm trù nội dungvà hình thức Rút ra ý nghĩa phương pháp luận
Nội dung là phạm trù triết học dùng để chỉ toàn bộ tất cả những mặt, những yếu tố và những quá trình do sự tác động lẫn nhau giữa chúng gây nên trong các sự vật, hiện tượng Hình thức là phạm trù triết học dùng để chỉ phương thức tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng, là cách thức tổ chức, là kết cấu của nội dung
Ví dụ: Con ngưòi xét về nội dung là toàn bộ những mặt, những quá trình diễn ra trong nó như đồng hóa, dị hóa, hoạt động của hệ cơ, hệ thần kinh Xét về hình thức là kết cấu của
cơ thể, cách thức tổ chức sắp xếp các bộ phận trong cơ thể Hoặc một cuốn sách thì xét về nội dung là cuốn sách đó nói lên điều gì, nêu lên những tư tưởng, những vấn đề nào của cuộc sống Xét về hình thức là bố cục của tác phẩm, các hình tượng nghệ thuật, ngôn ngữ, phong cách và bút pháp mà tác phẩm đã sử dụng để diễn đạt nội dung
Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có hình thức bề ngoài của nó, nhưng hình thức mà phép duy vật biện chứng nói đến trong cặp phạm trù này chủ yếu không là cái hình thức bên ngoài ấy, mà là cái hình thức bên trong của sự vật, hiện tượng, tức là cơ cấu bên trong của nội dung
Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức
Nội dung và hình thức bao giờ cũng là một thể thống nhất gắn bó nhau Không một hình thức nào không chứa đựng một nội dung nhất định Không có một nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định Khi khẳng định như vậy không có nghĩa là nội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện trong một hình thức nhất định và một hình thức bao giờ cũng chỉ biểu hiện một nội dung nhất định Trong thực tế một nội dung có thể tồn tại trong nhiều hình thức, ngược lại một hình thức có thể chứa đựng nhiều nội dung
Nội dung giữ vai trò quyết định đối với hình thức Sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng bao giờ cũng bắt đầu từ nội dung Khi nội dung biến đổi thì hình thức của nó cũng biến đổi theo cho phù hợp với nội dung, nhưng sự biến đổi của hình thức thường diễn ra chậm hơn
Chịu sự quyết định của nội dung, nhưng hình thức có tính độc lập tương đối của nó Khi hình thức phù hợp với nội dung thì nó mở đường và thúc đẩy nội dung phát triển Khi không phù hợp với nội dung, hình thức sẽ cản trở và kìm hãm sự phát triển của nội dung
Ví dụ như mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở nước ta trong giai đoạn 1975 - 1986 và giai đoạn 1986 - nay
Trang 15Ý nghĩa phương pháp luận
Trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn không được tách rời nội dung với hình thức hoặc tuyệt đối hóa một trong hai mặt đó của sự vật, hiện tượng
Trong hoạt động thực tiễn cải biến xã hội cần phải biết sử dụng mọi hình thức có thể có (mới cũng như cũ) để phục vụ cho những nhiệm vụ cụ thể đạt hiệu quả cao Cần tránh hai thái cực: hoặc chỉ bám những hình thức cũ, chỉ muốn làm theo kiểu cũ sẽ dẫn đến bảo thủ, trì trệ; hoặc phủ nhận vai trò của cái cũ trong hoàn cảnh mới, thay đổi hình thức cũ một cách tùy tiện, không có căn cứ sẽ dẫn đến chủ quan, nóng vội
Khi xét đoán sự vật, hiện tượng cần căn cứ vào nội dung, cũng như muốn làm biến đổi sự vật, hiện tượng thì trước hết phải tác động để thay đổi nội dung của nó Đồng thời phải luôn theo dõi, tạo điều kiện sao cho hình thức của sự vật, hiện tượng phù hợp hay không phù hợp cần thiết với nội dung đang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn
Câu 14: Nhận thức là gì? trình bày bản chất, các nguyên tắc và trình độ nhận thức theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin
Quan điểm trước Mác:
- QĐCNDT Chủ Quan: cho rằng nhận thức là quá trình phức hợp cảm giác cá nhân của con người
- CNDT khách quan: cho rằng nhận thức là sự hồi tưởng lại của những linh hồn bất tử
CNDVBC: "Nhận thức là một quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới
khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó"
Quan niệm trên đây về nhận thức cũng chính là quan niệm duy vật biện chứng về bản chất của nhận thức Quan niệm này xuất phát tứ bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là : Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người Hai là: Thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan vào bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể; thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có những cái mà con người chưa nhận thức được
Ba là: Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến nhiều,
Trang 16từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện đến sâu sắc và toàn diện hơn,…
Bốn là: Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Như vậy, theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhận thức thuộc phạm vi hoạt động phản ánh của con người (với tư cách chủ thể nhận thức) đối với thế giới khách quan (với tư cách khách thể nhận thức) được tiến hành thông qua hoạt động thực tiễn và nhằm sáng tạo tri thức phục vụ hoạt động thực tiễn, đồng thời cũng lấy thực tiễn là tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của những tri thức đó
Với quan điểm duy vật biện chứng, nhận thức nhất định phải là một quá trình, đó cũng là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận; từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học…
Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự
vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh nghiệm Tri thức này có hai loại là loại tri thức kinh nghiệm thông thường và những tri thức kinh nghiệm khoa học Hai loại tri thức này có thể bổ sung cho nhau, làm phong phú lẫn nhau
Nhận thức lý luận là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ thống trong
việc khái quát bản chất, qui luật của các sự vật, hiện tượng
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức khác nhau nhưng
có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau Trong mối quan hệ đó nhận thức kinh nghiệm là cơ
sở của nhận thức lý luận; nó cung cấp cho nhận thức lý luận những tư liệu phong phú, cụ thể; nó trực tiếp gắn chặt với hoạt động thực tiễn tạo thành cơ sở hiện thực để kiểm tra, sửa chữa, bổ sung cho lý luận đã có và tổng kết, khái quát thành lý luận mới Tuy nhiên, nhận thức kinh nghiệm còn hạn chế ở chỗ nó chỉ dừng lại ở sự mô tả, phân loại các sự kiện, các dữ kiện thu được từ quan sát và thực nghiệm trực tiếp Do đó nó chỉ đem lại những hiểu biết về các mặt riêng rẽ, bề ngoài rời rạc, chưa phản ánh được cái bản chất, những mối liên hệ mang tính qui luật của các sự vật, hiện tượng Do đó, nhận thức kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu Ngược lại, mặc
dù được hình thành từ sự tổng kết những kinh nghiệm, nhưng nhận thức lý luận không hình thành một cách tự phát, trực tiếp từ kinh nghiệm Do tính độc lập tương đối của nó,
lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn, góp phần làm biến đổi đời sống con người thông qua đó mà nâng cao những tri thức kinh nghiệm từ chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất thành cái khái quát, có
Trang 17tính phổ biến
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự phát, trực tiếp
từ trong hoạt động hàng ngày của con người Nó phản ánh sự vật, hiện tượng xảy ra với tất cả những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác nhau của sự vật Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, nhiều vẻ và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày Vì thế, nó có vai trò thường xuyên và phổ biến chi phối hoạt động của con người trong xã hội
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác và gián tiếp từ
sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối tượng nghiên cứu Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng logic Đó là các khái niệm, phạm trù và các qui luật khoa học nhận thức khoa học vừa có tính khách quan, trừu tượng, khái quát lại vừa có tính hệ thống, có căn cứ và có tính chân thực Nó vận dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và qui luật của đối tượng trong nghiên cứu Vì thế, nhận thức khoa học
có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ hiện đại
Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khác nhau về chất
của quá trình nhận thức nhằm đạt tới những tri thức chân thực Giữa chúng có mối quan
hệ chặt chẽ với nhau Trong mối quan hệ đó, nhận thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học Mặc dù đã chứa đựng những mầm móng của những tri thức khoa học, song nhận thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở sự phản ánh cái bề ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của đối tượng và tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học Muốn phát triển thành nhận thức khoa học cần phải thông qua quá trình tổng kết, trừu tượng, khái quát đúng đắn của các nhà khoa học Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức khoa học nó lại có tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào nhận thức thông thường và làm cho nhận thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình con người nhận thức thế giới
CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Liên hệ thực tiễn
Theo Chủ nghĩa Mac-Lênin thì loài người từ trước đến nay đã trải qua 5 hình thái kinh tế
xã hội đó là : Thời kỳ công xã nguyên thuỷ , thời kỳ chiếm hữu nô lệ , thời kỳ phong kiến , thời kỳ tư bản chủ nghĩa và thời kỳ xã hội chủ nghĩa Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội