1. Trang chủ
  2. » Tất cả

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC MAC

38 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin
Trường học Khoa: K70C LLCT – GDCD
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Đề Cương
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 53,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ : Câu chuyện cô bé Người sói: Đều là con người bình thường, não bộ phát triển bình thường nhưng lại không sống trong môi trường người nên cô bé không có ý thức như một con người mà

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN TRIẾT HỌC MAC – LÊ-NIN

Khoa: K70C LLCT – GDCD

Câu 1: Định nghĩa vật chất của Lênin Ý nghĩa của định nghĩa?

Trả lời:

- Theo quan điểm của triết học duy tâm thì thực thể của thế giới, cơ sở của

mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần nào đó, có thể là “ý chí của ThượngĐế”, “ý niệm tuyệt đối”,

- Triết học duy vật thời cổ đại: đồng nhất vật chất với dạng vật chất cụ thể.

- Chủ nghĩa duy vật siêu hình cận đại thế kỷ XVII-XVIII: đồng nhất vật chất

với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học,nguồn gốc vận động nằm ngoài vật chất

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX: các phát minh của vật lý học đã bác bỏ quan

niệm siêu hình về vật chất Nhưng lại dẫn đến sự bế tắc của quan điểm trướcMác về vật chất Từ nhu cầu của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm,Leenin đã nêu định nghĩa :

- “ Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

*) Những nội dung cơ bản của định nghĩa vật chất Lenin:

- Vật chất là “phạm trù triết học” do vậy vừa có tính trừa tượng, vừa có tính cụ

thể

Trang 2

+ Tính trừu tượng của vật chất dùng để chỉ đặc tính chung, bản chất nhất của

vật chất- đó là đăc tính tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và cũng

là tiêu chí duy nhất để phân biệt vật chất với khoa học vật chất cụ thể khác

Ví dụ:

Nhà nước phong kiến có bản chất là giai cấp địa chủ phong kiến chống lại nông dân và những người lao động khác để củng cố, bảo vệ sự thống trị về mọi mặt của địa chủ, phân biệt với nhà nước tư bản hay xã hội chủ nghĩa.

+ Tính cụ thể của vật chất thể hiện ở chỗ chỉ có thể nhận biết được vật chất

thông qua nghiên cứu các sự vật hiện tượng vật chất cụ thể

Ví dụ:

Tính nóng của nước sôi được cảm nhận thông qua xúc giác, qua nghiên cứu biết được nước sôi nóng ở 100 độ C

- Vât chất là “thực tại khách quan”: có đặc tính cơ bản ( cũng là đặc trưng cơ

bản ) là tồn tại không phụ thuộc vào ý thức Dù con người có nhận thức đượchay chưa nhận thức được thì nó vẫn tồn tại

Ví dụ:

Thủy triều là hiện tượng nước biển hay nước sông lên xuống trong 1 chu

kỳ thời gian phụ thuộc vào biến chuyển thiên văn, là đặc tính cơ bản của sông nước Nó tồn tại 1 cách tự nhiên, không phụ thuộc vào nhận thức của con người.

- Vật chất có tính khách thể: con người có thể nhận biết vật chất bằng các giác

quan như thị giác, xúc giác,…

Ví dụ:

Sự tăng trưởng về cân nặng, kích thước của đàn lợn sau 1 thời gian nuôi dưỡng được người chủ nhận biết bằng thị giác, xúc giác,

- Vật chất là cái có trước, tồn tại độc lập với ý thức và quy định ý thức Ý thức là

cái có sau vật chất, phụ thuộc vào vật chất Như vậy vật chất là nội dung, lànguồn gốc khách quan của ý thức, là nguyên nhân làm cho ý thức phát sinh Tuynhiên ý thức tồn tại độc lập tương đối so với vật chất, có tác động , thậm chíchuyển thành sức mạnh vật chất khi nó thâm nhập vào chúng và được quầnchúng vận động

*) Ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của định nghĩa này.

Trang 3

- Định nghĩa đưa lại thế giới quan duy vật biện chứng khi giải quyết vấn đề cơbản của triết học Thứ nhất, định nghĩa khẳng định vật chất có trước, ý thức cósau, vật chất là nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức Thứ hai, địnhnghĩa khẳng định ý thức con người có khả năng nhận thức được thế giới vật chất Thế giới duy vật biện chứng xác định được vật chất và mối quan hệ của nó với

ý thức trong lĩnh vực xax hội đó là : tồn tại của xã hội quy định ý thức xã hội,kinh tế quy định chính trị,

ý thức để phát huy tính năng động, chủ quan nhưng tránh chủ quan duy ý chí màbiểu hiện là tuyệt đối hóa vai trò, tác dụng của ý thức

- Định nghĩa chống lại quan điểm duy tâm, siêu hình trong quan niệm về vậtchất, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Định nghĩa đã định hướng khoa học cụ thể trong việc tìm kiếm các dạng hoặchình thức mới của vật thể trong thế giới

Câu 2: Nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức?

Trả lời:

Phạm trù ý thức: Ý thức là một trong những mặt cơ bản của vấn đề triết học.

Nó có mối quan hệ gắn kết với phạm trù vật chất.Và nó chịu dưới sự quy địnhcủa phạm trù vật chất

2.1: Nguồn gốc của ý thức

Theo quan niệm của chủ nghĩa duy tâm, nguồn gốc ra đời ý thức là nguyênthể đầu tiền, tồn tại vĩnh viễn, là nguyên nhân sinh thành, chi phối sự tồn tại,biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất Còn theo chủ nghĩa duy vật siêu hình, họ

Trang 4

xuất phát từ thế giới hiện thực để lý giải nguồn gốc ý thức Nhưng còn đó là rấtnhiều sai lầm và thiếu xót.

Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, ý thức được bắt nguồn từ:nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội

- Nguồn gốc tự nhiên (Não bộ con người):

+ Não bộ con người là cơ quan vật chất đặc biệt nhất so với não của các loàiđộng vật khác Vì nó có khả năng sản sinh ra ý thức

+ Ý thức là kết quả của quá trình tiến hóa của thuộc tính phản ánh ở mọidạng vật chất Phản ánh là thuộc tính phổ biến của mọi vật chất, là sự tái tạonhững đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở hệ thống vật chất khác trongquá trình tác động qua lại giữa chúng Kết quả của sự phản ánh phụ thuộc vào 2vật: vật tác động và vật bị tác động

Ví dụ: Thanh sắt ( vật bị tác động) để lâu trong không khí ( vật tác động

là O2) sẽ xuất hiện hiện tượng han gỉ.

+ Phản ánh sẽ phụ thuộc vào trình độ vật chất

-Phản ánh thấp nhất là phản ánh vô sinh ( Thế giới vô cơ) là phản ánh thụđộng

Ví dụ: Hai thanh kim loại chạm vào nhau sẽ phát ra tiếng kêu leng keng,

và hiện tượng biến dạng.

-Phản ánh tiếp theo là phản ánh hữu sinh ( có sự sống) : phản ánh ở thựcvật ;ở động vật chưa có hệ thần kinh, não bộ và ở động vật có hệ thần kinh, tríkhôn

-Phản ánh cuối cùng là ở con người- là phản ánh cao nhất để sản sinh ra ýthức

Như chúng ta biết, ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óccủa con người Bộ óc của con người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi

Trang 5

thì chưa có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giácquan và qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra

Như vậy bộ óc người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Ví dụ: Một người có não bộ tổn thương thì ý thức rối loạn

Một người có não bộ bị chết thì không có ý thức

- Nguồn gốc xã hội:

Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề nguồn gốc xãhội Ý thức ra đời cùng với sự hình thành bộ óc con người nhờ lao động, ngônngữ và những quan hệ xã hội

Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ lao động tác động vào thếgiới tự nhiên nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của mình, trong

đó con người đóng vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi vậtchất giữa người và tự nhiên Lao động là hoạt động đặc thù của con người, laođộng luôn mang tính tập thể, xã hội

Vai trò của lao động là hoàn thiện con người.

Ví dụ: Xét theo suốt quá trình tiến hóa từ Vượn cổ tới Người tối cổ tới

Người hiện đại:

Con người quen với việc di chuyển tứ chi tới di chuyển bằng hai chân nhưng gù lưng, và cuối cùng là thẳng lưng

Thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, kết cấu, quy luật vận động củamình trong quá trình lao động Trong lao động đòi hỏi xuất hiện ngôn ngữ Ngônngữ là hệ thống tín hiệu, kí hiệu mà con người ta quy ước với nhau để lưu giữ vàtruyền tải thông tin giữa người- người, giữa các thế hệ với nhau

Trang 6

Vai trò của ngôn ngữ: Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn,

đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trìu tượng hóa hiện thực

Ví dụ: Ngôn ngữ khô cứng, nghèo nàn thì tư duy cũng hạn hẹp

Ngôn ngữ linh hoạt thì tư duy thoáng

Từ đây, Não bộ là điều kiện cần, Lao động và Ngôn ngữ là điều kiên đủ Khôngthể thiếu một trong ba yếu tố trên, vì nếu thiếu thì sẽ không tạo nên một ý thứchoàn chỉnh

Ví dụ : Câu chuyện cô bé Người sói:

Đều là con người bình thường, não bộ phát triển bình thường nhưng lại không sống trong môi trường người nên cô bé không có ý thức như một con người mà

Ví dụ: Hình ảnh một dòng sông dưới con mắt thẩm mỹ của người nông

dân khác với thi sĩ

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: Ý thức là sự phản ánh thếgiới vật chất thông qua não người, nội dung mà ý thức phản ánh là khách quancòn hình thức phản ánh là chủ quan, nó phản ánh thế giới khách quan nhưngnằm trong phạm vi chủ quan

Trang 7

Ý thức mang đặc tính năng động, sáng tạo: Ý thức không phải là kết quả của sựphản ánh đơn lẻ thụ động mà hoàn toàn có định hướng mục đích, ý thức là sựphản ánh thế giới vật chất vào bộ nào người nhưng đây là sự phản ánh đặc biệtgắn với thực tiễn và đi liền với nhu cầu của con người, trên cơ sở những cái đã

có thì ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật tưởng tượng ra những cáikhông có trong thực tế tạo ra một “ thiên nhiên thứ hai”

Ý thức mang bản chất xã hội Nó phụ thuộc vào từng điều kiện, hoàn cảnh, môitrường, xã hội quy định

Ví dụ : ý thức của người sống trong xã hội phong kiến khác so với con

người hiện đại ngày nay:

Để duy trì giống nòi:

+ Trong xã hội phong kiến: Lấy anh em, chị em, họ hàng là chuyện bình thường và một phần tất yếu để dòng máu dòng tộc không bị pha loãng bởi ngoại tộc

+ Hiện đại: Loạn luân là một vấn đề xã hội đáng bị lên án gay gắt và cần phải xóa bỏ.

Trang 8

⇒ Kết quả phản ánh của ý thức phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đối tưỡng, điều kiệnlịch sử xã hội, phẩm chất, năng lực, kinh nghiệm,…

⇒ Ý thức hình thành và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn

⇒ Ý thức có thể tiên đoán, dự báo về tương lai, có thể tạo ra những ảo tưởng,huyền thoại, những giả thuyết, lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và có tínhkhái quát cao

⇒ Sự sáng tạo của ý thức phải dựa vào sự phản ánh của thế giới vật chất và sự sángtạo này hoàn toàn thống nhất trên cơ sở của sự phản ánh

thức có nhiều loại khác nhau như tri thức về tự nhiên, về xã hội, về con người.Loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức – là nền kinh tế trong đó sự sảnsinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự pháttriển kinh tế, cải tạo thế giới

+Tình cảm là sự cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tại xung quanh và đối với bản thân mình Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự

phản ánh thực tại; nó phản ánh quan hệ của con người đối với nhau, cũng nhưđối với thế giới khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của conngười và giữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của conngười

Trang 9

b) Các cấp độ của ý thức

Tiếp cận theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, ý thức bao gồm tự ýthức, tiềm thức, vô thức

+Tự ý thức:

Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người đồng thời cũng tự

nhận thức bản thân mình Đó chính là tự ý thức Như vậy, tự ý thức cũng là ý thức, là một thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài Nhờ vậy con người tự

nhận thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác có tư duy,

có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội và có hành vi tự điều chỉnh bảnthân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thức của cả xã hội,của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình trong hệ thốngnhững quan hệ sản xuất xác định, về lý tưởng và lợi ích chung của xã hội mình,của giai cấp mình, hay của tầng lớp mình

+Tiềm thức:

Là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủ thể,song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra dưới sự

kiểm soát của chủ thể ấy Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ thể

đã có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng Do đó, tiềm

thức có thể chủ động gây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thểkhông cần kiểm soát chúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọngtrong đời sống và tư duy khoa học

+Vô thức:

Trang 10

Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí Vô thức biểu hiện

thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng ham muốn, giấc mơ, bị thôimiên, mặc cảm, sự lỡ lời, nói nhịu, trực giác…

Mỗi hiện tượng ấy có vùng hoạt động riêng, có vai trò, chức năng riêng, song tất

cả đều có một chức năng chung là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thầnkinh vượt ngưỡng nhất, là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ

ra và thực hiện trong quy tắc của đời sống cộng đồng Nó góp phần lập lại thếcân bằng trong hoạt động tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái

ức chế quá mức như ấm ức, “libiđo”…

Như vậy, vô thức có vai trò tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động củacon người Tuy nhiên không nên cường điệu, tuyệt đối hóa và thần bí vô thức.Không nên coi vô thức là hiện tượng tâm lý cô lập Vô thức chỉ là một mắt khâutrong cuộc sống có ý thức của con người

c) Vấn đề “trí tuệ nhân tạo”

Ngày nay, với sự phát triển đột phá về khoa học và công nghệ hiện đại đã cónhững bước phát triển mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều lạoi máy móc không những

có thể thay thế lao động cơ bắp mà còn có thể thay thế cho 1 phần lao động trí

óc của con người Ý thức được con người cài vào các robot khiến chúng có thểsuy nghĩ hành động 1 phần giống con người và tương lai sẽ thay thế khá nhiềutrong ngành lao động

Câu 3: Nguyên lý phát triển và phương pháp luận?

Trả lời:

Trang 11

a Khái niệm phát triển:

* Theo quan điểm duy tâm và siêu hình:

- Những người theo quan điểm duy tâm, siêu hình đều không thừa nhận sựphát triển của sự vật, hiện tượng; nếu có thì sự phát triển cũng chỉ là sự tănghoặc giảm về lượng mà không có sự thay đổi về chất; phát triển diễn ra theo chu

kì và vòng tròn khép kín Nguyên nhân của sự phát triển là do các yếu tố bênngoài quyết định

* Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng:

- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thống nhất hữu cơ với nguyên lý của

sự phát triển, vì liên hệ cũng là vận động, không có vận động sẽ không có pháttriển Phát triển xuất hiện trong quá trình giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn

có của sự vật, hiện tượng là sự thống nhất giữa phủ định những yếu tố khôngcòn phù hợp và kế thừa có chọn lọc những cái cũ, cho ra đời và phát triển nhữngcái mới

 Phát triển là quá trình vận động theo chiều hướng đi lên, từ chưa hoànthiện đến hoàn thiện hơn Quá trình đó vừa diễn ra dần dần, vừa nhảy vọt màđặc trưng của nó là cái cũ mất đi, cái mới ra đời

Ví dụ: Quá trình biến đổi của các giống loài từ bậc thấp lên bậc cao; quátrình thay thế lẫn nhau của các hình thức thức tổ chức xã hội loài người: từ hìnhthức tổ chức xã hội thị tộc, bộ lạc còn sơ khai thời nguyên thuỷ lên các hình thức

tổ chức xã hội cao hơn là hình thức tổ chức bộ tộc, dân tộc

- Nhưng cái chiều hướng đi lên không phải một sớm một chiều mà nhận

ra được mà nó đòi hỏi phải trải qua 1 quá trình biến đổi lớn, lâu dài thì cái xuhướng tiến lên mới thể hiện rõ

Ví dụ: Khi ta theo dõi biểu đổ của sự biến động trên sàn chứng khoán.Nếu ta chỉ theo dõi trong một ngày, một tuần, một tháng thì ta có thể thấy xu

Trang 12

hướng đi xuống, nhưng nếu ta theo dõi trong một thời gian dài hơn như 6 thánghay 1 năm thì ta có thể thấy xu hướng chung vẫn là đi lên

- Phát triển có mối quan hệ biện chứng với vận động; phát triển là trườnghợp đặc biệt của vận động Sự vật phát triển phải trải qua sự vận động, nhưngkhông đồng nhất với vận động; vận động đi xuống thì không phải là sự pháttriển

b) Tính chất của sự phát triển:

* Tính khách quan của sự phát triển:

- Nguồn gốc và động lực của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật, hiệntượng; do mâu thuẫn bên trong sự vật hiện tượng quy định Cách thức của sựphát triển là sự tích lũy dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất; khuynh hướngcủa sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc, cái mới phủ định cái cũ Vì thế, sựphát triển của sự vật là vốn có, tự thân, không phụ thuộc vào ý muốn của conngười

- Ví dụ: Quá trình phát sinh một giống loài mới hoàn toàn diễn ra mộtcách khách quan theo quy luật tiến hoá của giới tự nhiên Con người muốn sángtạo một giống loài mới thì cũng phải nhận thức và làm theo quy luật đó

* Tính phổ biến của sự phát triển:

- Sự phát triển diễn ra trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy Trong tự nhiênbiểu hiện ở sự biến dị, di truyền, tiến hóa, thích nghi của hệ động, thực vật.Trong xã hội là sự giải phóng con người, sự phát triển các hình thái kinh tế xãhội, còn trong tư duy là khả năng chinh phục và cải tạo thế giới của con người.Phổ biến còn là tất cả các sự vật đều phát triển

- Ví dụ: Trong giới tự nhiên: đó là sự phát triển từ thế giới vật chất vô cơđến hữu cơ; từ vật chât chưa có năng lực sự sống đến sự phát sinh các cơ thểsống và tiến hoá dần lên các cơ thể có cơ cấu sự sống phức tạp hơn – sự tiến hoácủa các giống loài làm phát sinh các giống loài thực vật và động vật mới đến

Trang 13

mức có thể làm phát sinh loài người với các hình thức tổ chức xã hội từ đơn giảnđến trình độ tổ chức cao hơn; cùng với quá trình đó cũng là quá trình khôngngừng phát triển nhận thức của con người từ thấp đến cao…

* Tính kế thừa của sự phát triển:

- Sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự phủ định có kế thừa của sự vật, hiệntượng cũ; trong sự vật, hiện tượng mới còn giữ lại, có chọn lọc và cải tạo nhữngmặt còn thích hợp và gạt bỏ những mặt đã lỗi thời, lạc hậu của sự vật, hiệntượng cũ cản trở sự phát triển

Ví dụ: Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử với sự pháttriển qua từng thời kì Qua mỗi thời kì phát triển ta có thể thấy chúng ta vẫn cònlưu giữ và kế thừa những truyền thống tốt đẹp và vẫn còn giá trị, phù hợp vớithời đại ngày nay của cha ông ta ví dụ như tập tục thờ cúng tổ tiên, uống nướcnhớ nguồn, tôn sư trọng đạo, v.v nhưng đồng thời ta cũng loại bỏ những cái lỗithời lạc hậu trong xã hội xa xưa như quan điểm trọng nam khinh nữ của xã hộiphong kiến hay phong tục tảo hôn, các nghi thức man rợ như chém lợn v.v

* Tính đa dạng, phong phú, nhiều vẻ:

- Sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội và tư duy),nhưng mỗi sự vật, hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau Tính

đa dạng và phong phú của sự phát triển còn phụ thuộc vào không gian , thờigian, các yếu tố, điều kiện tác động lên sự phát triển đó

- Ví dụ: không thể đồng nhất tính chất, phương thức phát triển của giới tựnhiên với sự phát triển của xã hội loài người Sự phát triển của giới tự nhiênthuần tuý tuân theo tính tự phát, còn sự phát triển của xã hội loài người lại có thểdiễn ra một cách tự giác do có sự tham gia của nhân tố ý thức

* Tính quanh co, phức tạp:

- Sự phát triển không diễn ra theo đường thẳng tắp hay vòng tròn khép kín

mà diễn ra theo đường xoáy ốc, có bước quanh co, phức tạp, thụt lùi tạm thời Vì

Trang 14

vậy, trong quá trình phát triển, sự vật hiện tượng phải kiên trì, chấp nhận sự mấtmát, hi sinh để đi đến thành công.

- Ví dụ: Quan sát sự phát triển của ngành giáo dục ta có thể thấy rất rõtính quanh co, phức tạp của sự phát triển Nếu như tầm 5, 6 năm trở về trướcngành giáo dục có thể được coi là một ngành “hot” với số lượng nguyện vọnghọc sinh đăng kí khổng lồ thì 2, 3 năm trở lại đây trước thực trạng dư thừa giáoviên quá nhiều, nhiều sinh viên ra trường không có việc làm hay có việc làmnhưng với mức lương bèo bọt mà số lượng sinh viên sư phạm giảm đi rất lớn.Đây có thể được coi là sự thụt lùi tạm thời Nhưng trong vòng 1 năm nay sốlượng sinh viên đăng kí vào ngành sư phạm đã nhiều hơn trước, như vậy ta cóthể thấy rõ ngành giáo dục lại đang phát triển, lấy lại vị trí của mình trong xãhội

c) Tiêu chuẩn của sự phát triển:

- Cái mới ra đời trên cơ sở của cái cũ, nên phát triển của sự vật phải đạttiêu chuẩn cao hơn cả về số lượng và chất lượng của cái mới so với cái cũ Tiêuchuẩn phát triển cuối cùng và duy nhất phải vươn tới sự hoàn thiện và tối ưu củacác sự vật, hiện tượng

- Mỗi sự vật, hiện tượng được xem là phát triển hay không khi ta phải cócăn cứm cơ sở để xác định kết quả vận động đi lên của sự vật cả về lượng vàchất Nếu không có tiêu chuẩn để đánh giá sự phát triển thì cách đánh giá sẽ rơivào mò mẫm, áp đặt

d) Ý nghĩa của phương pháp luận:

- Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người cần phải có quan điểm phát triển Nguyên tắc phát triển yêu cầu phải đặt sự vật, hiện tượng trong

sự vận động Trong nhận thức, khi nhận thức, đánh giá sự vật, hiện tượng không

chỉ nhận thức nó trong hiện tại như nó có mà còn phải thấy được khuynh hướng

Trang 15

vận động, phát triển của nó trong tương lai Trên cơ sở đó dự báo những tìnhhuống có thể xảy ra để chủ động nhận thức, giải quyết.

- Nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đếncao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Mỗi giaiđoạn của sự phát triển có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nêncần tìm ra những hình thức, phương pháp tác động phù hợp để thúc đẩy hoặckìm hãm sự phát triển đó

- Trong hoạt động thực tiễn cần chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, bởi lẽmọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi và phát triển Pháttriển là khó khăn, bao gồm cả sự thụt lùi, do vậy, trong hoạt động thực tiễn khigặp khó khăn, thất bại tạm thời phải biết tin tưởng vào tương lai

- Trong quá trình thay thế sự vật, hiện tượng cũ bằng sự vật, hiện tượngmới phải biết kế thừa những yếu tố tích cực đã đạt được được từ cái cũ và pháttriển sáng tạo chúng trong điều kiện mới

- Phát triển là nguyên tắc chung nhất chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn; nguyên tắc này giúp ta nhận thức được rằng muốn tìm được bảnchất của sự vật, hiện tượng; nắm được khuynh hướng phát triển của chúng thìphải xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động ( ) trong sự biến đổicủa nó

Câu 4: Cái chung và cái riêng

Trả lời:

1. Khái niệm

Trang 16

- Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định.

- Cái chung là phạm trù triết học dùng để chỉ nhũng mặt, những thuộc tính chung không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác

- Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính chỉ

có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện tượng, kết cấu vật chất khác

Sự phân biệt giữa cái chung và cái riêng và cái đơn nhất chỉ là tương đối

2. Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

Phép biện chứng duy vật khẳng định cái chung, cái riêng, thực sự tồn tại khách quan và tồn tại trong mối quan hệ biện chứng Cụ thể là:

- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng để biểu hiện

sự tồn tại của nó Vì thế, không thể có cái chung thuần túy tồn tại biệt lập ngoài cái riêng

- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Bởi vậy, không có cái riêng tồn tại tuyệt đối độc lập với cái chung

- Cái chung là bộ phận của cái riêng nhưng lại sâu sắc hơn cái riêng vì cáichung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Còn cái riêng là cái toàn bộ, phong phúhơn cái chung vì bất cứ cái riêng nào bên cạnh những thuộc tính được lặp lại ở các sự vật khác mỗi cái riêng đều chứa đựng cái đơn nhất

- Cái chung có thể chuyển hóa thành cái riêng trong quá trình phát triển của sự vật trong những điều kiện nhất định khi cái chung lạc hậu và lỗi thời

- Cái riêng chuyển hóa thành cái chung khi cái riêng là tốt

Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc mà thoạt đầu là ở dạng đơn nhất nhưng theo quy luật của phát triển cái đơn nhất sẽ chiến thắng cái cũ để trở thành cái chung Ngược lại, cái cũ từ chỗ

là cái phổ biến, cái chung sẽ mất đi dần biến thành cái đơn nhất

3. Ý nghĩa

- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng nên chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng chứ không phải từ ý muốn chủ quan của con người hoặc bên ngoài cái riêng

- Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung, trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng

Trang 17

- Phải thấy được mối quan hệ qua lại giữa cái chung và cái riêng để khi ápdụng cái chung vào những trường hợp riêng biệt không rơi vào tả khuynh,giáo điều bằng cách cá biệt hóa, không áp dụng rập khuôn, máy móc cái chung Để khắc phục bệnh hữu khuynh xét lại thì phải tránh tuyệt đối hóa cái đơn nhất, xem thường cái chung Và để tránh khỏi tình trạng mò mẫm tùy tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa thì khi giải quyết vấn đề riêng không thể không đặt trong mối liên hệ với những vấn đề chung có liên quan đến vấn

đề riêng đó

Câu 5: Trình bày nội dung quy luật phủ định của phủ định? Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật này trong nhận thức và hoạt động thực tiễn?

Trả lời:

1 Nội dung quy luật phủ định của phủ định:

1.1 Vị trí vai trò của quy luật

Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật, quy luật phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng vận động,phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua sự thống nhất giữa tính thay đổi vớitính kế thừa trong sự phát triển theo đường xoáy ốc từ thấp đến cao, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện hơn

1.2 Khái niệm phủ định, phủ định biện chứng

Phủ định là khái niệm dùng để chỉ sự thay thế lẫn nhau giữa các sự vật, hiệntượng trong quá trình vận động và phát triển không ngừng của tự nhiên, xã hội

và tư duy Hay có thể hiểu phủ định là sự thay thế sự vật, hiện tượng cũ bằng sựvật, hiện tượng mới Phủ định bao gồm hai loại đó là phủ định biện chứng vàphủ định siêu hình

Quan điểm siêu hình quan niệm phủ định là sự loại bỏ hoàn toàn cái cũ, chấmdứt cái cũ, không có tác dụng gì cho quá trình tạo lập cái mới Hoặc khi cần kếthừa thì là sự lắp ghép một cách nguyên xi cái cũ vào cái mới

Trang 18

Phủ định biện chứng là sự tự phủ định, lực lượng phủ định ở bên trong sự vật,hiện tượng Mọi sự vật, hiện tượng đều diễn ra thông qua những phủ định, trong

đó có những phủ định chấm dứt sự tôn tại, vận động và phát triển gọi là phủđịnh siêu hình; nhưng cũng có những phủ định tạo tiền đề, điều kiện cho quátrình phát triển tiếp theo của sự vật, hiện tượng; sự phủ định đó được gọi là phủđịnh biện chứng Nói cách khác, phủ định biện chứng là quá trình tự phủ định,

tự phát triển, là mắt xích trong sợi xích dẫn tới sự ra đời của sự vật, hiện tượngmới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ

*Các đặc trưng cơ bản của phủ định biện chứng:

Tính khách quan, là sự vật tự thân phủ định, do các mâu thuẫn bên trong chúng

gây ra, phương thức phủ định không phụ thuộc vào ý thức con người

Tính kế thừa của phủ định biện chứng: Phủ định biện chứng là cầu nối giữa sự

vật, hiện tượng bị phủ định (cũ) với sự vật, hiện tượng mới (phủ định); là sự phủđịnh có kế thừa, chọn lọc yếu tố tích cực và loại bỏ yếu tố tiêu cực của cái cũlàm cho sự vật mới ra đời tiến bộ hơn Phủ định biện chứng là vòng khâu tất yếucủa quá trình phát triển

Đường xoáy ốc của sự phát triển Vì còn những yếu tố mang tính kế thừa nên sự

phát triển của sự vật, hiện tượng không phát triển theo đường thẳng mà diễn ratheo đường xoáy ốc Đường xoáy ốc là hình thức diễn đat rõ nhất các đặc trưngcủa quá trình phát triển biện chứng là tính kế thừa, tính lặp lại nhưng khôngquay lại mà tịnh tiến lên của sự phát triển Sự phát triển của sự vật dường nhưlặp lại, nhưng trên cơ sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của quy luậtphủ định của phủ định Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện trình độ caohơn của sự phát triển và sự nối tiếp nhau của các vòng của đường xoáy ốc thểhiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao

Tĩnh chu kì trong quá trình phủ định biện chứng, qua ít nhất hai lần phủ định, sự

vật dường như được quay trở lại điểm xuất phát ban đầu nhưng phát triển hơn cả

Trang 19

về số lượng và chất lượng Nói cách khác, quá trình phát triển mang tính giaiđoạn và tính chu kì, qua một số giai đoạn hình thành một chu kì phát triển, mở

ra một chu kì mới cho sự phát triển tiếp theo Phủ đinh lần thứ nhất làm cho sựvật, hiện tượng chuyển thành sự vật, hiện tượng đối lập với nó Phủ định lần thứhai dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới mang nhiều nội dung tích cựccủa sự vật, hiện tượng bị phủ định, nhưng cũng mang nhiều nội dung đối lập với

sự vật, hiện tượng đó Như vậy, phủ định của phủ định mới hoàn thành được mộtchu kì phát triển, đồng thời lại là điểm xuất phát của chu kì phát triển tiếp theotạo nên đường xoáy ốc của sự phát triển Kết quả là, về hình thức, sự vật, hiệntượng mới (ra đời do kết quả của sự phủ định lần thứ hai) sẽ lại trở thành sự vật,hiện tượng xuất phát (chưa bị phủ định lần nào); về nội dung, không phải trở lại

sự vật, hiện tượng xuất phát nguyên như cũ, mà chỉ là dường như lặp lại sự vật,hiện tượng cũ nhưng trên cơ sở cao hơn

2 Ý nghĩa phương pháp luận của quy luật

Quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật, giúp người học

và nghiên cứu rút ra một số nguyên tắc phương pháp luận trong hoạt động nhậnthức và hoạt động thực tiễn Nắm được khuynh hướng tiến lên của sự vận độngcủa các sự vật, hiện tượng; sự thống nhất giữa các tính chất tiến bộ và kế thừacủa sự phát triển Sau khi đã trải qua các mắt xích của sự chuyển hoá, chúng ta

đã có thể xác định được kết quả cuối cùng của sự phát triển và nhận thức quátrình phát triển của sự vật, hiện tượng không diễn ra một cách thẳng tắp, ngượclại, quá trình đó diễn ra quanh co, phức tạp, “cho rằng lịch sử thế giới phát triểnđều đặn, không va vấp, không đôi khi nhảy lùi những bước rất lớn là không biệnchứng, không khoa học, không đúng về mặt lí luận " Điều đó giúp chúng tatránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiệntượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội, và do vậy cần phải kiên trì đổi mới,khắc phục khuynh hướng bi quan, chán nản, dao động trước những khó khăn của

sự phát triển

Ngày đăng: 02/10/2021, 13:58

w