1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề Cương môn Triết Học thi văn bằng 2 công an

54 89 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hướng Dẫn Ôn Tập Triết Học Mác - Lênin
Trường học Trường Đại Học Cảnh Sát Nhân Dân
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại tài liệu
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 868,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 LỜI NÓI ĐẦU Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học viên khi ôn tập môn triết học Mác Lênin trình độ Đại học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân biên soạn tài liệu Hướng dẫn ôn tập Triết học Mác Lênin Tà.

Trang 1

1

LỜI NÓI ĐẦU

Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học viên khi ôn tập môn triết học Mác

- Lênin trình độ Đại học, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân biên soạn tài liệu

Hướng dẫn ôn tập Triết học Mác - Lênin

Tài liệu gồm 25 chủ đề với nội dung kiến thức trọng tâm, cơ bản thuộc chương trình môn học, có sự cập nhật kiến thức mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học viên khi liên hệ, vận dụng thực tiễn; giúp cho học viên hệ thống kiến thức và ôn tập dễ dàng hơn, nắm được các nội dung chủ yếu của môn học

Tài liệu được biên soạn dựa trên cơ sở giáo trình Triết học Mác - Lênin, giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin do Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình các bộ môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các giáo trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo biên soạn, bám sát chương trình đào tạo trình độ đại học của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, cập nhật, bổ sung những quan điểm mới trong các văn kiện Đại hội của Đảng và một số tài liệu khác

Trong quá trình biên soạn, do những hạn chế khách quan và chủ quan nên vẫn còn những nội dung cần được tiếp tục bổ sung và sửa đổi, mong nhận được

ý kiến góp ý của các đồng chí

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN

Trang 2

2

CHỦ ĐỀ 1 Nhận thức về đối tượng và chức năng của triết học Mác - Lênin?

1 Khái niệm triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy - thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng xã hội tiến

bộ trong nhận thức và cải tạo thế giới

Triết học Mác - Lênin là triết học duy vật biện chứng theo nghĩa rộng Đó

là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng cả về tự nhiên, xã hội và tư duy; là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

sử

Triết học Mác - Lênin trở thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học của lực lượng vật chất - xã hội năng động và cách mạng nhất tiêu biểu cho thời đại ngày nay là giai cấp công nhân để nhận thức và cải tạo xã hội Đồng thời triết học Mác - Lênin cũng là thế giới quan và phương pháp luận của nhân dân lao động, cách mạng và các lực lượng xã hội tiến bộ trong nhận thức và cải tạo

xã hội

2 Đối tượng của triết học Mác - Lênin

- Triết học Mác - Lênin xác định đối tượng nghiên cứu là giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trên lập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư

duy

- Với triết học Mác - Lênin thì đối tượng của triết học và đối tượng của

các khoa học cụ thể được phân biệt rõ Các khoa học cụ thể nghiên cứu những

quy luật trong các lĩnh vực riêng biệt về tự nhiên, xã hội hoặc tư duy Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong cả ba lĩnh vực này

- Triết học Mác - Lênin có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các khoa học

cụ thể Triết học Mác - Lênin là sự khái quát cao những kết quả của khoa học cụ thể, vạch ra những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; do đó, trở thành cơ sở thế giới quan, phương pháp luận cho các khoa học cụ thể

+ Các khoa học cụ thể cung cấp những dữ liệu, đặt ra những vấn đề khoa học mới, làm tiền đề, cơ sở cho sự phát triển triết học

+ Các khoa học cụ thể tuy có đối tượng và chức năng riêng của mình nhưng đều phải dựa vào một thế giới quan và phương pháp luận triết học nhất định

+ Quan hệ giữa quy luật của triết học và quy luật của khoa học cụ thể là quan hệ giữa cái chung và cái riêng

Trang 3

3

3 Chức năng của triết học Mác - Lênin

Chức năng thế giới quan và chức năng phương pháp luận là hai chức năng

cơ bản của triết học Mác - Lênin

- Chức năng thế giới quan

+ Thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó Triết học là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học Mác - Lênin đem lại thế giới quan duy vật biện chứng, là hạt nhân thế giới quan cộng sản

+ Vai trò của thế giới quan duy vật biện chứng

Triết học Mác - Lênin có vai trò đặc biệt quan trọng định hướng cho con

người nhận thức đúng đắn thế giới hiện thực Nó giúp cho con người cơ sở khoa

học đi sâu nhận thức bản chất của tự nhiên, xã hội và nhận thức được mục đích ý nghĩa của cuộc sống

Triết học Mác - Lênin giúp con người hình thành quan điểm khoa học

định hướng mọi hoạt động Từ đó giúp con người xác định thái độ và cả cách

thức hoạt động của mình

Triết học Mác - Lênin nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo của con người

Thế giới quan đúng đắn chính là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực Trình độ phát triển về thế giới quan là tiêu chí quan trọng của sự trưởng thành cá nhân cũng như một cộng đồng xã hội nhất định

Triết học Mác - Lênin là cơ sở khoa học để đấu tranh với các loại thế giới

quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học Với bản chất khoa học và cách mạng,

thế giới quan duy vật biện chứng là hạt nhân của hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và các lực lượng tiến bộ, cách mạng, là cơ sở lý luận trong cuộc đấu tranh với các tư tưởng phản cách mạng, phản khoa học

- Chức năng phương pháp luận

+ Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát có vai trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu Phương pháp luận cũng có nghĩa là lý luận về hệ thống phương pháp Triết học Mác - Lênin thực hiện chức

năng phương pháp luận chung nhất, phổ biến nhất cho nhận thức và hoạt động

thực tiễn

+ Vai trò phương pháp luận duy vật biện chứng

Phương pháp luận duy vật biện chứng là phương pháp chung của toàn bộ nhận thức khoa học, trang bị cho con người hệ thống những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho hoạt động nhận thức và thực tiễn

Trang 4

4

Triết học Mác - Lênin trang bị cho con người hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật làm công cụ nhận thức khoa học; giúp con người phát triển tư duy khoa học, đó là tư duy ở cấp độ phạm trù, quy luật

Lưu ý, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn không được xem

thường hoặc tuyệt đối hoá phương pháp luận triết học Nếu xem thường phương pháp luận triết học sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, dễ mất phương hướng, thiếu

chủ động, sáng tạo trong công tác Ngược lại, nếu tuyệt đối hoá vai trò của

phương pháp luận triết học sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều và dễ bị vấp váp, thất

bại Bồi dưỡng phương pháp luận duy vật biện chứng giúp mỗi người tránh được những sai lầm do chủ quan, duy ý chí và phương pháp tư duy siêu hình gây ra

Trang 5

5

CHỦ ĐỀ 2 Phân tích vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay?

1 Triết học Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học

và cách mạng cho con người trong nhận thức và thực tiễn

- Các nguyên lý, phạm trù, quy luật của triết học Mác - Lênin giúp con người khi nhận thức và hoạt động thực tiễn luôn xuất phát từ lập trường khoa

học, dự báo được phương hướng vận động, phát triển của đối tượng

- Để có thể giải quyết hiệu quả các vấn đề cụ thể, phải luôn xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Theo tinh thần của triết học Mác - Lênin, mỗi nguyên lý chung đều phải được xem xét theo quan điểm lịch sử gắn liền với các nguyên lý khác, gắn liền với kinh nghiệm cụ thể của lịch sử

Để có thể giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề cụ thể hết sức phức tạp và vô cùng đa dạng của cuộc sống, chúng ta cần tránh cả hai thái cực

sai lầm: Hoặc là xem thường triết học và do đó sẽ sa vào tình trạng mò mẫm, tùy

tiện, dễ bằng lòng với những biện pháp cụ thể nhất thời, đi đến chỗ mất phương hướng, thiếu nhìn xa trông rộng, thiếu chủ động và sáng tạo trong công tác; hoặc

là tuyệt đối hóa vai trò của triết học và do đó sẽ sa vào chủ nghĩa giáo điều, áp

dụng một cách máy móc những nguyên lý, những quy luật chung của triết học

mà không tính đến tình hình cụ thể do không nắm được tình hình cụ thể đó trong từng trường hợp cụ thể

Kết hợp chặt chẽ cả hai loại tri thức trên đây - tri thức chung và tri thức thực tiễn đó là tiền đề cần thiết đảm bảo thành công của chúng ta trong hoạt động cụ thể của mình

2 Triết học Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ

- Triết học Mác - Lênin đóng vai trò là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho các phát minh khoa học, cho sự tích hợp, truyền bá tri thức khoa học hiện

đại Dù tự giác hay tự phát, khoa học hiện đại phát triển phải dựa trên cơ sở thế

giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng Đồng thời, những vấn đề mới của hệ thống tri thức khoa học hiện đại cũng đang đặt ra đòi hỏi triết học Mác - Lênin phải có bước phát triển mới

- Triết học Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng để phân tích xu hướng vận động, phát triển của xã hội hiện đại

Trang 6

6

Thấy được mối liên hệ phổ biến, sự vận động, phát triển của thế giới mang tính quy luật, khách quan

Toàn cầu hoá là một quá trình xã hội phức tạp, đầy mâu thuẫn, chứa đựng

cả tích cực và tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với các quốc gia, dân tộc, đặc biệt là các nước kém phát triển Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực tư bản chủ nghĩa đang lợi dụng toàn cầu hoá để âm mưu thực hiện toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa Chính vì vậy, toàn cầu hoá là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc với các nước đang phát triển, các dân tộc chậm phát triển Trong bối cảnh đó, triết học Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan

và phương pháp luận khoa học, cách mạng để phân tích xu hướng vận động,

phát triển của xã hội hiện đại

- Triết học Mác - Lênin là lý luận khoa học và cách mạng soi đường cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc đang diễn ra trong điều kiện mới, dưới hình thức mới

- Những mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại nhưng đã mang những

đặc điểm mới, hình thức mới Đồng thời, một loạt các mâu thuẫn khác mang tính

toàn cầu cũng đang nổi lên gay gắt Thế giới trong thế kỷ XXI vẫn tồn tại và phát triển trong hệ thống mâu thuẫn đó, trong đó mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa lợi ích của giai cấp tư sản với lợi ích của tuyệt đại đa số loài người đang hướng đến mục tiêu hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, loài người phải có lý luận khoa học và cách mạng soi đường Lý luận đó chính là chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và

triết học Mác - Lênin nói riêng

3 Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Đảng ta luôn xuất phát từ thế giới quan, phương pháp luận khoa học,

cách mạng của triết học Mác - Lênin để thực hiện sự nghiệp đổi mới Sự nghiệp

đổi mới toàn diện ở Việt Nam tất yếu phải dựa trên cơ sở lý luận khoa học, trong

đó hạt nhân là phép biện chứng duy vật Công cuộc đổi mới toàn diện xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa được mở đường bằng đổi mới tư duy lý luận,

trong đó có vai trò của triết học Mác - Lênin Triết học phải góp phần tìm được

lời giải đáp về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời qua thực tiễn để bổ sung, phát triển tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội

- Thế giới quan triết học Mác - Lênin đã giúp Đảng ta nhìn nhận con đường đi lên CNXH trong giai đoạn mới, bối cảnh mới Thế giới quan triết học Mác - Lênin đã chỉ ra lôgíc tất yếu của sự phát triển xã hội loài người là CNXH Thế giới quan triết học Mác - Lênin đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 7

7

nhìn nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới, bối cảnh mới, trong điều kiện, hoàn cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ ở Liên Xô và các nước Đông Âu, chủ nghĩa tư bản không những không sụp đổ mà còn có sự phát triển mạnh mẽ hơn thế Thế giới quan triết học Mác - Lênin đã chỉ ra lôgíc tất

yếu của sự phát triển xã hội loài người là chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa tư bản

trước sau cũng sẽ được thay thế bởi một chế độ tốt hơn, công bằng hơn; con người được phát triển toàn diện Thế giới quan triết học Mác - Lênin đã giúp xác

định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

- Phương pháp luận của triết học Mác - Lênin giúp giải quyết những vấn

đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng CNXH, thực tiễn đổi mới Đòi hỏi Đảng phải

luôn quán triệt nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển trong quá trình đổi mới

Trang 8

8

CHỦ ĐỀ 3 Phân tích định nghĩa vật chất của Lênin và ý nghĩa khoa học của định nghĩa?

1 Định nghĩa vật chất của V.I Lênin

“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”

2 Những nội dung cơ bản trong định nghĩa vật chất của V.I Lênin

- Vật chất là một phạm trù triết học: Điều này để phân biệt vật chất với

các vật thể khác Vật chất là đối tượng nghiên cứu của khoa học Triết học, nó cần được nghiên cứu với phương pháp khái quát hóa, trừu tượng hóa Các vật thể là đối tượng nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành, không thể đồng nhất vật chất với vật thể

- Vật chất là cái tồn tại khách quan ở bên ngoài ý thức và không phụ thuộc vào ý thức, tất cả những gì tồn tại ở bên ngoài không phụ thuộc vào ý thức

đều nằm trong phạm trù vật chất Đây chính là thuộc tính cơ bản nhất, chung nhất của vật chất, là điểm chủ yếu để phân biệt được cái gì thuộc về vật chất và cái gì không thuộc vật chất

- Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi bằng cách nào đó trực tiếp hay gián tiếp tác động vào các giác quan của con người Điều này khẳng

định tính có thể nhận biết được của vật chất và con người thông qua các giác quan của mình hoàn toàn có thể nhận thức được thế giới xung quanh

- Vật chất là cái mà cảm giác, tư duy, ý thức của con người chẳng qua là cái phản ánh của nó mà thôi Điều này khẳng định trong quan hệ với ý thức thì

vật chất giữ vai trò quyết định, nó là nguồn gốc khách quan của ý thức

* Về mặt phương pháp mà Lênin đã sử dụng để định nghĩa khái niệm vật chất:

- Vật chất là một phạm trù rất rộng, rộng đến cùng cực vì vậy không thể

sử dụng phương pháp định nghĩa thông thường, Lênin đã sử dụng phương pháp định nghĩa khái niệm thông qua mặt đối lập với chính nó, tức là ông đã định nghĩa vật chất bằng cách đối lập nó với ý thức và định nghĩa khái niệm vật chất

trong mối quan hệ đối lập đó Lênin đã khẳng định: “Vật chất không là cái gì khác hơn, là thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người, được ý thức con người phản ánh”

- Cần chú ý rằng sự đối lập giữa vật chất và ý thức vừa mang ý nghĩa tuyệt đối vừa mang ý nghĩa tương đối

Trang 9

9

+ Ý nghĩa tuyệt đối là trên phương diện nhận thức luận để phân định về

nguyên tắc: Cái gì là vật chất và cái gì không thuộc về vật chất

+ Ý nghĩa tương đối là giữa vật chất và ý thức có mối quan hệ với nhau,

nguồn gốc để hình thành ý thức có liên quan mật thiết đến thế giới vật chất

Lênin đã khẳng định: “Dĩ nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức có ý nghĩa hết sức hẹp trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước cái

gì có sau Ngoài ra không còn nghi ngờ gì nữa sự đối lập đó chỉ là tương đối”

3 Ý nghĩa khoa học của định nghĩa vật chất

- Định nghĩa vật chất của Lênin đã bác bỏ thuyết không thể biết đồng thời cũng khắc phục được những khiếm khuyết trong các quan điểm siêu hình, máy móc về vật chất

- Định nghĩa vật chất của Lênin đã khắc phục được nhược điểm, khiếm khuyết trong quan niệm về vật chất của Chủ nghĩa duy vật trước Mác

- Bảo vệ chủ nghĩa Mác, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm khách quan, chủ nghĩa duy tâm chủ quan

- Khắc phục được cuộc khủng hoảng trên lĩnh vực vật lý học, định hướng hoạt động cho các nhà khoa học tự nhiên trong việc nghiên cứu, tìm kiếm, phát hiện các dạng, các hình thức mới của vật chất

- Xác định rõ hơn các dạng cơ bản của vật chất, đặc biệt là dạng vật chất trong đời sống xã hội

- Trong việc nhận thức các hiện tượng thuộc đời sống xã hội, định nghĩa vật chất của Lênin đã cho phép xác định cái gì là vật chất trong lĩnh vực xã hội Đây là điều mà các nhà duy vật trước Mác chưa đạt tới Định nghĩa vật chất của Lênin giúp cho các nhà khoa học có cơ sở lý luận đề giải thích những nguyên nhân cuối cùng của các biến cố xã hội, những nguyên nhân thuộc về sự vận động của phương thức sản xuất Trên cơ sở đó người ta có thể tìm ra các phương

án tối ưu để hoạt động thúc đẩy xã hội phát triển

Trang 10

10

CHỦ ĐỀ 4 Phân tích quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về nguồn gốc, bản chất của ý thức?

1 Khái niệm và kết cấu của ý thức

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc người một cách năng động, sáng tạo

Ý thức có kết cấu phức tạp bao gồm nhiều thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu tiếp cận từ góc độ yếu tố cấu thành hay theo lát cắt chiều ngang thì ý thức gồm: Tri thức, tình cảm và ý chí; nếu tiếp cận từ góc độ chiều sâu của thế giới nội tâm của con người (lát cắt chiều dọc) thì ý thức bao gồm: Tự ý thức, tiềm thức và vô thức

* Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở

hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng

* Phản ánh là một thuộc tính chung phổ biến của mọi dạng vật chất Kết

quả của sự phản ánh tùy thuộc về cả 2 phía: Vật tác động và vật nhận tác động Trong đó, vật nhận tác động bao giờ cũng mang thông tin của vật tác động Đây

là điều quan trọng để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức, của tri thức con người về thế giới bên ngoài

+ Sự phản ánh của vật chất có quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, các đối tượng vật chất càng ở bậc thang tiến hoá cao bao nhiên thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trưng cho giới tự nhiên vô cơ là phản ánh vật lý, hóa học mang tính chất thụ động chưa có sự định hướng Trong giới tự nhiên hữu sinh có

sự phản ánh sinh học với các hình thức như tính kích thích, tính cảm ứng, phản

xạ Đến động vật cao cấp thì sự phản ánh đạt đến trình độ tâm lý động vật Tuy nhiên, đó chưa phải là ý thức Ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thực và chỉ nảy sinh ở sự phát triển cao của thế giới vật chất cùng với

sự xuât hiện của một kết cấu vật chất có tổ chức cao nhất, đó là bộ não con người

Trang 11

11

Tóm lại, bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động vào bộ óc

thông qua đó, bộ óc thực hiện chức năng phản ánh, ghi lại sự tác động đó, đó là nguồn gốc tự nhiên của sự hình thành nên ý thức

- Nguồn gốc xã hội

Ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, phụ thuộc vào xã hội và ngay

từ đầu đã mang tính xã hội Quá trình hình thành ý thức không chỉ nhờ vào tác động thuần tuý của thế giới tự nhiên vào trong bộ óc con người mà chủ yếu nhờ vào hoạt động thực tiễn của con người đặc biệt là hoạt động sản xuất cải tạo thế giới tự nhiên Nhờ có hoạt động này mà con người đã bắt thế giới tự nhiên phải bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động… thành những hiện tượng nhất định để con người nắm bắt chúng Như vậy, hoạt động thực tiễn, đặc biệt là hoạt động lao động sản xuất đã giúp con người vừa cải biến

và nâng cao trình độ của các giác quan trong quá trình nhận biết để nhận biết sự vật được chính xác, nhanh nhạy hơn Đồng thời quá trình đó cũng làm con người tích lũy ngày càng nhiều hơn những tri thức về đối tượng đó

Cũng trong quá trình lao động ở con người đã xuất hiện nhu cầu phải trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng, tình cảm cho nhau Từ đó dẫn đến sự ra đời của ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là một hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức; nó vừa là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ của tư duy Nhờ có nó mà con người có thể khái quát hóa, trừu tượng hóa, tức là tiến hành ý thức về sự vật Mặt khác, nhờ ngôn ngữ mà tri thức của loài người được gìn giữ, chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác và qua đó ý thức của loài người là một quá trình liên tục, không đứt quãng và ngày càng phát triển Rõ ràng, ý thức không phải là một hiện tượng mang tính chất cá nhân mà là một hiện tượng mang tính xã hội và chỉ nảy nở khi con người sống trong môi trường xã hội Không có ngôn ngữ thì

không thể phát triển ý thức

Tóm lại, để ý thức ra đời, hình thành và phát triển thì những tiền đề,

nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng và không thể thiếu được nhưng là chưa đủ, nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất của sự hình thành nên ý thức là lao động sản xuất, là môi trường xã hội trong đó con người đang sinh sống và hoạt động

3 Bản chất của ý thức

Ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo tạo nên những hình ảnh chủ quan của con người về thế giới khách quan

Ý thức là cái phản ánh, còn hiện thực khách quan là cái được phản ánh Cái được phản ánh tồn tại khách quan ở bên ngoài con người Còn cái phản ánh

- ý thức - chỉ tồn tại trong bộ óc người Như vậy ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Ý thức không phải là sự phản ánh tùy tiện, giản đơn hay là

Trang 12

Quá trình ý thức có sự thống nhất của những mặt sau đây:

+ Có sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao đổi mang tính định hướng hai chiều, có định hướng, có chọn lọc

+ Có sự mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần + Chuyển từ mô hình của tư duy thành hiện thực khách quan bên ngoài + Dự báo tương lai trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực, phát hiện ra những vấn đề bản chất, những quy luật của sự vận động của hiện thực khách quan Từ đó định hướng hoạt động con người theo quy luật

Trang 13

13

CHỦ ĐỀ 5

Phân tích quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa của nó đối với công tác của bản thân?

1 Các khái niệm

- Khái niệm vật chất: Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực

tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của

chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

- Khái niệm ý thức: Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong

bộ óc người một cách năng động, sáng tạo

2 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

- Vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức và vai trò quyết định đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

+ Một là, xét về mặt thời gian: Vật chất là cái có trước, là cái vô cùng vô tận, không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc Còn ý thức là cái

có sau, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người, loài người và nó là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên cũng như của những hoạt động của con người Cái có sau không thể sinh ra cái có trước nó được Vì vậy ý thức là cái không thể nào sinh ra vật chất được

+ Hai là, xét về mặt nguồn gốc hình thành: Vật chất không do ai sáng tạo

ra và không thể bị mất đi nó có nguồn gốc từ bản thân nó còn ý thức được hình thành từ nguồn gốc tự nhiên và xã hội Những yếu tố ở hai nguồn gốc đó đều liên quan mật thiết, trực tiếp đến thế giới vật chất, có cơ sở từ vật chất (bộ óc con người - dạng vật chất có tổ chức cao, thuộc tính phản ánh, hoạt động mang tính vật chất của con người, tín hiệu vật chất là ngôn ngữ) tức là những tiền đề, nguồn gốc tạo thành ý thức đều xuất phát từ vật chất và thuộc về thế giới vật chất

+ Ba là, xét về mặt nội dung: Ý thức chỉ là cái phản ánh, còn thế giới vật chất là cái được phản ánh Đương nhiên, nếu không có cái được phản ánh - tức

là thế giới vật chất - thì sẽ chẳng có được một hình ảnh nào đó về nó Nội dung của ý thức là những tri thức của con người về thế giới vật chất ở xung quanh họ, những tri thức đó cũng được con người tích lũy từ trong hoạt động vật chất của chính họ

+ Bốn là, xét về sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức: Sự phát triển của tư duy, của ý thức con người phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thực tiễn con người trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới vật chất Trình độ nhận thức của con người phụ thuộc vào trình độ hoạt động chinh phục tự nhiên

Trang 14

14

cải tạo xã hội của chính con người Khi thế giới vật chất và cuộc sống xã hội có những biến đổi thì điều đó sớm muộn cũng dẫn đến sự biến đổi, sự phát triển trong tư duy, ý thức con người

Như vậy, xét cả về mặt thời gian, nguồn gốc hình thành, về mặt nội dung cũng như về sự vận động biến đổi và phát triển của ý thức cho thấy: Vật chất luôn là tính thứ nhất, ý thức luôn là tính thứ hai, vật chất bao giờ cũng quyết định ý thức

- Ý thức cũng có tác động mạnh mẽ trở lại đối với vật chất, thể hiện:

+ Những ý thức đúng đắn, khoa học và cách mạng phản ánh đúng bản chất, quy luật vận động của thế giới vật chất sẽ có tác động tích cực thúc đẩy sự vận động, phát triển của thế giới vật chất

+ Những ý thức, tư tưởng phản khoa học, phản ánh xuyên tạc bản chất, quy luật vận động thế giới khách quan sẽ có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của thế giới vật chất

Sự tác động của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Còn bản thân ý thức tự nó không trực tiếp làm thay đổi được gì trong hiện thực Vì vậy nói tới vai trò của ý thức về thực chất là nói đến vai trò của con người, ý thức chỉ đạo hành động của con người hình thành mục tiêu kế hoạch, biện pháp cho hoạt động của con người

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng diễn ra trên cơ

sở vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Trong bất kỳ trường hợp nào ý thức cũng chỉ là sự phản ánh thế giới vật chất và sáng tạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh và sáng tạo trong khuôn khổ của sự phản ánh

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng thực tế khách quan và lấy nó làm căn cứ, cơ sở cho việc hoạch định mọi chủ trương, chính sách

Lênin đã nhấn mạnh: “Không được lấy ý muốn chủ quan của mình là chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược của cách mạng Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc bệnh chủ quan duy ý chí”

- Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, tính tích cực, chủ động trong hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người Vai trò tích cực của

ý thức, tư tưởng không phải là ở chỗ nó trực tiếp tạo ra hay làm thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức đúng đắn thế giới khách quan Từ đó hình thành ở con người mục đích, phương hướng, ý chí, phương pháp… Con người càng phản ánh chính xác, đầy đủ thế giới khách quan thì hoạt động cải tạo thế giới khách quan của họ càng có hiệu quả Vì vậy phát huy tính năng động, sáng tạo của ý

Trang 15

4 Ý nghĩa đối với công tác của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Trang 16

16

CHỦ ĐỀ 6 Phân tích nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Liên hệ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam?

1 Khái niệm

- Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động

và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố

của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến: Mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính

phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới

2 Tính chất của mối liên hệ

- Tính khách quan của các mối liên hệ

Cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này, các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có

đa dạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan vì vậy mối liên hệ cũng mang tính khách quan, là cái vốn có của các sự vật và hiện tượng

- Tính phổ biến của các mối liên hệ

Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Sự vật, hiện tượng sẽ không thể phát triển theo đúng nghĩa của nó nếu tách rời với các sự vật, hiện tượng khác

- Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ

Khi nghiên cứu hiện thực khách quan, tùy theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp của mối liên hệ mà chúng ta có thể phân chia chúng ra thành từng loại liên hệ

Có thể khái quát mối liên hệ bao gồm những loại như sau: Mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ bên trong; mối liên hệ cơ bản, mối liên hệ không cơ bản; mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp; mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ thứ yếu…

Những hình thức riêng biệt, cụ thể của từng mối liên hệ là đối tượng nghiên cứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện chứng duy vật nghiên cứu những mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của thế giới Vì thế,

Ăng ghen viết: “Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến”

3 Ý nghĩa phương pháp luận

Trang 17

17

- Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật,

hiện tượng ta rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức các sự vật cũng như

trong hoạt động thực tiễn Yêu cầu của quan điểm toàn diện:

+ Về mặt nhận thức: Cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng nào đó đặt trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tương khác; phát hiện ra những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố, bộ phận, thuộc tính, các giai đoạn phát triển khác nhau của

sự vật đó Lênin khẳng định: “Muốn thật sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”

+ Về mặt hoạt động thực tiễn: Để cải tạo được sự vật cần phải làm biến đổi những mối liên hệ của sự vật đó với các sự vật khác, đặc biệt là mối liên hệ bên trong, trực tiếp, bản chất Cần phải xây dựng kế hoạch tổng thể và phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương pháp, phương tiện khác nhau để tác động Mặt khác, quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi cần phải kết hợp chặt chẽ chính sách dàn đều và chính sách có trọng điểm, vừa chú ý giải quyết cái tổng thể vừa biết lựa chọn vấn đề trung tâm, trọng tâm để giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết các vấn đề khác

+ Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện, một chiều siêu hình, chỉ nhìn thấy những sự vật cá biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những sự vật ấy

+ Quan điểm toàn diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn

- Các mối liên hệ có tính đa dạng nên trong hoạt động của mình con người

phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể nghĩa là khi nhận thức một đối tượng

nào đó phải đặt nó vào đúng mối liên hệ của nó, đúng không gian của nó và đúng thời gian của nó Quan điểm lịch sử - cụ thể đòi hỏi khi vận dụng những nguyên tắc lý luận vào thực tiển không được dừng lại ở những công thức chung,

sơ đồ chung mà phải tính đến những điều kiện lịch sử - cụ thể của sự vận dụng

Cần chống bệnh giáo điều: Tức từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinh viện, thuần túy chỉ biết giải thích bằng kinh nghiệm, chứng minh lý luận bằng lý luận cần chống đối lối tư duy bắt chước, sao chép rập khuôn, thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm, truyền thống và điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, của dân tộc tăng cường tổng kết thực tiễn bổ sung phát triển lý luận

Trong hoạt động thực tiễn con người càng hiểu nhiều mối liên hệ bao nhiêu thì sai lầm càng ít đi Muốn đánh giá đúng tình hình, nhận thức đúng bản chất của sự vật và giải quyết tốt mọi công việc của mình chúng ta phải quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể Đó là phương pháp nhận thức khoa học

4 Liên hệ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 18

18

Đảng ta đã vận dụng thành công nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng như quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể trong thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về việc đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn Tuy nhiên thời kỳ trước đổi mới (1976 - 1986) chúng ta đã phạm phải những sai lầm thiếu sót thể hiện: Chỉ chú ý xây dựng quan hệ sản xuất mới mà không chú ý đến phát triển lực lượng sản xuất Trong xây dựng quan hệ sản xuất chúng ta chỉ chú

ý đến mối quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất mà không chú ý đến mối quan hệ

tổ chức quản lý và quan hệ phân phối sản phẩm dẫn đến quốc hữu hoá tư liệu sản xuất thực tế trình độ quản lý của ta còn yếu kém, không khơi dậy tính năng động nơi người lao động Quan niệm CNXH phải có công nghiệp nặng, quá coi trọng việc xây dựng công nghiệp nặng, nông nghiệp không được quan tâm đúng mức mà ưu thế của ta là một nước nông nghiệp

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Văn kiện XII đã khẳng định: Đổi mới phải toàn diện và đồng bộ và triệt để Nội dung đổi mới bao gồm nhiều mặt, song trong mỗi bước

đi phải xác định đúng khâu then chốt để tập trung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác, lĩnh vực khác Vì vậy, trong mối quan hệ đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, Đảng ta chủ trương trước hết là đổi mới kinh tế, coi đó là điều kiện để tiến hành đổi mới trong lĩnh vực chính trị

Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng CSVN xác định: Đổi mới toàn diện mọi mặt đời sống xã hội trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế Đảng ta

đã khẳng định: “Xét trên tổng thể Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, không có sự đối nội đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội”

Trang 19

19

CHỦ ĐỀ 7 Phân tích nguyên lý về sự phát triển Ý nghĩa của việc nghiên cứu trong thực hiện nhiệm vụ của bản thân?

1 Khái niệm phát triển

Phát triển là một phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để khái quát quá trình vận động theo khuynh hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

2 Tính chất của sự phát triển

- Tính khách quan của sự phát triển

Nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật nên nó không phụ thuộc vào ý chí, nguyện vọng của con người

- Tính phổ biến của sự phát triển

Sự phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy, ở bất

cứ sự vật hiện tượng nào của thế giới khách quan

+ Trí tuệ con người phát triển từ chỗ chế tạo được công cụ sản xuất bằng

đá, đến máy móc tinh vi

- Tính đa dạng, phong phú của sự phát triển

Ở các sự vật, hiện tượng khác nhau, tồn tại ở thời gian, không gian khác nhau thì sự phát triển diễn ra khác nhau Sự phát triển còn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài làm thúc đẩy, kìm hãm hoặc thay đổi chiều hướng của sự phát triển

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức được rằng muốn thật sự nắm bắt được bản chất sự vật, hiện tượng, nắm bắt được khuynh hướng vận động của chúng thì cần phải xây dựng quan điểm vận động

và phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ Yêu cầu cơ bản của quan điểm

đó là: Khi xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong trạng thái vận động và

phát triển Lênin đã khẳng định: “Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó”

- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng không chỉ với tư cách là cái đang tồn tại

mà cần phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của nó, dự báo

Trang 20

20

sự xuất hiện của nhân tố mới, cái mới, chuẩn bị những điều kiện thuận lợi cho sự

ra đời của cái mới

- Cần có thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự chiến thắng tất yếu của cái mới đồng thời phải có nhận thức rõ quá trình phát triển là quá trình biện chứng đầy mâu thuẫn Chiến thắng của cái mới đối với cái cũ là rất khó khăn, phức tạp thậm chí còn có những thất bại tạm thời

- Để có một sự phát triển trong hiện thực cần có quá trình tích lũy về lượng, một sự chuẩn bị cho những bước nhảy vọt nhằm thay đổi về chất qua những lần phủ định Mặt khác, cần biết phát hiện ra mâu thuẫn và tổ chức để các mâu thuẫn đó được giải quyết

- Cần đấu tranh khắc phục và chống lại mọi biểu hiện của trì trệ, bảo thủ, không dám đổi mới để phát triển đồng thời phải chống thái độ nóng vội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn

- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển đòi hỏi phải xây dựng và quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn

4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu trong thực hiện nhiệm vụ của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Trang 21

21

CHỦ ĐỀ 8 Phân tích quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn công tác của bản thân?

1 Phạm trù cái riêng, cái chung

- Cái riêng: Chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất

định tồn tại như một chỉnh thể trong thế giới

- Cái chung: Chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu tố, những quan

hệ không chỉ ở một sự vật, hiện tượng nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng khác

- Cái đơn nhất: Những mặt, những thuộc tính, những tính chất… chỉ có ở

một kết cấu vật chất nhất định và không lặp lại ở kết cấu vật chất khác

2 Quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung

- Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng mà nó được biểu hiện ra, nghĩa là cái chung không tồn tại thuần tuý bên ngoài cái riêng

- Cái riêng chỉ tồn tại trong mối quan hệ với cái chung, cái riêng tồn tại độc lập nhưng không biệt lập, nó có mối liên hệ với cái chung khác Cái riêng là cái toàn bộ phong phú hơn cái chung

- Cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc và bản chất hơn cái riêng Cái riêng phong phú hơn cái chung bởi vì ngoài những đặc điểm gia nhập vào cái chung, cái riêng còn có những đặc điểm riêng biệt mà chỉ có cái riêng mới có Cái chung sâu sắc hơn cái riêng, bởi vì nó phản ánh những mặt, những thuộc tính những mối liên hệ bên trong tất nhiên ổn định tồn tại trong các cái riêng còn lại

- Trong quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, cái chung chuyển hoá thành cái đơn nhất và ngược lại Có tình trạng này là do sự vật cũ mâu thuẫn với sự vật mới trong quá trình phát triển đi lên (cái mới ra đời đơn nhất ở một sự vật, sau khi phát triển nó lây lan trở thành cái chung)

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Do cái chung là cái sâu sắc, bản chất chi phối cái riêng, nên trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn phải phát hiện cái chung, vận dụng cái chung để tái tạo cái riêng

- Cái chung và cái riêng tồn tại gắn bó, nên khi giải quyết vấn đề cái riêng phải chú ý vận dụng cái chung

- Để giải quyết những vấn đề riêng một cách có hiệu quả thì cần phải giải quyết những vấn đề chung liên quan đến những vấn đề riêng đó Nếu không thì

sẽ dễ sa vào tình trạng mò mẫm, tuỳ tiện, kinh nghiệm chủ nghĩa

Trang 22

22

- Trong hoạt động thực tiễn cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho cái đơn nhất biến thành cái chung, và ngược lại cái chung thành cái đơn nhất, nếu sự biến đổi đó có lợi cho con người và xã hội

- Cần chống lại chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa giáo điều, rèn luyện

tư duy lý luận

4 Liên hệ thực tiễn công tác của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Trang 23

23

CHỦ ĐỀ 9 Phân tích quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn công tác của bản thân?

1 Phạm trù nguyên nhân, kết quả

- Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt trong

một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau gây ra những biến đổi nhất định

- Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động lẫn

nhau của các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

- Cần phân biệt nguyên nhân với nguyên cớ và nguyên nhân với điều kiện

Điều kiện: Yếu tố tác động đến nguyên nhân làm cho nguyên nhân biến

đổi phát triển cần thiết tạo ra kết quả

Nguyên cớ: Hiện tượng xuất hiện quanh mối liên hệ nhân quả và ít nhiều

liên quan đến kết quả, không sinh ra kết quả

2 Quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả

- Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả là mối quan hệ khách quan, bao hàm tính tất yếu

- Nguyên nhân sinh ra kết quả, có trước kết quả Một nguyên nhân có thể sinh ra một hoặc nhiều kết quả và một kết quả có thể do một hoặc nhiều nguyên

nhân tạo nên

Nguyên nhân, là cái sinh ra kết quả, vì vậy nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả Kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện Tuy nhiên không phải sự nối tiếp nào trong thời gian của các hiện tượng cũng biểu hiện mối quan hệ nhân quả Vì vậy khi nói đến mối quan hệ nhân quả mà nói đến tính liên tục nối tiếp nhau về thời gian thì chưa đủ

Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện rất phức tạp, một kết quả thông thường phải do một nguyên nhân sinh ra Tuy nhiên một nguyên nhân cũng có thể sinh ra nhiều kết quả

Mối quan hệ nhân quả là mối quan hệ sản sinh, không phải quan hệ bên ngoài mà là quan hệ bên trong nhưng không đơn giản Gọi là nguyên nhân thì nhất định sinh ra kết quả, kết quả là kết quả của nguyên nhân sản sinh ra, kết quả nhanh hay chậm phụ thuộc vào điều kiện nhất định

- Tác động trở lại của kết quả đối với nguyên nhân

Nguyên nhân sinh ra kết quả tuy nhiên kết quả không thụ động, kết quả ra đời tác động trở lại nguyên nhân, có hai hướng tích cực và tiêu cực

- Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau

Trang 24

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và thực tiễn không thể phủ nhận quan hệ nhân - quả Mối quan hệ nhân quả là khách quan, mỗi sự vật tồn tại đều có nguyên nhân Có những nguyên nhân con người chưa khám phá ra, nhưng rồi sẽ phát hiện Nhiệm vụ của nhận thức khoa học là khám phá những điều kiện mà hiện nay con người chưa biết

- Phải phân biệt chính xác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết đúng đắn, phù hợp trong từng trường hợp cụ thể

Một sự vật hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra, những nguyên nhân này có vị trí khác nhau trong việc hình thành kết qủa Vì vậy trong hoạt động thực tiễn, cần phân loại các nguyên nhân (trong, ngoài, trực tiếp, gián tiếp, chủ yếu, thứ yếu…), đồng thời phải nắm nguyên nhân tác động cùng chiều hoặc khác chiều để tạo ra sức mạnh tổng hợp và hạn chế những nguyên nhân ngược chiều

- Phải tính đến tác động ngược trở lại của kết quả đối nguyên nhân để dự kiến các phương án hành động mới

Kết quả do nguyên nhân sinh ra, nhưng kết quả không thụ động, do vậy phải biết khai thác, vận dụng các kết quả đạt được để nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự vật phát triển

- Chuổi nhân quả là vô tận về quá khứ và tương lai, nhân quả trong hiện thực luôn chuyển hoá cho nhau Khi muốn xác định nguyên nhân kết quả ta phải đặt trong mối quan hệ cụ thể, tức là dùng phương pháp cụ thể

4 Liên hệ thực tiễn công tác của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Trang 25

25

CHỦ ĐỀ 10 Phân tích quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn công tác của bản thân?

1 Phạm trù nội dung, hình thức

- Nội dung là một phạm trù triết học tổng hợp tất cả những mặt, những

yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật

- Hình thức là một phạm trù triết học để chỉ phương thức tồn tại và phát

triển của sự vật, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố tạo thành sự vật

2 Quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức

- Nội dung và hình thức là một thể thống nhất gắn bó với nhau Không có một hình thức nào lại không chứa đựng một nội dung và không có một nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định

- Một nội dung tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, một hình thức cũng có thể chứa đựng nhiều nội dung

- So với hình thức nội dung bao giờ cũng có vai trò quyết định Nội dung luôn biến đổi, hình thức tương đối bền vững, nhưng khi nội dung biến đổi thì hình thức cũng biến đổi cho phù hợp

- Trong quá trình phát triển của sự vật, nội dung bao giờ cũng quyết định hình thức và hình thức cũng tác động trở lại nội dung

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Nội dung và hình thức luôn gắn bó với nhau, vì thế trong hoạt động thực tiễn cần tránh tách rời chúng hoặc tuyệt đối hoá một trong hai mặt vốn có, đặc

biệt là trong khoa học nghệ thuật Đặc biệt cần chống chủ nghĩa hình thức

- Cùng một nội dung tuỳ tình hình có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức và ngược lại Vì vậy trong hoạt động thực tiễn sử dụng mọi hình thức có thể

để phục vụ cho những nhiệm vụ cụ thể trong từng giai đoạn cách mạng

- Vì nội dung quyết định hình thức, nên khi xem xét sự vật trước hết phải căn cứ vào nội dung Tuy nhiên cũng phải thấy sự tác động trở lại của hình thức

- Trong hoạt động thực tiễn, cần sử dụng sáng tạo, đổi mới hình thức theo yêu cầu phát triển của nội dung

- Cần thường xuyên theo dõi mối quan hệ giữa nội dung và hình thức để kịp thời can thiệp vào quá trình phát triển của chúng

4 Liên hệ thực tiễn công tác của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Trang 26

26

CHỦ ĐỀ 11 Phân tích quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng Rút ra ý nghĩa phương pháp luận và liên hệ thực tiễn công tác của bản thân?

1 Phạm trù bản chất, hiện tượng

- Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên

tương đối ổn định ở bên trong sự vật quy định sự vận động và phát triển của

sự vật

Bản chất hẹp hơn nội dung (nội dung gồm tất cả các mặt), bản chất gắn với cái chung

- Hiện tượng là biểu hiện những mặt, những mối liên hệ đó ra bên ngoài,

là hình thức biểu hiện của bản chất

2 Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng

- Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất, vừa đối lập với nhau Không có bản chất nào tồn tại thuần tuý mà không gắn với hiện tượng Bản chất luôn thể hiện ra bên ngoài bằng hiện tượng, khi bản chất

sự vật thay đổi thì hiện tượng biểu hiện của nó cũng thay đổi

- Bản chất và hiện tượng thống nhất với nhau

- Ngoài thống nhất biện chứng, bản chất và hiện tượng cũng mâu thuẫn với nhau nó thể hiện ở chỗ: Hiện tượng biểu hiện bản chất ra bên ngoài nhưng không bao giờ hiện tượng biểu hiện bản chất đúng đắn và đầy đủ, trực tiếp cả bởi vì xét sự vật trong trạng thái vận động và biến đổi

- Hiện tượng phong phú hơn bản chất bản chất sâu sắc hơn hiện tượng

3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Về mặt nhận thức: Để đánh giá phát hiện đúng bản chất của sự vật thì

phải thông qua các hiện tượng, song không được dừng lại ở hiện tượng mà phải biết xử lý chúng, hệ thống hóa chúng, đánh giá các hiện tượng từ nhiều góc độ khác nhau Nhận thức bản chất của sự vật là quá trình phức tạp, khó khăn, đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn

- Trong hoạt động thực tiễn: Cần dựa vào bản chất chứ không dựa trên

hiện tượng để xác định phương thức hoạt động Cần biết thu thập, sàng lọc, đánh giá, phát hiện và loại bỏ những hiện tượng giả, hết sức thận trọng khi kết luận về bản chất của con người, của đối tượng, của sự việc nào đó

- Muốn thật sự nhận thức được bản chất của sự vật phải thông qua rất nhiều hiện tượng, loại bỏ giả tượng

- Trong hoạt động thực tiễn để hiểu sự vật không chỉ dựa vào hiện tượng

mà phải đi sâu vào bản chất của nó

Trang 27

27

4 Liên hệ thực tiễn công tác của bản thân

- Trong quá trình học tập, rèn luyện…

- Trong nhận thức…

- Trong hoạt động thực tiễn…

Ngày đăng: 14/10/2022, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN