BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT ĐỀ BÀI 02 Hà Nội, 2021 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 1 Tóm tắt nội dung bài viết “Góp phần nhận thức về qu.
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP HỌC KỲ
MÔN: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÀ NƯỚC VÀ
PHÁP LUẬT
ĐỀ BÀI : 02
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2
1 Tóm tắt nội dung bài viết: “Góp phần nhận thức về quyền lực nhà nước” của tác giả Nguyễn Minh Đoan (Tạp chí Luật học, số 1/2001) 2
2 Chỉ ra sự giống và khác nhau trong cách hiểu về quyền lực nhà nước giữa tác
giả bài viết trên và tác giả Nguyễn Văn Năm trong bài viết “Quyền lực nhà nước
và việc sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992” (Tạp chí Luật
học, số 4/2001) 5
2.1 Sự giống nhau 5 2.2 Sự khác nhau 6
3 Trình bày quan điểm của cá nhân em về nội dung qui định tại khoản 2, Điều 2
Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do
Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng
là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.
7 KẾT LUẬN 9 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
Trang 3MỞ ĐẦU
Quyền lực nhà nước luôn là vấn đề trung tâm trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia, các hoạt động chính trị đều xoay quanh các hoạt động cơ bản này
Ở Việt Nam cũng không ngoại lệ, vấn đề quyền lực nhà nước luôn được các học giả Việt Nam quan tâm hàng đầu Hiện nay, nhìn chung về cơ bản sự nhận thức
về quyền lực nhà nước là có sụ thống nhất Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều vấn đề tranh cãi trong việc nhận thức quyền lực nhà nước Vì vậy, em chọn bài tập số 2 trong bộ bài tập học kỳ môn Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật để làm rõ vấn đề này
NỘI DUNG
1 Tóm tắt nội dung bài viết: “Góp phần nhận thức về quyền lực nhà
nước” của tác giả Nguyễn Minh Đoan (Tạp chí Luật học, số 1/2001)
Qua bài viết: “Góp phần nhận thức về quyền lực nhà nước”, tác giả Nguyễn Minh Đoan đã trình bày một cách chung nhất, cơ bản nhất, sâu sắc nhất về cách hiểu quyền lực nhà nước
Mở đầu, tác gải khái quát chung nhất về quyền lực Quyền lực được xem như là khả năng của cá nhân hay tổ chức có thể buộc các cá nhân hay tổ chức khác phải phục tùng ý chí của mình Không nằm ngoài sự vận động và phát triển của xã hội, quyền lực được sinh ra đúng như một nhu cầu tất yếu khách quan Trước nhu cầu tổ chức, quản lý, duy trì trật tự của xã hội, cần có một thiêt chế -quyền lực để thực thi các hoạt dộng ấy Do đó -quyền lực được biểu hiện qua các mối quan hệ: chỉ huy – lệ thuộc hoặc mệnh lệnh – phục tùng Trong đó cưỡng chế là yếu tố chính , kết hợp chặt trẽ với phương pháp thuyết phục để thực thi quyền lực – áp đặt ý chí của chủ thể có quyền Do tổ chức, cộng đồng nào cũng cần duy trì và phát triển, nên quyền lực tồn tại ở nhiều nơi trong xã hội tương ứng với nó là các loại quyền lực khác nhau Nên, mỗi chủ thể thường nằm trong nhiều mối quan hệ quyền lực khác nhau
Khác với các loại quyền lực xã hội khác, quyền lực nhà nước là một quyền lực công đặc biệt Đại diện quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia thông qua pháp luật Đồng thời, quyền lực nhà nước cũng mang tính giai cấp và mục đích
Trang 4chính trị rõ ràng: thuộc về giai cấp thống trị và chủ yếu phục vụ lợi ích cho giai cấp ấy Cùng với sự phát triển của xã hội, ở mỗi quốc gia khác nhau, trong các bối cảnh lịch sử khác nhau, quyền lực nhà nước được biểu hiện ở các bộ máy nhà nước khác nhau và cơ chế vận hành bộ máy ấy Lịch sử đã chứng minh rằng: trong chế độ quân chủ chuyến chế - quyền lực nhà nước tập chung vào tay một cá nhân thì thường dẫn đến sự tha hóa, chuyên quyền, độc đoán; nếu quyề lực nhà nước phân chia theo chiều dọc thì dẫn đến tính trạng phân quyền cát cứ, quyền lực nhà nước không tập trung, không thống nhất Trước những vấn đề cấp thiết ấy, lí thuyết phân chia quyền lực nhà nước đã ra đời Theo đó, quyền lực nhà nước tập trung vào trung ương và được chia thành các quyền mà chủ yếu là
ba nhánh quyền lực chính: lập pháp, hành pháp, tư pháp Theo đó, mỗi quyền này được trao cho các cơ quan nhà nước khác nhau thực hiện một cách độc, mỗi
cơ quan chỉ được thực hiện một quyền Trong đó các các cơ quan của ba nhánh quyền lực này kiểm soát và ước chế lẫn nhau Tuy nhiên, thực tiễn đã chỉ ra rằng, cơ chế phân quyền trong các nhà nước tư sản là không giống nhau Hiệu quả của việc phân chia vẫn không cao, tình trạng xung đột, mâu thuẫn giữa các nhánh quyền lực rất phức tạp và tốn kém
Không nằm ngoài quy luật phát triển chung, những vấn đề trên cũng xảy ra ở nước ta Nhận thức về vấn đề này, hiện nay các nhà khoa học Việt Nam vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này Một số nhà khoa học cho rằng quyền lực nước ta tập trung thống nhất ở nhân dân Một số khác lại cho rằng quyền lực nước ta tập chung thống nhất ở Quốc hội chứ không phải ở nhân dân Theo quy định của Hiến pháp 1992 ở nước ta thì tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Tuy nhiên theo Điều 6 Hiến pháp 1992, có quy định về cơ chế ủy quyền, nhân dân đã trao quyền lực của mình cho cả Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp Nhưng quyền lực tối cao của Nhà nước được trao cho Quốc hội, vì vậy, Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực cao nhất, thay mặt cho nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng cho đất nước Mặt khác, cùng với Quốc hội
và hội đồng nhân dân là hàng loạt các cơ quan nhà nước khác thực hiện quyền lực nhà nước một cách toàn diện Để cho quyền lực nhà nước được thống nhất
Trang 5thì các cơ quan khác đều phải do hai cơ quan là Quốc hội và hội đồng nhân trực tiếp hoặc gián tiếp lập nên và chịu sự giám sát tối cao của hai cơ quan này Như vậy, cách tổ chức như này giúp cho quyền lực nhà nước được tập trung thống nhất vào cơ quan quyền lực nhà nước, từ đó tránh được hiện tượng mâu thuẫn, xung đột giữa các cơ quan nhà nước khi thực hiện quyền lực nhà nước
Để bảo đảm việc quản lí toàn diện, thống nhất các mặt quan trọng của đời sống xã hội cần thành lập hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương kết hợp theo ngành và lãnh thổ Qua đó hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương Hội đông nhân dân không những phải chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương mà hơn nữa còn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước cấp trên – trong đó cơ quan nhà nước cấp trên cao nhất là Quốc hội Với những quy định trên, có thể thấy rằng quyền lực nhà nước đã đảm bảo sự tập trung ở địa phuong đồng thòi đảm bảo sự bao trùn, rộng khắp ở địa phương
Từ đó tác giả đưa ra những quan điểm cá nhân của mình: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp Và tác giả đã khẳng định rằng, nếu cho rằng quyền lực nhà nước ở nước ta tập chung thống nhất ở nhân dân chứ không phải quốc hội là chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn Bởi lẽ rằng, quyền lực nhà nước luôn đòi hỏi phải được biểu hiện cụ thể thông qua mô hình và cơ chế vận hành xác định Nên có thể hiểu khi nói tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là để chỉ cái gốc, điểm xuất phát của quyền lực nhà nước là tự nhân dân Chủ thể trực tiếp mang và thực hiên quyền lực nhà nước là Nhà nước Nếu bộ máy nhà nước không thực hiện quyền của nhân dân trao cho ấy thì đó chưa thực
sự được gọi là quyền lực nhà nước Do đó, chỉ có thể nối quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân nhưng tập trung ở cơ quan địa diện cao nhất
Quan điểm thứ ba lại cho rằng quyền lực nhà nước là không thể phân chia:
ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chỉ là quyền năng chứ không phải
là quyền lực; nguyên tắc phân quyền trong bộ máy nhà nước tư sản chỉ là nguyên tắc tổ chức – kĩ thuật, vì thực ra, dù tổ chức theo nguyên tắc phân quyền
Trang 6nhưng trong nhà nước tư sản quyền lực nhà nước vẫn tập trung vào giai cấp tư sản Theo tác giả, quan điểm trên là không có cơ sở thực tiễn Bởi mỗi cơ quan nhà nước đều thể hiện quyền nang của mình ở chỗ trong phạm vi thẩm quyền của mình Theo đó, tác giả chỉ rõ rằng chủ quyền (quyền lực) nhân dân thì không thể phân chia nhưng quyền lực mà các cơ quan mang và thực hiện thì có thể phân chia theo chiều ngang (theo đơn vị lãnh thổ) và theo chiều ngang
Sau khi nêu hệ thống ba quan điểm, tác giả Nguyễn Minh Đoan đã khẳng định lại vấn đề quyền lực ở nước ta là tập trung, thống nhất, không phân chia nhưng trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước thì giữa các cơ quan ở ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có sự phân công phối hợp với nhau Trong đó Quốc hội là cơ quan đại diên cho nhân dân nắm giữ quyền lực cao nhất Như vậy việc tổ chức, thực hiện quyền lực ở nước ta sẽ vừa giữ vững được
sự tập trung, thống nhất quyền lực, vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo; vừa chống được tập trung quan liêu vừa tránh được tình trạng phân tán cụ bộ Trong bài viết, tác giả cũng đưa ra một số giải pháp trước tình hình thực tiễn của đất nước: đẩy mạnh công tác nghiên cứ khoa học về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước; cải tiến công tác bầu cử làm cho quá trình bầu cử thực hiện hết chức năng của nó; hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước theo xu hướng hiện đại, dân chủ
Cuối cùng, phần kết luận, tác giả khẳng định lại vấn đề về nhận thức về lực nhà nước ở nước ta Đồng thời khẳng định tính cấp thiết của đề tài, và kêu gọi mọi người tiếp tục nghiên cứ để làm rõ các khía cạnh của nó và để đạt được sự thống ngất về sự nhận thức quyền lực nhà nước
2 Chỉ ra sự giống và khác nhau trong cách hiểu về quyền lực nhà nước
giữa tác giả bài viết trên và tác giả Nguyễn Văn Năm trong bài viết “Quyền
lực nhà nước và việc sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992”
(Tạp chí Luật học, số 4/2001).
Khi nghiên cứu về vấn đề quyền lực nhà nước, cả hai tác gải đều có những quan điểm cốt lõi nhất, chung nhất Tuy hiên, trong bài viết của mình, hai tác giả vẫn có những quan điểm riêng Vì vậy, em sẽ đi so sánh để làm rõ vấn đề trên
Trang 72.1 Sự giống nhau
Ngay từ phần mở đầu, khi khái quát về quyền lực đã có sự gặp gỡ về nhận thức của hai tác giả Dù diễn đạt bằng ngôn ngữ khác nhau, cách thức triển khai
ý khác nhua Nhưng tựu chung lại cốt lõi vẫn là nội dung về quyền lực nhà nước
là dạng quyền lực mang tính ý chí, gắn liền với chủ quyền quốc gia Hay có thể hiểu quyền lực nhà nước là khả năng của Nhà nước, buộc các cá nhân, tổ chức trong xã hội phải phục tùng Trong đó, quyền lực ấy luôn mang tính giai cấp và luôn thuộc về giai cấp thống trị
Sau khi trình bày những hiểu biết chung nhất về quyền lực nhà nước, cả hai tác giả đều đưa ra các lập luận của mình để trả lời cho câu hỏi: Nguồn gốc của quyền lực nhà nước từ đâu ra? Trả lời cho câu hỏi này, cả hai tác giải đều cho rằng, quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, từ sự ủy quyền của nhân dân, thông qua các hoạt động bầu cử nhân dân trao quyền lực cho Nhà nước Theo tác giả Nguyễn Minh Đoan, Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua
hệ thống các cơ quan nhà nước Còn theo tác giả Nguyễn Văn Năm trình bày, quyền lực nhân dân tồn tại nhưng không phải mọi vấn đề của xã hội đều có thể đưa ra hệ thống cộng đồng xã hội xem xét, mà chỉ có thể quyết định những vấ đề trọng đại của đát nước, còn những việc khác giao cho Nhà nước, từ đây hình thành sự ủy quyền của nhân dân cho nhà nước Tóm lại, cả hai tác giả đều cho rằng, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ chính Nhân dân, do Nhân dân trao quyền của mình cho nhà nước đểhình thành nên quyền lực nhà nước
2.2 Sự khác nhau
Đầu tiên, trong hai bài viết trên, khi trình bày về bản chất của quyền lực nhà nước, cả hai tác giả đã có những cách tiếp cận vấn đề khác nhau Tác giả Nguyễn Minh Đoan khi trình bày về vấn đề này chỉ xem xét trên phương diện là quyền lực nhà nước Khác với tác giả Nguyễn Minh Đoan, tác giả Nguyễn Văn Năm đã tiếp cận một cách toàn diện hơn ở hai phương diện: quyền lực nhà nước
và quyền lực nhân dân Trong đó, quyền lực nhân dân chính là quyền lực của nhân dân: chủ thể của quyền lực ở đây là nhân dân, đối tượng của quyền lực là Nhà nước, Nhà nước phải vì lợi ích của Nhân dân, làm “công bộc” cho Nhân
Trang 8dân Và cần nhận thức sâu sắc hơn về quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước
là quyền lực của nhà nước, có khả năng làm những việc nhất định thay cho Nhân dân, còn Nhân dân chỉ quyết định những công việc quan trọng của đất nước
Từ sự nhận thức khác nhau về bản chất của quyền lực nhà nước, dẫn tới có
sự nhận thức khác nhau về quyền lực nhà nước Theo tác giả Nguyễn Minh Đoan, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực ấy thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp Trong khi đó tác gỉa Nguyễn Văn Năm lại cho rằng, quyền lực nhà nước là một loại quyền lực đặc biệt, tuy hình thành từ Nhân dân nhưng chỉ riêng Nhà nước mới có., còn quyền lực Nhân dân là quyền lực thuộc về nhân dân, làm cơ sở, nền tảng để hình thành nên quyền lực nhà nước, có tính tối cao và quyền lực bao chùm quyền lực nhà nước
Để tồn tại và phát triển, con người cần đến Nhà nước Tuy nhiên, một khi cần đến Nhà nước, chúng ta cần phải kiềm soát QLNN bởi nếu QLNN trở thành tuyệt đối, ngày một bành trướng, sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của toàn xã hội Khi trình bày về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước, do có sự nhận thức khác nhau về bản chất quyền lực nhà nước nên lại có sự đối lập ở đây Vấn đề đặt
ra ở đây là quyền lực nhà nước liệu có thể phân chia? Với tác giả Nguyễn Văn Năm, ba thứ quyền hành pháp, lập pháp, tư pháp chỉ là quyền năng, là sự phân công lao động và không thể phân chia Còn theo tác gải Nguyễn Minh Đoan, quyền lực nhà nước là có thể phân chia, tuy nhiên quyền lực ấy vẫn thống nhất, vẫn tập trung
ở Nhân dân
Trên đây là sự trình bày cá nhân của em về sự giống và khác nhau của hai tác giả Nguyễn Minh Đoan và Nguyễn Văn Năm Tuy cả hai đều có những quan điểm chung, nhưng quan điểm trái ngược nhau, nhưng cũng góp một phần nào đáo cho chúng ta về sự nhận thức quyền lực một các đúng đắn nhất, đồng thời gợi mở cho người đọc nhiều suy nghĩ về vấn đề quyền lực nhà nước
Trang 93 Trình bày quan điểm của cá nhân em về nội dung qui định tại khoản
2, Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức”.
Với định hướng xây dựng đất nước lên XHCN, ở nước ta, tính dân chủ ngày càng được đề cao Cụ thể tại Điều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đã nếu rõ:
“Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” Từ đó chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và mục đích của QLNN là thống nhất và thuộc về nhân dân Qua đó, có thể khẳng định được mục tiêu hướng lên XHCN ở nước ta, hướng tới một nhà nước với bản chất phi giai cấp Bởi lẽ rằng, theo điều này, cứ là công dân của nước Việt Nam, không phân biệt người thuộc giai cấp nào đều nắm trong tay mình quyền lực nhà nước, quyền làm chủ đất nước thực sự thuộc về nhân dân Xét về mặt lịch sử, tháng Tám năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đứng lên giành độc lập, giải phóng đất nước, xây dựng nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Như vậy, suy cho cùng quyền lực nhà nước do chính nhân dân Việt Nam, do toàn thể dân tộc Việt Nam giành lại nên quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là một tất yếu khách quan Hơn thế nữa, điều này còn khẳng định quyền lực nhà nước ở nước ta là thống nhất: mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân và thống nhất ở nhân dân Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Để thực hiện quyền lực đó, nhân dân đã ủy quyền, trao một phần quyền lực của mình thông qua nhà nước Tuy nhiên chúng ta không thể đồng nhất quyền lực nhân dân và quyền lực nhà nước được Bởi lẽ rằng nhân dân không trao hết toàn bộ quyền lực của mình cho nhà nước, mà để đảm bảo sự ổn định trong xã hội mà nhân dân trao một số quyền cơ bản cho nhà nước Nhân dân vẫn giữ lại cho mình những quyền tự do cơ bản nhất, vẫn giữ lại cho mình những quyền quyết định trong những vấn đề mang tính vận mệnh của quốc gia, của dân tộc Hiến pháp còn quy định trong mỗi nhiệm kỳ, nhân dân bầu cử cơ quan quan trọng trong bộ máy nhà nước Trong đó Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là hai cơ quan mà nhân dân bầu ra những người đủ đức
đủ tài, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình để thực thi quyền lực nhà
Trang 10nước Và sau khi Quốc hội được thành lập, Quốc hội sẽ lập ra các chức danh, các cơ quan khác nhau của nhà nước Như vậy quyền lực của nhân dân là thống nhất, suy cho cùng quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Mặt khác, việc thành lập ra cơ quan đại diện cho mình đều có một nhiệm kỳ nhất định, sau mỗi nhiệm kỳ nhân dân sẽ lại bầu lại ra những người tốt hơn để đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình Như vậy sau mỗi một nhiệm kỳ, quyền lực nhà nước lại được trao trả lại cho nhân dân để nhân dân tìm người ủy quyền mới và trao quyền lực ấy cho người xứng đáng Như vậy quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, và quyền lực nhà nước bắt nguồn từ quyền lực nhân dân Chính vì vậy, quyền lực của nhà nước có bản chất là quyền lực nhân dân, quyền lực nhà nước không phải của bản thân thể chế nhà nước mà thuộc về xã hội, thuộc về quốc gia
đã xây dựng nên nhà nước ấy
Theo điều trên, chúng ta còn phải nhận thức rõ rằng: quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân trên nền tảng là sự liên minh giữa giai cấp nhân nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức Có thể thấy rằng trong xã hội hiện nay, tầng lớp người lao động có ba tầng lớp đó là: công nhân, nông dân, và trí thức Cả ba tầng lớp này phải liên kết với nhau, cùng nhau thống nhất thì mới tạo ra được quyền lực nhà nước.Nếu thiếu đi sự liên minh của một trong ba tàng lớp này thì quyền lực nhà nước sẽ là không trọn vẹn Hơn nữa, điều này còn nói lên rằng, khi nhân dân trao quyền cho Nhà nước thì nhà nước phải có nghĩa vụ, trách nhiệm phục vụ cho lợi ích của nhân dân, trước hết là tầng lớp nhân dân lao động
Tóm lại, trong nhà nước Việt Nam, do dân làm chủ, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là có quyền làm bất cứ điều gì pháp luật không cấm
và có nghĩa vụ tuân theo pháp luật Qua đó, tạo nên một môi trường cho những hoạt động sáng tạo của người dân lao động và hành lang pháp lý cần thiết cho những hoạt động sáng tạo ấy Từ đó, tạo động lực cho xã hội phát triển, cứ như vậy xã hội càng ngày càng giàu mạnh, văn minh, pháp luật càng ngày càng hoàn thiện hợn Theo đó, Nhà nước luôn phải thực hiện chó những nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, các cán bộ là “công bộc” của nhân dân Việc gì có lợi cho dân
dù nhỏ mấy cũng phải làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ mấy cũng phải tránh