Xét các yếu tố về hệ thống, phần tử của hệ thống giáo dục đại học: giảng viên, sinh viên, nhà quản lý, chương trình đào tạo, cở sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo, hệ thống văn bằng,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
************************
TIỂU LUẬN Môn: KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Sinh viên: LÊ ĐỨC ANH
Mã số sinh viên: 2071401140021
Ngành: Quản lý giáo dục Lớp tín chỉ: QL435.1_LT
Hà Nội – 2021
1
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
************************
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN KHOA HỌC QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Họ tên sinh viên: Lê Đức Anh
Mã số sinh viên: 2071401140021 Lớp hành chính: QLGD – K14A
Hà Nội, Tháng 12 – 2021
Trang 3MỤC LỤC
I, LỰA CHỌN TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ “ĐÀO TẠO SINH VIÊN KHÔNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC” 1
1 Phân tích các thành tố của hệ thống 1
2 Đánh giá về những điều làm được và chưa làm được của hệ thống giáo dục đại học 2
3 Kiến nghị hành động 2
II, PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM LẤY NHÀ TRƯỜNG LÀM CƠ SỞ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC 3
1 Phân tích quan điểm lấy nhà trường làm cơ sở 3
1.1 Bối cảnh ra đời quan điểm 4
1.2 Nội dung 4
1.1.1 Quyền tự chủ 4
1.1.2 Cơ chế giám sát và tăng cường trách nhiệm giải trình 5
1.1.3 Sự tham gia và văn hóa hợp tác 5
2 Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học 6
2.1 Thay đổi triệt để tư duy về GDĐH, trước hết là ở các cấp quản lý Cụ thể là: 6
2.2 Nâng cao năng lực, đội ngũ quản lý và giảng viên đại học 6
2.3 Tăng cường cơ sở vật chất và tạo điều kiện, chủ yếu là cơ chế, để các đại học nâng cao khả năng đào tạo, nghiên cứu 7
III, SƯU TẦM MỘT TÌNH HUỐNG QUẢN LÍ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC .7
1.Tình huống : 7
2.Giải quyết: 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 9
Trang 4I, LỰA CHỌN TIẾP CẬN HỆ THỐNG TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ “ĐÀO TẠO SINH VIÊN KHÔNG ĐÁP ỨNG NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC”
1 Phân tích các thành tố của hệ thống
Tác giả lựa chọn phương pháp tiếp cận hệ thống để xem xét vấn đề toàn diện nhất Với việc xét giáo dục đại học như một hệ thống và nhu cầu của thị trường lao động là môi trường ngoài của hệ thống, có những tác động vào hệ thống làm thay đổi hành vi của hệ thống
Xét các yếu tố về hệ thống, phần tử của hệ thống giáo dục đại học: giảng viên, sinh viên, nhà quản lý, chương trình đào tạo, cở sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo, hệ thống văn bằng, chứng chỉ, quy định chuẩn đầu ra
Đầu vào của hệ thống giáo dục đại học là các loại tác động mà hệ thống có thể nhận được
từ môi trường: sinh viên chưa được đào tạo kiến thức chuyên ngành, giảng viên, chính sách pháp luật nhà nước
Đầu ra của giáo dục đại học là những kết quả thông qua quá trình biến đổi các đầu vào : sinh viên ra trường, các công trình nghiên cứu của sinh viên, tỉ lệ sinh viên ra trường có việc làm, tỉ lệ sinh viên đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp
Môi trường của hệ thống gồm nhiều môi trường: môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường pháp lý, môi trường văn hóa, môi trường trong hệ thống Nhưng ở đây chỉ xét đến nhu cầu của thị trường lao động là môi trường tác dộng trực tiếp đến hệ thống, làm thay đổi hành vi của hệ thống Môi trường này bao gồm: kiến thức nền tảng, kỹ năng nghề
nghiệp, thái độ nghề nghiệp, với các phần tử cụ thể như: Về kiến thức là những tri thức
được giảng dạy trong hệ thống giáo dục đại học tương ứng với công việc để có thể làm tốt được công việc ở ngoài doanh nghiệp, những kiến thức này giúp sinh viên có lối tư duy
và suy nghĩ nhanh nhạy hơn với những vấn đề gặp phải trong công việc, phục vụ cho giải quyết công việc; đặc biệt, nó sẽ là nền móng quan trọng nếu sinh viên sau khi tốt nghiệp
muốn theo đuổi những bằng cấp cao hơn như thạc sĩ, tiến sĩ; về kỹ năng ngoài những kỹ
năng cứng được đào tạo ở trường lớp thì cần các kĩ năng mềm như: tư duy sáng tạo, giao tiếp tự tin, quản lý thời gian, làm việc nhóm, làm việc trong môi trường đa văn hóa, lãnh đạo có nhân cách, sử dụng công nghệ số và hoạch định sự nghiệp, sử dụng tốt ngoại ngữ;
về thái độ, cần có thái độ làm việc chuyên nghiệp, không đi muộn về sớm,cầu thị, tích cực
Trang 5phát triển bản thân,… Thời đại công nghiệp 4.0 đòi hỏi nhiều hơn ở người làm những kiến thức mới chứ không đơn thuần chỉ là những tri thức trong trường học Giai đoạn hiện nay khi đi đến đâu cũng nghe thấy chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, trí tuệ nhân tạo,… thì đào tạo sinh viên càng cần phải bắt kịp xu thế của
xã hội, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
2 Đánh giá về những điều làm được và chưa làm được của hệ thống giáo dục đại học.
Làm được, đạo tạo được số lượng lớn sinh viên ra trường hàng năm,năm 2018-2019 có 311.599 sinh viên, năm 2019-2020 có 263.172 sinh viên tốt nghiệp đại học (không kể các
Đh, học viện thuộc khối ngành quốc phòng an ninh) [3] Sinh viên tốt nghiệp có nền tảng kiến thức theo tiêu chuẩn đào tạo của nhà trường, sinh viên được đánh giá khách quan theo các tiêu chuẩn, được trang bị ngoại ngữ và kĩ năng tin học văn phòng, có khả năng thực hiện các đề tài, dự án, đã tham gia vào cơ sở doanh nghiệp trước khi ra trường
Chưa làm được, đào tạo chưa gắn sát thực tế doanh nghiệp, chưa đào tạo sinh viên phù hợp với nhu cầu thị trường cần Các chương trình đào tạo kiến thức còn nặng về lý thuyết chưa gắn liền với tình huống để sinh viên giải quyết ngay trong thực tế nhằm bám sát với thực tiễn xã hội Chưa chú trọng đào tạo kĩ năng mềm cho sinh viên qua các khóa học cụ thể mà chỉ để sinh viên tự tìm hiểu và phát triển; chưa rèn được cho sinh viên kĩ năng làm việc chuyên nghiệp, kỉ luật, tác phong công nghiệp Các kì thi tại một số cơ sở đào tạo đại học còn quan liêu, gian lận, mua điểm dẫn tới không đáp ứng về kiến thức nghề nghiệp Chưa ứng dụng đa dạng phương pháp kiểm tra đánh giá; còn chú trọng bằng cấp hơn kĩ năng giải quyết công việc của sinh viên trong thực tế Tiêu chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo cho từng ngành chưa thống nhất trên toàn hệ thống các cơ sở giáo dục đại học mà
có sự khác biện giữa các trường khiến cho chất lượng nguồn nhân lực không đồng đều
3 Kiến nghị hành động
- Ở cấp vĩ mô: nhà nước cần ban hành quy định về chuẩn đầu ra về kĩ năng nghề nghiệp
để bám sát nhu cầu thị trường cho nhiều ngành ví dụ như Thông tư 03/2021-
TT-BGDĐT Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường trung học cơ sở công lập, Thông tư 02/2021-
TT-BGDĐT Quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các trường tiểu học công lập,… ; thanh tra lại chương trình đào tạo, xóa bỏ một số môn học không cần thiết và thay thế những chương trình có tính ứng dụng thực tiễn cao; phối hợp liên nghành để xây dựng đê án chuẩn kiến thức, kỹ năng nghề
2
Trang 6nghiệp; thay đổi chương trình giáo dục trước đại học nhằm định hướng nghề nghiệp trước cho học sinh để có nguồn sinh viên chất lượng, tăng cường hoạt dộng phát triển EQ (Emotional Quotient) cho học sinh trước đại học; thay đổi phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng tăng cường xử lí dự án, đồ án thay vì kiểm tra lý thuyết đơn thuần
- Ở cấp nhà trường: thay vì đào tạo những gì đại học có hãy đào tạo những gì thị trường cần, kết hợp với doanh nghiệp trong giảng dạy để chương trình giảng dạy sát nhất với thị trường yêu cầu, đáp ứng như cầu thị trường
+ Về kiến thức: thay đổi khung chương trình, bổ sung các kiến thức bổ trợ cho kĩ năng mềm, khởi nghiệp sáng tạo Song song với đó đòi hỏi đội ngũ giảng viên chất lượng cao nắm vững thực tế và có nhiều trải nhiệm về thực tế, đổi phương thức kiểm tra đánh giá, gắn nhiều dự án vào chương trình học tập để nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của sinh viên
+ Về kĩ năng: cần hệ quy chuẩn để đánh giá kĩ năng, thêm nhiều chương trình hoạt động để phát triển kĩ năng thông qua các hoạt động của nhà trường; về các kĩ năng ngoại ngữ, tin học, cần chú trọng nhiều hơn về kĩ năng hơn bằng cấp
+Về thái độ: rèn luyện từ trước đại học sẽ có hiệu quả tốt hơn, cho sinh viên tham gia các hoạt động công nghiệp để trải nghiệm và rút ra bài học về tác phong nhanh nhẹn, chuyên nghiệp Nhà trường cần cho sinh viên tiếp cận với thị trường lao động từ sớm
để có thái độ phù hợp với công việc và tự điều chỉnh thái độ
-Bản thân sinh viên: cần nhận thức đúng đắn những nhu cầu của thị trường thông qua các kênh khác nhau như tiếp xúc doanh nghiệp hay internet, nhanh nhẹn, tích cực, chủ động, sáng tạo Tự hoàn thiện bản thân, nắm bắt thời cơ để tìm kiếm những cơ hộ việc làm tốt vì thị trường lao động ngày càng khốc liệt nên nếu không cố gắng sẽ mãi thụt lùi về phía sau Cần tiếp thu những kiến thức hiện đại nhưng vẫn phải gìn giữ những nét truyền thống đáng quý của dân tộc, bảo vệ môi trường, hòa nhập chứ không hòa tan
II, PHÂN TÍCH QUAN ĐIỂM LẤY NHÀ TRƯỜNG LÀM CƠ SỞ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
1 Phân tích quan điểm lấy nhà trường làm cơ sở
Quan điểm lấy nhà trường làm cơ sở (School – Based – Management, viết tắc SBM) hướng tới việc đem đến cho người dân và các thành phần trong nhà trường quyền lực được tham gia vào hoạt động quản lý nhà trường [2]
Trang 71.1 Bối cảnh ra đời quan điểm
Những năm 1960 trên thế giới có dấu hiệu của sự khủng hoảng đi ngược lại với quá trình tập trung tập quyền Biểu hiện ở sự yếu kém trong kiểm soát chi tiêu công cũng như tính hiệu quả của tổ chức và sự phụ thuộc của người dân vào bộ máy thứ bậc làm giảm khả năng sáng tạo, chủ động của người lao động Trong giáo dục, nó được thể hiện qua giáo dục phải đối mặt với sự phức tạp của tổ chức và nhà nước không đủ khả năng để đảm bảo hiệu quả cho chất lượng giáo dục
Những năm 1970, 1980 khi khủng hoảng kinh tế có tác động đến nền kinh tế và các học thuyết quản lý hiện đại đã được áp dụng trong công - thương nghiệp thì có một số người tin rằng chất lượng giáo dục sẽ thay đổi nếu cso sự thay đổi trong cấu trúc hệ thống giáo dục và phương pháp giáo dục
Các phương án cải cách chủ yếu tập trung vào caiir thiện một chức năng nào đó của nhà trường như : mối quan hệ người với người, quan hệ giữa nhà trường và các đối tượng liên quan trong hoạt động dạy học, phương thức quản lý, lãnh đạo,… trong đó chủ yếu là các phương án hướng tới tăng cường tự chủ tới nhà trường cơ sở Có thể kể đến phong trào nhà hiệu trưởng hiệu quả , phong trào tự chủ tài chính trong nhà trường,… Tuy nhiên khi quyền lực được trao cho nhà trường quyền lực thì cần một cơ chế giám sát để đảm bảo nhà trường hoạt động hiệu quả vì thế cần cơ chế song song là hiệu trưởng cần được ban hành những quyết sách quyết định đến nhà trường Đó là cốt lõi của quan điểm quản lí lấy nhà trường làm cơ sở
1.2 Nội dung
Nội dung của quan điểm lấy nhà trường làm cơ sở: Quyền tự chủ; cơ chế giám sát và tăng cường trách nhiệm giải trình ; sự tham gia và văn hóa hợp tác
1.1.1 Quyền tự chủ
Trường học là đơn vị chủ yếu ra quyết định đối với các vấn đề nội bộ Quyền tự chủ của một cơ sở giáo dục và đào tạo là quyền được tự tổ chức, quản lý các hoạt động của cơ sở một cách chủ động, tích cực, sáng tạo nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, sứ mệnh của
cơ sở giáo dục và đào tạo Chủ thể thực hiện quyền tự chủ là lãnh đạo của cơ sở giáo dục
và đào tạo đó
Các quyết định quản lý được ra đời trên cơ sở nhu cầu và đặc điểm của nhà trường, phân cấp quản lý , giảm bớt sự can thiệp của các cơ quan quản lý bên ngoài đối với các vấn đề nội bộ của nhà trường
4
Trang 8Quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục và đào tạo thường có bốn nội dung cơ bản là: Tự chủ
về tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự; Tự chủ về thực hiện tuyển sinh, chương trình, giáo trình, quy trình đào tạo; Tự chủ về tài chính; Tự chủ về liên kết, hợp tác trong đào tạo Trong đó, tự chủ về tài chính là vấn đề cốt lõi
Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giáo dục đại học sửa đổi, Khoản 1,2,3 Điều
13 đã có quy định về quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học
1.1.2 Cơ chế giám sát và tăng cường trách nhiệm giải trình
Cần tăng cường cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình (trong và ngoài nhà trường) nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục Trong phạm vi nhà trường, cán bộ quản lí cần tăng cường giám sát quá trình thực hiện công việc của nhân viên cũng như các thành phần tham gia vào công tác đào tạo để tổ chức thực hiện theo đúng mục tiêu đã đề ra, đồng thời cũng giải quyết kịp thời những vướng mắc tổ chức gặp phải trong quá trình thực hiện mục tiêu Ngoài tổ chức, thanh tra phụ trách cơ sở giáo dục cần nắm chắc thực tiễn, ngoài những đoàn thanh tra như thường lệ cần thanh tra khi có phán ánh dấu hiệu vi phạm của
cơ sở, trách cơ sở giáo dục vượt quá quyền hạn cho phép, lạm quyền, tham nhũng, không tuân thủ những quy định chung của pháp luật Bên cạnh đó sơ sở giáo dục cần thực hiện trách nhiệm giải trình song song với quyền tự chủ được giao, pháp luật đã quy định trong khoản 4 điều 13 Nghị định 99/2019/NĐ/CP về trách nhiệm giải trình của cơ sở đại học, Nghị định số 24/2021/NĐ-CP quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và cơ
sở giáo dục phổ thông công lập (gọi chung là cơ sở giáo dục) Quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình là hai vấn đề có mối quan hệ gắn bó với nhau Càng tự chủ bao nhiêu thì trách nhiệm giải trình với xã hội càng cao bấy nhiêu Trách nhiệm giải trình kìm hãm những lệch lạc trong quá trình tự chủ, tự chủ chỉ trong khuôn khổ cho phép
1.1.3 Sự tham gia và văn hóa hợp tác
Công cuộc đổi mới giáo dục không thể chỉ một mình nhà quản lý giáo dục có thể thực hiện được mà cần thực hiện từng bước, đồng lòng giữa cán bộ quản lý, người dạy, người học và toàn xã hội Khuyến khích sự tham gia, ủng hộ của các thành viên trong nhà trường nhằm thu hút sự sáng tạo, tạo động lực cho cán bộ công nhân viên chức ngành giáo dục, hợp tác cùng giải quyết vấn đề nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
Thời đại mới cần đổi mới đánh giá kết quả làm việc của nhân viên không chỉ rập khuôn làm đúng giờ, hết việc, tại nơi làm việc chính hay nói cách khác là đánh giá quá trình làm việc mà nên đổi sang đánh giá kết quả làm việc của nhân viên giúp nhân viên có tâm lý thoải mái và có thể linh hoạt thực hiện công việc mang lại kết quả và hiệu quả cao
Trang 9Hợp tác trong và ngoài nhà trường nhằm huy động nguồn lực tư nhân hỗ trợ cho nâng cao chất lượng giáo dục, bổ sung cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy học cũng như khuyến khích người học
2 Đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học
-Sau khi Luật giáo dục đại học đượ thông qua 100% cơ sở giáo dục đại học được quyền ra quyết định về số lượng tuyển sinh kể từ năm 2012; 100% cơ sở giáo dục đại học được quyền ra quyết định về nội dung chương trình đào tạo và mở các chương trình đào tạo mới theo nhu cầu kể từ 2011; 339 chương trình đào tạo liên kết được thực hiện với các trường đại học có uy tín trên thế giới.[1] Dù giáo dục đại học đã đạt được nhiều thành tựu tuy nhiên vẫn còn nhiều tồn tại trong hệ thống giáo dục đại học và đào tạo đại học viện nay chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Vì vậy tác giả đưa ra 3 nhóm đề xuất:
2.1 Thay đổi triệt để tư duy về GDĐH, trước hết là ở các cấp quản lý Cụ thể là:
Cần phải nâng cao tính cạnh tranh của đại học không đại học nào chịu trách nhiệm về chất lượng sinh viên - sản phẩm của mình Phải coi giáo dục đại học (GDĐH) là dịch vụ (Lợi ích công là Giáo dục phổ thông), đẩy mạnh xã hội hóa và quốc tế hóa GDĐH dưới
sự kiểm soát của Nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình
Phải xây dựng và thực hiện hệ thống đảm bảo chất lượng GDĐH, bộ tiêu chí chất lượng
để kiểm tra, đánh giá đại học
GDĐH hiện nay đã mang tính đại trà, không còn mang tính tinh hoa chọn lọc như GDĐH truyền thống Vì vậy cấp trên cần nghiên cứu để đổi mới mạnh mẽ tư duy về GDĐH, đặc biệt về quan niệm GDĐH là lợi ích công hay dịch vụ xã hội; hướng tới đại học là một doanh nghiệp khoa học đặt dưới sự quản lí của Nhà nước
2.2 Nâng cao năng lực, đội ngũ quản lý và giảng viên đại học
Đây là vấn đề vô cùng quan trọng để nâng cao chất lượng GDĐH Khi thực tế nhiều cao đẳng được chuyển thành đại học và mở nhiều đại học dân lập trong khi chưa chuẩn bị đủ điều kiện cần thiết, cùng với việc kỷ cương ở đại học còn bị buông lỏng, càng làm cho đội ngũ giảng viên đại học Việt Nam yếu hơn
Chú trọng xây dựng đội ngũ trẻ Tăng cường cho giảng viên trẻ đi học tập ở nước ngoài Nên tạo điều kiện giữ lại những sinh viên có khả năng nghiên cứu và tiếp tục phát triển và thi tuyển vào vị trí giảng viên ở các bộ môn
6
Trang 10Cán bộ quản lý phải được đào tạo bài bản, chú trọng năng lực thực tế và các tiêu chuẩn cần thiết khác
Chế độ lương cho giảng viên đại học phải được thay đổi để khuyến khích và tạo điều kiện làm việc cho đội ngũ này nhằm tạo động lực cho đội ngũ giảng viên chuyên tâm cống hiến với nghề
Kỷ cương ở các đại học phải được thực hiện nghiêm để trách chạy điểm, nâng điểm cho sinh viên nhằm ảnh hưởng chất lượng đào tạo
2.3 Tăng cường cơ sở vật chất và tạo điều kiện, chủ yếu là cơ chế, để các đại học nâng cao khả năng đào tạo, nghiên cứu.
Các ĐH Việt Nam còn rất nghèo, đặc biệt là quĩ đất Khuôn viên các ĐH Việt Nam quá nhỏ bé, thua các ĐH thế giới rất xa Chính phủ cần có quyết sách nhanh và mạnh, cấp đất cho các ĐH
Học phí cúa các ĐH Việt Nam hiện nay là cực kì thấp so với các trường quốc tế tại Việt Nam cũng như cá trường đại học ở các quốc gia phát triển Đã đến lúc phải tính toán đủ chi phí đào tạo, phần Nhà nước hỗ trợ bao nhiêu, còn lại người học phải đóng, để các ĐH
có nguồn lực tăng cường cơ sở vật chất
Các cấp quản lí phải có những cơ chế về đào tạo, nghiên cứu, tài chính theo hướng phân cấp triệt để quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước xã hội cho các ĐH
III, SƯU TẦM MỘT TÌNH HUỐNG QUẢN LÍ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
1.Tình huống :
Học sinh xin đổi giáo viên Lớp 11a2 của trường THPT H với đa phần là học sinh khá giỏi, thường đi học thêm bên ngoài đã làm đơn gửi hiệu trưởng xin đổi giáo viên môn hóa của lớp mình do giáo viên đó không đáp ứng nhu cầu của mình lại hay trách mắng, nói chuyện không nhẹ nhàng, móc mỉa học sinh và chấm điểm quá chặt chẽ khiến các em thiệt thòi Tình huống trên hiện trưởng cần làm gì?
2.Giải quyết:
- Việc ổn định giáo viên trong các giờ giảng dạy trên lớp là cần thiết cũng như đảm bảo
uy tín cho giáo viên nhà trường là rất quan trọng Cần phải đáp ứng những nhu cầu chính đáng cũng như không làm xáo trộn tâm tư của học sinh Không nên vì mốn ổn