Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài: “Biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc’’... Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng và nguyê
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã mở đường cho sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam Trong đại hội này (nhân tố con người) được Đảng ta xác định là quan trọng hàng đầu trong toàn bộ sự nghiệp đổi mới và có tính quyết định đến toàn bộ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta Trong chiến lược phát triển con người thì học sinh, sinh viên luôn là đối
tượng trung tâm
Giáo dục thể chất (GDTC) và hoạt động TDTT trong trường học ở các cấp là một mặt giáo dục quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, góp phần thực hiện mục tiêu: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài” Giáo dục thể chất trong nhà trường thực sự có vị trí quan trọng trong việc đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, thiết thực phục vụ những nhiệm vụ kinh tế - xã hội trong tình hình mới Giáo dục thể chất là một mặt không thể thiếu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Đảng và Nhà nước coi công tác giáo dục thể chất trong nhà trường là một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cũng như trong chiến lược phát triển sự nghiệp thể dục thể thao
Đổi mới và mở cửa cũng tạo ra nhiều vấn đề mới trong nội dung qui trình, phương pháp đào tạo, quản lý và giáo dục sinh viên Nhiều vấn đề của thời đại ngày nay như việc làm, lao động, học vấn, sức khỏe… cũng đồng thời xuất hiện và được tập trung giải quyết đối với học sinh – sinh viên, trong đó
có vấn đề giáo dục thể chất và thể thao GDTC là một môn học quan trọng, giúp sinh viên rèn luyện thể lực góp phần vào việc phát triển toàn diện về trí, đức, thể, mỹ cho nữ sinh viên Mục đích của GDTC cho nữ sinh viên là đào
Trang 2tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên,chuyên viên thể thao, hướng dẫn viên thể thao,
… có trình độ cao, có nhân cách con người Việt Nam, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của xã hội, xứng đáng với vai trò người chủ tương lai của đất nước Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và nhà nước pháp quyền theo định hướng Xã hội chủ nghĩa Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo và tập luyện thể dục thể thao là nhiệm vụ hàng đầu của các trường học nói chung và Trường Đại học Tây Bắc nói riêng
Giáo dục thể chất là một hoạt động giáo dục chuyên biệt, một quá trình
sư phạm với đầy đủ dấu hiệu chung của nó, đó là vai trò chủ đạo của nhà sư phạm trong quá trình dạy học, tổ chức các hoạt động phù hợp với các nguyên tắc sư phạm Trong nhà trường phổ thông quá trình GDTC đã có mối liên hệ mật thiết với các môn học khác, nó vừa là tiền đề vừa có tác dụng nâng cao hiệu quả giáo dục nói chung và thể chất nói riêng Bởi vậy công tác GDTC trong trường học đã và đang được đầu tư, quan tâm đúng mức của các cấp Giáo dục thể chất rèn luyện cho học sinh tính kiên trì, tính đoàn kết, đặc biệt là phát triển các tố chất thể lực, nâng cao phẩm chất đạo đức và hình thành nhân cách trong sáng cho người học Bên cạnh đó công tác GDTC còn tạo cho học sinh tính tự giác tích cực và khả năng tư duy một cách hợp lý, biết vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống đồng thời đã có sự liên hệ liên tưởng giữa các môn học với nhau GDTC trường học phát triển toàn diện nhân cách học sinh, tạo cho đất nước đội ngũ tri thức trẻ có thể lực dồi dào, cơ thể cường tráng, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, lành mạnh về lối sống tạo ra con người có đầy đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của đất nước
Trường Đại học Tây Bắc là một trong những trường trọng điểm của vùng Tây Bắc Trước đây, nhà trường chủ yếu đào tạo các ngành Sư phạm( Toán, Lý, Ngữ văn…) Những năm gần đây nhà trường đã đào tạo thêm một
số ngành mới như: Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng,
Trang 3Hàng năm có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp ra trường Để đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao về chất lượng người lao động không những về chuyên môn mà còn đòi hỏi ở họ phải có thể lực tốt để đáp ứng yêu cầu công việc
Trong những năm qua, công tác giáo dục thể chất của nhà trường đã được an Giám hiệu quan tâm về mọi mặt, chính điều đó là động lực thúc đẩy nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập môn GDTC của trường cũng không ngừng được nâng cao Tuy vậy, qua thực tế giảng dạy cho thấy kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên giữa các chuyên ngành đào tạo có sự khác biệt Kết quả đạt được của nữ sinh viên chuyên ngành Kinh tế thường thấp hơn so với nữ sinh viên khối ngành khác, số nữ sinh viên thi không đạt môn GDTC chiếm tỷ lệ cao hơn so với các ngành học khác Nguyên nhân ở đây là do: nội dung chương trình chưa phát huy được tính tích cực và hứng thú học tập của nữ sinh viên, nhận thức của nữ sinh viên về vai trò môn học chưa cao, cơ sở vật chất còn nhiều hạn chế Thực trạng đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu, điều chỉnh và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc Đã có nhiều tác giả triển khai nghiên cứu các biện pháp nâng cao kết quả GDTC cho
nữ sinh viên thuộc các khối ngành khác nhau Tuy nhiên, ở trường Đại học Tây Bắc chưa có công trình nào nghiên cứu về các biện pháp nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khối ngành kinh tế
Từ những phát hiện về thực trạng, xác định rõ nguyên nhân và yêu cầu xây dựng những biện pháp mang tính đồng bộ phù hợp với đối tượng, ngành nghề… Đó là đòn bẩy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài:
“Biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc’’
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lựa chọn và ứng dụng các nhóm biện pháp thích hợp, có tính khả thi theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của nữ sinh viên, để nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc, từ đó góp phần cải thiện công tác GDTC của trường
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả
học tập môn giáo dục thể chất của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây ắc
- Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên trường Đại học Tây ắc
- Thực trạng thể lực của nữ sinh viên trường Đại học Tây ắc
- Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên trường Đại học Tây Bắc
3.2 Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả một số biện pháp
nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
- Căn cứ để lựa chọn các biện pháp
- Lựa chọn các biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ
sinh viên khoa Kinh tế( qua phỏng vấn)
- Ứng dụng các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh viên khoa Kinh tế
4 Giả thuyết nghiên cứu
Kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên Trường Đại học Tây Bắc còn nhiều hạn chế Nếu tìm được những nguyên nhân chủ yếu và xác định được những biện pháp khắc phục cơ bản sẽ là điều kiện để nâng cao chất
Trang 5lượng đào tạo nói chung và kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế nói riêng
5 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao kết quả học tập môn giáo dục thể chất cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
6 Khách thể nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học môn GDTC của Trường Đại học Tây Bắc
- Nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
7 Phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động dạy và học môn GDTC của nhà trường
- Kết quả học tập môn GDTC bao gồm điểm học tập và trạng thái thể lực
- Nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
8 Phương pháp nghiên cứu [30], [42]
Để giải quyết mục tiêu và nhiệm vụ nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng các phương pháp sau:
8.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Đề tài sử dụng phương pháp này trong quá trình tổ chức nghiên cứu nhằm hệ thống hóa kiến thức có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Trên cơ
sở đó hình thành cơ sở lý luận và xây dựng giả thuyết khoa học, xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, cũng như có các giữ liệu cần thiết để bàn luận kết quả nghiên cứu
8.2 Phương pháp phỏng vấn toạ đàm
Được sử dụng trong quá trình tham khảo các giáo viên, các nhà chuyên môn chủ yếu nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc sử dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế và một số vấn đề có liên quan Thông qua phiếu hỏi
và toạ đàm để tìm ra các biện pháp có hiệu quả mang tính đặc thù nhằm
Trang 6nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên Trường Đại học Tây Bắc để áp dụng trong thực tiễn giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài
8.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này được sử dụng trong suốt thời gian nghiên cứu nhằm quan sát hoạt động dạy và học trong giờ học môn GDTC, từ đó có
cơ sở đánh giá khách quan hơn về nội dung, phương pháp giảng dạy và trình độ thể lực, kỹ thuật động tác của nữ sinh viên khoa kinh tế, có căn
cứ để lựa chọn các biện pháp nhằm nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
8.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm [8]
Ứng dụng phương pháp này nhằm kiểm tra trình độ phát triển thể lực của nữ sinh viên Đề tài đã sử dụng 6 chỉ tiêu trong quyết định 53/2008 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo bao gồm:
8.4.1 Chạy con thoi 4 x 10m (s)
Dùng để đánh giá tố chất sức nhanh và khả năng phối hợp vận động Dụng cụ: Đồng hồ bấm giây Nhật Bản, sân có chiều dài 10m, khoảng không hai đầu là 5m
Thực hiện test: Người thực hiện đứng ở vạch xuất phát với tư thế xuất phát cao, khi nghe lệnh xuất phát người thực hiện nhanh chóng rời vạch xuất phát Khi chạy đến vạch 10m, người thực hiện nhanh chóng với tay xuống chạm vạch đích, rồi nhanh chóng quay trở lại vạch xuất
Trang 7phát Khi đến vạch xuất phát lại với tay xuống chạm vào vạch xuất phát thì quay lại đích Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 3 lần quay Chỉ cần chạy một lần
8.4.2 Chạy 30m xuất phát cao (s)
Dùng để đánh giá tố chất sức nhanh và sức mạnh tốc độ
Dụng cụ đo: Đồng hồ bấm giây Nhật Bản, đo chính xác tới 0,01 (s), đường chạy có chiều dài thẳng ít nhất 50m, chiều rộng ít nhất 2m, sau đích có khoảng trống 10m để hoãn xung khi về đích Kết quả được tính bằng giây và chính xác đến 1/100 (s)
Thực hiện test: người thực hiện đứng tại vạch xuất phát với tư thế xuất phát cao, khi nghe lệnh xuất phát nhanh chóng rời vạch xuất phát, dùng kĩ thuật chạy cụ li ngắn để chạy nhanh qua vạch đích Đồng hồ bấm chạy khi có lệnh xuất phát và bấm dừng khi người chạy chạm mặt phẳng thẳng góc vạch đích
Kết quả được tính bằng số lần từ khi có hiệu lệnh bắt đầu đến khi kết thúc 30 (s)
8.4.4 Bật xa tại chỗ (cm)
Trang 8Dùng để đánh giá sức mạnh bột phát của đôi chân
Dụng cụ sân bãi: được tiến hành ở hố nhảy xa, thước dây cuốn
Thực hiên test: Sinh viên đứng trên ván dậm nhảy, mặt hướng vào
hố nhảy, hai bàn chân song song với nhau, trọng tâm dồn đều vào hai chân, ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn, giơ tay lên cao, hạ thấp trọng tâm, gối hơi khuỵu, gập chân, người hơi đổ về trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống và ra sau, dùng hết sức và phối hợp toàn thân, bật nhảy xa ra trước, hai chân tiếp đất cùng một lúc
Kết quả đo: Thước để từ vạch giới hạn đến điểm chạm gần vạch giới hạn nhất của cơ thể Chiều dài mỗi lần bật nhảy được tính bằng
cm, thực hiện 3 lần, lấy kết quả cao nhất
8.4.5 Chạy 5 phút tùy sức, tính quãng đường (m)
Để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí)
Dụng cụ sân bãi: - Đồng hồ bấm giây
- Đường chạy dài 50m, rộng 2m, hai đầu kẻ hai vạch giới hạn, có khoảng trống ít nhất 1m để chạy quay vòng Giữa hai đầu đường chạy đặt vật chuẩn để quay vòng trên đoạn đường 50m, đánh dấu từng đoạn 10m, để xác định phần lẻ quãng đường (±10m) sau khi hết thời gian chạy
Thực hiện test: Người được kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh:
“Vào chỗ – Sẵn sàng – Chạy” Khi có lệnh chạy, người được kiểm tra chạy trong ô chạy, hết quãng đường 50m, vòng bên trái qua vật chuẩn, chạy lặp lại trong 5 phút Người thực hiện chạy từ từ những phút đầu, phân phối đều và tùy sức của mình mà tăng tốc dần Nếu mệt có thể chuyển thành đi bộ cho đến hết giờ Mỗi sinh viên có một số đeo ở ngực Khi có lệnh dừng thì lập tức đứng nguyên tại chỗ để người đo đánh dấu vị trí
Trang 98.4.6 Lực bóp tay thuận (KG)
Để đánh giá sức mạnh của tay thuận, qua đó biết được mức độ phát triển sức mạnh cơ bắp của tay đối tượng kiểm tra
Dụng cụ kiểm tra: Sử dụng lực kế bóp tay điện tử sản xuất tại
Cộng hoà liên bang Nga
Cách tiến hành kiểm tra: Người được kiểm tra đứng dạng 2 chân
bằng vai, tay thuận cầm lực kế đưa thẳng, tạo nên góc 45 độ so với trục dọc của cơ thể Tay còn lại duỗi thẳng tự nhiên xuôi theo 2 đùi lòng bàn tay hướng vào trong Cầm lực kế trong lòng bàn tay, kim có hướng ra ngoài lòng bàn tay, các ngón tay nắm chặt tay cầm của lực kế và bóp hết sức, bóp đều, từ từ, gắng sức trong vòng 2 giây Không được bóp giật cục hay thêm các động tác trợ giúp của thân người, hoặc động tác thừa Cho người được kiểm tra bóp lực kế 02 lần, nghỉ giữa mỗi lần là
15 giây, lấy kết quả lần cao nhất
8.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp này để kiểm tra, đánh giá tác động của các biện pháp đã lựa chọn cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc Thực nghiệm sư phạm được tổ chức dưới hình thức đối chiếu song song trong thời gian một năm học, đề tài sẽ so sánh kết quả học tập môn GDTC và trình độ phát triển thể lực của nữ sinh viên trước và sau khi thực nghiệm Đây là một trong những phương pháp chính của
đề tài để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu
8.6 Phương pháp toán học thống kê [1], [12], [19], [23], [38]
Dùng để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu của đề tài Đề tài sử dụng các công thức tính: tỷ lệ %, trị số trung bình, phương sai, độ lệch chuẩn, so sánh hai số trung bình quan sát, nhịp tăng trưởng
- Đề tài sử dụng công thức tính tỷ lệ %
Trang 10Tỷ lệ % =
n
m
x100 Trong đó m: là tần số quan sát
B A
n n
x x t
Trang 11- V1: kết quả kiểm tra trước thực nghiệm
- V2: kết quả kiểm tra sau thực nghiệm
-
X² = Σ(Qi-Li)²/Li Trong đó: - X²: Là chỉ số đánh giá
- Qi: tần số quan sát
- Li: Tần số lý thuyết
- Chỉ số dấu hiệu S, trong đó S= Smin(n+, n-)
9 Những đóng góp mới của đề tài
- Phát hiện thực trạng và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế
- Lựa chọn được những biện pháp có tác dụng sát thực nhằm nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên khoa kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
10 Tổ chức nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu
10.1.Địa điểm nghiên cứu
Được tiến hành tại bộ môn GDTC Trường Đại học Tây Bắc và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
10.2 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu từ năm 6/ 2013 – 6/2014
10.3 Kế hoạch nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong 12 tháng, từ tháng 6/2013 đến tháng 6/2014 và được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: từ đầu tháng 6 đến cuối tháng 6 /2013
Lựa chọn, xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài Bảo vệ đề cương trước hội đồng nghiên cứu khoa học
Giai đoạn 2: từ tháng 7/2013 đến tháng 5/2014
- Tổng hợp, tham khảo các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và phỏng vấn các chuyên gia Nhằm tìm ra các biện pháp nâng cao kết quả học tập môn GDTC cho đối tượng nghiên cứu
- Giải quyết nhiệm vụ 1 của đề tài: đánh giá thực trạng và nguyên
Trang 12nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập môn giáo dục thể chất của nữ sinh viên Trường Đại học Tây Bắc
- Giải quyết nhiệm vụ 2 của đề tài: lựa chọn và đánh giá hiệu quả các biện pháp nâng cao kết quả học tập cho đối tượng nghiên cứu tại Trường Đại học Tây Bắc
-Tổng hợp và hoàn thành nghiên cứu:
+ Viết chương tổng quan và các phần có liên quan
+ Hoàn chỉnh luận văn
+ Sửa chữa luận văn
+ Viết bản tóm tắt luận văn
+ Chuẩn bị báo cáo
Giai đoạn 3: tháng 6/2014 nghiệm thu đề tài nghiên cứu trước hội
đồng khoa học, báo cáo đề tài tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đảng và Nhà nước đối với vấn đề về GDTC trường học
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Viêt Nam năm 1992 quy định “nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển thể dục thể thao, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức tập luyện thể dục thể thao tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để không ngừng mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, chú trọng thể dục thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao…” [16]
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định đường lối đó thông qua các chỉ thị, nghị quyết về công tác TDTT Đảng ta khẳng định: TDTT là một công tác cách mạng, vừa là nhu cầu, vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa
vụ của quần chúng, một sự nghiệp toàn dân, do dân và vì dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam, làm cho dân cường nước thịnh
Nghị quyết VIII ban chấp hành TW Đảng khóa VII, tháng 06/1999 đã khẳng định: “ ắt đầu đưa giảng dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và các trường Đại học và Cao đẳng”
GDTC còn là nội dung bắt buộc đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Hiến pháp năm 1992 đã ghi rõ
“ việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc ”[16]
Ngày 24 tháng 3 năm 1994 an í thư Trung ương Đảng (khóa VII) đã
ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW “Về công tác thể dục thể thao trong tình hình mới”, Chỉ thị đã chỉ rõ vai trò của thể dục thể thao đối với việc nâng cao sức
khỏe, thể lực cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ Về GDTC trường học, Chỉ thị nhấn mạnh: “…Cải tiến chương trình giảng dạy và tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên thể dục thể thao cho trường học các cấp, tạo điều
Trang 14kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học…”[ 4]
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng (1996) đã tiếp
tục khẳng định tầm quan trọng của nhân tố con người “vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội” và nhấn mạnh đến vấn đề chăm lo phát triển
GDTC con người: “Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh, không những chỉ có con người phát triển về trí tuệ, trong sáng về đạo đức, lối sống
mà còn có con người tráng về thể chất, chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội…”
Luật giáo dục Quốc hội khóa IX nước ta đã thông qua ngày 02 tháng 12 năm 1998 đã quy định: “Nhà nước coi trọng thể dục thể thao trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên, nhi đồng GDTC là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên, được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ mầm non đến đại học…”[25]
Thực hiện chủ trương đó, ộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình mục tiêu để chỉ đạo thực hiện đến các trường: “Cải tiến nâng cao chất lượng giáo dục thể chất, sức khỏe, phát triển và bồi dưỡng tài năng thể thao học sinh, sinh viên trong nhà trường các cấp, giai đoạn 1996 – 2000 và định hướng đến 2020…”
Như vậy , Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng sức khỏe của nhân dân, nhất là đối với thanh thiếu niên Chăm lo cho mọi người về sức khỏe là chiến lược xuyên suốt nhằm phát triển nguồn lực, tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của giáo dục thể chất trong Trường Đại học và Cao đẳng chuyên nghiệp
Mục tiêu GDTC và thể thao trường học được Đảng và Nhà nước ta xác định là góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật,
Trang 15quản lý kinh tế và văn hóa xã hội có trình độ chuyên môn vững vàng, phẩm chất chính trị và đạo đức trong sáng và có thể chất cường tráng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước và bảo vệ Tổ Quốc
Chỉ thị số 112-CT/ ngày 9 tháng 5 năm 1989 Hội đồng Bộ trưởng về
“Công tác thể dục thể thao trong những năm trước mắt” yêu cầu các cấp các ngành thực hiện tốt nhiệm vụ và biện pháp sau: “Đối với học sinh, sinh viên trước hết nhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy và học môn thể dục theo chương trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạt động thể thao ngoài giờ học” [20]
Những văn kiện của Đảng và Nhà nước nói trên đã thể hiện sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác thể dục thể thao và GDTC trong trường học, coi đó là nhiệm vụ cấp thiết và thường xuyên của Đảng, toàn dân và toàn xã hội
Chỉ thị số 133-TTg của Thủ Tướng Chính Phủ về việc xây dựng quy hoạch phát triển ngành thể dục thể thao Chỉ thị xác định rõ: “Ngành thể dục thể thao phải xây dựng định hướng phát triển có tính chiến lược, trong đó quy định rõ các môn thể thao và các hình thức hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, mọi lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của quần chúng, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đặc biệt coi trọng công tác GDTC trong nhà trường Cải tiến nội dung giảng dạy thể dục thể thao nội ngoại khóa, quy định tiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, quy chế bắt buộc ở các trường Nhất là trường đại học phải có sân bãi, phòng tập thể dục thể thao có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và đảm bảo đủ giáo viên, giảng viên thể dục thể thao đáp ứng nhu cầu ở tất cả các cấp học…”[8]
Quy chế quy định rõ trách nhiệm của học sinh, sinh viên:
- Học sinh, sinh viên có trách nhiệm hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập
Trang 16môn thể dục và phải có chứng chỉ GDTC mới đủ điều kiện để tốt nghiệp
- Phát triển thể dục thể thao trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học nội khóa, đa dạng hóa hình thức hoạt động ngoại khóa, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học
- Tăng cường phối hợp liên ngành giữa giáo dục và thể dục thể thao, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và chuyên nghiệp hóa thể dục thể thao, tranh thủ các nguồn lực từ xã hội để xây dựng và phát triển thể dục thể thao trường học
- Tăng cường hợp tác giao lưu quốc tế về thể dục thể thao trường học, góp phần nâng cao vị thế của thể thao Việt Nam trong khu vực và thế giới Căn cứ vào mục tiêu trên, giáo dục thể chất giải quyết 4 nhiệm vụ sau:
Nâng cao thể chất và sức khỏe cho sinh viên [10], [14], [33]
Thể chất là đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể con người, được hình thành, phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống Thể chất bao gồm hình thể, năng lực thích ứng và năng lực thể chất Thể hình: liên quan đến hình thái, cấu trúc của cơ thể, gồm trình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số của toàn thân hay từng bộ phận và tư thế thân người
Năng lực thích ứng: thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể con người với hoàn cảnh môi trường bên ngoài Hơn nữa không chỉ là thích ứng đơn giản mà còn thể hiện khả năng đề kháng với bệnh tật
Biểu hiện của năng lực thể chất: là khả năng chức năng của hệ thống các
cơ quan trong cơ thể thông qua hoạt động cơ bắp Trong đó bao gồm các tố chất vận động như(sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo và khả năng phối hợp vận động…) cùng các năng lực vận động cơ bản như(chạy, nhảy, ném, leo trèo, mang vác…)
Như vậy, nội dung nâng cao thể chất cho sinh viên bao gồm:
Trang 17- Phát triển thể hình cân đối
sự phát triển thể hình và sự biến đổi về chức năng của hệ thống các cơ quan trong cơ thể đều chịu sự chi phối của các yếu tố di truyền, dinh dưỡng
và điều kiện sống Tập luyện thể dục thể thao có thể đẩy mạnh quá trình phát triển và duy trì quá trình đó lâu hơn và làm chậm quá trình suy giảm khi tuổi cao
Hoàn thiện về thể hình và tư thế thân thể sẽ giúp cơ thể thêm đẹp và cũng phần nào phản ánh mức độ hoàn thiện về chức năng Một cơ thể cường tráng là cơ sở vật chất của các năng lực chức năng
- Phát triển các năng lực thể chất
Năng lực thể chất luôn gắn bó chặt chẽ với chức năng của cơ thể Chính
vì vậy việc phát triển toàn diện năng lực thể chất là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển về hình thái chức năng và ngược lại Hơn thế, năng lực thể chất còn là điều kiện tiên quyết cho quá trình tiếp thu kỹ thuật động tác và nâng cao trình độ thể thao sau này
- Nâng cao năng lực thể chất của cơ thể
Tập luyện có hệ thống và lâu dài trong các điều kiện đa dạng, thay đổi về địa hình, khí hậu, môi trường, điều kiện cơ sở vật chất… sẽ có lợi cho việc nâng cao năng lực thích ứng trước các điều kiện tự nhiên khác nhau, tăng cường lưu thông khí huyết và khả năng tạo máu, đẩy nhanh quá trình trao đổi chất, nâng cao sức đề kháng, góp phần phòng ngừa và chữa bệnh
Trong con người, thể chất, tinh thần và trí tuệ không thể tách rời nhau Thể chất cường tráng, sức sống dồi dào có ảnh hưởng to lớn đến khả năng phát triển trí tuệ và trạng thái tinh thần của con người
1.3 Một số khái niệm cơ bản
Trang 18GDTC là một loại hình giáo dục, nên nó là một quá trình giáo dục
có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo từ thế hệ này cho thế hệ khác Điều đó có nghĩa là, GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh với nguyên tắc sư phạm GDTC chia thành hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất ) và giáo dục tố chất thể lực Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưng của GDTC được gắn liền với giáo dục, trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động
GDTC là một lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là: “Phát triển toàn diện các tố chất thể lực, trên cơ sở đó phát triển các năng lực thể chất, bảo đảm hoàn thiện thể hình, củng cố sức khỏe, hình thành theo
hệ thống và tiến hành hoàn thiện đến mức cần thiết các kỹ năng và kỹ xảo quan trọng trong cuộc sống Đồng thời, giáo dục các phẩm chất đạo đức giáo dục ý thức và nhân cách”
Để đưa công tác GDTC trong nhà trường trở thành một khâu quan trọng, cũng như xác định nhận thức đúng về vị trí GDTC trong nhà trường các cấp phải được triển khai đồng bộ với các mặt giáo dục tri thức và nhân cách từ tuổi thơ cho đến đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản quyết định ban hành quy chế về công tác GDTC trong nhà trường các cấp, trong đó quy
Trang 19định: “GDTC được thực hiện trong hệ thống nhà trường từ Mầm non đến Đại học, góp phần đào tạo những công dân phát triển toàn diện Thể chất – sức khỏe tốt là nhân tố quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc” và… “GDTC trong nhà trường các cấp từng bước nâng cao trình
độ văn hóa, thể chất và thể thao của học sinh, sinh viên Góp phần phát triển
sự nghiệp thể dục thể thao của đất nước đáp ứng nhiệm vụ giao tiếp của học sinh, sinh viên Việt Nam và Quốc tế” [4]
Trong các trường đại học, GDTC có vai trò tích cực trong việc hoàn thiện thể chất, đạo đức, nhân cách và những phẩm chất cần thiết khác cho nữ sinh viên Hơn nữa GDTC còn trang bị những kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc sống đồng thời góp phần chuẩn bị tốt về mặt tâm lý và tinh thần cho cán bộ tương lai
1.3.2 Khái niệm kết quả học tập môn GDTC
Kết quả của công tác dạy và học môn giáo dục thể chất là vấn đề hiện nay được toàn xã hội quan tâm Bởi lẽ, đây là sự phản ánh giá trị đích thực của việc dạy và học môn GDTC Tuy nhiên, khái niệm “kết quả” là một khái niệm cơ bản và khá cụ thể
Kết quả học tập: đây là khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau Thứ nhất, đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt
được, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu đã xác định Như vậy, kết quả học tập được hiểu là mức độ thực hiện
những mục tiêu định trước Thứ hai, đó là mức thành tích đã đạt của một học
sinh so với các bạn học khác Quan niệm thứ hai, đó là mức thực hiện chuẩn Tuy nhiên, nhiều người cho đấy là quan niệm tâm lý học sai biệt
Kết quả học tập môn giáo dục thể chất của nữ sinh viên được thể hiện trực tiếp thông qua điểm tổng kết môn học Kết quả học tập môn GDTC của
Trang 20nữ sinh viên bao gồm:
- Kiến thức lý luận: Thông qua kiểm tra lý thuyết chung và lý thuyết chuyên môn
- Kỹ năng thực hành: Khả năng thực hiện kỹ thuật các môn thể thao
- Sự phát triển các tố chất thể lực (thông qua kiểm tra các test thể lực)
- Sự phát triển về hình thái cơ thể: chiều cao, cân nặng
- Ở lứa tuổi sinh viên hình thái cơ thể về căn bản đã vào giai đoạn hoàn thiện , còn học về lý thuyết và kỹ năng thực hành cơ bản được xác định thông qua điểm nên về thực chất kết quả học tập môn GDTC chỉ đánh giá trên hai mặt là điểm học tập và sự phát triển thể chất
1.3.3 Các yếu tố đảm bảo kết quả giáo dục thể chất trường học
Theo các nhà khoa học về giáo dục và lý luận dạy học trong và ngoài nước như: Thomas (MỸ), Lâm Quang Thiệp, Thái Duy Tuyên, Vũ Văn Tảo, Trần Bá Hoành (Việt nam) thì các yếu tố bảo đảm kết quả dạy học mỗi môn học nói chung và giáo dục thể chất nói riêng thường bao gồm:
- Chương trình môn học
- Số lượng và chất lượng người thầy
- Điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện giảng dạy
- Phương pháp giảng dạy mà người thầy sử dụng
- Ý thức và phương pháp học của học trò
Về chương trình môn học:
Theo các nhà khoa học giáo dục và lý luận dạy học trên thì chương trình đào tạo nói chung và môn học nói riêng là một bản thiết kế tổng thể hoặc từng phần để tạo nên một mô hình đào tạo nhất định Nếu chương trình đào tạo hoàn hảo, phù hợp với năng lực của sinh viên và nhu cầu của xã hội sẽ giúp
Trang 21cho việc tạo các mô hình đào tạo có chất lượng cao đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Cũng chính vì tầm quan trọng đó mà hầu hết các nước có nền giáo dục tiên tiến thường xuyên cải tiến và hoàn thiện chương trình khung cũng như chương trình từng môn học, cho từng đối tượng giảng dạy cụ thể
Về số lượng và chất lượng người thầy:
Mặc dù giáo dục hiện đại đã lấy người học làm trung tâm, đồng thời cũng tạo ra nhiều phương tiện kỹ thuật, cũng như hình thức, phương pháp dạy học hiện đại giúp cho việc nâng cao chất lượng dạy học Song giáo dục hiện đại vẫn coi trọng vai trò của người thầy Nếu người thầy có trình độ chuyên môn cao, có phương pháp giảng dạy tốt, có phẩm chất đạo đức tốt và lòng yêu thương học trò thì sẽ đào tạo được thế hệ trẻ có trình độ, có chất lượng lao động cao Trong giảng dạy môn GDTC thì yếu tố người thầy cũng quan trọng như các chuyên ngành khác
Yếu tố sân bãi dụng cụ và phương tiện giảng dạy:
Trong dạy học môn giáo dục thể chất thì yếu tố này vô cùng quan trọng Nếu cơ sở vật chất như sân bãi dụng cụ thiếu, chất lượng kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học Đặc biệt là trong thời kỳ phát triển mạnh
mẽ về khoa học kỹ thuật, công nghệ thì các phương tiện dạy học như các phương tiện trực quan: băng, đĩa hình, máy chiếu… đã giúp ích rất nhiều cho việc nâng cao chất lượng dạy và học
Phương pháp dạy học mà người thầy sử dụng:
Trong vài thập kỷ trở lại đây, nhất là khoảng 10 năm trở lại đây một loạt các phương pháp dạy học mới ra đời như phương pháp giảng dạy phát huy tính tích cực của học sinh, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp chia nhóm, phương pháp bài tập… đã góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy Vì vậy vấn đề người thầy sử dụng phương pháp giảng dạy nào, mức độ vận dụng
Trang 22thành thục ra sao, kinh nghiệm giảng dạy thế nào sẽ quyết định tới chất lượng đào tạo
Ý thức học tập của sinh viên:
Như chúng ta đã biết trong quá trình đào tạo sinh viên đóng vai trò làm trung tâm Nếu sinh viên có động cơ, thái độ học tập đúng đắn sẽ tạo ra ý thức
tự giác tích cực trong học tập Điều này có vai trò quan trọng đối với kết quả học tập của sinh viên Giáo dục hiện nay rất coi trọng quá trình tự đào tạo Vì vậy ý thức học tập của sinh viên có tính chất quyết định tới chất lượng đào tạo (trong giáo dục thể chất nguyên tắc tự giác tích cực quyết định kết quả học tập của sinh viên)
1.3.4 Khái niệm biện pháp
Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành giải quyết một vấn đề cụ thể
Từ khái niệm trên cho thấy: biện pháp nâng cao kết quả học tập của
nữ sinh viên là tìm ra các biện pháp tổ chức, cách thức tác động của giáo viên đến sinh viên về các yếu tố tâm lý, kiến thức và rèn luyện những kỹ năng học tập nói chung và tập luyện thể thao nói riêng nhằm bồi dưỡng cho
họ năng lực và phẩm chất của người sinh viên trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.4 Đặc điểm hoạt động đào tạo của Trường Đại học Tây Bắc
Trường Đại học Tây ắc, tiền thân là Trường Sư phạm cấp II Khu tự trị Thái Mèo, thành lập năm 1960 tại khu học xá Mường La, sau đó di chuyển về Thị trấn Thuận Châu (1961-2007), với lực lượng ban đầu chỉ với 12 cán bộ viên chức
Cùng với sự phát triển của Đất nước, của Nhà trường, Trường Đại học Tây ắc từng bước phát triển lớn mạnh, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp
Trang 23xây dựng và phát triển đi lên của Nhà trường, từ thực hiện nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp II có trình độ trung cấp sư phạm 7+2, 7+3 trở thành Trường Đại học đa ngành đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao và là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ hàng đầu của vùng Tây ắc
Trong 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Tây ắc đã phát triển qua các giai đoạn:
- Trường Sư phạm cấp II Khu tự trị Thái mèo (thuộc Khu Học xá):
1960-1962
- Trường Sư phạm cấp II Khu tự trị Tây ắc: 1960-1981
- Trường Cao đẳng Sư phạm Tây ắc: 1981-2001
- Trường Đại học Tây ắc: 2001 đến nay
Hiện nay, Trường Đại học Tây ắc có gần 400 cán bộ, đoàn viên và lao động, cơ cấu tổ chức gồm: 14 trường bộ phận, trong đó có: 04 trường bộ phận
ở các phòng chức năng, 10 trường bộ phận ở các đơn vị đào tạo Lực lượng đoàn viên, lao động của trường là lực lượng lao động trí thức, có trình độ cao, bao gồm: 01 Phó Giáo sư, 11 Tiến sỹ, 148 Thạc sỹ, tỷ lệ lao động có trình độ trên đại học là 54,61% (Chưa tính 22 nghiên cứu sinh, 85 cao học đang đào tạo)
Qua các thời kỳ, trường đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền thực hiện
có hiệu qủa chức năng giám sát và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiên cứu khoa học; Nhà trường đào tạo gần 21.000 giáo viên tiểu học, (bậc đại học), THCS và PTTH, kỹ sư Lâm học, Nông học, cử nhân Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Công nghệ thông tin, Ngoại ngữ, Tin học… cho các tỉnh vùng Tây ắc và thực hiện nhiệm vụ quốc tế: Đào tạo cán bộ cho nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào
Thực hiện hàng nghìn đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản, khoa học giáo dục, khoa học ứng dụng phục vụ thực tế xây dựng và phát triển kinh tế, văn
Trang 24hoá, xã hội, giáo dục cho vùng Tây ắc, trong đó có 50 đề tài cấp ộ, 40 đề tài cấp tỉnh, 8 bằng lao động sáng tạo
Năm học 2009 - 2010, Trường có 29 ngành đào tạo Đại học (tính cả 4 ngành liên thông từ trung cấp lên đại học), tróng đó có 8 ngành ngoài Sư phạm Nhà trường cũng đã liên kết với một số trường đại học: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Lâm nghiệp, Đại học ách khoa Hà Nội, mở được 18 lớp Thạc sĩ thuộc các ngành: Ngữ văn, Toán, Lịch sử, Địa lí, Hoá học, Chính trị, Vật lí, Khoa học máy tính, Giáo dục Thể chất, Nông học, Lâm sinh, Kinh tế Đến năm học
2009 - 2010, tổng số sinh viên toàn Trường là 11.582, trong đó hệ Chính quy
có 6.967 sinh viên, được biên chế thành 109 lớp Tỉ lệ sinh viên là người dân tộc thiểu số chiếm gần 40% Địa bàn tuyển sinh được mở rộng bao gồm các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra, chất lượng đầu vào ngày càng được nâng cao
Khoa Giáo dục thể chất của trường Đại học Tây ắc có 28 giảng viên,
cơ cấu tổ chức gồm 1 tổ văn phòng và 3 bộ môn trực thuộc khoa Lực lượng đoàn viên, lao động của khoa là lực lượng lao động trí thức, có trình độ, bao gồm (18 Thạc sỹ, 10 cử nhân thể thao (Trong đó có 4 nghiên cứu sinh, 10 cao học đang đào tạo)
Qua quá trình giảng dạy và đánh giá kết quả học tập môn GDTC cho nữ sinh viên Trường Đại học Tây Bắc, tôi nhận thấy kết quả học tập của nữ sinh viên ở các nhóm ngành đào tạo có sự khác nhau Nhìn chung sinh viên ở nhóm ngành công nghệ có khả năng học tập và kết quả đạt được là tốt hơn so với sinh viên nhóm ngành kinh tế
Qua khảo sát cho thấy nhóm ngành kỹ sư Lâm học, Nông học chủ yếu là nam sinh viên, còn nhóm ngành kinh tế lại chủ yếu là nữ sinh Như vậy, việc khác nhau về thể lực và kết quả học tập môn GDTC giữa hai khối ngành nghề là không tránh khỏi Cả hai khối ngành nghề đều phải thực hiện chung một chương trình học tập mà không có sự phân nhóm sức khỏe hay sự đa dạng hóa về nội
Trang 25dung, hình thức học tập Vì vậy làm cho việc nâng cao thể lực cũng như kết quả học tập cho nữ sinh viên và công tác giảng dạy của giáo viên chưa đạt được hiệu quả cao
1.5 Những công trình nghiên cứu có liên quan
Như chúng ta đã biết: “một trong những yếu tố đảm bảo cho công tác giáo dục thể chất đạt được hiệu quả thì việc sử dụng nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục phải phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý và trình độ của người tập nhất là phải có tính mục đích cho từng đối tượng tập luyện”[29], [42] Việc giáo dục thể chất chuyên biệt cho các nhóm ngành nghề khác nhau cũng chính vì mục đích trên Đây cũng là một mặt được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và phát triển rộng rãi Đặc biệt là các nước Xã hội chủ nghĩa khu vực Đông Âu cũ như Liên Xô, cộng hòa dân chủ Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc và các nước xã hội chủ nghĩa ở Châu Á như Trung Quốc, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Việt nam…Cũng đã có nhiều công trình phát triển sâu rộng công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp từ mầm non đến đại học và đã thu được nhiều thành tích đáng kể Trong đó việc nghiên cứu và áp dụng giáo dục thể chất theo nhóm ngành nghề ở các nước này cũng đã thu được những kết quả tốt đẹp Trong đó phải kể đến các công trình nghiên cứu như: a-Ba-Nhet-Sốp nghiên cứu xây dựng hệ thống bài tập phát triển thể lực cho các phi công vũ trụ, công trình của Khu-Đốp-Ski (1964) về các bài tập cho công nhân thợ mỏ, công trình nghiên cứu của Ba-Ba-Nhi-Na (1967) về các bài tập thể dục cho các công nhân của các nhà máy dệt…Từ đó đã góp phần không nhỏ vào việc nâng cao thể chất cho các đối tượng tập luyện
Ở Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu về thể dục đáp ứng thể lực theo ngành nghề như: giáo sư Lê Văn Lẫm và cộng sự với công trình “ Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”[22]; Tác giả nhận thấy sinh viên khối sư phạm chú ý hơn tới việc phát triển năng lực vận động của đôi chân, còn sinh viên khối kỹ thuật lại thiên về
Trang 26phát triển năng lực vận động của đôi tay, qua đó cho thấy thể chất của nữ sinh viên khoa kinh tế cũng mang đặc điểm nghề nghiệp PGS.TS Phạm Danh Tốn
có công trình nghiên cứu: “vấn đề phân nhóm nghề trong xây dựng nghề trong xây dựng chương trình môn học GDTC cho các trường nghề (1989)” Thạc sỹ Trần Văn Tác (1998) với đề tài “nghiên cứu nội dung, chương trình giáo dục thể chất trong các trường đại học Nông – Lâm – Ngư nghiệp theo định hướng nghề nghiệp” Thạc sỹ Hoàng Văn Hưng trường Đại học Nông nghiệp I (1998) với đề tài: “nghiên cứu cải tiến chương trình GDTC cho nữ sinh viên nhóm sức khỏe yếu” GS.TS Lê Văn Lẫm – Nguyễn Văn Thái (2005) với đề tài “nghiên cứu trạng thái phát triển thể lực của nam sinh viên trường Đại học Cần Thơ thuộc các ngành học khác nhau”; Tác giả cũng đi đến kết luận: thể lực của nam sinh viên Đại học Cần Thơ ở các khoa khác nhau là có sự khác nhau, các ngành học khác nhau có tác động khác nhau đối với các tố chất thể lực của nam sinh viên Tác giả cũng có kiến nghị: Tùy theo đặc điểm ngành học giáo viên cần có nội dung, chương trình và kế hoạch giảng dạy phù hợp để phát triển thể lực cho nữ sinh viên Tác giả Hoàng Công Dân (1998) nghiên cứu cải tiến tiêu chuẩn đánh giá thể lực sinh viên trường Đại học Mỏ - Địa chất trên cơ sở nhóm nghề đặc thù
Hiện nay các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam tiến hành đào tạo theo hướng đa ngành nghề trong đó kết hợp đào tạo các ngành về kỹ thuật, sư phạm và kinh tế… Vì vậy một trong những xu hướng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong các trường đó là tiến hành giáo dục theo đặc thù nhóm ngành đào tạo Tuy nhiên cần có những hình thức, biện pháp cụ thể đối với từng nhóm trường và từng trường nhằm cải tiến về nội dung chương trình,
về phương pháp đánh giá kết quả môn học và đặc biệt đi sâu nghiên cứu đặc điểm riêng về thể lực, thể chất của nữ sinh viên bởi mỗi trường có những đặc điểm riêng cụ thể
Qua tổng hợp các công trình nghiên cứu về vấn đề GDTC cho nữ sinh viên các ngành nghề tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào về đặc điểm học tập của mỗi ngành nghề tới thể lực và kết quả học tập môn giáo dục thể chất của nữ sinh viên khoa kinh tế
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT CỦA NỮ SINH VIÊN KHOA KINH TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Như đã đề cập ở mục 1.3.2 Kết quả học tập môn GDTC đánh giá dưới 2 góc độ: điểm môn học và sự phát triển thể chất của sinh viên
2.1 Thực trạng kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại Học Tây Bắc
Như đã nói ở mục 1.3.2 kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên bao gồm cả điểm lý thuyết, thực hành và trình độ thể lực Nội dung kiểm tra nằm trong chương trình giảng dạy chính khóa, có hình thức kiểm tra đánh giá phù hợp, tương ứng với từng học phần
- Kiểm tra kiến thức lý luận theo chương trình GDTC: Thông qua điểm
lý thuyết chung và lý thuyết chuyên môn
- Kiểm tra kỹ năng thực hành: Khả năng thực hiện kỹ thuật các môn thể thao được đánh giá qua kiểm tra, thi ở các học kỳ(biết kỹ thuật- làm đúng kỹ thuật – tự kiểm tra được kỹ thuật…) thông qua điểm , gọi là điểm thực hành
- Kiểm tra trình độ thể lực: Tiến hành kiểm tra thể lực sinh viên theo nội dung yêu cầu thể hiện trong quyết định 53/2008 của Bộ GD-ĐT ( gọi tắt là kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể ) [8]
- Như vậy kết quả học tập được xem xét dưới 2 góc độ( điểm kết quả học tập và trình độ thể lực)
2.1.1 Thực trạng điểm kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế
Thực trạng điểm kết quả học tập môn học GDTC(gọi tắt là kết quả học tập) của nữ sinh viên khoa kinh tế cho thấy số lượng sinh viên không đạt môn học chiếm tỷ lệ cao Điều này được minh chứng thông qua kết quả học tập
Trang 28môn GDTC của các khóa: KI, KII, KIII, ở năm học trước Kết quả được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế năm học 2012 – 2013 (n=3186sv)
TT Khóa
Số lượng
SV
Kết quả học tập Đạt Không đạt
Thực trạng xếp loại kết quả điểm học môn GDTC của nữ SV 3 khóa được minh họa ở biểu đồ 2.1
Trang 292.1.2 Hiện trạng kết quả học tập môn GDTC của các khoa trong năm học 2012- 2013
Để có thể so sánh kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên ngành kinh tế với sinh viên các ngành học khác, đề tài đã tập hợp và thống kê kết quả môn GDTC năm học 2012-2013 đƣợc thể hiện qua bảng 2.2
Bảng 2.2 Kết quả điểm học tập môn GDTC của nữ sinh viên
là 67.5%, khoa Toán-Lý-Tin là 65.6% và khoa Sinh hóa là 53,3% Bên cạnh
đó các ngành học có số sinh viên đạt ở môn GDTC có tỷ lệ % thấp nhƣ khoa
Trang 30Ngữ văn là 47,8% và ngành kinh tế chỉ chiếm 47.5% Điều đó chứng tỏ kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên có sự chênh lệch đáng kể giữa các ngành học
Như vậy, với đặc thù phần lớn là nữ sinh, tỷ lệ sinh viên ngành kinh tế đạt môn GDTC chỉ chiếm 47.5% Và sự so sánh kể trên của nữ sinh viên các ngành học môn GDTC còn được thể hiện rõ ở biểu đồ 2.2
100
67,5 65,6
47,5 49,2 47,8 50,3 50,6
53,3 48,1
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ sinh viên đạt môn GDTC của Trường Đại học Tây Bắc (2012 - 2013) thuộc các ngành học khác nhau
Từ thực tiễn cho thấy: kết quả điểm học môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế còn thấp, cần có những biện pháp khắc phục nhằm hạn chế những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả học tập của nữ sinh viên
2.2 Thực trạng thể lực của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc năm học 2012 - 2013
Để đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan trong việc đánh giá thể lực cho khách thể nghiên cứu đề tài tiến hành lấy ngẫu nhiên 100 nữ
Trang 31sinh viên khoa kinh tế trong trường KI, KII,KIII-cùng tuổi để tiến hành kiểm tra, kiểm tra sư phạm thông qua các chỉ tiêu đã được Bộ Giáo Dục Đào Tạo qui định cụ thể là:
- Lực bóp tay thuận (kg )
- Chạy con thoi 4x10m (s) - Chạy 30m xuất phát cao (s)
- Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) - Bật xa tại chỗ (cm)
- Chạy 5 phút tùy sức (m)
Sau kiểm tra và xử lý, kết quả được trình bày ở bảng 2.3
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát thể lực của nữ sinh trường Đại học Tây Bắc trước thực nghiệm (n= 100)
2 3 Chạy con thoi 4x10m (s) 12,57 1,15 9,15 0,02
3 4 Chạy 30m xuất phát cao (s) 6,02 0,65 10.8 0,02
4 5 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 10,02 3,5 34.9 0,07
5 6 Bật xa tại chỗ (cm) 147 26 17,69 0,03
6 7 Chạy 5 phút tùy sức (m) 725 97,5 13,45 0,03
Thông qua khảo sát bảng 2.3 cho thấy:
Trong 6 chỉ tiêu khảo sát chỉ có 2 chỉ tiêu các số liệu phân bố khá tập trung xung quanh số trung bình (Cv<10%), còn lại 4 chỉ tiêu thì các
số liệu phân bố phân tán( Cv>10%) nhất là chỉ tiêu nằm ngửa gập bụng (Cv= 34,9%)
Xét về tính đại diện của giá trị trung bình thì hầu hết giá trị trung bình đều xứng đáng(ɛ<0,05), ngoại trừ nằm ngửa gập bụng (ɛ= 0,07)
Trang 32Khi so sánh giá trị trung bình của các chỉ tiêu về các tố chất thể lực của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc với kết quả khảo sát chung thực trạng thể lực của nữ sinh Việt Nam từ 16 đến 20 tuổi năm 2001, đối với nữ sinh cùng lứa cũng như so với tiêu chuẩn rèn luyện thân thể (RLTT) của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chứng tỏ:
- Về Lực bóp tay thuận (kg ): Nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc có kết quả 23,17 ± 3,12 kg với kết quả điều tra thể chất của người Việt Nam cùng tuổi năm 2001 đạt mức thấp và cũng chưa đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục (≥ 27,5 kg)
- Nằm ngửa gập bụng (số lần/30s)
Nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc có kết quả gập bụng 10,02 ± 3,5 lần so với kết quả điều tra thể chất của người Việt Nam cùng tuổi năm 2001 đạt mức thấp và cũng chưa đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục (≥17 lần/30s)
- Bật xa tại chỗ (cm)
Nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc bật xa
147 26(cm) thấp hơn 12 cm so với kết quả điều tra thể chất của người Việt Nam cùng lứa và giới tính cùng tuổi năm 2001 thì chưa đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo (≥155cm)
- Chạy 30m xuất phát cao (s)
Nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc có thành tích chạy 30m XPC là 6,02 0,65 (s) so với kết quả điều tra thể chất của người Việt Nam cùng tuổi năm 2001 là 6,19 0,618 (s) tốt hơn 0,17s , tốt hơn tiêu chuẩn RLTT, chỉ tiêu này của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định là 6,60 (s)
- Chạy con thoi 4x10m (s)
Trang 33Nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc có thành tích 12,57 1,15s so với kết quả điều tra thể chất nhân dân năm 2001 là 12,62 1,09 (s) là tương đương, với mức trung bình so với tiêu chuẩn người Việt Nam năm 2001, nhưng chưa đạt tiêu chuẩn RLTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định ở chỉ tiêu này 12,9s
- Chạy 5 phút tùy sức (m)
Thành tích của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc
là 725 97.55m thấp hơn không đáng kể so với tiêu chuẩn người Việt Nam năm 2001 (729 101,5m),
Như vậy thông qua các chỉ số về thể lực của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc ta có thể nhận xét rằng:
So với thực trạng thể chất người Việt Nam cùng giới và lứa tuổi thì thể lực của nữ sinh trường Đại học Tây Bắc có 2/3 các chỉ tiêu đánh giá thấp hơn, chỉ có 1/3 các chỉ tiêu đánh giá là tương đương hoặc cao hơn một chút
+ So với tiêu chuẩn RLTT của nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc thấp hơn rất nhiều
Để thấy rõ hơn thực trạng thể lực của nữ SV khoa kinh tế trương Đại Học Tây Bắc, đề tài sẽ tiếp tục phân loại trình độ thể lực theo quyết định 53/2008 của Bộ Giáo Dục Đào Tạo
Về phân loại thể lực ở từng chỉ tiêu:
Kết quả phân loại ở từng chỉ tiêu được giới thiệu ở bảng 2.4.cho thấy hầu hết các chỉ tiêu là không đạt yêu cầu, nhất là ở Lực bóp tay thuận (68%),Nằm ngửa gập bụng (77%) và Bật xa tại chỗ(73%)
Bảng 2.4 Đánh giá từng chỉ tiêu theo quy định của Bộ (n= 100)
Trang 34Stt Các chỉ tiêu
Đạt tốt Đạt Ko đạt
1 2 Lực bóp tay thuận (kg ) 9 9 23 23 68 68
2 3 Chạy con thoi 4x10m (s) 13 13 35 35 52 52
3 4 Chạy 30m xuất phát cao (s) 14 14 37 37 49 49
4 5 Nằm ngửa gập bụng (lần/30s) 0 0 23 23 77 77
6 7 Chạy 5 phút tùy sức (m) 12 12 39 39 49 49
Về phân loại thể lực chung
Kết quả phân loại thể lực chung (Bảng 2.5) chứng tỏ so với tiêu chuẩn thể lực của Bộ Giáo Dục Đào Tạo qui định, nữ sinh viên khoa kinh tế trường Đại Học Tây Bắc thuộc loại yếu(61%), loại đạt trở lên chỉ chiếm 39% Đánh giá đó là cơ sở khoa học (X²= 4,84 với P< 0,05)
Bảng2.5 Đánh giá thể lực chung theo tiêu chuẩn của Bộ (n= 100)
Trang 35Đạt tốt, 9%
Đạt, 30%
Ko đạt, 61%
Đạt tốt Đạt
Bảng 2.6 Kết quả phỏng vấn GV về nguyên nhân làm hạn chế kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế (n= 28 giáo viên)
TT Các Nguyên nhân
Ý kiến
X 2 P Đồng ý Không đồng ý
Trang 36và học, giáo viên không được bồi dưỡng là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến kết quả học tập của nữ sinh viên Học sinh thiếu tự giác tích cực trong học tập cũng là một nguyên nhân được giáo viên đánh giá rất quan trọng làm hạn chế kết quả học tập của các sinh viên
Việc giáo viên được bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ hàng năm cũng là một nhu cầu cần thiết của giáo viên thuộc bộ môn GDTC Bởi xã hội ngày càng tiến bộ, kinh tế, khoa học kỹ thuật không ngừng phát triển kéo theo sự phát triển của ngành TDTT Ngày nay ngày càng xuất hiện nhiều phương pháp giảng dạy hiện đại, kinh nghiệm phong phú , đòi hỏi người giáo viên thể dục phải thường xuyên được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kịp thời nắm bắt những tiến bộ khoa học kỹ thuật của ngành TDTT để truyền
Trang 37thụ cho nữ sinh viên một cách tốt nhất
Về nội dung chương trình chưa phù hợp thì ý kiến của các thầy cô là năm ăn năm thua Trên thực tế giảng dạy, nhà trường đào tạo các ngành nghề khác nhau nhưng đều học chung một chương trình giống nhau mà phần thực hành chỉ có điều kiện với cầu lông, bóng chuyền Vì vậy, có những nội dung học phù hợp với sinh viên khoa khác (phần lớn là nam sinh viên) nhưng lại chưa phù hợp với sinh viên khối kinh tế (phần lớn là nữ sinh)
- Ý kiến từ phía sinh viên về những nguyên nhân làm hạn chế kết quả học tập môn GDTC thì sao? Để tìm hiểu vấn đề này, đề tài đưa ra một số nguyên nhân để sinh viên đánh giá Kết quả được thể hiện qua bảng 2.7
Bảng 2.7 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên khoa kinh tế (n=219sv)
3 Chưa có sự quan tâm
tạo điều kiện về cơ sở 124 56.7 95 43.3
4,12 <0.05
Trang 38có thời gian tập luyện ngoại khóa (có 140 sinh viên chiếm 64.4%), tiếp đến là
do nội dung chương trình môn học chưa kích thích được hứng thú của nữ sinh viên (có đến 129 sinh viên chiếm 59.2%) và 124 sinh viên chiếm 56.7% cho rằng chưa có sự quan tâm tạo điều kiện về cơ sở vật chất, dụng cụ tập luyện
Trang 39Xử lý qua chỉ số X2 đều cho thấy, những nguyên nhân đó là xúc tác thực sự với P<0.05 đến P<0.01 Những nguyên nhân còn lại như môn học khó, SV không hứng thú, chưa được GV hướng dẫn ngoại khóa, sinh viên chưa nỗ lực đều không được SV đồng ý với P< 0,001
Từ những kết quả phỏng vấn ở trên, đề tài rút ra những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Sinh viên ít có thời gian tập luyện TDTT ngoại khóa
- Nguyên nhân khách quan:
+ Nội dung chương trình môn học chưa kích thích được hứng thú học tập của nữ sinh viên
+ Trang thiết bị, dụng cụ tập luyện còn chưa đáp ứng được nhu cầu tập luyện của nữ sinh viên
Từ những thực trạng nêu trên cho thấy các nguyên nhân chủ quan
và khách quan đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kết quả học tập môn GDTC của nữ sinh viên ngành kinh tế Để thúc đẩy phong trào tập luyện TDTT, nâng cao kết quả học tập môn GDTC thì việc đưa ra các biện pháp khắc phục là hết sức cần thiết trong giai đoạn này
Ta hãy phân tích một vài yếu tố liên quan đến nguyên nhân ảnh hưởng không tích cực tới kết quả học tập môn học GDTC mà giáo viên
và học trò nêu lên
2.3.1 Nguyên nhân về đội ngũ giáo viên thể dục thể thao của
Trường Đại Học Tây Bắc
GDTC là một quá trình giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong việc giáo
Trang 40dục con người toàn diện, là sự tất yếu khách quan thúc đẩy quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Vai trò của người giáo viên nói chung và người giáo viên thể dục nói riêng là rất quan trọng Giáo viên là người giảng dạy truyền thụ cho học sinh những kiến thức, tri thức khoa học và kỹ thuật của các môn thể thao, kỹ năng vận động của con người Giáo viên là người góp phần không nhỏ trong sự phát triển công tác GDTC của nhà trường
Vậy để nâng cao kết quả học tập môn GDTC trong nhà trường cần phải quan tâm tới sự phát triển số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên thể dục Kết quả điều tra về thực trạng đội ngũ giáo viên thể dục nhà trường được thể hiện ở bảng 2.8
Bảng 2.8 Thực trạng đội ngũ giáo viên thể dục Trường Đại học Tây Bắc