So với các quốc gia trong khu vực và thế giới, DNNVV Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế như: DNNVV đa phần làm dịch vụ, chỉ khoảng 20% là hoạt động sản xuất; có tới 42% DN có doanh thu h
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
BÀI TẬP LỚN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-
LÊNIN
Đề tài (2): Thực trạng phát triển các Doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Việt Nam hiện nay
Họ và tên: Phạm Cẩm Nhung
Mã SV: 11204129 Lớp: (220) _25 Khóa: 62
Hà Nội - 2021
Trang 2Mở đầu
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh
tế xã hội của đất nước Việc phát triển DNNVV cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, công nghệ và thị trường; tạo công ăn, việc làm cho người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; giảm bớt chênh lệch giàu nghèo; hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn; duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống Tuy nhiên, trong một nghiên cứu của Ban Kinh tế Trung ương và Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (năm 2017) cho rằng, qua 30 năm đổi mới, quy mô của phần lớn các DN tư nhân
(DNTN) Việt Nam vẫn chỉ là nhỏ và siêu nhỏ; hiệu suất còn thấp và có sự suy giảm Chỉ số tỷ suất hoàn vốn của các DNTN rất thấp, chỉ bằng 1/5 của DN FDI và gần 1/2 của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của DNTN bình quân chỉ đạt 4% so với 16,3% của DN FDI và 11% của DNNN
So với các quốc gia trong khu vực và thế giới, DNNVV Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế như: DNNVV đa phần làm dịch vụ, chỉ khoảng 20% là hoạt động sản xuất; có tới 42% DN có doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ đồng và 85% DN hoạt động chính thức có doanh thu dưới 2 tỷ đồng; số lượng DN tư nhân tuy tăng hàng năm nhưng quy mô bình quân của mỗi DN là không lớn Tỷ lệ trung bình người dân/DN vẫn ở mức thấp, hiện nay tỷ lệ này ở khối các nước ASEAN là 80-100 dân, trong khi đó, ở Việt Nam bình quân 256 người dân mới có một DN
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cho các DNNVV trên nhiều mặt Nhờ đó, các DN này đã có bước phát triển mạnh cả về số lượng, năng lực kinh doanh và khả năng cạnh tranh Tuy nhiên, bản thân DN và sự
hỗ trợ của Nhà nước còn nhiều hạn chế, vì thế chưa phát huy hết tiềm năng đối với các DNNVV Vì vậy đây là vấn đề cấp thiết và có tính cơ bản, lâu dài đối với đất nước ta trong quá trình hội nhập ngày một sâu rộng Chính vì lẽ đó tôi đã chọn đề tài “Thực trạng phát triển các Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay” để làm bài tập lớn cho môn Kinh tế chính trị Mác- Lênin
Trang 3I Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏvà vừa (DNNVV)
1 Khái niệm DNNVV
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có quy
mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị thu được trong từng thời kỳ theo quy định của từng quốc gia
Căn cứ theo điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP:
Điều 6 Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa
1 Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng
2 Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này
3 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng
Trang 4nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản
2 Điều này.”
Như vậy, theo luật mới, các tiêu chuẩn xác định đối với DNVVN đã có những thay đổi sau:
- Số lao động tham gia BHXH bình quân hàng năm đối với doanh nghiệp siêu nhỏ không quá 10 người và tổng doanh thu hàng năm không quá 10 tỷ hoặc nguồn quỹ không quá 3 tỷ
- Doanh nghiệp nhỏ: Số lao động tham gia BHXH bình quân không quá 50 người và tổng thu nhập hàng năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ: Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân hàng năm không quá 100 người và tổng thu nhập hàng năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng
2 Tiêu chí xác định DNNVV
Định nghĩa về doanh nghiệp vừa và nhỏ được hiểu và quy định khác nhau tuỳ theo từng nơi Có hai loại tiêu chuẩn để phân loại doanh nghiệp: tiêu chuẩn định tính và tiêu chuẩn định lượng Bộ tiêu chuẩn định tính này dựa trên các đặc điểm
cơ bản của công ty là mức độ chuyên môn hóa thấp, ít tập trung quản lý và độ phức tạp trong quản lý thấp Các tiêu chuẩn này có ưu điểm là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó giải quyết Xác định trong thực tế Do đó, chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo và kiểm chứng chứ ít được sử dụng để phân loại trong thực tế Nhóm tiêu chuẩn định lượng có thể dựa trên số lượng lao động, giá trị tài sản hoặc vốn, thu nhập, lợi nhuận và các tiêu chí khác Trong đó:
Số lao động: lao động bình quân, lao động thường xuyên, lao động thực tế trong danh sách; tài sản hoặc vốn: có thể là tổng giá trị tài sản (hoặc vốn), tài sản cố định
Trang 5(vốn), giá trị còn lại của tài sản; thu nhập: thể là tổng thu nhập / năm, Tổng giá trị gia tăng / năm
Bảng 1- Tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số 56/2006/NĐ-CP
Bảng 2- Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước và vùng
lãnh thổ trên thế giới
Nước Các tiêu chí áp dụng
Số lao động Tổng vốn
hoặc giá trị tài sản
Doanh thu
1 Mỹ
Trong tất cả
các ngành
<500 hoặc
<1000
Không quan trọng
Không quan trọng
2 Nhật Bản
- Bán lẻ
- Bán buôn
- Dịch vụ
- Các ngành
sản xuất
<50
<100
<100
<300
<10 triệu yên
<100 triệu yên
<50 triệu yên
<300 triệu yên
Không quan trọng
Trang 63 Các nước
EU
<250 <27 triệu euro <40 triệu euro
4 Australia
- Công
nghiệp và dịch
vụ
- Các ngành
khác
<500
<300
Không quan trọng
Không quan trọng
5 Canada
(Ngành sản xuất
và dịch vụ)
<500 Không quan
trọng
<20 triệu đôla Canada
6 Đài Loan
- Các ngành
chế tạo, xây
dựng và khai mỏ
- Các ngành
khác
<200
<50
<2,3 triệu USD
Không quan trọng
Không quan trọng
<2,9 triệu USD
7 Hàn Quốc
- Công
nghiệp xây dựng
- Thương
mại dịch vụ
<300
<50
<0,6 triệu USD
<0,25 triệu USD
<1,4 triệu USD
8 Malaysia
(Sản xuất
công nghiệp)
người
9 Indonesia Không
quan trọng
<100.000 USD
<500.000 USD
10 Philippines Từ 10-199 1,5- 60 triệu
peso
Không quan trọng
Trang 711 Thái Lan
- Sản xuất
- Bán buôn
- Bán lẻ
<200 triệu baht
<100 triệu baht
<60 triệu baht
12 Brunei 1-100 đôla
Singapore
Không quan trọng trọng Không quan
3 Đặc điểm của DNNVV
Đầu tiên là quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa, tiềm lực vốn nhỏ Nguồn vốn đầu tư có hạn, số lượng nhân viên tối đa 300 người, quy mô kinh doanh tương đối nhỏ Điều này mang lại nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ như dễ thành lập, dễ tiếp cận thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển đa ngành, đa vùng, lấp đầy những khoảng trống mà các doanh
nghiệp lớn để lại Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa
có khả năng đầu tư về mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu còn hạn chế Các DNNVV, hưởng lợi thế về quy mô như các doanh nghiệp lớn Ngoài ra, quy mô nhỏ và tính minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến các công ty khó tiếp cận các nhà đầu tư huy động vốn từ ngân hàng và thị trường chứng khoán
Thứ hai, sự phong phú về loại hình kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh DNNVV hoạt động dưới nhiều loại hình doanh nghiệp như hộ kinh doanh
cá thể, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo nhiều hình thức Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể thu thập lao động và nguyên liệu tại chỗ, phản ứng nhạy bén với những thay đổi của nhu cầu thị trường và phát triển nhanh chóng Họ là nhân tố quan trọng trong việc ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển
Thứ ba là chiến lược sản xuất và vận hành, trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh còn hạn chế Nhiều DNVVN thiếu chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh và mục tiêu của công ty mà hầu hết chỉ lập kế hoạch sản xuất
Trang 8kinh doanh tạm thời và ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu thị trường luôn thay đổi của công ty Các DNVVN thường đi chệch khỏi sứ mệnh và mục tiêu ban đầu, thiếu những điều chỉnh kịp thời và hợp lý Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do quy
mô vốn hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới máy móc, thiết bị, quy trình sản xuất thường không thường xuyên, dễ rơi vào tình trạng công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý yếu kém Do đó, các DNVVN thường sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ để có được thông tin thị trường và thị trường sản phẩm và dịch vụ
Thứ tư, hoạt động của DNNVV phụ thuộc vào những biến động của môi
trường kinh doanh Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất theo mùa vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, thiếu nguồn vốn đa dạng đã dẫn đến tính đa dạng hóa và tính ổn định trong hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa cao Tuy
nhiên, DNNVV quy mô nhỏ cũng có những lợi thế nhất định, so với các DN quy
mô lớn là dễ dàng hơn trong việc chuyển đổi hoạt động sản xuất, tăng hoặc giảm lao động, thậm chí dễ dàng hơn trong việc chuyển địa điểm sản xuất
Thứ năm, bộ máy điều hành gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao những năng lực quản trị chưa cao Doanh nghiệp nhỏ và vừa có ít lao động hơn, cơ cấu tổ chức sản xuất và quản lý tương đối gọn nhẹ, ít liên kết trung gian Điều này giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty; các quyết định, mục tiêu được truyền đạt nhanh chóng đến người lao động, tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp Với mô hình quản lý trực tiếp, việc ra quyết định thường nhanh chóng và nhạy bén với những thay đổi của môi trường kinh doanh Tuy nhiên, khi việc ra quyết định không chính xác, ra quyết định nhanh chóng và thiếu nghiên cứu thị trường thường mang lại rủi
ro cho doanh nghiệp Đây là một hạn chế, do một số lãnh đạo DNVVN hầu như chưa được đào tạo từ các trường chính quy, thiếu kiến thức cơ bản về tài chính, luật, quản trị kinh doanh
II Thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
1 Quá trình hình thành doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Trong hơn 30 năm đổi mới và mở cửa, Đảng và cả nước luôn không ngừng phát triển theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều chế độ
Trang 9sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức, phương thức bán hàng
và phương thức phân phối Nhà nước thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, ban hành một số chính sách thúc đẩy sự phát triển đồng thời của các thành phần kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và cùng phát triển lâu dài thời gian Lâu dài, hợp tác
và công bằng cuộc thi Kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể tiếp tục củng cố và phát triển Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào phát triển kinh tế Khu vực kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế
Để phát triển kinh tế tư nhân trong tình hình mới, tại Hội nghị lần thứ năm , Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ /
TW của ngày 03 tháng 6 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân đã trở thành một động lực chính trên thị trường xã hội chủ nghĩa.Sau gần hai năm thực hiện nghị quyết, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển nhanh chóng và ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đặc biệt là trong tăng trưởng kinh tế, thương mại và đối với tăng trưởng kinh tế của thu của ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện
xã hội
Các DNVVN là một bộ phận quan trọng của khu vực tư nhân đại diện cho một
bộ phận lớn của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam Hiện nay, cả nước có khoảng 541.753 DNNVV đang hoạt động trong nền kinh tế, với tổng vốn đăng ký khoảng
130 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 vốn đăng ký của các doanh nghiệp Hàng năm, DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30% , đóng góp 33% giá trị sản xuất công nghiệp,% giá trị hàng hóa xuất khẩu và thu hút 60% nhân viên Mặc dù số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn, nhưng quy mô nhỏ và chiếm tỷ trọng rất lớn, số lượng vừa chỉ chiếm 1,6% tổng số số lượng Do quy mô nhỏ nên hoạt động ngành nghề kinh doanh gặp nhiều khó khăn như năng lực tiếp cận các nguồn vốn để máy móc và công nghệ hiện đại phục vụ sản xuất kinh
doanh thiếu kinh nghiệm quản trị doanh nghiệp; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trực tiếp trong nước Trong thời gian tới sắp tới, các giải pháp hiệu quả
là cần thiết để lĩnh vực này hoạt động, mặc dù rất năng động, nhưng cũng dễ bị tổn thương, có thể phát triển bền vững nhanh chóng trong bối cảnh mới
Trang 102 Thực trạng phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các DNVVN hiện chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% GDP, tổng thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động Đồng thời, khu vực DNVVN có hiệu quả trong việc huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển và đóng góp vào ngân sách nhà nước, thúc
đẩy nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là trong khu vực kinh tế cải tiến, đổi mới và ứng dụng trong sản xuất và tạo ra sự năng động và cạnh tranh cho nền kinh tế
Cụ thể, theo Tổng cục Thống kê , năm 2019 có 138.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn 1.730,2 nghìn tỷ và tổng số nhân viên đăng ký
là 1.254 nhân viên về vốn cổ phần và 13,3% về số lượng nhân viên so với năm 2018 Trong đó, số doanh nghiệp và vốn cấp mới lần lượt tăng 5,2% và 17,1% so với
trước đó và đây cũng là mức cao nhất được ghi nhận từ trước tới nay Ước tính bình quân mỗi doanh nghiệp thành lập có cổ phần ban đầu là 12,5 tỷ đồng , tăng 11,2% so với năm trước Nếu tính thêm vốn đăng ký 40,1 nghìn doanh nghiệp thì cả
năm 2019 nền kinh tế Việt Nam sẽ bổ sung thêm 4.003,2 nghìn tỷ đồng
Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê cũng cho biết số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh và chờ làm thủ tục giải thể cũng tăng mạnh, lần lượt là 28,7 nghìn doanh
nghiệp (tăng 5,9%) và 43,7 nghìn doanh nghiệp (tăng 41,7%) Trong số doanh nghiệp giải thể có gần phân nửa thuộc diện bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo chương trình chuẩn hoá dữ liệu từ năm 2018; số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 16,8 nghìn doanh nghiệp, tăng 3,2% Theo Tổng cục Thống kê, hiện ước tính cả nước có 760.000 doanh nghiệp đang hoạt động Nhằm đạt được mục tiêu một triệu doanh nghiệp vào cuối năm 2020, các bộ, ngành đã đề xuất nhiều giải pháp để cải thiện về lượng lẫn chất doanh nghiệp Ví dụ như, Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước; Tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước; Hỗ trợ từ miễn, giảm thuế,… và các khoản khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật;…
III Giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại nước ta
Thứ nhất, Nhà nước tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi cho sự phát triển của các DNVVN nhằm duy trì niềm tin và các khoản đầu tư Do đó, cần đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát và đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh
tế với đổi mới mô hình tăng trưởng Tăng cường cơ chế, chính sách khuyến khích thành lập DN; giảm các lĩnh vực hoạt động có điều kiện , tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân đầu tư, phát triển sản xuất, kinh doanh ngành, nghề, lĩnh vực mà pháp luật
không cấm, phù hợp với chiến lược phát triển của kinh tế xã hội phát triển trong từng thời kỳ