1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRẦN THỊ NHƯ QUỲNH PHÂN TÍCH DANH mục THUỐC sử DỤNG tại BỆNH VIỆN QUẬN gò vấp năm 2020 LUẬN văn dược sĩ CHUYÊN KHOA cấp i

136 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 15,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (11)
    • 1.1. QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG THUỐC (11)
      • 1.1.1. Các khái niệm (11)
      • 1.1.2. Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài (12)
    • 1.2. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC (13)
      • 1.2.1. Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị (13)
      • 1.2.2. Phương pháp phân tích ABC (14)
      • 1.2.3. Phương pháp phân tích VEN (15)
      • 1.2.4. Phương pháp phân tích ABC/VEN (16)
    • 1.3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN QUẬN, HUYỆN TẠI VIỆT NAM (16)
      • 1.3.1. Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền (16)
      • 1.3.2. Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý (17)
      • 1.3.3. Thực trạng sử dụng thuốc nhóm kháng sinh (17)
      • 1.3.4. Thực trạng sử dụng thuốc nhóm vitamin (18)
      • 1.3.5. Thực trạng sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic (19)
      • 1.3.6. Thực trạng sử dụng thuốc theo nguồn gốc-xuất xứ (19)
      • 1.3.7. Thực trạng sử thuốc thuốc đơn thành phần-đa thành phần (21)
      • 1.3.8. Tình hình sử dụng thuốc theo đường dùng (21)
      • 1.3.9. Phương pháp phân tích ABC, VEN và ma trận ABC/VEN (21)
    • 1.4. ĐÔI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẬN GÒ VẤP (24)
      • 1.4.1. Chức năng nhiệm vụ khoa dược Bệnh viện quận Gò Vấp (26)
      • 1.4.2. Mô hình bệnh tật theo mã ICD 10 của Bệnh viện quận Gò vấp năm (27)
    • 1.5. TÍNH THIÊT YẾU CỦA ĐỀ TÀI (28)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (29)
    • 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (29)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. MÔ TẢ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN GÒ VẤP NĂM 2020 (35)
      • 3.1.1. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền (35)
      • 3.1.2. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý (36)
      • 3.1.3. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phân loại kháng sinh (38)
      • 3.1.4. Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược sử dụng theo đơn thành phần/ đa thành phần (40)
      • 3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc-xuất xứ (45)
      • 3.1.6. Cơ cấu danh mục thuốc biệt dược gốc và thuốc generic (45)
      • 3.1.7. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng (47)
      • 3.1.8. Thuốc sử dụng 80-120% (48)
    • 3.2. PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG THEO PHƯƠNG PHÁP ABC, VEN, MA TRẬN ABC/VEN (48)
      • 3.2.1. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC (48)
      • 3.2.2. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tác dụng dược lý nhóm A (49)
      • 2.2.3. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp VEN (52)
      • 3.2.4. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN (52)
      • 3.2.5. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm AN (53)
      • 3.2.6. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm BN (56)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (59)
    • 4.1. MÔ TẢ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN GÒ VẤP NĂM 2020 (59)
      • 4.1.2. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý (60)
      • 4.1.3. Các nhóm thuốc trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn (62)
      • 4.1.4. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đơn thành phần/ đa thành phần (63)
      • 4.1.5. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc-xuất xứ (64)
      • 4.1.6. Cơ cấu danh mục thuốc theo tên biệt dược gốc và tên generic (65)
      • 4.1.7. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đường dùng (66)
    • 4.2. PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG THEO PHƯƠNG PHÁP ABC, VEN, MA TRẬN ABC/VEN (67)
      • 4.2.1. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp phân tích ABC 59 4.2.2. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo tác dụng dược lý nhóm A (67)
      • 4.2.3. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp VEN (70)
      • 4.2.4. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp ABC/VEN (71)
      • 4.2.5. Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm AN (72)
      • 4.2.6. Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm BN (72)
  • KẾT LUẬN (74)
  • PHỤ LỤC (80)

Nội dung

Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền .... Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng

TỔNG QUAN

QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG THUỐC

Danh mục thuốc đã sử dụng phản ánh toàn bộ quá trình cung ứng thuốc, từ lựa chọn và mua sắm đến cấp phát và sử dụng thực tế Việc phân tích danh mục thuốc đã sử dụng giúp nhận diện kịp thời những bất hợp lý trong cung ứng thuốc và tối ưu hóa hoạt động quản lý thuốc Điều này hỗ trợ cải thiện hiệu quả điều trị và giảm lãng phí từ nguồn cung ứng thuốc.

Từ đó có những điều chỉnh, hợp lý hơn cho chu kỳ cung ứng thuốc của năm sau

Theo Luật dược 105/2016/QH13, thuốc được định nghĩa là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh và điều chỉnh chức năng sinh lý của cơ thể người Thuốc được phân thành các nhóm chính gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm.

Thuốc hóa dược là loại thuốc có dược chất được xác định rõ về thành phần, công thức và độ tinh khiết, đồng thời phải đạt các tiêu chuẩn làm thuốc Nó bao gồm cả thuốc tiêm được chiết xuất từ dược liệu và các thuốc có kết hợp dược chất với dược liệu đã được chứng minh về tính an toàn và hiệu quả [31].

Thuốc dược liệu là thuốc có thành phần từ dược liệu và có tác dụng dựa trên bằng chứng khoa học, trừ thuốc cổ truyền quy định [31]

Thuốc cổ truyền, bao gồm cả vị thuốc cổ truyền, là các chế phẩm được tạo từ thành phần dược liệu, trải qua quá trình chế biến, bào chế hoặc phối ngũ theo lý luận và phương pháp của y học cổ truyền hoặc dựa trên kinh nghiệm dân gian Những chế phẩm này có dạng bào chế truyền thống hoặc hiện đại, phản ánh sự kế thừa và phát triển của y học cổ truyền.

Thuốc generic là thuốc có cùng dược chất, hàm lượng, dạng bào chế với biệt dược gốc và thường được sử dụng thay thế biệt dược gốc [31]

Biệt dược gốc là thuốc đầu tiên được cấp phép lưu hành trên cơ sở có đầy đủ dữ liệu về chất lượng, an toàn, hiệu quả [31]

1.1.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài Luật dược 105/2016/QH13 ngày 06/4/2016 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về chính sách của Nhà nước về Dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký; lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc [31]

Nghị định số 54/2017/NĐ-CP ngày 08/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dược [12]

Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về chức năng hoạt động của khoa dược [2]

Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh [8]

Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định rõ về hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐTĐT) trong bệnh viện Thông tư nêu chức năng của HĐTĐT là tư vấn cho Giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, đồng thời thực hiện tốt các chính sách quốc gia về thuốc trong cơ sở khám chữa bệnh.

Thông tư 05/2015/TT-BYT, ban hành ngày 17/3/2015, quy định danh mục thuốc Đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế Văn bản này nhằm xác định rõ các loại thuốc được chi trả bởi BHYT và chuẩn hóa tiêu chuẩn thanh toán cho các sản phẩm y học cổ truyền.

Thông tư số 20/2017/TT-BYT ngày 10 /05/ 2017 quy định quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất, nguyên liệu dùng làm thuốc[6]

Thông tư 30/2018/TT-BYT ban hành ngày 30/10/2018 quy định danh mục, tỷ lệ và điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia Bảo hiểm Y tế.

Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập [8]

Thông tư số 15/2020/TT-BYT ban hành ngày 10/8/2020 của Bộ Y tế quy định danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung và danh mục thuốc được áp dụng hình thức phán giá, nhằm chuẩn hóa quy trình mua sắm thuốc, tăng cường cạnh tranh và sự minh bạch trong quản lý giá thuốc [9].

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỬ DỤNG THUỐC

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có 3 phương pháp chính để làm rõ các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc tại phòng khám mà HĐT&ĐT nên thường xuyên áp dụng Thứ nhất là đánh giá và rà soát kê đơn nhằm đảm bảo tính hợp lý của thuốc, liều lượng và thời gian điều trị Thứ hai là giám sát sử dụng thuốc và kết quả điều trị, bao gồm theo dõi tác dụng phụ, tương tác thuốc và hiệu quả điều trị Thứ ba là giáo dục và tư vấn cho người bệnh về cách dùng thuốc an toàn, nhận diện tác dụng phụ và tuân thủ phác đồ điều trị Việc áp dụng ba phương pháp này sẽ giúp nâng cao chất lượng chăm sóc, đảm bảo an toàn thuốc và tối ưu hoá kết quả điều trị tại phòng khám.

Thu thập thông tin ở mức độ cá thể từ người tự mua thuốc không kê đơn giúp xác định các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thuốc Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là thường thiếu thông tin đầy đủ để điều chỉnh liều lượng hoặc phác đồ thuốc cho phù hợp với chẩn đoán.

Trong nghiên cứu định tính, các phương pháp như tập trung thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và bộ câu hỏi được xem là công cụ hữu ích để xác định nguyên nhân của vấn đề sử dụng thuốc Những kỹ thuật này cho phép thu thập dữ liệu chi tiết từ người tham gia, giúp làm rõ động cơ, rào cản và các yếu tố xã hội tác động đến hành vi dùng thuốc Việc kết hợp các phương pháp này tạo nền tảng dữ liệu chất lượng để phân tích nguyên nhân và đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp.

Các phương pháp tổng hợp dữ liệu là những phương pháp dựa trên dữ liệu tổng hợp thay vì dữ liệu ở từng cá thể, giúp thu thập thông tin một cách dễ dàng và nhanh chóng Trong quản lý sử dụng thuốc, các phương pháp này bao gồm xác định liều DDD (Defined Daily Dose), phân tích ABC và phân tích VEN (Vital, Essential, Non-essential) Những phương pháp này được sử dụng để nhận diện các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc, từ đó hỗ trợ tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Trong các phương pháp được nêu, phân tích DMT gồm phân tích ABC và phân tích VEN là những công cụ hữu ích và cần thiết để xác định các vấn đề lớn liên quan đến sử dụng thuốc Phương pháp này sẽ trở thành công cụ hỗ trợ cho HĐT&ĐT trong quản lý DMT Tại Trung tâm, để phân tích DMT, thường sử dụng các phương pháp sau:

1.2.1 Phân tích sử dụng thuốc theo nhóm điều trị a Khái niệm: là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị [4]

Trang dữ liệu giúp xác định các nhóm điều trị có lượng tiêu thụ và chi phí cao nhất, từ đó làm cơ sở tối ưu hóa chi phí thuốc và nguồn lực y tế Trên cơ sở thông tin từ MHBT, bài viết phân tích các vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý và nhận diện những thuốc bị lạm dụng hoặc có mức tiêu thụ không mang tính đại diện, nhằm đề xuất biện pháp quản lý thuốc an toàn và hiệu quả.

Phương pháp phân tích nhóm điều trị giúp HĐT&ĐT lựa chọn các thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và lựa chọn thuốc cho các liệu pháp điều trị thay thế Ý nghĩa của phương pháp là xác định các nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí lớn nhất, từ đó cung cấp cơ sở để tối ưu hóa sử dụng thuốc và chi phí y tế Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, phương pháp này giúp nhận diện những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý, xác định các thuốc đã bị lạm dụng hoặc có mức tiêu thụ không phản ánh đúng ca bệnh thực tế, ví dụ như sốt rét và sốt xuất huyết.

Hội đồng thuốc và điều trị chịu trách nhiệm lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và xác định các thuốc được chọn làm lựa chọn hàng đầu cho liệu pháp điều trị thay thế [4] Quy trình này dựa trên đánh giá cân bằng giữa hiệu quả điều trị và chi phí, nhằm tối ưu hóa ngân sách y tế và nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.

1.2.2 Phương pháp phân tích ABC

Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa” Theo lý thuyết Pareto: 10% theo chủng loại của thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc (nhóm A) Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ sử dụng 10% ngân sách Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo.

Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong quá trình lựa chọn, mua và cấp phát thuốc, đồng thời giúp đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý và tối ưu chi phí Việc áp dụng phân tích ABC cho phép phân loại thuốc theo mức độ tiêu thụ và tầm quan trọng, từ đó tối ưu hóa quy trình cấp phát và giảm lãng phí Nhờ đó, tổ chức có được một bức tranh chính xác và khách quan về ngân sách thuốc, hỗ trợ các quyết định quản trị và đầu tư dược phẩm một cách hiệu quả.

Phân tích ABC mang lại nhiều lợi ích cho quản lý thuốc và chuỗi cung ứng y tế Trong lựa chọn thuốc, nó cho thấy thuốc nhóm A có chi phí cao và phần lớn ngân sách dành cho các thuốc này, từ đó có thể cân nhắc thay thế bằng thuốc rẻ hơn mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị Trong hoạt động mua hàng, phân tích này được dùng để xác định tần suất mua và tối ưu hóa mức tồn kho cho từng nhóm thuốc, đặc biệt là nhóm A, nhằm giảm chi phí đặt hàng và nâng cao hiệu quả chi tiêu.

Quản lý tồn kho thuốc nhóm A nên được thực hiện với tần suất đặt hàng cao hơn và mức tồn kho ở mức tối thiểu, nhằm tận dụng các đợt giảm giá và tiết kiệm ngân sách đáng kể cho cả hệ thống Vì nhóm A chiếm phần lớn chi tiêu, việc tìm nguồn chi phí thấp hơn, như tối ưu liều dùng hoặc lựa chọn nhà cung cấp giá rẻ hơn, là rất quan trọng để giảm tổng chi phí Theo dõi đơn hàng thuốc nhóm A có ý nghĩa đặc biệt, vì sự thiếu hụt thuốc bất ngờ có thể buộc mua khẩn cấp với giá cao Phân tích ABC có thể theo dõi và mô phỏng mô hình mua hàng tương tự quyền ưu tiên trong hệ thống y tế, từ đó tối ưu hóa chi phí và quản lý nguồn cung.

1.2.3 Phương pháp phân tích VEN

Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc:

Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc thiết yếu được dùng trong các trường hợp cấp cứu và là những thuốc quan trọng nhất để phục vụ công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện Nhóm thuốc Vital đảm bảo sự sẵn có của những thuốc thiết yếu, giúp bác sĩ và đội ngũ chăm sóc y tế ứng phó kịp thời các tình huống khẩn cấp, đồng thời hỗ trợ quá trình chẩn đoán và điều trị cho người bệnh.

Nhóm E (Essential) là các loại thuốc được sử dụng cho các trường hợp bệnh ở mức độ ít nghiêm trọng hơn, nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện.

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC CỦA MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN QUẬN, HUYỆN TẠI VIỆT NAM

1.3.1 Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền

Bộ Y tế ban hành Thông tư 30/2018/TT-BYT về danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc phóng xạ và chất đánh dấu và Thông tư 05/2015/TT-BYT về danh mục thuốc đông dược, vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia bảo hiểm y tế làm nền tảng để các cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện; tại Trung tâm y tế huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên năm 2019, nhóm thuốc hóa dược chiếm 94,03% SKM và 95,05% giá trị sử dụng, nhóm thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền chiếm 5,97% và 4,95% giá trị sử dụng; tại Bệnh viện đa khoa quận 4 thành phố Hồ Chí Minh, nhóm thuốc hóa dược chiếm 96,60% SKM và 96,10% giá trị sử dụng, nhóm thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền chiếm 3,4% SKM và 3,90% giá trị sử dụng; tại Bệnh viện đa khoa khu vực La Gi Bình Thuận, nhóm thuốc hóa dược chiếm 82,06% SKM và 84,55% giá trị sử dụng, nhóm thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền chiếm 17,94% SKM và 15,45% giá trị sử dụng.

1.3.2 Thực trạng sử dụng thuốc theo nhóm tác dụng dược lý

Thuốc là thành phần không thể thiếu trong hoạt động khám và điều trị bệnh tại các cơ sở y tế, và thuốc được sử dụng phải có tác dụng chẩn đoán hoặc điều trị bệnh Tuy nhiên, thực tế vẫn có sự mất cân đối trong việc sử dụng giữa các nhóm thuốc khác nhau Theo một số nghiên cứu, tỷ lệ sử dụng thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn đứng đầu về giá trị sử dụng tại các bệnh viện được nghiên cứu: nghiên cứu của Lê Thị Kim Anh tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng – Hà Nội năm 2018 cho kết quả nhóm thuốc ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 39,96% tổng giá trị sử dụng thuốc [1]; nghiên cứu của Hà Thị Thu Hương tại Bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên – Sơn La cho kết quả nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn chiếm 51,85% tổng giá trị sử dụng thuốc [15].

1.3.3 Thực trạng sử dụng thuốc nhóm kháng sinh

Phân tích thực trạng thanh toán BHYT cho 30 hoạt chất có giá trị thanh toán cao nhất cho thấy nhóm này chiếm 43,7% tổng chi trả BHYT Trong số các hoạt chất này, kháng sinh chiếm 10 hoạt chất và đóng góp tỷ lệ cao nhất, lên tới 21,92% tiền thuốc BHYT.

Thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ lớn trong giá trị sử dụng thuốc tại các bệnh viện, cho thấy chi phí thuốc liên quan đến nhiễm khuẩn chiếm phần lớn và phản ánh mô hình bệnh tật ở Việt Nam có tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn cao Điều này cũng cho thấy tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh vẫn còn phổ biến Vì vậy cần tăng cường quản lý và giám sát kê đơn kháng sinh, nâng cao nhận thức của bác sĩ và người bệnh để giảm chi phí và ngăn ngừa tình trạng kháng thuốc.

Việc sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an toàn và hợp lý Theo kết quả nghiên cứu của các bệnh viện, chi phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng Kết quả khảo sát của Bộ Y tế cho thấy từ năm 2007-2009, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ ổn định từ 32,3% đến 32,4% trong tổng giá trị thuốc sử dụng.

Đợt khảo sát, gồm 14 bệnh viện tuyến tỉnh và 17 bệnh viện huyện/quận, đại diện cho 6 vùng miền trên cả nước, cho kết quả tương tự về tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến y tế Điều này cho thấy chi phí cho thuốc kháng sinh ở tuyến tỉnh, tuyến huyện/quận và tuyến xã có mức độ tương đồng, giúp đánh giá chi phí thuốc kháng sinh toàn quốc và hỗ trợ quản lý ngân sách chăm sóc sức khỏe.

Tỷ lệ chi phí sử dụng thuốc tại các bệnh viện trung bình là 32,5%, cao nhất ở các BV tuyến huyện (43,1%) và thấp nhất ở BV tuyến Trung ương (25,7%) Năm 2014, tại Bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, chi phí cho nhóm kháng sinh chiếm 63,48% tổng giá trị sử dụng thuốc Năm 2019, tại Trung tâm y tế huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, giá trị sử dụng kháng sinh là 5.268,9 triệu đồng, chiếm 31,70% tổng giá trị sử dụng Kết quả phân tích kinh phí cho một số nhóm thuốc tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện cho thấy nhóm thuốc kháng sinh có chi phí sử dụng lớn nhất trong các nhóm thuốc.

Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí tiền thuốc được sử dụng tại bệnh viện, cho thấy mô hình bệnh tật ở Việt Nam có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao Đồng thời, mức chiếm dụng lớn này cho thấy tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn còn phổ biến, đặt ra thách thức về quản lý và kiểm soát kháng sinh nhằm giảm chi phí và ngăn ngừa kháng thuốc.

1.3.4 Thực trạng sử dụng thuốc nhóm vitamin

Nhóm thuốc vitamin, hiệu quả điều trị chưa rõ ràng, đang được sử dụng phổ biến trên toàn quốc Theo kết quả khảo sát thực trạng thanh toán thuốc BHYT năm 2010, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất có cả thuốc bổ trợ là L-ornithin-L-aspartate, Glucosamine, Ginkgo biloba, Arginine và Glutathion; trong đó L-ornithin-L-aspartate nằm trong top 5 hoạt chất có giá trị thanh toán cao nhất Để khắc phục tình trạng chỉ định rộng rãi các thuốc này, BHXH Việt Nam đã ban hành công văn số 2503/BHXH-DVT ngày 02/07/2012 yêu cầu không thanh toán theo chế độ BHYT khi sử dụng các thuốc nêu trên như thuốc bổ thông thường; chỉ thanh toán khi thuốc được sử dụng phù hợp với các công văn hướng dẫn liên quan của Cục Quản lý dược, các chỉ định của thuốc đã được phê duyệt và tình trạng bệnh nhân Đối với các trường hợp bệnh có nhiều lựa chọn thuốc, cơ sở khám chữa bệnh cần lựa chọn thuốc hợp lý, tránh sử dụng thuốc có giá thành cao, chi phí điều trị lớn không cần thiết để bảo đảm hiệu quả sử dụng thuốc phù hợp với khả năng chi trả của quỹ BHYT.

Vitamin là một hoạt chất được sử dụng phổ biến trong điều trị và có nguy cơ lạm dụng cao Theo kết quả phân tích tại 38 bệnh viện trên toàn quốc năm 2009, vitamin nằm trong 10 nhóm thuốc có giá trị sử dụng lớn nhất ở tất cả các tuyến bệnh viện.

1.3.5 Thực trạng sử dụng thuốc biệt dược gốc và thuốc generic

Một nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa Thị xã Lagi tỉnh Bình Thuận năm

2019 thì thuốc biệt dược gốc chiếm 0,32% SKM và 1,21% về giá trị sử dụng Thuốc generic chiếm 99,68% về SKM và 98,79 % về giá trị sử dụng [14]

Trong năm 2018, tại Trung tâm Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thuốc biệt dược gốc chiếm 4,0% SKM và 3,4% giá trị sử dụng, trong khi thuốc generic chiếm 96% SKM và 96,6% giá trị sử dụng (nguồn [28]).

Trong năm 2017 tại Bệnh viện đa khoa quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, thuốc biệt dược gốc chiếm 23,20% SKM và 39,40% giá trị sử dụng, trong khi thuốc generic chiếm 77,80% SKM và 60,60% giá trị sử dụng [33].

Tại Bệnh viện Đa khoa Quận 9, TP Hồ Chí Minh, vào năm 2015, thuốc biệt dược gốc chiếm 26,22% SKM và 38,95% giá trị sử dụng; thuốc generic chiếm 73,78% SKM và 61,05% giá trị sử dụng [16].

1.3.6 Thực trạng sử dụng thuốc theo nguồn gốc-xuất xứ

Thuốc sản xuất tại Việt Nam ngày càng đa dạng về chủng loại và số lượng, bao gồm các nhóm dung dịch tiêm truyền, thuốc tiêm, thuốc chống nhiễm khuẩn và các nhóm thuốc khác Giá trị tiền thuốc sản xuất trong nước tăng mạnh theo từng năm và đã lên tới khoảng 50% trị giá tiền thuốc sử dụng.

Thuốc sản xuất trong nước chiếm gần 43% các mặt hàng trúng thầu, trong đó chủ yếu là thuốc do các doanh nghiệp Dược Việt Nam sản xuất

Trong năm 2012, theo báo cáo từ 1.018 bệnh viện, chi tiêu cho thuốc có nguồn gốc trong nước chỉ chiếm 38,7% trong tổng số 15 nghìn tỷ đồng chi mua thuốc, trong khi phần còn lại là chi phí cho thuốc có nguồn gốc nhập khẩu Tuy nhiên, tỷ lệ chi phí cho thuốc có nguồn gốc trong nước cũng có sự khác nhau.

ĐÔI NÉT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUẬN GÒ VẤP

Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp được thành lập từ ngày 23 tháng 02 năm

2007 theo Quyết định số 30/2007/QĐ-UBND ngày 23/02/2007 của Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, và chính thức hoạt động độc lập từ tháng 01 năm 2008

Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp là một đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp và toàn diện của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp, đồng thời nhận sự hướng dẫn, thanh tra và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ từ Sở Y tế và các Trung tâm chuyên ngành.

Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp có tư cách pháp nhân và con dấu riêng; được Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật, theo quyết định số 4468/QĐ-UBND ngày 15 tháng 12 năm 2018 của Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp về ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Bệnh viện quận Gò Vấp.

Bệnh viện quận Gò Vấp bao gồm 02 cơ sở:

- Cơ sở 1: số 212 Lê Đức Thọ, Phường 15, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh;

- Cơ sở 2: số 641 Quang Trung, Phường 11, quận Gò Vấp, Thành phố

Hồ Chí Minh, nơi đặt trụ sở chính

Tháng 02 năm 2017, Bệnh viện quận Gò Vấp khánh thành cơ sở 2 tại số

Địa chỉ: 641 Quang Trung, phường 11, quận Gò Vấp, có khuôn viên 13.340 m² Bệnh viện hoạt động chủ yếu tại cơ sở mới nhưng vẫn duy trì Phòng khám Y học cổ truyền tại cơ sở 1 Cơ sở vật chất hiện đại của cơ sở mới tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người dân trên địa bàn quận Gò Vấp trong năm 2019, đồng thời đặt ra những thách thức và cơ hội phát triển mới mà Bệnh viện cần định hướng và khai thác có hiệu quả.

Tập thể CBVC Bệnh viện tập trung cho giai đoạn 2020-2025 và những năm tiếp theo, nhận được sự quan tâm sâu sắc, chỉ đạo liên tục và kịp thời của lãnh đạo Sở Y tế, Quận ủy và UBND quận; sự phối hợp và hỗ trợ tích cực của các ban ngành trên địa bàn quận Trong thời gian này, tập thể CBVC Bệnh viện không ngừng nỗ lực hoàn thành các kế hoạch khám chữa bệnh đã đề ra, triển khai nhiều kỹ thuật điều trị đúng tuyến và vượt tuyến, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; đồng thời đơn vị đã thực hiện quy chế tự chủ tài chính từ năm 2017.

Hình 1.1 Bệnh viện đa khoa Gò Vấp

1.4.1 Chức năng nhiệm vụ khoa dược Bệnh viện quận Gò Vấp Đảm bảo cung ứng đủ thuốc, vật tư y tế tiêu hao phục vụ cho công tác khám chữa bệnh Hội đồng thuốc của Bệnh viện hoạt động tốt, chấn chỉnh kịp thời trong kê đơn điều trị và các quy chế chuyên môn khác Triển khai Dược lâm sàng để góp phần bảo đảm việc khám chữa bệnh chất lượng hơn, an toàn hơn

Nhà thuốc Bệnh viện hoạt động đúng theo pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân Thực hiện niêm yết giá thuốc công khai và bán đúng giá niêm yết

Bệnh viện quận Gò vấp là bệnh viện hạng II với quy mô 24 khoa, phòng với 308 giường bệnh

1.4.2 Mô hình bệnh tật theo mã ICD 10 của Bệnh viện quận Gò vấp năm

Mô hình bệnh tật của Bệnh viện quận Gò vấp được trình bày theo một số Chương như sau:

Chương bệnh Số lượt bệnh Tỷ lệ (%)

Chương I: Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng 31.395 17,1

Chương II: Khối u (Bướu tân sinh) 1.791 1,0 Chương III: Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch

Chương IV: Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa 2.462 1,3

Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi 2.510 1,4

Chương VI: Bệnh của hệ thần kinh 3.561 1,9 Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ 2.243 1,2 Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm 1.942 1,1 Chương IX: Bệnh của hệ tuần hoàn 20.401 11,1

Chương X: Bệnh hệ hô hấp 40.921 22,3

Chương XI: Bệnh hệ tiêu hóa 20.051 10,9

Chương XII: Bệnh da và mô dưới da 5.643 3,1 Chương XIII: Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết 5.334 2,9

Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục 13.051 7,1

Chương XV: Chửa, đẻ và sau đẻ 9.814 5,3

Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh 4.276 2,3

Chương XVII: Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể 460 0,3

Chương XVIII: Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng bất thường không phân loại ở nơi khác

Chương XIX: Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân bện ngoài

Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong 4.288 2,3

Chương XXI: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ y tế

TÍNH THIÊT YẾU CỦA ĐỀ TÀI

Bệnh viện đa khoa Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh là bệnh viện hạng

Với vai trò phụ trách các quận huyện xung quanh, Bệnh viện đa khoa Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm phải đáp ứng một lượng thuốc lớn phục vụ công tác khám chữa bệnh Do đó, phân tích và đánh giá DMT tại bệnh viện là cần thiết để có cái nhìn khái quát về thực trạng sử dụng thuốc và từ đó đề xuất các biện pháp điều chỉnh DMT trong những năm tới nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc cho người bệnh Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đánh giá DMT được thực hiện tại bệnh viện, vì vậy nghiên cứu này là hết sức cần thiết để nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng thuốc.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Danh mục thuốc đã được sử dụng năm 2020

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bảng 2.4 Các biến số nghiên cứu

STT Tên biến Định nghĩa/giải thích Phân loại biến

Kỹ thuật thu thập Mục tiêu 1: Mô tả cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp

Thuốc sử dụng theo nhóm thuốc

Thuốc hóa dược là thuốc nằm trong danh mục thuốc hóa dược theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế

Thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền theo Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế

Phân loại Thuốc hóa dược/ thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền

Thuốc hóa dược sử dụng theo

Thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày

Phân loại Nhóm gây tê, gây

22 nhóm tác dụng dược lý

30/10/2018 của Bộ Y tế và Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/3/2015 của Bộ Y tế mê/Nhóm tim mạch/Nhóm vitamin và khoáng chất/Nhóm thuốc tiêu hóa…

Thuốc sử dụng theo nguồn gốc xuất xứ

Xuất xứ sản xuất của thuốc

Thuốc sản xuất trong nước có địa chỉ cơ sở sản xuất tại Việt Nam, còn thuốc nhập khẩu có địa chỉ cơ sở sản xuất ở nước ngoài và được nhập khẩu vào Việt Nam.

Phân loại Thuốc sản xuất trong nước/Thuốc nhập khẩu

Thuốc kháng sinh sử dụng theo phân nhóm

Thuốc kháng sinh được phân nhóm theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y Tế

Phân loại Penicilin/Ce phalosporin/

5 Đường dùng của thuốc sử dụng Đường đưa thuốc vào cơ thể

Phân loại Đường tiêm/Đường uống/Đường khác

Trong công thức có 01 hoạt chất có hoạt tính

Phân loại Tài liệu sẵn có

Thuốc đa thành phần: Trong công thức có từ 2 hoạt chất có hoạt tính trở lên Đơn thành phần/Đa thành phần

Thuốc hóa dược sử dụng theo thuốc BDG và Generic

Thuốc biệt dược gốc là loại thuốc do Cục quản lý dược công bố và công khai trong danh mục Biệt dược gốc trên trang web của cơ quan Thuốc generic có cùng dược chất, cùng hàm lượng và cùng dạng bào chế với thuốc biệt dược gốc, và thường được dùng để thay thế thuốc biệt dược gốc.

Phân loại Thuốc biệt dược gốc/Thuốc generic

Thuốc sử dụng theo đường dùng

-Đường dùng theo đường tiêm truyền, uống, đường dùng khác

Là số khoản mục và giá trị của từng thuốc sử dụng 80- 120%

Phân loại Tài liệu sẵn có

Mục tiêu 2: Phân tích danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN

Số lượng sử dụng của mỗi thuốc

Là số lượng tính theo đơn vị tính của mỗi thuốc sử dụng (xuất kho) trong năm 2020

Biến dạng số (ĐVT: lọ, ống, viên…)

Là giá trúng thầu của mỗi thuốc theo kết quả trúng thầu

Biến dạng số (ĐVT: Triệu đồng)

Thuốc sử dụng theo phân nhóm

Thuốc nhóm V là thuốc tối cần

Thuốc nhóm E là thuốc thiết yếu

Thuốc nhóm N là thuốc không thiết yếu

- Phương pháp mô tả cắt ngang

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

Kỹ thuật thu thập số liệu: Hồi cứu số liệu

Công cụ thu thập: Biểu mẫu thu thập số liệu (phụ lục 1 )

Mô tả cụ thể quá trình thu thập số liệu:

Các số liệu sau khi được thu thập được đưa vào phần mềm Microsoft Excel để xử lý và phân tích theo các bước sau:

Bước 1: Tổng hợp toàn bộ dữ liệu về DMT đã sử dụng năm 2020 trên cùng một bảng tính Excel, bao gồm tên thuốc (cả generic và biệt dược); nồng độ, hàm lượng; đơn vị tính; đơn giá; số lượng sử dụng năm 2020; nước sản xuất; nhà cung cấp (Phụ lục).

Nồng độ, hàm lượng Đơn vị tính

Nước sản xuất Đơn giá Số lượng

Bước 2: Tổng hợp số liệu theo các chỉ số cần nghiên cứu:

• Xếp theo nhóm tác dụng dược lý (Thêm Trường số 8)

- Căn cứ theo Thông tư 30/2018/ TT-BYT ban hành danh mục thuốc hóa dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ bảo hiểm y tế [4]

- Căn cứ theo Thông tư số 05/2015/TT-BYT ban hành danh mục thuốc đông y, thuốc từ dược liệu , vị thuốc y học cổ truyền thuộc phạm vị thanh toán của quỹ BHYT [3]

• Xếp theo nguồn gốc, xuất xứ (Thêm Trường số 9)

- Phân loại căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ của thuốc (thuốc sản xuất trong nước/ thuốc nhập khẩu)

• Xếp theo các thuốc đơn thành phần/đa thành phần (Thêm Trường số 11)

- Căn cứ vào số lượng thành phần hoạt chất của thuốc

• Xếp theo nhóm thuốc biệt dược gốc và thuốc generic (Thêm Trường số 12)

- Căn cứ vào phụ lục biệt dược gốc công bố trên website của Cục quản lý dược

• Xếp theo đường dùng (uống/tiêm/đường dùng khác) (Thêm Trường số 13)

- Dựa vào dạng bào chế của sản phẩm

Bước 3: Tính tổng SLDM, giá trị của từng biến số, tính tỷ lệ phần trăm giá trị số liệu (nếu cần)

Cỡ mẫu: 945 khoản mục thuốc

Chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ (100%)

2.6 Xử lý và phân tích số liệu

Trước khi nhập liệu, tiến hành làm sạch dữ liệu bằng cách ghép hoặc hợp nhất các mã hàng hóa trùng lặp (cùng tên thuốc, nồng độ và hàm lượng, cùng số đăng ký) Thực hiện kiểm tra kỹ lưỡng thông tin của từng mã hàng để đảm bảo đầy đủ, chính xác và nhất quán Công tác làm sạch dữ liệu này giúp tối ưu quá trình nhập liệu, giảm thiểu sai sót và nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu thuốc.

Phần mềm nhập số liệu: Microsoft Excel 2013

Xử lý dữ liệu sau khi nhập liệu là bước quan trọng để đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của nghiên cứu Trong quá trình này, bạn cần thêm các biến số cần nghiên cứu vào bảng dữ liệu, tiến hành mã hóa các biến số sao cho phù hợp với yêu cầu phân tích, và kiểm tra lại toàn bộ số liệu đã nhập để đảm bảo chính xác Việc mã hóa biến số giúp bảo mật và tối ưu hóa quá trình xử lý dữ liệu, trong khi rà soát dữ liệu sau nhập liệu giúp phát hiện và sửa lỗi kịp thời, từ đó nâng cao tính đáng tin cậy của kết quả nghiên cứu.

* Phương pháp tính tỷ trọng

Tỷ lệ % các nhóm thuốc = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑆𝐾𝑀 (ℎ𝑜ặ𝑐 𝐺𝑇) 𝑡ừ𝑛𝑔 𝑛ℎó𝑚 𝑡ℎ𝑢ố𝑐

* Phương pháp phân tích ABC

Tính % mỗi sản phẩm theo % thứ tự giảm dần

Sắp xếp lại các sản phẩm theo thứ tự % giá trị giảm dần

Tính giá trị % tích lũy của tổng giá trị cho mỗi sản phẩm

+ Thuốc hạng A: Gồm những sản phẩm chiếm khoảng 80% tổng giá trị tiền

+ Thuốc hạng B: Gồm những sản phẩm chiếm khoảng 15% tổng giá trị tiền

+ Thuốc hạng C: Gồm những sản phẩm chiếm khoảng 5% tổng giá trị tiền

* Phân tích VEN: Do dược sĩ thực hiện

* Phân tích kết hợp ABC/VEN

Để đánh giá danh mục thuốc một cách toàn diện, thực hiện kết hợp hai phân tích ABC và VEN: xếp các thuốc thuộc nhóm V, E, N vào nhóm A và hình thành các phân nhóm AV, AE, AN; sau đó tính tổng số và tỷ lệ (%) của số lượng thuốc, số đơn vị tiêu thụ và giá trị sử dụng thuốc cho từng phân nhóm nhỏ Làm tương tự với nhóm B và nhóm C để thu được ma trận ABC/VEN Tiếp tục kết hợp các nhóm AV, AE, AN với nhóm điều trị để phân tích danh mục thuốc, đặc biệt chú ý đến các phân nhóm AN, CN, BE.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

MÔ TẢ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN GÒ VẤP NĂM 2020

3.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền

Bảng 3.5 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền STT Nhóm thuốc

Số khoản mục Giá trị sử dụng

2 Thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền 272 28,8 11.640 12,7

Danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp gồm có

Trong 945 SKM, thuốc hóa dược chiếm 71,2% và thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền chiếm 28,8% của SKM Về tổng giá trị sử dụng, thuốc hóa dược có giá trị 80.101 triệu đồng, chiếm 87,3%, trong khi thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền có giá trị 11.640 triệu đồng, chiếm 12,7%.

3.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý

Danh mục thuốc theo nhóm tác dụng dược lý được sử dụng tại Bệnh viện quận Gò Vấp được trình bày ở bảng 3.7 như sau:

Bảng 3.6 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý STT Nhóm tác dụng dược lý

Số khoản mục Giá trị sử dụng

1 Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 143 15,1 19.537 21,3

4 Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 50 5,3 12.434 13,6

Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác

6 Thuốc tác dụng đối với máu 37 3,9 2.970 3,2

Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid; thuốc điều trị gout và các bệnh xương khớp

8 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 30 3,2 1.749 1,9

10 Thuốc gây tê, gây mê 82 8,7 1.598 1,7

Tổng cộng thuốc hóa dược 673 71,2 80.101 87,3

II Thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền

12 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 83 8,8 3.988 4,3

13 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 47 5,0 1.942 2,1

14 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 38 4,0 1.743 1,9

16 Nhóm thuốc điều kinh, an thai 12 1,3 724 0,8

18 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 21 2,2 611 0,7

Tổng cộng thuốc đông y/ thuốc từ dược liệu 272 28,8 11.640 12,7

Năm 2020, DMT được sử dụng tại Bệnh viện quận Gò Vấp với 19 nhóm thuốc, trong đó 11 nhóm thuốc hóa dược và 8 nhóm thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền, được phân theo tác dụng dược lý với tổng số 945 khoản mục và giá trị sử dụng đạt 91.741 triệu đồng.

Kết quả cho thấy nhóm thuốc hóa dược chiếm số lượng khoản mục và giá trị sử dụng cao nhất, với nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn có 143 khoản mục (15,1% tổng số khoản mục) và giá trị sử dụng 19.537 triệu đồng (21,3%) Điều này cho thấy nhóm thuốc này có sự đa dạng lớn và tạo thuận lợi cho lựa chọn thuốc điều trị, nhưng cũng đặt ra thách thức cho khoa dược trong cung ứng nhiều mặt hàng, đồng thời ảnh hưởng đến mua sắm, bảo quản và cấp phát Tiếp đến là nhóm thuốc đường tiêu hóa với 84 khoản mục (8,9%) và giá trị sử dụng 15.459 triệu đồng (16,9%), cho thấy tình hình nhiễm khuẩn ở bệnh viện quận Gò vấp và các quận lân cận còn cao và có liên quan đến các bệnh đường tiêu hóa Trong nhóm thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền, nhóm thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có giá trị sử dụng cao nhất, chiếm 4,3% Tiếp đến là nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì và nhóm thuốc khu phong trừ thấp (tỉ lệ lần lượt là 2,1% và 1,9%) Các nhóm thuốc khác có tỉ lệ giá trị sử dụng thấp hơn.

3.1.3 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phân loại kháng sinh

Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh được phân tích theo bảng dưới đây

Bảng 3.7 Cơ cấu nhóm thuốc kháng sinh đã sử dụng

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Giá trị Tỷ lệ (Triệu đồng) (%)

Trong nhóm thuốc kháng sinh, nhóm beta-lactam được sử dụng nhiều nhất, với 78 khoản mục chiếm 58,6% số mục và giá trị sử dụng 17.616 triệu đồng chiếm 90,6% tổng giá trị Nhóm aminoglycosid có 18 khoản mục chiếm 13,5% và giá trị sử dụng 878 triệu đồng chiếm 4,5% Nhóm quinolon có 14 khoản mục chiếm 10,5% và giá trị sử dụng 544 triệu đồng chiếm 2,8%.

Bảng 3.8 Danh mục thuốc kháng sinh đã sử dụng

T Tên hoạt chất SKM Tỷ lệ

DMT kháng sinh được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp năm

Trong năm 2020, thuốc Amoxicilin + Acid clavulanic được sử dụng nhiều nhất với tổng chi 6.671.764 triệu đồng, chiếm 34,3% tổng chi cho nhóm thuốc Tiếp theo là thuốc Cefixim với tổng chi 3.653.865 triệu đồng, chiếm 18,8%.

3.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược sử dụng theo đơn thành phần/ đa thành phần

Bảng 3.9 Cơ cấu danh mục thuốc hóa dược đơn thành phần/đa thành phần STT Nhóm thuốc

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Qua khảo sát 673 thuốc hóa dược được sử dụng, có 559 thuốc đơn thành phần chiếm 83,1% và 114 thuốc đa thành phần chiếm 16,9% Về tổng giá trị sử dụng, thuốc đơn thành phần có giá trị 65.541 triệu đồng, chiếm 81,8%, còn thuốc đa thành phần có giá trị 14.560 triệu đồng, chiếm 18,2%.

* Danh mục thuốc đa thành phần

Bảng 3.10 Danh mục thuốc đa thành phần

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Magnesi hydroxyd + nhôm hydroxyd + simethicon

+ natri citrat + glucose khan + kẽm

Attapulgit mormoiron hoạt hóa + hỗn hợp magnesi carbonat-nhôm hydroxyd

Natri clorid + natri bicarbonat + kali clorid

Natri clorid+kali clorid+ natri citrat + glucose khan

DMT được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp, với danh mục thuốc đa thành phần gồm 114 số khoản mục; trong đó thuốc Magnesi hydroxyd + nhôm hydroxyd + simethicone có giá trị sử dụng cao nhất với mức 1.472.535 triệu đồng, chiếm 10,11% tổng giá trị danh mục.

3.1.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nguồn gốc-xuất xứ

Bảng 3.11 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nguồn gốc-xuất xứ

Số khoản mục Giá trị sử dụng

1 Thuốc sản xuất trong nước 605 64,0 49.260 53,7

Trong năm 2020, phần lớn thuốc được sử dụng có nguồn gốc trong nước với 605 khoản mục chiếm 64,0% tổng số, có giá trị sử dụng 6.364 triệu đồng chiếm 70,9% tổng giá trị sử dụng; thuốc có nguồn gốc nhập khẩu có 66 khoản mục chiếm 21,6%, giá trị sử dụng 2.614 triệu đồng chiếm 29,1% tổng giá trị sử dụng Tuy nhiên, giá trị sử dụng của thuốc nhập khẩu tại Trung tâm vẫn ở mức cao, dẫn đến chi phí điều trị cho bệnh nhân tăng lên đáng kể.

3.1.6 Cơ cấu danh mục thuốc biệt dược gốc và thuốc generic

Bảng 3.12 Cơ cấu danh mục thuốc biệt dược gốc và thuốc generic

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Giá trị Tỷ lệ (Triệu đồng) (%)

Phân tích cho thấy thuốc generic chiếm hầu hết trong DMT sử dụng (93,2%) và chiếm giá trị sử dụng lớn (92,6%) Ngược lại, thuốc biệt dược gốc có tỷ lệ rất thấp, chỉ 6,8% về số khoản mục và 7,4% về giá trị sử dụng Điều này cho thấy vai trò của thuốc generic đang chi phối thị trường DMT, trong khi thuốc biệt dược gốc chiếm tỷ lệ rất nhỏ về số lượng và giá trị.

38 bệnh viện đã ưu tiên sử dụng thuốc generic là chủ yếu, số lượng thuốc biệt dược gốc ít, giá trị sử dụng kinh phí thấp

* Danh mục các thuốc biệt dược gốc đã sử dụng tại bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp

Bảng 3.13 Danh mục thuốc biệt được gốc đã sử dụng

STT Tên biệt dược Tên hoạt chất

Giá trị sử dụng (Triệu đồng)

1 Augmentin Tablet 1g Amoxicilin + acid clavulanic 1.204.945 20,3

Insulin trộn, hỗn hợp (Mixtard- acting, Dual-acting)

Qua khảo sát danh mục thuốc biệt dược gốc được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp năm 2020, thuốc Augmentin Tablet 1g có giá trị sử dụng cao nhất là 1.204.945 triệu đồng, chiếm 20,3% tổng giá trị thuốc biệt dược gốc tại bệnh viện.

3.1.7 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo đường dùng

Bảng 3.14 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đường dùng STT Nhóm thuốc

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Qua khảo sát 945 danh mục thuốc được sử dụng, thuốc dùng đường uống chiếm số lượng lớn nhất với 606 danh mục, tương ứng 64,1% tổng số danh mục và cho giá trị sử dụng 63.924 triệu đồng, chiếm 69,7% tổng giá trị Các đường dùng khác như nhỏ mắt, hít, dùng ngoài và bôi vẫn có số lượng đáng kể với 161 danh mục, chiếm 14,1%, và giá trị sử dụng 12.971 triệu đồng, chiếm 14,1% tổng giá trị Thuốc dùng đường tiêm, tiêm truyền có 178 danh mục, chiếm 18,8% và giá trị sử dụng 14.847 triệu đồng, chiếm 16,2% tổng giá trị.

Bảng 3.15 Các thuốc sử dụng 80 -120%

Số khoản mục Giá trị sử dụng

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG THEO PHƯƠNG PHÁP ABC, VEN, MA TRẬN ABC/VEN

3.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp phân tích ABC Bảng 3.16 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng năm 2020 theo phương pháp phân tích ABC STT Hạng

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Số lượng Tỷ lệ (%) Giá trị

Tỷ lệ khoản mục hạng A là 166 khoản mục chiếm 17,57%, so với thông tư 21/2013 là hợp lý ( 10-20%)

Tỷ lệ khoản mục hạng B là 177 khoản mục chiếm 18,73%, so với thông tư 21/2013 là hợp lý ( 10-20%)

Tỷ lệ khoản mục hạng C là 602 khoản mục chiếm 63,70%, so với thông tư 21/2013 là hợp lý ( 60-80%)

3.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tác dụng dược lý nhóm A

Bảng 3.17 Cơ cấu danh mục thuốc theo tác dụng dược lý nhóm A

STT Nhóm tác dụng dược lý

Số khoản mục Giá trị sử dụng

1 Thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn 28 16,9 15.783 21,5

4 Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết 12 7,2 11.434 15,6

Dung dịch điều chỉnh nước, điện giải, cân bằng acid-base và các dung dịch tiêm truyền khác

6 Thuốc tác dụng đối với máu 5 3,0 1876 2,6

Thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm không steroid; thuốc điều trị gout và các bệnh xương khớp

8 Thuốc tác dụng trên đường hô hấp 8 4,8 1349 1,8

10 Nhóm thuốc thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy 13 7,8 2257 3,1

11 Nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì 10 6,0 1442 2,0

12 Nhóm thuốc khu phong trừ thấp 9 5,4 1243 1,7

14 Nhóm thuốc điều kinh, an thai 7 4,2 724 1,0

15 Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế 6 3,6 611 0,8

Qua bảng trên cho thấy, trong nhóm A gồm 15 nhóm tác dụng dược lý

Trong cơ cấu sử dụng thuốc, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn và nhóm thuốc đường tiêu hóa có giá trị sử dụng cao nhất, lần lượt là 15.783 triệu đồng và 14.567 triệu đồng, chiếm 21,5% và 19,9% Đứng thứ ba là nhóm thuốc tim mạch có giá trị sử dụng 12.241 triệu đồng (chiếm 12,0%) Đứng thứ tư là nhóm Hormon và các thuốc tác động vào hệ nội tiết có giá trị sử dụng 11.434 triệu đồng (chiếm 15,6%) Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế có giá trị sử dụng thấp nhất là 611 triệu đồng (0,8%).

* Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng hoạt chất hạng A-nhóm thuốc kháng sinh

Bảng 3.18 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng hoạt chất hạng A-nhóm thuốc kháng sinh

STT Tên hoạt chất Giá trị sử dụng

DMT kháng sinh được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp năm

Trong năm 2020, có 8 loại thuốc hạng A được sử dụng với tổng chi 15.783.000 triệu đồng Thuốc Amoxicilin + Acid clavulanic được sử dụng nhiều nhất với số tiền 5.329.188 triệu đồng, chiếm 33,8% tổng chi cho nhóm thuốc hạng A Đứng thứ hai là thuốc Cefaclor với 3.472.500 triệu đồng, chiếm 22,0%.

2.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp VEN

Bảng 3.19 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo tác dụng phương pháp

Số khoản mục Giá trị sử dụng

Phân tích VEN cho thấy Nhóm E có giá trị sử dụng cao nhất đạt 71.950 triệu đồng, chiếm 78,4% tổng giá trị và 746 khoản mục chiếm 78,9%; Nhóm N có giá trị sử dụng là 10.046 triệu đồng, chiếm 11,0% tổng giá trị và 107 khoản mục chiếm 11,3%; Nhóm V có giá trị sử dụng thấp nhất là 9.745 triệu đồng, chiếm 10,6% tổng giá trị và 92 khoản mục chiếm 9,7%.

3.2.4 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp ABC/VEN

Bảng 3.20 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo phương pháp

Qua phân tích theo phương pháp ABC/VEN cho thấy:

Phân tích cho thấy nhóm thuốc AE có giá trị sử dụng cao nhất là 57.635 triệu đồng, chiếm 62,8% tổng giá trị và có 123 khoản mục chiếm 13,0%; tiếp đến là nhóm thuốc BE với giá trị sử dụng 10.578 triệu đồng, chiếm 11,5% và có 140 khoản mục chiếm 14,8%; nhóm CE có giá trị sử dụng 3.737 triệu đồng, có 483 khoản mục chiếm 51,1%.

Nhóm thuốc AN cũng có giá trị tương đối cao 7.652 triệu đồng chiếm 8,3%, có 29 khoản mục chiếm 3,1%

Nhóm thuốc BN có giá trị 1.872 triệu đồng chiếm 2,0%, có 17 khoản mục chiếm 1,8%

Nhóm thuốc CN có giá trị có 522 triệu đồng chiếm 0,6%, có 61 khoản mục chiếm 6,5%

3.2.5 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm AN

Bảng 3.21 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm AN

STT Tên thuốc Giá trị sử dụng

1 Cao khô Trinh nữ hoàng cung 422,80 5,5

3 Diệp hạ châu, Nhân trần, Cỏ nhọ nồi, Râu bắp 359,20 4,7

Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa,

Sài hồ, Cam thảo, Xích thược,

Xuyên khung, Chỉ xác, Ngưu tất,

Câu đằng, Thiên ma, Hoàng cầm, Đỗ trọng, Bạch phục linh,

Thạch quyết minh, Ngưu tất, Ích mẫu, Tang ký sinh, Sơn chi, Dạ giao đằng, Hòe hoa

Diệp hạ châu, Nhân trần, Cỏ nhọ nồi, Râu ngô, Kim ngân hoa,

Tục đoạn, Phòng phong, Hy thiêm, Độc hoạt, Tần giao, Bạch thược, Đương quy, Xuyên khung, Thiên niên kiện, Ngưu tất, Hoàng kỳ, Đỗ trọng, Mã tiền

Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa,

Sài hồ, Cam thảo, Xích thược,

Xuyên khung, Chỉ xác, Ngưu tất,

Trinh nữ hoàng cung, Tri mẫu,

Hoàng bá, ích mẫu, Đào nhân,

Trạch tả, Xích thược, Nhục quế

12 Đan sâm, Tam thất, Borneol 298,90 3,9

13 Actiso, Cao mật lợn khô, Tỏi,

14 Lá sen, Lá vông, Lạc tiên, Tâm sen, Bình vôi 228,90 3,0

15 Độc hoạt, Phòng phong, Tang ký sinh, Đỗ trọng, Ngưu tất, Trinh 221,50 2,9

47 nữ, Hồng hoa, Bạch chỉ, Tục đoạn, Bổ cốt chỉ

16 Kim tiền thảo, Râu mèo 297,80 3,9

18 Độc hoạt,Quế nhục, Phòng phong, Đương quy, Tế tân, Xuyên khung, Tần giao, Bạch thược, Tang ký sinh, Địa hoàng, Đỗ trọng, Ngưu tất, Phục linh,

19 Đương quy, Xuyên khung, Thục địa, Bạch thược,Đảng sâm, Bạch linh, Bạch truật, Cam thảo

20 Diệp hạ châu, Chua ngút, Cỏ nhọ nồi 275,60 3,6

21 Độc hoạt, Phòng phong, Tang ký sinh, Tần giao, Bạch thược, Ngưu tất , Sinh địa, Cam thảo, Đỗ trọng , Tế tân, Quế nhục, Nhân sâm, Đương quy, Xuyên khung

Nhóm thuốc AN có giá trị sử dụng tương đối cao, đạt 7.652 triệu đồng Trong nhóm này, Cao khô Trinh nữ hoàng cung có giá trị cao nhất với 422,80 triệu đồng, chiếm 5,5% tổng giá trị; Độc hoạt và Vitamin A có giá trị thấp nhất, 165,00 triệu đồng, chiếm 2,2% tổng giá trị.

3.2.6 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm BN

Bảng 3.22 Cơ cấu danh mục thuốc sử dụng theo nhóm BN

STT Tên hoạt chất Giá trị sử dụng

Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa, Sài hồ, Cam thảo, Xích thược, Xuyên khung, Chỉ xác, Ngưu tất, Bạch quả

Xích đồng nam, Ngấy hương, Thục địa, Hoài sơn, Đan bì, Bạch linh,

6 Diệp hạ châu đắng, Xuyên tâm liên,

Bồ công anh, Cỏ mực 103.350 5,52

7 Cao khô Trinh nữ hoàng cung 99.000 5,29

8 Độc hoạt,Quế nhục, Phòng phong, Đương quy, Tế tân, Xuyên khung,

Tần giao, Bạch thược, Tang ký sinh,

49 Địa hoàng, Đỗ trọng, Ngưu tất, Phục linh, Cam thảo,Nhân sâm

9 Húng chanh, Núc nác, Cineol 91.155 4,87

12 Diệp hạ châu đắng, Xuyên tâm liên,

Bồ công anh, Cỏ mực 87.750 4,69

13 Độc hoạt, Quế chi, Phòng phong, Đương quy, Tế tân, Xuyên khung,

Tần giao, Bạch thược, Tang ký sinh, Địa hoàng, Đỗ trọng, Ngưu tất, Phục linh, Cam thảo, Đảng sâm

Kim ngân hoa, Nhân trần, Thương nhĩ tử, Nghệ, Sinh địa, Bồ công anh, Cam thảo

Hoàng kỳ, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, Nhân sâm, Xuyên khung, Đương quy, Xích thược, Bạch thược

16 Đương quy, Xuyên khung, Thục địa,

Bạch thược,Đảng sâm, Bạch linh,

Kim ngân hoa, Nhân trần, Thương nhĩ tử, Nghệ, Sinh địa, Bồ công anh, Cam thảo

Nhóm thuốc BN có giá trị sử dụng tương đối cao, với tổng giá trị 1.872.000 triệu đồng Trong nhóm này, Hồng hoa, Đương quy, Sinh địa, Sài hồ, Cam thảo, Xích thược, Xuyên khung, Chỉ xác, Ngưu tất và Bạch quả là các vị có giá trị cao nhất, với tổng trị giá 413.497 triệu đồng, chiếm 22,09% tổng giá trị nhóm Ngoài ra, các vị thuốc như Kim ngân hoa, Nhân trần, Thương nhĩ tử, Nghệ và Sinh địa cũng đóng góp đáng kể vào giá trị của nhóm thuốc BN.

Bồ công anh, Cam thảo có giá trị thấp nhất 57.900 triệu đồng chiếm 3,09%

BÀN LUẬN

MÔ TẢ CƠ CẤU DANH MỤC THUỐC ĐÃ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN GÒ VẤP NĂM 2020

4.1.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phân loại thuốc hóa dược và thuốc dược liệu/ thuốc cổ truyền

Bệnh viện quận Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh là bệnh viện đa khoa nên thuốc điều trị phần lớn là thuốc hóa dược, chiếm 71,2% về số lượng và 87,3% về giá trị sử dụng Thuốc từ dược liệu hoặc thuốc cổ truyền chiếm 28,8% về số lượng và 12,7% về giá trị sử dụng Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền tại bệnh viện này vẫn cao hơn so với Bệnh viện đa khoa huyện Yên Minh, tỉnh Hà Giang, với 8,11% số lượng và 4,42% giá trị sử dụng [21].

Ở Hà Giang, thuốc hóa dược chiếm 7,52% về số lượng và 11,89% về giá trị sử dụng; tổng số thuốc hóa dược là 258 thuốc, chiếm 84,6% số loại và có giá trị sử dụng 8.107 triệu đồng, chiếm 90,3% tổng giá trị Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả của Nguyễn Quốc Toàn (2014) về danh mục thuốc tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc: thuốc tân dược có 311 thuốc chiếm 98,7% và giá trị sử dụng thuốc tân dược là 10.609,5 triệu đồng chiếm 98,7%; thuốc có nguồn gốc dược liệu có 04 thuốc chiếm 1,3% và giá trị sử dụng 137,7 triệu đồng chiếm 1,3% [24] Kết quả của chúng tôi cũng thấp hơn so với Nguyễn Cảnh Dương (2016) tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2015: nhóm thuốc tân dược chiếm hơn 90% về số khoản và 78,21% giá trị sử dụng; nhóm thuốc chế phẩm YHCT chiếm chưa đến 10% số khoản mục nhưng chiếm tới hơn 20% về giá trị sử dụng.

Thấp hơn kết quả tại Bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, nhóm tân dược có 280 thuốc chiếm 88,6% số lượng và giá trị sử dụng 87,6%, trong khi nhóm đông y chỉ có 36 thuốc chiếm 11,4% [26] So với danh mục thuốc tại huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, danh mục thuốc được Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn sử dụng được nêu trong báo cáo.

253 khoản mục, 146 hoạt chất với tổng giá trị sử dụng là 4.556 triệu đồng, được

52 nhóm được phân bổ thành 21 nhóm tác dụng điều trị nhằm đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân và đáp ứng nhu cầu bệnh tật tại địa phương [11] So với nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2017 (nhóm thuốc tân dược chỉ sử dụng 76,04%) [27], nghiên cứu của chúng tôi đạt 86,5%, cao hơn nghiên cứu của Hà Thị Thu Hương tại Bệnh viện huyện Phù Yên-Sơn La [14], và cũng cao hơn nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hường tại Trung tâm y tế huyện Pác Nặm-Bắc Kạn.

Trong năm 2020, tỷ lệ này đạt 79,12% [17] Tuy nhiên, khu vực sử dụng thuốc dược liệu và thuốc cổ truyền vẫn cần cân nhắc vì các loại thuốc này thường có giá thành cao, dẫn đến tăng chi phí điều trị và tăng nguồn chi của bệnh viện.

4.1.2 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý

Danh mục thuốc sử dụng do Hội đồng thuốc & điều trị xây dựng và ban hành căn cứ theo Thông tư 30/2018/TT-BYT ngày 30/10/2018 của Bộ Y tế ban hành và hướng dẫn thực hiện DMT hóa dược trong phạm vi thanh toán của quỹ BHYT Thông tư 05/2015/TT-BYT ngày 17/03/2015 của Bộ Y tế ban hành quy định về DMT đông y, thuốc từ dược liệu và vị thuốc YHCT thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT.

Ở bệnh viện quận Gò vấp năm 2020, DMT gồm 19 nhóm thuốc (11 nhóm hóa dược và 8 nhóm đông y/thuốc từ dược liệu) theo tác dụng dược lý, với 945 khoản mục và tổng giá trị sử dụng là 91.741 triệu đồng Nhóm thuốc hóa dược chiếm số lượng và giá trị cao nhất, nổi bật là nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn với 143 khoản (15,1% số mục) và giá trị 19.537 triệu đồng (21,3% tổng giá trị), cho thấy mức độ đa dạng lớn thuận lợi cho lựa chọn thuốc điều trị nhưng cũng gây khó khăn cho khoa dược về cung ứng nhiều mặt hàng, liên quan đến mua sắm, bảo quản và cấp phát Tiếp đến là nhóm thuốc đường tiêu hóa, có 84 khoản, chiếm 8,9% về số lượng, giá trị sử dụng của nhóm này được nêu trong nguồn nhưng phần giá trị cụ thể không được trình bày.

Khoản chi cho nhiễm khuẩn là 15,459 triệu đồng, chiếm 16,9% tổng chi, cho thấy bệnh nhiễm khuẩn vẫn còn ở mức cao tại Bệnh viện quận Gò Vấp và các quận lân cận, tiếp đến là chi phí liên quan đến các bệnh đường tiêu hóa; trong nhóm thuốc dược liệu/thuốc cổ truyền, nhóm thanh nhiệt, giải độc, tiêu ban, lợi thủy có giá trị sử dụng cao nhất với 4,3% Tiếp theo là nhóm thuốc nhuận tràng, tả hạ, tiêu thực, bình vị, kiện tì và nhóm thuốc khu phong trừ thấp với tỉ lệ lần lượt 2,1% và 1,9%; các nhóm thuốc khác có giá trị sử dụng thấp hơn Các thuốc kháng sinh được dùng chủ yếu theo đường tiêm và có giá trị cao, tuy nhiên tỷ lệ sử dụng thuốc kháng sinh của chúng tôi thấp hơn so với một số bệnh viện khác như Bệnh viện đa khoa huyện Yên Minh, Hà Giang (55,85%) và Bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình, Hà Giang (47,66%) Tỷ lệ sử dụng kháng sinh của chúng tôi cũng thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Cao Thị Thúy (2016) tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn.

Có 146 hoạt chất và 253 khoản mục thuốc được chia thành 21 nhóm dược lý Trong đó, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất, gồm 31 hoạt chất và 63 khoản mục, chiếm 24,9% tổng số khoản mục Về giá trị sử dụng, nhóm thuốc này chiếm 31,2% tổng giá trị tiền thuốc [11].

Nghiên cứu của chúng tôi, cùng với 17 bệnh viện huyện/quận đại diện cho 6 vùng trên cả nước, cho thấy tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh cao nhất ở các bệnh viện tuyến huyện đạt 43,1%; tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng thuốc kháng sinh của chúng tôi thấp hơn so với một số bệnh viện khác như Bệnh viện đa khoa huyện Yên Minh, Hà Giang năm 2016 là 55,85% [21], Bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình, Hà Giang là 47,66% [10] Bệnh viện đa khoa Nam Đàn, Nghệ An năm 2015 gồm 146 hoạt chất và 253 khoản mục thuốc, chia thành 21 nhóm dược lý; nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và chống nhiễm khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 31 hoạt chất và 63 khoản mục, chiếm 24,9% số khoản mục Về giá trị sử dụng, nhóm thuốc này chiếm 31,2% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng [23] So với kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quốc Toàn (2014), danh mục thuốc sử dụng có sự tương đồng về xu hướng ưu tiên một số nhóm thuốc nhất định.

Tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, danh mục thuốc gồm 27 nhóm và 315 thuốc Nhóm thuốc chống ký sinh trùng và nhiễm khuẩn là nhóm có số lượng thuốc nhiều nhất, 58 thuốc (18,41%), với giá trị sử dụng lên tới 3.756,8 triệu đồng chiếm 10,48% tổng giá trị, và 709,6 triệu đồng chiếm 6,6% Nhóm thuốc giảm đau hạ sốt chống viêm không steroid, thuốc trị gout và bệnh xương khớp có 30 thuốc (9,52%), nhưng giá trị sử dụng là 2.415,0 triệu đồng chiếm 22,47% So với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Cảnh Dương (2015) tại Bệnh viện đa khoa Nam Đàn, danh mục gồm 146 hoạt chất và 253 khoản mục thuốc chia thành 21 nhóm dược lý; nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng và nhiễm khuẩn chiếm cao nhất với 31 hoạt chất và 63 khoản mục (24,9%), chiếm 31,2% tổng giá trị sử dụng Theo nghiên cứu Nguyễn Cảnh Dương (2016) tại Bệnh viện đa khoa Nam Đàn, Nghệ An năm 2015, danh mục gồm 227 thuốc sắp theo tác dụng dược lý; nhóm ký sinh trùng và nhiễm khuẩn có 51 khoản mục chiếm 22,47% và 38,42% về giá trị sử dụng; nhóm hormon và thuốc tác dụng vào hệ thống nội tiết chiếm 5,29% về khoản mục nhưng 20,68% về giá trị sử dụng.

4.1.3 Các nhóm thuốc trong nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn

Danh mục thuốc tại Bệnh viện Gò Vấp chủ yếu tập trung vào hai nhóm chính là thuốc điều trị ký sinh trùng và thuốc chống nhiễm khuẩn Trong nhóm này, kháng sinh β-lactam được sử dụng nhiều nhất, cho thấy ưu tiên phác đồ điều trị tại bệnh viện.

Trong phân tích chi phí sử dụng kháng sinh, 78 khoản chiếm 54,5% tổng chi phí với giá trị 17.616 triệu đồng, chiếm 83,8% giá trị sử dụng kháng sinh Phân tích các nhóm β-lactam cho thấy amoxicillin+ sulbactam được sử dụng nhiều nhất (25,7% giá trị sử dụng trong nhóm), tiếp đến là cefotaxim và amoxicillin+ acid clavulanic Những kết quả này cho thấy mức độ ưu tiên rõ rệt đối với các thuốc nhóm β-lactam và đặc biệt là các phối hợp amoxicillin với sulbactam hoặc acid clavulanic có tỉ lệ sử dụng cao trong chi phí kháng sinh.

Giá trị sử dụng của hai nhóm thuốc lần lượt là 15,72% và 15,06% So với nghiên cứu của Đỗ Hồng Hân (2017), nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mức sử dụng kháng sinh cao hơn: nhóm β-lactam chiếm số lượng nhiều nhất với 28 khoản mục (46,67%), GTSD chiếm 83,8% tổng kinh phí sử dụng kháng sinh [13] Nguyên nhân có thể là thói quen điều trị theo kinh nghiệm hoặc điều trị bao vây của bác sĩ, đặt ra vấn đề cần tập trung chẩn đoán tác nhân gây bệnh cụ thể và đẩy mạnh công tác thông tin thuốc để sử dụng kháng sinh đa dạng và phù hợp hơn Trong nghiên cứu nhóm thuốc điều trị kí sinh trùng và chống nhiễm khuẩn của chúng tôi, nhóm β-lactam được sử dụng nhiều hơn với 42 khoản mục chiếm 60,9% và giá trị sử dụng chiếm 94,9%, cao hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận: β-lactam có 28 khoản mục chiếm 46,67% và giá trị sử dụng 83,8% [13].

4.1.4 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo đơn thành phần/ đa thành phần

Theo thông tư 21/2013/TT-BYT của Bộ Y tế [5] đã quy định ưu tiên sử dụng thuốc ở dạng đơn chất; đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất Qua khảo sát 673 thuốc hoá dược được sử dụng, có 559 thuốc đơn thành phần chiếm 83,1% và 114 thuốc đa thành phần chiếm 16,9%; tổng giá trị sử dụng thì thuốc đơn thành phần có giá trị 65.541 triệu đồng chiếm 81,8%, thuốc đa thành phần có giá trị 14.560 triệu đồng chiếm 18,2% DMT được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp: thuốc đa thành phần có 114 số khoản mục trong đó thuốc Magnesi hydroxyd + nhôm hydroxyd + simethicone có giá trị sử dụng cao nhất là 1.472.535 triệu đồng chiếm 10,11% Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang thì thuốc đơn thành phần có 262 thuốc.

PHÂN TÍCH DANH MỤC THUỐC SỬ DỤNG THEO PHƯƠNG PHÁP ABC, VEN, MA TRẬN ABC/VEN

4.2.1 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp phân tích ABC

Việc áp dụng phương pháp phân tích ABC để phân tích toàn bộ DMT được sử dụng trong năm 2020 cho thấy những bất hợp lý trong cơ cấu thuốc đã dùng và trong giá trị tiêu thụ Phân tích ABC giúp chia các mặt hàng thuốc theo tầm quan trọng về giá trị và mức tiêu thụ, từ đó làm rõ các mặt hàng chiếm đóng góp lớn và các mặt hàng dư thừa Thông qua việc phân tích dữ liệu DMT năm 2020 bằng phương pháp ABC, ta nhận diện các điểm bất hợp lý trong cơ cấu thuốc và cường độ tiêu thụ, từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu hóa tồn kho, điều chỉnh danh mục và nâng cao hiệu quả quản lý thuốc Kết quả này hỗ trợ tối ưu chuỗi cung ứng thuốc, giảm chi phí và tăng tính minh bạch trong mua sắm và phân phối thuốc, đồng thời đáp ứng các chuẩn quản trị dược và nâng cao hiệu suất vận hành cho cơ sở y tế hoặc doanh nghiệp liên quan.

ABC và ABC/VEN là mấu chốt quan trọng giúp Khoa Dược đề xuất các giải pháp can thiệp cần thiết nhằm hạn chế thuốc không cần thiết trong danh mục dự kiến cho năm tới, ngăn ngừa lạm dụng thuốc không thiết yếu, đồng thời nâng cao chất lượng cung ứng thuốc và tránh tình trạng thiếu thuốc cho bệnh nhân.

Phân tích cho thấy thuốc nhóm A có giá trị sử dụng cao nhất 73.377 triệu đồng, chiếm 79,98% và 166 khoản mục chiếm 17,57%; thuốc nhóm B có giá trị sử dụng 13.761 triệu đồng, chiếm 15,00% và 177 khoản mục chiếm 18,73%; trong khi thuốc nhóm C có giá trị sử dụng thấp nhất 4.603 triệu đồng, chiếm 5,02% và 602 khoản mục chiếm 63,70% So với quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT, thuốc hạng B nên chiếm 10-20% với giá trị sử dụng 1.340 triệu đồng chiếm 14,9%, còn thuốc hạng C có 190 thuốc chiếm 62,3% so với quy định (60-80%), nhưng giá trị sử dụng thấp nhất là 477 triệu đồng chiếm 5,3% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với kết quả được nghiên cứu tại Bệnh viện đa khoa thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận Tại Bệnh viện đa khoa khu vực La Gi, tỉnh Bình Thuận, nhóm A được sử dụng gồm 70 thuốc chiếm 19,07% tổng danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện, có giá trị sử dụng cao nhất 18.660 triệu VNĐ (78,94%), nhóm B chiếm 17,44% về số lượng và 14,19% về giá trị sử dụng, trong khi nhóm C chiếm 63,49% về số lượng.

Trong danh mục phân tích có 233 loại thuốc, giá trị sử dụng lại thấp nhất, chỉ chiếm 6,87% tổng số thuốc được sử dụng [13] Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kết quả còn thấp hơn so với kết quả của tác giả Nguyễn Cảnh Dương (2016) về danh mục thuốc được sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Cụ thể, trong năm 2015 thuốc nhóm A có tỷ lệ giá trị sử dụng 79,90% và chiếm 18,33% số khoản mục; thuốc nhóm B có tỷ lệ giá trị sử dụng 15,00% và chiếm 22,71% số khoản mục; thuốc nhóm C có tỷ lệ giá trị sử dụng 5,10% và chiếm 58,96% số khoản mục [23] Tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình-Hà Nội năm 2018, nhóm thuốc hạng A chiếm 18,0% SKM.

Trong các đánh giá về cơ cấu các nhóm thuốc theo hạng, nhóm thuốc hạng C chiếm 62,90 SKM (tương ứng 19,10% SKM) [16] Tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng – Hà Nội năm 2018, nhóm hạng A chiếm 22,18% SKM, hạng B 21,84%, hạng C 55,97% SKM [1] Theo Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện: thông thường, sản phẩm hạng A chiếm 10-20% tổng số sản phẩm, hạng B 10-20% và hạng C 60-80% [4] So với kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, nhóm thuốc hạng A được sử dụng 109 thuốc (24,6%), tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng của hạng A (tương ứng 22.003.026.944 VNĐ) chiếm 79,97%; hạng B chiếm 15,01% tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng tại đơn vị (gồm 4.130.358.312 VNĐ).

Ở Bệnh viện đa khoa quận Gò Vấp, 129 khoản mục tương ứng 29,1% số khoản mục và 5,02% tổng giá trị tiền thuốc đã sử dụng thuộc hạng C (tương ứng 1.379.459.358.312 VNĐ) của 205 khoản mục với tỷ lệ 46,3% khoản mục [27] Như vậy, các thuốc hạng A, B và C trong danh mục sử dụng tại BV quận Gò Vấp cho thấy mức hoàn toàn hợp lý so với khuyến cáo của Bộ Y tế Tuy nhiên, nhóm thuốc hạng A có số khoản mục thấp (10,7%) nhưng lại đóng góp giá trị sử dụng lớn trong danh mục (79,8%), nên cần được xem xét và phân tích sâu hơn.

4.2.2 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo tác dụng dược lý nhóm A

Qua bảng trên cho thấy, trong nhóm A gồm 15 nhóm tác dụng dược lý

Trong tổng thể dữ liệu, nhóm thuốc điều trị ký sinh trùng có giá trị sử dụng cao nhất là 15.783 triệu đồng, chiếm 21,5% tổng mức, tiếp theo là nhóm thuốc đường tiêu hóa với 14.567 triệu đồng, chiếm 19,9% Đứng thứ 3 là nhóm thuốc tim mạch với 12.241 triệu đồng (12,0%), trong khi đứng thứ 4 là nhóm hormon và các thuốc tác động lên hệ nội tiết với 11.434 triệu đồng (15,6%) Nhóm thuốc chữa các bệnh về phế có giá trị sử dụng thấp nhất là 611 triệu đồng (0,8%).

Trong báo cáo phân tích chi phí thuốc tại bệnh viện, nhóm thuốc có giá trị tiền sử dụng cao nhất là 4.071.100.720 đồng, thuộc nhóm ký sinh trùng và kháng khuẩn với 17 SKM Nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao thứ hai là nhóm điều trị ký sinh trùng, chống nhiễm khuẩn với 19 SKM, tổng giá trị sử dụng 3.881.627.604 VNĐ Các nhóm thuốc có giá trị sử dụng cao tiếp theo lần lượt là nhóm tim mạch với 20 SKM và giá trị 3.268.017.836 VNĐ; nhóm giảm đau, hạ sốt, viêm không steroid, thuốc điều trị gout và các bệnh xương khớp có SKM là 09 với tổng giá trị 1.954.845.000 VNĐ So với kết quả tại Bệnh viện đa khoa thị xã Lagi, tỉnh Bình Thuận, nhóm A vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất với 16 khoản mục và tổng giá trị 6.812 triệu đồng (36,51%), tiếp theo là nhóm thuốc đường tiêu hóa với 7 khoản mục và 1.708 triệu đồng (9,15%), thuốc tim mạch với 9 khoản mục và 1.637 triệu đồng (8,77%) Đáng chú ý, trong nhóm A có hai thuốc thuộc khoáng chất và vitamin là vitamin B3 (Hemblood) và calcicarbonat + calcigluconolactat (goncal) có giá trị sử dụng 405 triệu đồng (2,17%), song đây là thuốc không thiết yếu, do đó cần nghiên cứu hạn chế sử dụng hai thuốc này để giảm chi phí điều trị Vì vậy, thuốc hạng A chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách mua thuốc của bệnh viện và cần được quản lý chặt chẽ.

4.2.3 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp VEN

Chức năng và nhiệm vụ của Hội đồng thuốc và điều trị (HĐT&ĐT) là xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong trung tâm Để có một danh mục thuốc tốt, HĐT&ĐT cần thu thập và phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, thực hiện phân tích ABC/VEN, đánh giá thuốc kém chất lượng và ADR, cũng như các sai sót trong điều trị dựa trên các nguồn thông tin đáng tin cậy Từ các dữ liệu này, HĐT&ĐT xác định đâu là thuốc thiết yếu và đâu là thuốc chưa thật sự cần thiết nhằm xây dựng danh mục thuốc phù hợp với nhu cầu điều trị của bệnh viện.

Nhóm E chiếm giá trị sử dụng cao nhất là 71.950 triệu đồng chiếm 78,4%, 746 khoản mục chiếm 78,9% Nhóm N chiếm giá trị sử dụng là 10.046

Phân tích cho thấy 63 triệu đồng chiếm 11,0% tổng chi và có 107 khoản mục chiếm 11,3% tổng số khoản mục Nhóm V có giá trị sử dụng thấp nhất với 9.745 triệu đồng chiếm 10,6% và 92 khoản mục chiếm 9,7% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Cao Thị Thúy (2016) Tại Trung tâm Y tế Nghĩa Đàn, thuốc nhóm E gồm 165 số khoản mục chiếm 65,2% và chiếm 68,4% giá trị sử dụng; thuốc nhóm V có 68 khoản mục chiếm 26,9% và 16,5% giá trị sử dụng; thuốc N gồm 20 khoản mục chiếm 7,9% và 15,1% giá trị sử dụng [11] Kết quả của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu tại Trung tâm.

Trong Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, thuốc thuộc nhóm V có 83 số khoản mục (18,74%) và chiếm 14,06% giá trị sử dụng; thuốc thuộc nhóm E có 242 số khoản mục (54,63%) và chiếm 60,33% giá trị sử dụng; thuốc thuộc nhóm N có 118 số khoản mục (26,63%) và chiếm 25,61% giá trị sử dụng, theo nguồn [27].

4.2.4 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo phương pháp ABC/VEN

Trong nghiên cứu này, nhóm thuốc AE có giá trị sử dụng cao nhất với 57.635 triệu đồng, chiếm 62,8% tổng giá trị và 123 khoản mục chiếm 13,0% tổng số khoản mục Nhóm BE có giá trị sử dụng là 10.578 triệu đồng, chiếm 11,5%, có 140 khoản mục chiếm 14,8% Nhóm CE có giá trị sử dụng 3.737 triệu đồng, với 483 khoản mục chiếm 51,1% Nhóm AN có giá trị 7.652 triệu đồng, chiếm 8,3%, có 29 khoản mục chiếm 3,1% Nhóm BN có giá trị 1.872 triệu đồng, chiếm 2,0%, có 17 khoản mục chiếm 1,8% Nhóm CN có giá trị 522 triệu đồng, chiếm 0,6%, có 61 khoản mục chiếm 6,5% So với kết quả của tác giả Nguyễn Cảnh Dương (2016) tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An năm 2015: nhóm AE chiếm tỷ lệ giá trị cao nhất (72,50%), nhóm CE chiếm tỷ lệ cao nhất về số khoản mục (47,81%), nhóm CN chiếm tỷ lệ thấp nhất về giá trị sử dụng (0,31%).

So với kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, nhóm AN có 32 thuốc, chiếm 7,22% thuốc không thiết yếu và có giá trị sử dụng 5.300.602.040 đồng, chiếm 19,27% tổng giá trị sử dụng; nhóm CV có 48 thuốc, chiếm 10,84% thuốc cần thiết cho điều trị, với giá trị sử dụng 282.186.137 đồng.

64 chiếm 1,03% Nhóm BN có 43 thuốc không thiết yếu chiếm tỷ lệ 9,71%, giá trị sử dụng 1.390.689.710 đồng chiếm 5,05% [27]

4.2.5 Cơ cấu danh mục thuốc đã sử dụng theo nhóm AN

Nhóm thuốc AN có giá trị sử dụng tương đối cao, chiếm 7.652 triệu đồng; trong đó Cao khô Trinh nữ hoàng cung có giá trị cao nhất là 422,80 triệu đồng (chiếm 5,5%), còn Độc hoạt và Vitamin A có giá trị thấp nhất là 165,00 triệu đồng (chiếm 2,2%) So với kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, nhóm thuốc Vitamin – khoáng chất gồm 05 SKM: Calci D-Hasan, Calcium VPC, Calcilactat 500mg, Magnesi-B6, Clipoxid-300, với tổng giá trị tiền thuốc là 1.854.714.580 VNĐ Nhóm chế phẩm YHCT có 12 SKM gồm: Viên thanh huyết Sanofit, Viên phong thấp Toppote, Rheumapain – f, Phyllantol, Flavital 500, Fitôgra – f, Thấp khớp Nam Dược, Thấp khớp hoàn P/H, Hoạt huyết dưỡng não, Đại tràng hoàn PH, Thuốc Ho bổ phế, Thuốc hen.

Ngày đăng: 18/08/2022, 20:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Lê Thị Kim Anh (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phương thành phố Hà Nội năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Đan Phương thành phố Hà Nội năm 2018
Tác giả: Lê Thị Kim Anh
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2020
3.Bộ Y tế (2011), Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
8.Bộ Y tế (2019), Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11/7/2019 quy định đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2019
9.Bộ Y tế (2020), Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức phán giá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 ban hành danh mục thuốc đấu thầu, danh mục thuốc đấu thầu tập trung, danh mục thuốc được áp dụng hình thức phán giá
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2020
10.Bùi Thị Hiền (2017), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang năm 2016, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Quang Bình - tỉnh Hà Giang năm 2016
Tác giả: Bùi Thị Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2017
11.Cao Thị Thúy (2016), Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An năm 2015, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cơ cấu danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế Nghĩa Đàn tỉnh Nghệ An năm 2015
Tác giả: Cao Thị Thúy
Năm: 2016
14.Đỗ Ngọc Hân (2019), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa Lagi, tỉnh Bình Thuận năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa Lagi, tỉnh Bình Thuận năm 2018
Tác giả: Đỗ Ngọc Hân
Năm: 2019
15.Hà Thị Thu Hương (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên tỉnh Sơn La năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Phù Yên tỉnh Sơn La năm 2018
Tác giả: Hà Thị Thu Hương
Năm: 2020
16.Nguyễn Thị Hiền (2017), Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện quận 9 thành phố Hồ Chí Minh năm 2015, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc đã sử dụng tại Bệnh viện quận 9 thành phố Hồ Chí Minh năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Năm: 2017
17.Nguyễn Thị Thu Hiền (2019), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình thành phố Hà Nội năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa Vân Đình thành phố Hà Nội năm 2018
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2019
18.Hoàng Thị Thu Hường (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện Pác Nặm tỉnh Bắc Kạn năm 2018
Tác giả: Hoàng Thị Thu Hường
Năm: 2020
19.Lê Song Yến Thảo (2016), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại BV Dầu Giây Tỉnh Đồng Nai năm 2016, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại BV Dầu Giây Tỉnh Đồng Nai năm 2016
Tác giả: Lê Song Yến Thảo
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2016
20.Lường Văn Tiến (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên năm 2019, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Trung tâm y tế huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên năm 2019
Tác giả: Lường Văn Tiến
Năm: 2020
21.Hoàng Thị Mai (2020), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện Sóc Sơn Hà Nội năm 2018, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế huyện Sóc Sơn Hà Nội năm 2018
Tác giả: Hoàng Thị Mai
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2020
22.Mai Thị Ngà (2017), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa khu vực Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2016, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đa khoa khu vực Yên Minh, tỉnh Hà Giang năm 2016
Tác giả: Mai Thị Ngà
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2017
23.Ngô Kim Chi (2020), Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại Trung tâm Y tế thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2019
Tác giả: Ngô Kim Chi
Năm: 2020
24.Nguyễn Cảnh Dương (2016), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An năm 2015, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện đa khoa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An năm 2015
Tác giả: Nguyễn Cảnh Dương
Năm: 2016
25.Nguyễn Quốc Toàn (2014), Phân tích danh mục thuốc sử dụng của Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc năm 2012, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng của Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc năm 2012
Tác giả: Nguyễn Quốc Toàn
Năm: 2014
26.Nguyễn Thị Hải Yến (2016), Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang năm 2014, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang năm 2014
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Yến
Năm: 2016
27.Nguyễn Thị Hiền (2017), Khảo sát danh mục được sử dụng tại Bệnh viên Đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang năm 2015, Luận văn Dược sĩ chuyên khoa cấp I, Trường Đại học Dược Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát danh mục được sử dụng tại Bệnh viên Đa khoa huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Trường Đại học Dược Hà Nội
Năm: 2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w