1 ĐẶT VẤN ĐỀ Berberin là một isoquinolin alcaloid đã được sử dụng từ rất lâu để điều trị các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm đại tràng, lỵ trực khuẩn,...Gần đây, nhiều nghiên cứ
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2019
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Trang 3Nhân đây tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong ban giám hiệu, các phòng ban và cán bộ nhân viên Trường Đại học Dược Hà Nội đã dạy bảo tôi trong suốt 5 năm học
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn
cổ vũ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận này
Hà Nội, tháng 5 năm 2019 Sinh viên
Trần Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 2
1.1 Đại cương về berberin 2
1.1.1 Công thức hóa học 2
1.1.2 Nguồn gốc 2
1.1.3 Tính chất hóa lý 2
1.1.4 Tác dụng dược lý 3
1.1.5 Đặc tính dược động học 3
1.1.6 Một số chế phẩm berberin trên thị trường 4
1.2 Đại cương về proliposome 4
1.2.1 Khái niệm 4
1.2.2 Thành phần 5
1.2.3 Các phương pháp bào chế proliposome 8
1.2.4 Ưu nhược điểm của proliposome 11
1.2.5 Ứng dụng 11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU) 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu, nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu 16
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.1.2 Nguyên liệu 16
2.1.3 Thiết bị 16
2.2 Nội dung nghiên cứu 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Phương pháp bào chế proliposome berberin bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang 17
2.3.2 Phương pháp hydrat hóa proliposome BBR 17
2.3.3 Phương pháp đánh giá proliposome berberin 18
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
Trang 5CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 21
3.1 Khảo sát một số công thức bào chế proliposome berberin 21
3.1.1 Khảo sát một số chất mang 21
3.1.2 Khảo sát nhiệt độ hydrat hóa proliposome berberin 22
3.1.3 Khảo sát tỉ lệ mol các thành phần trong công thức 23
3.1.4 Khảo sát về tỉ lệ khối lượng lipid : chất mang 25
3.1.5 Khảo sát về kích thước sorbitol 26
3.1.6 Khảo sát tỉ lệ dung môi sử dụng 27
3.1.7 Công thức bào chế proliposome BBR 27
3.2 Khảo sát một số thông số kỹ thuật bào chế proliposome berberin 28
3.2.1 Nhiệt độ cất quay 28
3.2.2 Tốc độ cất quay 29
3.2.3 Đề xuất quy trình bào chế proliposome bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang 30
3.3 Đánh giá một số đặc tính của proliposome berberin 32
3.3.1 Hình thức 32
3.3.2 Đánh giá hình thái liposome BBR 32
3.3.3 Kích thước tiểu phân 33
3.3.4 Phân tích nhiệt quét vi sai (DSC) 34
3.3.5 Hàm lượng dược chất 35
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
7 DPIs Thuốc hít dạng bột khô (Dry powered inhalers)
8 DSC Phân tích nhiệt vi sai (Differential scanning calorimetry)
9 DSPC Distearoyl phosphatidylcholin
10 EPC Egg phosphatidylcholin
11 HEPC Hydrogenated Egg phosphatidylcholin
12 HPC Hexadecylphosphocholin
13 HSPC Hydrogenated soyphosphatidylcholin
14 KTTP Kích thước tiểu phân
15 LDL Lipoprotein phân tử lượng thấp (Low-density lipoprotein)
16 MCC Cellulose vi tinh thể (Microcrystalline cellulose)
22 UV Liposome đơn lớp (Unilamellar Vesicle)
23 UV-VIS Quang phổ hấp thụ tử ngoại
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chế phẩm berberin trên thị trường 4
Bảng 1.2 Một số lipid được sử dụng bào chế proliposome 6
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của các chất mang sử dụng đến KTTP liposome BBR
21
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ hydrat hóa đến KTTP liposome BBR 22
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của tỉ lệ mol các thành phần đến KTTP liposome BBR
24
Bảng 3.4 Ảnh hưởng tỉ lệ lipid : sorbitol (kl/kl) đến kích KTTP liposome BBR 25
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của kích thước sorbitolđến KTTP liposome BBR 26
Bảng 3.6 Ảnh hưởng tỉ lệ dung môi đến KTTP liposome BBR 27
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ cất quay đến KTTP liposome BBR 28
Bảng 3.8 Ảnh hưởng của tốc độ cất quay đến KTTP liposome BBR 29
Bảng 3.9 Phân bố KTTP liposome BBR 33
Bảng 3.10 Mật độ quang của các dung dịch berberin base 35
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Công thức cấu tạo của berberin base 2
Hình 1.2 Cấu trúc của liposome 5
Hình 1.3 Cấu trúc lớp màng phospholipid kép 6
Hình 1.4 Sự phân bố của cholesterol và phospholipid 7
Hình 1.5 Thiết bị cất quay chuẩn bị proliposome 8
Hình 2.1 Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 16
Hình 3.1 Sơ đồ tóm tắt quy trình bào chế proliposome berberin 31
Hình 3.2.(a) Bột proliposome BBR, (b) Hỗn dịch liposome BBR 32
Hình 3.3 Hình ảnh FESEM của liposome BBR 33
Hình 3.4 Đồ thị phân bố kích thước tiểu phân liposome BBR 33
Hình 3.5 Phổ DSC của proliposome BBR, HSPC, Sorbitol, BBR, Cholestrol 34 Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn mối tương quan tuyến tính giữa mật độ quang và nồng độ 35
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Berberin là một isoquinolin alcaloid đã được sử dụng từ rất lâu để điều trị các bệnh đường tiêu hóa như tiêu chảy, viêm đại tràng, lỵ trực khuẩn, Gần đây, nhiều nghiên cứu mới cho thấy berberin có nhiều tiềm năng trong điều trị các bệnh như tiểu đường, tăng lipid máu, nhồi máu cơ tim, động kinh, Trong hệ thống phân loại BCS, berberin thuộc nhóm III, có tính thấm qua màng sinh học kém nên sinh khả dụng đường uống của berberin rất thấp
Liposome là những hạt có cấu trúc hình cầu, bao gồm một nhân ưa nước ở giữa được bao bọc bởi lớp vỏ phospholipid gồm một hay nhiều lớp [12] Liposome
đã được nghiên cứu rộng rãi ứng dụng để đưa thuốc tới đích, kiểm soát giải phóng thuốc, tăng độ tan của dược chất khó tan, tăng tính thấm qua màng sinh học Tuy nhiên liposome kém ổn định về mặt hóa lý, chúng có thể bị lắng đọng, kết tụ, thủy phân hay oxy hóa phospholipid Để cải thiện độ ổn định của liposome, có nhiều phương pháp như kiểm soát kích thước các hạt, thay đổi thành phần lipid, ổn định điện tích, [43] Năm 1986, Payne và cộng sự [27] mô tả một hệ vận chuyển thuốc mới giúp tăng độ ổn định của liposome, đó là proliposome Proliposome là các hạt khô, trơn chảy tốt, khi thêm nước chúng phân tán thành hỗn dịch liposome
Do tồn tại ở trạng thái rắn nên hầu hết các vấn đề về độ ổn định của liposome được giải quyết
Do đó đề tài “ Nghiên cứu bào chế proliposome berberin ứng dụng dùng
đường uống” được tiến hành nhằm mục đích:
1 Xây dựng được công thức bào chế proliposome berberin
2 Xây dựng được quy trình bào chế proliposome berberin bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang
Trang 10- Berberin là một alcaloid thực vật thuộc nhóm isoquinolin Berberin thường
có trong rễ, thân rễ, vỏ cây của những cây thuộc chi Berberis, Coptidis, Coscinium Tại Việt Nam, berberin chủ yếu được chiết từ thân và rễ cây Vàng đằng (Coscinium usitatum Pierre) với hàm lượng khoảng 2-3% [1]
- Berberin phát huỳnh quang màu vàng đậm dưới ánh sáng tử ngoại UV [30]
Trang 11lỵ, viêm ruột, đau bụng tiêu chảy, viêm túi mật
Gần đây, một số nghiên cứu chỉ ra rằng berberin có khả năng điều trị các bệnh mạn tính Berberin có khả năng hạ đường huyết hiệu quả như metformin, cơ chế là ức chế reductase aldose, làm giảm đường huyết và giảm kháng insulin [36], [40], [46] Berberin làm giảm mạnh lượng cholesterol, LDL cholesterol, triglycerid và các mảng xơ vữa nhưng cơ chế hoạt động khác so với các statin, vì vậy berberin không gây ra tác dụng phụ điển hình như các statin [16], [17] Ngoài
ra, berberin còn có tác dụng chống co giật nên có thể dùng trong bệnh động kinh [5], [34]; bảo vệ các tế bào thần kinh trong các trường hợp tổn thương não do tắc mạch máu não gây ra [45], [47]; có tác dụng chống trầm cảm [11], [18], [28] Nghiên cứu gần đây đã chỉ ra tác dụng chống ung thư của berberin, nó có thể ngăn chặn sự phát triển của nhiều loại tế bào ung thư, bao gồm ung thư vú, ung thư biểu
mô, ung thư tụy, ung thư dạ dày mà không làm ảnh hưởng đến sự phát triển của các tế bào bình thường ở nồng độ nhất định
1.1.5 Đặc tính dược động học
- Hấp thu: Quá trình hấp thu thuốc xảy ra chủ yếu ở ruột non Một số nghiên cứu cho thấy rằng sinh khả dụng của berberin dùng đường uống ở người tình nguyện khỏe mạnh là tương đối thấp (<5%) [25], [45]
Trang 124
- Berberin dễ dàng liên kết với protein huyết tương ảnh hưởng đến phân bố
và hoạt động của thuốc [14]
- Berberin chuyển hóa qua gan và thải trừ qua mật Một số nghiên cứu khác cho thấy thuốc có thể bị thải trừ qua thận [29]
1.1.6 Một số chế phẩm berberin trên thị trường
Bảng 1.1 Một số chế phẩm berberin trên thị trường
Biệt dược Dạng bào chế/ hàm lượng Nhà sản xuất
Armolipid
Plus
Viên nén/ 500mg Rottapharm S.P.A- Milan, Italy
Antesik Viên nang/ 50mg Công ty cổ phần Dược TW
MEDIPLANTEX Loberin Viên nén bao phim/ 25mg Công ty cổ phần Dược phẩm
Nam Hà Berberin Viên nén bao phim/ 25mg Công ty TNHH sản xuất thương
mại dược phẩm INC Asterasick Viên nang/ 100mg Công ty Cổ phần Traphaco
Berberine Viên nang/ 500mg Công ty Orbivit, Mỹ
1.2 Đại cương về proliposome
Trang 13PC thường được sử dụng vì rẻ, trơ về mặt hóa học Tuy nhiên, PC thu được từ các nguồn tự nhiên là hỗn hợp của các PC có độ dài chuỗi và mức độ không bão hòa khác nhau Sự hiện diện của các chuỗi acid béo chưa bão hòa làm cho lipid không
ổn định, do đó lipid bão hòa được ưa dùng hơn những lipid chưa bão hòa [23] Ngoài ra còn có phosphatidylethanolamin (PE), phosphatidyl serin (PS), phosphatidylglycerol (PG), phosphatidylinositol (PI),
- Phospholipid tổng hợp như: Dioleoyl phosphatidylcholin (DOPC), Distearoyl phosphatidylcholin (DSPC), dipalmitoyl phosphatidylcholine (DPPC), dioleyl phosphatidylethanolamin (DOPE) , distearoyl phosphatidylethanolamin (DSPE), dipalmitoyl phosphatidylglycerin (DPPG),
Trang 146
Ngoài ra còn có thể dùng một số lipid khác như sphingomyelin (SM) Mặc dù có sẵn nhiều loại phospholipid, việc bào chế proliposome thường chỉ giới hạn trong PC và PG, chủ yếu là do các cân nhắc về độc tính, độ tinh khiết,
Liposome chỉ bao gồm phospholipid thường không đủ cứng, có xu hướng rò
rỉ thuốc bao gói Cholesterol là thành phần rất quan trọng trong màng tế bào tự
Trang 157
nhiên Cholesterol là steroid được sử dụng phổ biến nhất giúp cải thiện độ cứng của màng lipid kép, giảm tính thấm nước và cải thiện tính ổn định của lớp màng kép khi có chất lỏng sinh học như máu, huyết tương [21] Nếu không có cholesterol thì lớp phospholipid dễ tương tác với protein huyết tương như albumin, transferin, macroglobulin dẫn tới giảm độ ổn định của liposome
Hình thái và tính ổn định của liposome chủ yếu phụ thuộc vào nồng độ phospholipid và cholesterol [6], [10], và bất kỳ sự điều chỉnh nào trong thành phần của chúng đều dẫn đến sự phá vỡ các túi, rò rỉ thuốc
Cholesterol có thể kết hợp với phospholipid lên đến tỷ lệ mol 1:1, trong khi
ở màng tự nhiên, tỷ lệ mol thay đổi từ 0,1-1, tùy thuộc vào vị trí giải phẫu và tế bào [39] Tuy nhiên tỷ lệ cholesterol cao quá cũng có thể ảnh hưởng ngược lại tới
Chất mang được chọn nên có diện tích bề mặt lớn và độ xốp cao để lipid dễ dàng phân bố đều trên bề mặt chất mang [13] Một số chất mang được sử dụng là:
maltodextrin, sorbitol, cellulose vi tinh thể, magie nhôm silicat, mannitol,
1.1.1.1 Dung môi
Các dung môi hữu cơ được dùng để hòa tan các thành phần màng như: cloroform, methanol, ethanol…
Trang 168
1.2.3 Các phương pháp bào chế proliposome
1.2.3.1 Phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang (Film deposition on carrier method)
Đây là phương pháp đầu tiên để bào chế proliposome được báo cáo bởi Payne
và cộng sự [27] Trong phương pháp này, lớp màng phospholipid được phủ trên
bề mặt một nguyên liệu xốp gọi là chất mang Một số chất mang được sử dụng là: maltodextrin, sorbitol, mannitol, sucrose, Thiết bị sử dụng là máy cất quay chân không Trong hình 1.5, dược chất và phospholipid được hòa tan trong một dung môi hữu cơ dễ bay hơi Dung dịch này được dẫn và tiêm từng giọt qua một ống dẫn vào trong bình cất quay chân không có chứa sẵn chất mang Tại bất kì thời điểm nào, việc làm ướt chất mang quá mức cần được tránh và dung dịch tiếp tục được đưa qua ống khi bột trong bình chảy tự do Sau khi dung môi được loại bỏ, khối bột được rây và bảo quản ở nhiệt độ thích hợp
Hình 1.5 Thiết bị cất quay chuẩn bị proliposome bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang
Tuy nhiên, quy trình bào chế proliposome trên khó kiểm soát vì việc bổ sung
và bay hơi dung môi không được liên tục [32] Để giải quyết vấn đề này, Xu và
Trang 179
cộng sự đã thay đổi quy trình [42] Chất mang được phân tán trong dung dịch
thuốc và lipid trong bình cất quay và dung môi bay hơi chân không Lipid được
phân bố đồng đều và hiệu quả hơn, quy trình liên tục và tiết kiệm thời gian hơn
so với phương pháp ban đầu
1.2.3.2 Phương pháp phun sấy (Spray drying method)
Đặc điểm nổi bật của quá trình phun sấy là khả năng hình thành hạt và sấy
khô trong một bước duy nhất, cho phép quy trình diễn ra liên tục, vì thế dễ kiểm
soát hơn Phương pháp này hiệu quả, chi phí thấp, dễ dàng sản xuất proliposome
ở quy mô lớn Dịch phun sấy có thể là dung dịch, hỗn dịch
Quá trình phun sấy gồm 4 bước:
1 Dịch được phun qua vòi phun
2 Tiếp xúc với không khí phun
3 Làm khô các giọt phun
4 Thu sản phẩm
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành các tiểu phân là nhiệt độ , tốc độ
phun và hiện tượng hấp thụ Do đó cần kiểm soát các thông số vận hành như nhiệt
độ không khí vào và tốc độ phun chất lỏng
Wipaporn Rojanarat và cộng sự đã nghiên cứu bào chế proliposome
pyrazinamid bằng kỹ thuật phun sấy [31] Cholesterol và SPC được hòa tan trong
ethanol 95%, sau đó thêm pyrazinamid và siêu âm đến khi dung dịch trong
Mannitol được phân tán vào trong dung dịch tạo hỗn dịch, siêu âm trong 15 phút
Trong quá trình phun sấy, dịch phun luôn được khuấy trộn Nhiệt độ 90°C, áp suất
phun 800 kPa, tốc độ phun 3 ml/phút Proliposome thu được trong buồng thu và
giữ trong bình hút ẩm đến khi sử dụng Sau khi hydrat hóa với nước, các tiểu phân
liposome pyrazinamid có kích thước trung bình khoảng 200 – 500 nm, hiệu suất
nạp dược chất 26 - 35%
Trang 18Nguyên tắc của phương pháp là SCCO2, dung dịch chứa dược chất và các thành phần được phun đồng thời qua vòi phun, SCCO2 và dung môi sẽ bay hơi thu được proliposome
Fei Xia và cộng sự đã nghiên cứu bào proliposome lutein bằng phương pháp kháng dung môi siêu tới hạn [41] Lutein và HPC được hòa tan trong diclomethan
và ethanol (40:1) Nồng độ lutein là 0,73 mg/ ml, gần với nồng độ bão hòa Tốc
độ dòng CO2 là 30 ml/phút Các mẫu proliposome lutein được đánh giá SEM, TEM, DSC, hiệu suất nạp dược chất là hơn 90% Nghiên cứu đã chứng minh rằng bào chế proliosome bằng phương pháp đối kháng dung môi siêu tới hạn là đơn
giản, hiệu quả
1.2.3.4 Phương pháp bao hạt ( Fluidised bed method)
Phương pháp này dựa trên nguyên tắc bao hạt và có thể được sử dụng để sản xuất proliposome quy mô lớn Ban đầu chất mang được bao một lớp giúp cho bề mặt nhẵn để bao các lớp phospholipid tiếp theo Nó giúp cho lớp màng phospholipid đồng nhất và mỏng quanh chất mang, liposome hình thành sau khi hydrat hóa có kích thước nhỏ hơn Dược chất, phospholipid, và các thành phần khác được hòa tan trong dung môi hữu cơ, sau đó được phun lên bề mặt chất mang qua súng phun đồng thời dung môi hữu cơ được bay hơi trong chân không thu được các hạt proliposome
Trang 19- Tăng độ tan của dược chất khó tan, do đó tăng sinh khả dụng của thuốc
- Do đặc tính của lớp phospholipid rất gần với cấu trúc màng tế bào nên proliposome sau khi hydrat hóa có khả năng xâm nhập tốt vào các mô và tế bào đích
- Có thể mang đồng thời cả dược chất thân nước và thân nước và thân dầu Dược chất có thể phân bố ở vị trí khác nhau tùy thuộc vào đặc tính thân nước thân dầu của chúng
- Bảo vệ dược chất tránh tác động bất lợi của môi trường trong quá trình bảo quản và đặc biệt là trên đường vận chuyển tới đích sinh học trong cơ thể ( như
pH, enzym, tác nhân oxy hóa, )
- Giảm chuyển hóa bước 1 qua gan
Bên cạnh đó proliposome khắc phục được nhược điểm của liposome về tính
ổn định, giúp chế phẩm ổn định hơn, dễ định liều và đưa vào dạng thuốc mong muốn như viên nang, viên nén
1.2.4.2 Nhược điểm
- Phospholipid chủ yếu được chiết tách từ nguồn nguyên liệu tự nhiên do đó rất khó kiểm soát mức độ tinh khiết của nguyên liệu
- Một số phương pháp bào chế sử dụng dung môi hữu cơ để hòa tan lipid gây
tác động bất lợi đến môi trường
- Hầu hết các phương pháp bào chế chỉ thích hợp với quy mô phòng thí nghiệm, khó triển khai trên quy mô lớn
- Với proliposome ứng dụng dùng đường tiêm thì dễ bị thanh thải bởi đại thực bào, thời gian tuần hoàn khó kéo dài
1.2.5 Ứng dụng
Proliposome được sử dụng qua các đường sau:
Trang 2012
1.2.5.1 Đường uống
Đường uống là đường đưa thuốc thuận tiện nhất Sinh khả dụng của thuốc theo đường uống phụ thuộc vào nhiều yêu tố như: độ tan của dược chất trong nước, tốc độ hòa tan, khả năng thấm qua màng sinh học ở ống tiêu hóa, chuyển hóa bước một qua gan, độ ổn định của dược chất trong dịch tiêu hóa Việc sử dụng liposome dùng đường uống còn nhiều hạn chế do tính ổn định, liều lượng và khó kiểm soát giải phóng tại vị trí hấp thu Do tồn tại ở dạng bột chảy tự do, proliposome là ví dụ đầu tiên về việc đưa liposome vào dạng bào chế rắn như viên nén hoặc viên nang [37] Hơn nữa, liposome được hình thành khi proliposome tiếp xúc với chất lỏng sinh học tại vị trí hấp thu đảm bảo duy trì tính toàn vẹn của
liposome Proliposome làm tăng độ tan của các dược chất ít tan Proliposome sau
khi hydrat hóa tạo liposome MLV làm tăng khả năng nạp thuốc vào trong lớp phospholipid Trong cấu trúc proliposome, thuốc có khả năng chuyển từ dạng kết tinh sang dạng vô định hình [33] Mặt khác các liposome MLV có kích thước lớn hơn nên cải thiện sinh khả dụng của những thuốc chuyển hóa bước một qua gan mạnh và tăng khả năng hấp thu vào bạch huyết [19] Proliposome được bào chế
để tăng tính ổn định của liposome, cải thiện khả năng hòa tan và sinh khả dụng của một số loại thuốc hòa tan kém
Domperidon là một chất đối kháng thụ thể 5-HT3 được sử dụng để chống nôn Domperidon tan kém trong nước, sau khi uống nó bị ảnh hưởng bởi dịch tiêu hóa và chuyển hóa bước một qua gan Do đó sinh khả dụng đường uống của domperidon rất thấp, không đạt hiệu quả điều trị P.Nalla và cộng sự đã nghiên cứu bào chế proliposome domperidon bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang [22] HSPC, cholesterol và natri cholat với tỉ lệ khác nhau được hòa tan trong hỗn hợp dung môi MeOH và Cloroform ( 9:1,tt/tt) cùng với 10 mg domperidon, sau đó dung dịch được cho vào bình cất quay 250 ml cùng với manitol phun sấy Dung môi bay hơi dưới áp suất giảm ở nhiệt độ 45 ± 2°C Sau khi dung môi được loại bỏ hoàn toàn trong tủ sấy chân không, bột được rây qua rây 250 µm và được đánh giá tính thấm ex-vivo và sinh khả dụng Kết quả là sinh
Trang 21J R Arregui và cộng sự đã nghiên cứu bào chế proliposome daptomycin dùng đường uống với các phospholipid khác nhau như SPC, HEPC, DSPC Các chất điều chỉnh điện tích bề mặt như dicetyl phosphat (DCP) và stearylamin (SA) được thêm vào để tăng cường bao gói thuốc [4] Lipid, cholesterol, daptomycin
và chất điều chỉnh điện tích ( nếu có) được hòa tan trong ethanol, và sau đó MCC được phân tán vào trong dung dịch trên Dung môi được cho bay hơi dưới áp suất giảm và thu sản phẩm Proliposome daptomycin sử dụng SPC có hiệu suất nạp cao hơn các công thức sử dụng HEPC hoặc DSPC Hiệu suất nạp cao nhất khi proliposome tích điện dương, khoảng 92% và thế zeta là +28 mV Đánh giá giải phóng in vitro cho thấy khoảng 20% lượng thuốc được giải phóng duy trì trong vòng 60 phút đầu tiên và chỉ giải phóng 42% sau 2 giờ Các thông số dược động học sau khi cho chuột uống cho thấy sự sinh khả dụng proliposome daptomycin cao hơn so với dung dịch thuốc
1.2.5.2 Đưa thuốc tới phổi
a Thuốc hít bột khô (DPIs)
Trang 22Wipaporn Rojanarat và cộng sự đã bào chế proliposome isoniazid dạng bột aerosol bằng phương pháp phun sấy [32] Độc tính của proliposome isoniazid đối với các dòng tế bào liên quan đến hô hấp và khả năng kích thích phản ứng miễn dịch từ các đại thực bào phế nang đã được xác định Kết quả cho thấy rằng proliposome isoniazid không độc đối với các tế bào liên quan đến hô hấp và không kích hoạt đại thực bào phế nang để tạo ra các chất trung gian gây viêm như interleukin-1β, yếu tố hoại tử khối u TNF-α Khả năng chống lại đại thực bào phế
nang bị nhiễm Mycobacterium bovis của proliposome isoniazid cao hơn đáng kể
so với isoniazid tự do (p <0,05)
b Thuốc phun mù
Proliposome là dạng bào chế thích hợp cho thuốc phun mù, vì tạo liposome ngay trước khi phun, tránh được việc tạo thành các tiểu phân kết tụ quá cỡ không qua được thiết bị phun mù
Tejas R Desai và cộng sự [9] đã nghiên cứu bào chế proliposome phun mù bằng cách trộn phospholipid với lactose và ciprofloxacin, nghiền thành bột siêu mịn, khi hydrat hóa với dung dịch natri clorid đẳng trương thu được lipsome có kích thước khoảng 3 µm Khảo sát 4 loại phospholipid: DMPG, DMPC, DDPC, EPC thì các tác giả nhận thấy rằng: khi hydrat hoá, DMPG cho khả năng liposome hóa ciprofloxacin cao nhất (trên 90%), sau khi phun mù hiệu suất bảo toàn của hỗn hợp DMPG + EPC là tốt nhất (khoảng 30%) và do đó lượng dược chất mất
đi là ít nhất
1.2.5.3 Đường niêm mạc
Phospholipid là thành phần của proliposome, chúng không độc hại, không gây kích ứng và tương thích với màng sinh học Liposome hình thành khi hydrat
Trang 2315
hóa prolipsome với chất lỏng niêm mạc sẽ tập trung trên niêm mạc do đó làm tăng khả năng lưu giữ thuốc trên niêm mạc, dẫn đến nồng độ thuốc cao hơn ở niêm mạc giúp kéo dài thời gian tác dụng của thuốc
Proliposome clotrimazol đã được điều chế bằng phương pháp tráng film trên
bề mặt chất mang [24] Công thức tối ưu của proliposome clotrimazol sau khi hydrat có hiệu suất nạp là 96,2 ± 1,5% Proliposome clotrimazol được đánh giá giải phóng trong dịch âm đạo mô phỏng ở 37 ± 1°C trong 24 giờ và thử hoạt tính kháng nấm trên chuột Sau 24 giờ clotrimazol giải phóng khoảng 25% Như vậy proliposome clotrimazol giải phóng từ từ, kéo dài thời gian tác dụng của thuốc
1.2.5.4 Đường qua da
Proliposome gồm các phospholipid có ái lực tự nhiên với lipid da và do đó tăng cường sự thẩm thấu thuốc trong da Ngoài ra để tăng tính thấm qua da có thể lảm giảm sự cản trở của lớp sừng [15]
Exemestan là một streroid bất hoạt aromatase để điều trị ung thư vú có sinh khả dụng đường uống thấp (42%) do độ tan kém và chuyển hóa bước một qua gan cao Jukanti và cộng sự đã sử dụng proliposome để phân phối exemestan qua da
và nhận thấy sinh khả dụng dạng gel proliposome tăng gấp 2,4 lần so với hỗn dịch uống [15]
Trang 2416
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (NGUYÊN LIỆU, THIẾT BỊ, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU)
2.1 Đối tượng nghiên cứu, nguyên liệu và thiết bị nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Proliposome berberin
2.1.2 Nguyên liệu
Hình 2.1.Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu
STT Tên nguyên liệu Nguồn gốc Tiêu chuẩn chất lượng
soyphosphatidylcholine
Lipoid - Đức Nhà sản xuất
2.1.3 Thiết bị
- Máy cất quay Rovapor R- 210, bình cầu NS 29/32 dung tích 1000 ml, Buchi- Đức
- Máy đo kích thước tiểu phân Mastersizer 3000E
- Bể siêu âm Ultrasonic LC 60H
- Tủ sấy chân không Daiban Labtech, Hàn Quốc
- Cân phân tích Satorius AG Gottingen- Đức
- Tủ sấy, tủ lạnh, cân kỹ thuật, nhiệt kế, các dụng cụ thủy tinh
- Máy quang phổ UV- VIS U-1800 (Hatachi - Nhật Bản)
Trang 2517
- Máy phân tích nhiệt vi sai DSC 60 (Shimadzu - Nhật Bản)
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Xây dựng công thức proliposome berberin
- Xây dựng quy trình bào chế proliposome berberin bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp bào chế proliposome berberin bằng phương pháp tráng film trên bề mặt chất mang
Chuẩn bị dung dịch chứa HSPC, ChoLvà BBR:
- Cân HSPC và ChoL theo tỉ lệ mol, hòa tan trong một thể tích cloroform thích hợp
- Cân BBR, hòa tan trong một thể tích MeOH thích hợp, siêu âm 10 phút Phối hợp dung dịch chứa HSPC và Cholesterol vào dung dịch chứa BBR tạo dung dịch đồng nhất
- Chuẩn bị chất mang: Chất mang được nghiền, rây qua rây 125 µm, sau đó được sấy khô ở 60°C trong tủ sấy tĩnh
Chất mang được chuyển vào bình cầu và phối hợp với dung dịch trên tạo hỗn dịch chất mang Bình cầu được lắp vào máy cất quay máy cất quay Rovapor R-
210, dung môi hữu cơ được loại bỏ dưới áp suất giảm ở nhiệt độ cất quay 45°C Sau khi dung môi được loại bỏ, bột thu được cho vào tủ sấy chân không ở 40°C trong 24 giờ để sản phẩm được khô Sau đó proliposome BBR được rây qua rây
125 µm, bảo quản ở nhiệt độ phòng
2.3.2 Phương pháp hydrat hóa proliposome BBR
Cân 0,2 g bột proliposome BBR hòa tan trong 20 ml nước ở nhiệt độ thích hợp, khuấy đều trong 5 phút để hỗn dịch liposome BBR phân tán đều, để nguội ở nhiệt độ phòng
Trang 26
18
2.3.3 Phương pháp đánh giá proliposome berberin
2.3.3.1 Đánh giá hình thức
- Bột proliposome BBR có màu vàng, khô, tơi
- Hỗn dịch liposome BBR thu được sau khi hydrat hóa proliosome BBR có màu vàng, đục mờ không còn tiểu phân chưa tan hết
2.3.3.2 Đánh giá kích thước tiểu phân liposome BBR
- Mục đích: Đánh giá kích thước tiểu phân liposome BBR hình thành sau khi hydrat hóa với nước qua các thông số D[4,3], D[90], D[50], Span
- Thiết bị: Sử dụng máy Mastersizer 3000E
- Tiến hành:
Cho khoảng 400 ml nước cất vào cốc có mỏ 500 ml Đặt cốc vào máy đo Mastersizer 3000E Cho từ từ mẫu đã hydrat hóa theo phương pháp ở mục 2.3.2 vào cốc có mỏ cho đến khi độ đục đạt khoảng 0,5 - 5%
Ý nghĩa các thông số:
D[4,3]: KTTP trung bình theo thể tích
D[90]: 90% tiểu phân có kích thước dưới D[90]
D[50]: 50% tiểu phân có kích thước dưới D[50]
Span: đánh giá phân bố KTTP, Span càng nhỏ thì khoảng phân bố càng hẹp, Span < 5 là giá trị có thể chấp nhận được
2.3.3.3 Phương pháp đánh giá hình thái
- Mục đích: quan sát hình thái cấu trúc liposome BBR
- Thiết bị: kính hiển vi điện tử quét trường phát xạ (FESEM)
- Mẫu phân tích: mẫu proliposome BBR sau khi được hydrat hóa
- Tiến hành: mẫu được làm khô trên giá đo, sau đó phủ một lớp platin để tăng
độ dẫn điện rồi đưa vào buồng chứa mẫu Tiến hành đánh giá hình thái của liposome ở 25˚C, điều kiện điện áp 5000V
2.3.3.4 Phân tích nhiệt vi sai (DSC)
- Các mẫu đo: HSPC, cholesterol, sorbitol, BBR, proliposome BBR