1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay (qua khảo sát thực tế ở ninh bình)

104 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quán Triệt Nguyên Tắc Thống Nhất Giữa Lý Luận Và Thực Tiễn Trong Hoạt Động Lãnh Đạo, Quản Lý Của Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Cơ Sở Hiện Nay (Qua Khảo Sát Thực Tế Ở Ninh Bình)
Trường học trường đại học ninh bình
Thể loại tiểu luận
Thành phố ninh bình
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 543,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trên tác giả đã phân tích về nội dung của nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng nguyên tắc này trong nghiêncứu các lĩnh vực cụ thể như trong quá trình đổ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Hệ tưtưởng chính trị được coi là kim chỉ nam trong thời kỳ này là chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Trong hệ thống những quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc thống nhất giữa lýluận với thực tiễn là một nội dung căn bản, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống

lý luận cũng như quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng của C.Mác,Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh

Bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, C.Mác trong “Luận cương về Phoi ơ bắc” đã khẳng định:

Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lýkhách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà

là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phảichứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sứcmạnh, tính trần tục của tư duy của mình [31, tr.9-10]

Cũng đồng quan điểm, V.I.Lênin cho rằng:

Trong khi nhấn mạnh như thế sự cần thiết, tầm quan trọng và quy

mô rộng lớn của công tác lý luận của những người dân chủ - xã hội,tôi không hề muốn nói rằng công tác đó phải được đặt vào vị tríhàng đầu trước công tác THỰC TIỄN, và càng không hề cho rằngngười ta hãy đợi cho đến khi nào công tác thứ nhất xong xuôi rồimới làm công tác thứ hai…Trong điều kiện đó, cả hai công tác lýluận và công tác thực tiễn sẽ hòa làm một… [25, tr.381 -382]

Như vậy, các nhà kinh điển Mác - Lênin đều khẳng định mối quan hệthống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, xem đây là nguyên tắc cơ bảncủa nhận thức và hành động

Kế thừa tư tưởng của Mác - Ăngghen và Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minhkhi nói về vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đã từng

Trang 2

khẳng định: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù

quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [411, tr.496].Đồng thời khi nói đến trình độ của người cán bộ Hồ Chí Minh cũng từng căn

dặn: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực

hành phải luôn đi đôi với nhau” [38, tr.249] Người yêu cầu cán bộ đảng viênphải tuân thủ quán triệt nguyên tắc này cho nhận thức và hành động Bản thânNgười cũng là tấm gương sáng cho việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận với thực tiễn trong quá trình hoạt động cách mạng của mình

Việt Nam hiện đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nướctrong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Trong bối cảnh đó, chúng ta cóthêm nhiều cơ hội cho sự phát triển đất nước nhưng cũng đứng trước nhiềuthử thách khó khăn Một loạt vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển kinh

tế xã hội đòi hỏi lý luận phải tổng kết, giải đáp Vai trò của lý luận ngày càngtăng lên Cùng với điều đó, mỗi cán bộ đảng viên phải nâng cao trình độ củamình, nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lốichính sách của Đảng và nhà nước để vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo,

có như thế, chúng ta mới có thể thực hiện được mục tiêu đã đặt ra

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy còn không ít cán bộ, đảng viên nóichung, lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nói riêng vi phạm nguyên tắcthống nhất giữa lý luận với thực tiễn, biểu hiện cụ thể như tách rời lý luận vàthực tiễn, coi trọng lý luận xem nhẹ thực tiễn hoặc ngược lại, coi nhẹ lý luận

đề cao thực tiễn Điều đó dẫn đến tình trạng một bộ phận cán bộ lãnh đạo mắcphải bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, bệnh chủ quan duy ý chí, xa rời quầnchúng, xa rời thực tế, hình thức, quan liêu… Một bộ phận cán bộ lãnh đạoquan liêu, xa rời thực tiễn, không quan tâm tới tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

để khái quát lý luận, bổ sung lý luận, không quan tâm tới việc nâng cao trình

độ lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn hoặc tổng kết thực tiễnchưa có mục đích đúng đắn, chưa dựa vào nguyên tắc khách quan, còn tô

Trang 3

hồng, hoặc bôi đem thực tiễn, vận dụng lý luận còn giáo điều, hình thức Tạiđại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, tổng kết vấn đề lý luận, thựctiễn qua 20 năm đổi mới, Đảng ta nhận định rằng: “Một bộ phận cán bộ đảngviên, kể cả một số cán bộ chủ chốt, yếu kém về phẩm chất và năng lực, vừathiếu tính tiên phong, gương mẫu, vừa không đủ trình độ hoàn thành nhiệmvụ” [13, tr.66] Thực tế trên đang làm giảm vai trò của cán bộ lãnh đạo trongquá trình xây dựng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Đồng thời làmgiảm niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, cản trở việc thực hiệnmục tiêu xã hội chủ nghĩa của Đảng và nhân dân ta.

Trong thời gian qua, việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luậnvới thực tiễn vào hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ởtỉnh Ninh Bình tương đối tốt Nhờ đó kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển ổnđịnh, đời sống nhân dân được cải thiện cả về vật chất và tinh thần Bên cạnhnhững kết quả đạt được đó vẫn còn có những hạn chế nhất định như trình độ

lý luận, trình độ tổ chức thực tiễn, khả năng hiện thực hóa chủ trương chínhsách của Đảng và Nhà nước vào thực tế của địa phương vẫn chưa đáp ứngđược nhu cầu đổi mới, hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa ở tỉnh Do đó đòihỏi cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở tỉnh Ninh Bình phải quán triệt và vận dụng tốthơn nữa nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn Xét thấy tầm quantrọng của vấn đề và tính bức thiết của nó trong giai đoạn hiện nay, chúng tôi

chọn vấn đề “Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở hiện nay (Qua khảo sát thực tế ở Ninh Bình)” làm đề tài nghiên cứu và viết luận văn

tốt nghiệp thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây đã có nhiều bài viết, công trình khoa học donhiều tác giả thực hiện nghiên cứu về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau:

Trang 4

- Hoàng Chí Bảo, “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí khoa học xã hội, 2003, số 1 Trong bài viết này,

tác giả đã làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa lý luận và thựctiễn thông qua quá trình tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lêninvào Việt Nam Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp để vận dụng những tưtưởng của Người vào quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa thời kỳ đổi mới

- Trần Văn Phòng, “Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lý luận của chúng ta hiện nay”, Tạp chí Nghệ thuật quân sự,

số 2, 1998 Bài viết trên tác giả đã phân tích về nội dung của nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn và sự vận dụng nguyên tắc này trong nghiêncứu các lĩnh vực cụ thể như trong quá trình đổi mới, hoạt động nghiên cứu

- Trần Văn Phòng, “quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễntrong quá trình đổi mới của Đảng”, tạp chí Khoa học chính trị, số 4, 2005

- Đặng Tuyết Em, Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh, Hà Nội - 2000 Tác giả của luận văn đã phân tích tầm quan trọng củaviệc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong phong cách làmviệc của người lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh; đồng thời khái quát thực trạng thựchiện nguyên tắc này ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Kiên Giang.Qua đó luận văn đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt sự thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn trong phong cách làm việc của người cán bộ lãnhđạo, quản lý cấp tỉnh

- Nguyễn Thị Thủy, “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc

ra quyết định của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Quảng Ninh hiện nay”, luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ

Chí Minh, 2010 Luận văn đã nêu ra tầm quan trọng của nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cụ thể của công tác lãnh đạo

Trang 5

quản lý, việc ra quyết định Trên cơ sở phân tích thực trạng quán triệt sựthống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Quảng Ninh, luận văn đã đề xuất một số giảipháp chủ yếu nhằm nâng cao việc quán triệt sự thống nhất này trong việc raquyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Quảng Ninh hiện nay

- Vũ Công Thương, “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta hiện nay”,

luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ ChíMinh, 2007 Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã làm rõ yêu cầunguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn và những biểu hiện củanguyên tắc này trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ

sở Tác giả cũng đã phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việcquán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt độnglãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở qua thực tiễn ở tỉnh Bình Phước.Đồng thời, tác giả đã chỉ ra một số phương hướng và giải pháp nhằm quántriệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạocủa cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã bàn đến nhiều khíacạnh khác nhau của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như nộidung, yêu cầu của nguyên tắc, việc quán triệt nguyên tắc trong công tác lãnhđạo, trong công tác ra quyết định của cán bộ lãnh đạo, cấp cơ sở Những côngtrình nghiên cứu trên sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị của tác giả luận văn.Mặc dù vậy, trong tình hình mới hiện nay vẫn cần có sự nghiên cứu công phu,nghiêm túc trên cơ sở khoa học về vấn đề này Đặc biệt, trên một tỉnh đang cónhiều đổi mới về kinh tế - xã hội như Ninh Bình hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích thực trạng việc quán triệt nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán

Trang 6

bộ lãnh đạo chủ chốt cấp cơ sở qua khảo sát ở tỉnh Ninh Bình hiện nay, luậnvăn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động lãnhđạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở.

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ tầm quan trọng của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

- Phân tích thực trạng và chỉ ra một số vấn đề đặt ra từ thực trạng quántriệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnhđạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quán triệtnguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo,quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Ninh Bình hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ

chủ chốt cấp cơ sở, chủ yếu là cán bộ chủ chốt cấp xã

4.2 Phạm vi nghiên cứu: Việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa

lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo quản lý của cán bộ chủ chốt cấp

xã ở tỉnh Ninh Bình (giai đoạn 2000 -2012)

5 Cơ sở lý lụận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; các văn kiện Đại hội Đảng và các nghịquyết hội nghị Trung ương; các công trình khoa học trong và ngoài nước đãnghiên cứu, công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề này

Luận văn sử dụng những chỉ thị, nghị quyết, quyết định cùng các tàiliệu khác được cung cấp bởi Uỷ ban nhân dân, Hội đồng nhân nhân dân cáccấp ở tỉnh Ninh Bình trong những năm từ 2000 - 2012

Trang 7

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp cùng các phương pháp nghiêncứu khoa học khác như: phân tích, tổng hợp; lịch sử và lôgíc; trừu tượng và

cụ thể, điều tra xã hội học, so sánh, tổng kết thực tiễn

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

Góp phần làm sáng tỏ nét riêng về việc quán triệt nguyên tắc thốngnhất giữa lý luận với thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộchủ chốt cấp cơ sở, đưa ra giải pháp nhằm quán triệt tốt nguyên tắc nàytronghoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta nóichung, tỉnh Ninh Bình nói riêng

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn dùng làm tài liệu tham khảo trongnghiên cứu giảng dạy ở các trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡngchính trị cấp huyện…

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn có 2 chương, 5 tiết

Trang 8

Chương 1 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP

CƠ SỞ

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP

CƠ SỞ VÀ THỰC CHẤT HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ

1.1.1 Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở

C.Mác và Ph Ăngghen là những người đặt nền móng cho vấn đề cán

bộ của giai cấp vô sản Hai ông không chỉ đề cập đến sự xuất hiện của nhữngcon người vĩ đại trong mỗi thời đại mà còn cho rằng muốn thực hiện tư tưởngthì cần có những người sử dụng lực lượng thực tiễn

Kế thừa tư tưởng đó của Mác và Ăngghen, Lênin đã đánh giá rất cao vịtrí, vai trò của người cán bộ trong hàng ngũ của Đảng Bôn - sê- vích Nga

“Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị nếu nókhông đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị,những đại biểu tiền phong cú đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”[30, tr.473] “Nghiên cứu con người, tìm những cán bộ có đủ bản chất hiệnnay đó là then chốt Nếu không thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định chỉ là

mớ giấy lộn” [30, tr.449] Do xác định đúng vị trí, tầm quan trọng của cán bộ,Lênin đã lãnh đạo Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 giành thắng lợi,đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn chế độ Nga hoàng, xây dựng xã hội mới, xã hộichủ nghĩa đầu tiên trên thế giới

Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minhcho rằng, một khi đã có đường lối cách mạng đúng thì cán bộ là khâu quyếtđịnh Động lực của mọi cuộc cách mạng là quần chúng nhân dân mà hạt nhân

Trang 9

chủ yếu của nó là lực lượng cán bộ Theo Người, cán bộ là dây chuyền của bộmáy, là cầu nối giữa Đảng, nhà nước với nhân dân, “là những người đemchính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thihành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cho Đảng, cho Chính phủhiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [38, tr.269] Người cũng khẳng định:

“Cán bộ là gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hay thất bại là đều

do cán bộ tốt hay kém” Bởi, cán bộ là lực lượng tinh túy nhất của xã hội, có

vị trí vừa tiên phong, vừa là trung tâm của xã hội và có vai trò cực kỳ quantrọng của hệ thống chính trị nước ta

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin và Chủtịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới không ngừngcoi trọng vai trò của cán bộ và công tác cán bộ Trải qua các kỳ Đại hội, Đảng

ta đều khẳng định công tác cán bộ là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt độngcủa Đảng và là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của sự nghiệp

đổi mới Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII khẳng định cán bộ có vai trò cực

kỳ quan trọng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới Cán bộ nóichung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở

Cơ sở xã phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vàochất lượng đội ngũ cán bộ xã phường, thị trấn

Quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay càng đòi hỏi ngườicán bộ chủ chốt các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở phải có bản lĩnh, dám nghĩ dámlàm, có năng lực lãnh đạo, quản lý nhất định Vậy cán bộ lãnh đạo quản lý cấp

cơ sở (hay cán bộ chủ chốt cấp cơ sở) là những ai?

Để hiểu rõ hơn về khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ

sở trước hết cần tìm hiểu về hoạt động lãnh đạo, quản lý

Hoạt động lãnh đạo quản lý là nhu cầu khách quan được hình thànhtrong xã hội loài người Lịch sử đã chứng minh rằng, mỗi chế độ xã hội sẽsinh ra một đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý có trình độ, năng lực, phẩm chất

Trang 10

nhất định Lãnh đạo, quản lý tồn tại dưới nhiều hình thức như ở thị tộc là tộctrưởng - người đứng đầu thị tộc, quản lý điều hành mọi thành viên trong thịtộc; đến bộ tộc, tộc trưởng là người đứng đầu trực tiếp điều hành quản lý mọihoạt động của bộ tộc mình Tuy nhiên, khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lýmang đầy đủ ý nghĩa của nó khi xã hội có giai cấp và nhà nước Đây là kháiniệm gồm hai từ ghép lãnh đạo và quản lý, chỉ hoạt động của chủ thể lãnhđạo, chủ thể quản lý tác động tới khách thể, đối tượng bị lãnh đạo, quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, 2008, lãnh đạo là:

“Đề ra chủ trương, đường lối, tổ chức động viên thực hiện” [55, tr.431] Nhưvậy, hoạt động lãnh đạo là hoạt động sáng tạo có định hướng của chủ thể lãnhđạo tác động tới khách thể thông qua các phương pháp như động viên, giáodục, thuyết phục, chỉ đạo…nhằm đạt mục đích đã định cải tạo tự nhiên, xã hội

và tư duy con người Lãnh đạo tạo hiệu ứng điều khiển, dẫn dắt người khácdựa trên cơ chế nhận thức, niềm tin, tiêu chuẩn đạo đức, lý tưởng…mà khôngmang tính cưỡng bức đối với người khác Nói cách khác, lãnh đạo là hoạtđộng tích cực, có tính chất tất yếu đối với cuộc sống và xã hội của con người,bất cứ nơi đâu và lúc nào có nhiều người tập hợp lại với nhau vì một mục đíchchung nào đó thì sẽ có một thành viên nổi trội hơn về năng lực, về ý chí, vềtích cực hoạt động nhằm đạt mục đích chung cho cả nhóm, thành viên đóđược gọi là lãnh đạo

Quản lý, theo từ điển tiếng việt, Nxb Từ điển Bách khoa, 2008, là:“Tổchức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [55, tr.686]

Có nghĩa, hoạt động quản lý là hoạt động của chủ thể quản lý thông qua sựsắp xếp, tổ chức, chỉ huy của mình trực tiếp điều khiển, tác động đối tượngquản lý theo những yêu cầu nhất định

Qua hai khái niệm trên cho thấy, hoạt động lãnh đạo, quản lý là haikhái niệm khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ qua lại chặt chẽ vớinhau Điểm chung của hai hoạt động này là đều đạt đến mục đích mong muốn

Trang 11

thông qua hành động của người khác, có nghĩa, hai hoạt động này thể hiệnquyền lực, uy quyền tác động đến đối tượng là những người dưới quyền đểthực hiện một nhiệm vụ nào đó theo yêu cầu và mục đích định trước

Nếu xét về mục tiêu, nội dung, phương pháp thì có sự khác nhau cănbản giữa hai khái niện trên

Về mục tiêu, hoạt động lãnh đạo là hoạt động định hướng chung, cònhoạt động quản lý là hoạt động tổ chức sắp xếp các vấn đề theo một trật tựnhất định nhằm đạt hiệu quả cao nhất các quyết định của lãnh đạo

Về nội dung, hoạt động lãnh đạo là đề ra những quan điểm, chủ trương,đường lối, hoạch định các kế hoạch mang tính chất định hướng chung Cònhoạt động quản lý là xây dựng những phương án, chỉ tiêu, kế hoạch cụ thể, tổchức lực lượng để thực thi nhiệm vụ

Về phương pháp, hoạt động lãnh đạo chủ yếu dùng phương pháp giáodục, thuyết phục, động viên, cổ vũ nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng.Hoạt động quản lý là sử dụng mệnh lệnh, mang tính nguyên tắc bắt buộc vớinhững chế tài biện pháp hành chính nhất định

Sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý ở đây không mang tính biệt lậptuyệt đối, máy móc Lãnh đạo và quản lý là những nội dung có quan hệ mậtthiết, tác động lẫn nhau, đan xen nhau Xét về mặt nội dung, tính chất thì giữahai khái niệm này có điểm gần giống nhau nên người ta thường sử dụng cụm

từ chung là lãnh đạo, quản lý Vì thế hoạt động lãnh đạo cũng đồng thời thựchiện chức năng quản lý và hoạt động quản lý cũng đồng thời thực hiện chứcnăng lãnh đạo

Vậy cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là gì?

Cán bộ lãnh đạo hiểu theo nghĩa rộng là người giữ chức vụ và tráchnhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của

bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy

Cán bộ lãnh đạo là người có chức năng lãnh đạo, được giao đảm đương

Trang 12

các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý để điều hành và tổchức thực hiện các nhiệm vụ được giao Chịu trách nhiệm trước tập thể và cấptrên về nhiệm vụ được giao trên cương vị ở một cấp và các lĩnh vực khácnhau mà họ đảm nhiệm Là người đứng đầu một cơ quan, tập thể giữ vị tríquan trọng trong việc hoạch định chiến lược, xác định mục tiêu, phươnghướng, đề ra các quyết định, chủ trương chính sách và tổ chức động viên thựchiện tốt các nhiệm vụ đề ra ở cấp mình và những nhiệm vụ cấp trên giao phó.Trong bộ phận lãnh đạo, có một nhóm người được gọi là cán bộ lãnh đạo chủchốt Đó là những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trongmột tập thể, có quyền ra những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm vàquyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện nhữngnhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn

bộ hoạt động của một tổ chức nhất định

Theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi 2001), ở nước ta cơ cấu tổ chức của

hệ thống chính trị chia làm 4 cấp: Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và cơ sở Cấp cơ

sở là cấp cuối cùng trong sự phân cấp hành chính Cấp cơ sở là nơi nhândân cư trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh tế, dòng tộc

và văn hóa Cấp cơ sở là nơi trực tiếp sản xuất vật chất, là nền tảng vật chất

cơ bản của xã hội, là nơi có thể tổ chức, huy động, phát huy cao độ nội lựccủa quần chúng nhân dân Trong hệ thống chính trị của nước ta, cấp cơ sở

có một vị trí rất quan trọng, là đơn vị cuối cùng trực tiếp và chủ yếu thểhiện sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sự quản lý của Nhà nước đối vớinhân dân Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nướcđược chuyển hóa thông qua hoạt động lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, cấphuyện và cuối cùng được triển khai thực hiện trực tiếp ở cơ sở Nếu cấptỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương được coi là địa bàn vĩ mô trong sựphát triển kinh tế, xã hội của đất nước ở địa phương thì cấp cơ sở được coi

Trang 13

là đơn vị vi mô nền tảng của vĩ mô đó.

Trong toàn bộ những thiết chế chính trị ở nước ta thì Nhà nước là tổchức thể hiện tập trung yêu cầu của nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân.Nhà nước là công cụ quyền lực cao nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân,

do nhân dân bầu ra và mọi hoạt động đều vì lợi ích của nhân dân Ủy bannhân dân xã, phường, thị trấn là một thiết chế chính trị, cùng với Hội đồngnhân dân xã, phường, thị trấn hình thành nên cấp chính quyền cơ sở trong hệthống chính trị chính quyền bốn cấp của nhà nước ta hiện nay

Với hệ thống chính trị chia thành bốn cấp, ở mỗi cấp, Đảng và Nhànước ta có quy định cụ thể, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, về quyền hạn vàtính chất hoạt động nhất định Nếu cương vị phụ trách của cấp nào có quy môrộng thì chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn lớn, tính chất hoạt động lãnh đạo,quản lý ở tầm vĩ mô thì ảnh hưởng, tác động lớn Ngược lại, phạm vi chứcnăng, nhiệm vụ quyền hạn nhỏ, tính chất hoạt động của nó cũng nhỏ hơn Dựatrên cơ sở này mà phân cấp cán bộ trong hệ thống chính trị của ta thành bacấp: Cán bộ cao cấp, cán bộ trung cấp và cán bộ cơ sở

Cán bộ cao cấp là cán bộ ở tầm chiến lược lãnh đạo, quản lý ở tầm vĩ

mô, có chức năng, nhiệm vụ đề ra những đường lối, chủ trương, chính sáchchung để lãnh đạo, quản lý chung

Cán bộ trung cấp là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp tỉnh, huyện,

ở tầm chiến thuật có chức năng, nhiệm vụ vận dụng chủ trương, đường lối,chính sách của trung ương và của ngành đề ra phương hướng, kế hoạch chophù hợp với đặc điểm của địa phương, cũng như ở cơ quan, đơn vị mình đồngthời phải kiểm tra, tổ chức thực hiện phương hướng, kế hoạch đó

Cán bộ cấp cơ sở là cán bộ có chức năng, nhiệm vụ tổ chức thực hiệnchủ trương, đường lối, chính sách, kế hoạch, phương hướng của trung ương

và cấp quản lý trực tiếp để phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương

Tuy có sự khác nhau về tầm lãnh đạo, quản lý cũng như chức năng,

Trang 14

nhiệm vụ và tính chất giữa ba cấp, nhưng họ đều là cán bộ lãnh đạo, quản lýchủ chốt và tạo thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt trong hệthống chính trị của nước ta.

Trong hệ thống chính trị cơ sở, cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lýchủ chốt luôn vận động và phát triển cùng với sự vận động và phát triển củanền kinh tế - xã hội với nhiệm vụ chính trị của địa phương Muốn có đội ngũcán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở năng động, hoạt động có hiệu quảcao thì cơ cấu tổ chức nơi đó phải đồng bộ, hợp lý, phù hợp với xu thế pháttriển chung Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thông qua các chức danh, dựa vào cácchức danh để thể hiện vai trò lãnh đạo, quản lý của mình trong các tổ chức

Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở có cơ cấu đa dạng bao gồm:

Những người lãnh đạo chính trị, làm công tác đảng chuyên nghiệp, nắmgiữ trọng trách hàng đầu trong sự lãnh đạo toàn diện của đảng ủy xã, phường,thị trấn như: Bí thư, phó bí thư đảng ủy

Những người làm công tác chính quyền như: chủ tịch, phó chủ tịch hộiđồng nhân dân và chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn

Những cán bộ lãnh đạo, quản lý các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xãhội trong hệ thống chính trị cấp cơ sở như Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp Phụ

nữ, Hội nông dân xã, Hội cựu chiến binh xã, phường, thị trấn …

Những cán bộ, lãnh đạo, quản lý là trưởng các ban ngành của xã,phường, thị trấn trong các lĩnh vực: Kinh tế, văn hóa, xã hội chính trị, tưtưởng, giáo dục, y tế…các bộ phận tham mưu cho đảng ủy, ủy ban nhân dân

xã, phường, thị trấn

Do đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là những ngườiđứng đầu, có chức vụ quan trọng nhất thuộc ban lãnh đạo của các cơ quanĐảng, chính quyền và các cơ quan chuyên trách ở cấp cơ sở (còn gọi là cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở)

Trong phạm vi luận văn này, chức danh thuộc đội ngũ cán bộ lãnh đạo,

Trang 15

quản lý chủ chốt cấp cơ sở đề cập tới chủ yếu là cán bộ chủ chốt cấp xã Theo

đó bao gồm: Bí thư, phó bí thư Đảng ủy xã; Chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồngnhân dân xã, Chủ tịch, phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã; Chủ tịch Mặt trận tổquốc Việt Nam, chủ tịch Hội Nông dân; Chủ tịch Hội Phụ nữ; Chủ tịch HộiCựu chiến binh; Bí thư Đoàn thanh niên

1.1.2 Đặc trưng của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở

Trong hệ thống chính trị của nước ta, cấp cơ sở được coi là cấp quantrọng nhất, là nền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội Đây là nơi mà

sự vận hành của thể chế chính trị từ trung ương, tỉnh, huyện tác động đến.Trong hệ thống ấy, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là cầu nối giữa sự lãnh đạo củacác cấp với nhân dân lao động với từng công dân Đồng thời họ là nhữngngười đại diện cho các cơ quan Đảng, chính quyền, nhà nước và tổ chức xãhội trực tiếp lãnh đạo, quản lý hoạt động của nhân dân ở cơ sở.Thực tế ởnhiều địa phương trong thời gian qua cho thấy, cùng một điều kiện như nhaunhưng có nơi kinh tế - xã hội phát triển tốt, đời sống nhân dân được ấm no,tình hình chính trị xã hội ổn định, tuy nhiên, có một số địa phương lại ngượclại Như vậy, tốt hay chưa tốt không chỉ do tác động của thể chế mà còn phụthuộc vào nhân tố chủ quan - đó là đội ngũ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có đủphẩm chất và năng lực Bởi vì, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở cónhững đặc trưng cụ thể sau:

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là người gắn bó trực tiếp với cơ sở, với nhân dân Cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, là nơi biểu

hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt của chế độ XHCN Chủ tịch Hồ ChíMinh đã khẳng định cấp xã là cấp gần gũi với dân nhất, là nền tảng của hànhchính Cấp xã làm được thì mọi việc đều xong xuôi Chính vì vậy, cán bộ lãnhđạo, chủ chốt cấp cơ sở là những người trực tiếp tiếp xúc với quần chúngnhân dân và bà con nông dân Đa số họ là những người sinh ra, lớn lên vàtrưởng thành từ cơ sở, từ chính quê hương mình Do vậy, họ là những người

Trang 16

hiểu quần chúng nhân dân, hiểu tâm tư, nguyện vọng, thuận lợi, khó khăn củaquần chúng nhân dân; hiểu phong tục, tập quán, đặc điểm văn hóa trên địabàn mà họ phụ trách, họ gắn bó với cơ sở Cán bộ chủ chốt cấp cơ sở khôngchỉ gần gũi, tiếp xúc với dân trong giờ hành chính, trong thời gian làm việc ởvăn phòng mà còn trong các buổi sinh hoạt ở địa bàn, ngoài giờ hành chính.

Họ làm nhiệm vụ của mình thông qua các biện pháp hành chính đồng thời cònphải trực tiếp làm công tác vận động quần chúng, tạo nên tinh thần đoàn kếtnhất trí trong nhân dân, bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống, nhữngphong tục tập quán lâu đời của địa phương mình

Hoạt động của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở bị chi phối bởi cảquan hệ gia đình, dòng tộc, phong tục, tập quán của địa phương đến việcchung của xã hội Họ đóng nhiều vai trò khác nhau trong giao tiếp, ứng xử đểđiều hòa hoạt động Chẳng hạn, họ đóng vai trò hòa giải trong mối quan hệgiữa các công dân, làm chứng cho các quan hệ có tính chất công dân giữanhân dân lao động với nhau và giữa công dân với nhà nước Họ là người giảiquyết tranh chấp dân sự lần đầu trên địa bàn, là chỗ dựa tin cậy của nhân dâncũng như các cơ quan quản lý khác trong việc xác định tư cách, xác định thânnhân của các đối tượng khác nhau ở địa phương

Thứ hai, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là cầu nối trực tiếp quan trọng giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân; giữa chính quyền Trung ương với cơ sở,

họ là gốc của mọi công việc ở cơ sở Họ là người trực tiếp tổ chức, triển khai

thực hiện chỉ thị, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước đến tận ngườidân Các chủ trương, chính sách, nghị quyết của cấp trên có thành hiện thựchay không, có đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội hay không phụ thuộc vào trình

độ, năng lực thực hiện của đội ngũ này Đồng thời họ cũng là người đại biểucho nguyện vọng, quyền lợi của quần chúng nhân dân Họ phản ánh lại nhucầu, khát vọng của quần chúng nhân dân lên lãnh đạo cấp trên, để cấp trên kịpthời nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung đường lối, chính sách và pháp luật của

Trang 17

Đảng và Nhà nước phù hợp với đòi hỏi khách quan của thực tiễn.

Đặc thù của cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là khi giảiquyết những công việc lớn, nhỏ họ vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý, lại vừa làmột công dân với những mối quan hệ nhiều chiều trong tổ, thôn, khu phố, tổdân phố nên cách làm việc của họ phải bảo đảm thấu tình, đạt lý Đồng thời,

họ lại là những người đại diện cho Đảng và Nhà nước để lãnh đạo bà connông dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, bảo đảm an ninh, chínhtrị - xã hội, xây dựng nông thôn mới ở cơ sở Chính đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý chủ chốt cấp cơ sở là những người làm cho ý Đảng, lòng dân đượcthống nhất; làm cho Đảng và Nhà nước có cơ sở ăn sâu, bám rễ trong quầnchúng, tạo nên quan hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân, trực tiếp củng cốniềm tin của nhân dân với Đảng, với Nhà nước Quần chúng nhân dân chỉ biếttới Đảng, Nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ này Vì vậy, đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở như là người thay mặt Đảng, Nhà nước ởđịa phương Phẩm chất, tài năng của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín củaĐảng và Nhà nước

Thứ ba, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là người đóng vai trò quyết định trong việc lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực tiễn ở địa phương Họ đóng vai trò

chủ đạo trong việc ra quyết định ở cơ sở, là những người vận dụng sáng tạo,góp phần phát triển đường lối của Đảng trong tổ chức thực hiện các phongtrào quần chúng ở cơ sở Là đội ngũ quan trọng trong lãnh đạo, quản lý vàđiều hành ở địa phương Họ là người luôn tiếp xúc gần gũi với nhân dân, kịpthời phát hiện những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoặc những vấn đềkhông phù hợp, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, lắng nghe tiếng nói từ quầnchúng nhân dân, trực tiếp tháo gỡ khó khăn Đối với hệ thống bộ máy cấp cơ

sở, họ là trụ cột, là trung tâm sắp xếp lực lượng, là linh hồn của tổ chức hệthống đó Họ tác động trực tiếp tới năng lực quản lý điều hành của chínhquyền địa phương Do đó, để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình, mỗi

Trang 18

người cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải là những tấm gương sáng trong việc rènluyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chícông vô tư Họ phải là những người gương mẫu trong mọi phong trào cáchmạng ở cơ sở, là người đi đầu trong những phong trào đó.

Thứ tư, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là một trong những cán bộ dự nguồn quan trọng cung cấp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và tương đương Những cán bộ lãnh đạo quản lý ở cơ sở có năng lực hoạt động thực

tiễn, có trình độ và tri thức, có khả năng sáng tạo là nguồn cơ bản cung cấpcho cán bộ cấp trên và tăng cường cho cơ sở Họ không chỉ là khâu liên hệ màcòn là cái kho dồi dào cho Đảng lấy thêm nhân lực mới bổ sung cho đội ngũcán bộ của Đảng và Nhà nước Họ là những người vận dụng sáng tạo và gópphần phát triển đường lối của Đảng trong tổ chức thực hiện phong trào quầnchúng ở cơ sở Mọi sáng kiến đổi mới, những sáng tạo và nhu cầu đổi mớithường bắt nguồn từ cơ sở Không có hướng dẫn chỉ đạo nào của cấp trên cóthể chỉ ra một cách cụ thể mọi vấn đề cho phù hợp với từng địa phương khácnhau Trên cơ sở có trình độ khoa học và năng lực thực tiễn, cán bộ lãnh đạo,quản lý phải phát huy tính năng động sáng tạo để tìm tòi ra các cách thức,biện pháp phù hợp với phong trào ở địa phương mình Trực tiếp làm việc ở cơ

sở, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có điều kiện thuận lợi trong việc pháthiện, nắm bắt, tổng kết thực tiễn thực hiện phong trào ở địa phương, góp phầnvào sự hoàn thiện, phát triển đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ đổi mới, trước nhữnghoàn cảnh và tình thế mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốtcấp cơ sở phải có trình độ và hiểu biết toàn diện trên mọi lĩnh vực, không chỉ

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, thấu hiểu phongtục tập quán, tâm tư, nguyện vọng của người dân mà còn phải có kiến thứcquản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, …Cókhả năng tiếp nhận và xử lý thông tin nhạy bén phục vụ cho công tác lãnh

Trang 19

đạo, quản lý ở cơ sở; đồng thời qui tụ được quần chúng tin tưởng vào sự lãnhđạo của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương Có như vậy mới đápứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay.

1.1.3 Thực chất hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở

Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp cơ sở ở nước ta

có vai trò, nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương Họ là người đóng vai trò quantrọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực hoạt động ở cơ sở Đểthực hiện được vai trò lãnh đạo, quản lý đối với quần chúng, cán bộ chủ chốtcấp cơ sở thực hiện những hoạt động cụ thể sau:

Thứ nhất, hoạt động ra quyết định

Ra quyết định là một dạng hoạt động lý luận của người lãnh đạo, quản

lý Đó là quá trình tư duy tìm ra những giải pháp, bước đi để nhằm đưa đốitượng quản lý từ trạng thái này sang trạng thái khác, phù hợp với nhiệm vụquản lý, là sự phát hiện mâu thuẫn giữa tình huống quản lý với đòi hỏi nhiệm

vụ phải thực hiện, dựa vào các nguồn lực để lựa chọn và tìm ra phương án tối

ưu để giải quyết chúng Suy cho cùng, hiệu quả của quyết định lãnh đạo, quản

lý phụ thuộc vào nhận thức của người lãnh đạo, vào mức độ luận cứ khoa họccủa nó

Để ra quyết định, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có nhận thứcđúng vấn đề thực tiễn nảy sinh, dựa trên cơ sở đó mới đưa ra những quyếtđịnh đúng Không thể có quyết định đúng khi nhận thức sai lệch hiện thựckhách quan và vấn đề đặt ra từ thực tiễn Quyết định theo ý muốn chủ quan,

áp đặt sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Như vậy, quyết định là sản phẩmsáng tạo và là phương tiện quan trọng để người lãnh đạo, quản lý thực hiệnchức trách của mình Người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở thường ra quyết định

và trực tiếp tổ chức thực hiện quyết định Các nghị quyết của cấp ủy cơ sở

Trang 20

cũng phải được thông qua, ký ban hành và tổ chức thực hiện, mặc dù phải trảiqua nhiều khâu, nhiều bước khác nhau Cho nên, việc suy nghĩ, tìm hiểu, lựachọn nhằm đưa ra quyết định đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi trongthực tiễn là nhiệm vụ chính trị nặng nề của cán bộ lãnh đạo, quản lý Bởi vì,thực tiễn luôn vận động, phát triển, phát sinh những vấn đề mới, do đó đòi hỏicán bộ lãnh đạo, quản lý phải là người có đầy đủ năng lực nhận thức, từ đóđưa ra các quyết định phù hợp Thông qua các quyết định của họ, nó có tácđộng trực tiếp đến mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội tại cơ sở, cóthể thúc đẩy hoặc cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở

Để hoạt động lãnh đạo, quản lý có hiệu quả thì việc ra quyết định đúngđắn, kịp thời và khả thi là một yêu cầu tiên quyết, có tính chất bắt buộc Cónghĩa là sự phát triển của thực tiễn, của kinh tế xã hội ở địa phương phụthuộc rất nhiều vào việc ra quyết định đúng đắn hay sai lầm của cán bộ chủchốt cấp cơ sở Quyết định đúng sẽ thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển,ngược lại quyết định không chính xác, thiếu tính khả thi sẽ gây lãng phí cácnguồn lực của địa phương và thậm chí kéo dài lịch sử phát triển của địaphương Do đó, để đưa ra quyết định, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phảiđầu tư nghiên cứu, bám sát điều kiện lịch sử - cụ thể ở địa phương Trên cơ

sở đó, người cán bộ lãnh đạo, quản lý mới có thể phát hiện ra những vấn đềcần giải quyết và kịp thời đưa ra các giải pháp Các quyết định lãnh đạo,quản lý chỉ sát hợp, khả thi khi nó được xây dựng trên cơ sở thực tiễn củađịa phương chứ không phải do ý muốn chủ quan, duy ý chí của cán bộ lãnhđạo, quản lý mang lại Có được như vậy đòi hỏi cán bộ lãnh đạo quản lýphải hết sức nhạy bén, tỉnh táo trong việc nắm bắt và xử lý thông tin để cóthể phân tích, tổng hợp, đánh giá một cách kịp thời, chính xác các vấn đề

mà thực tiễn đặt ra; phải am hiểu tường tận địa bàn mình quản lý; phải gầndân, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của nhân dân; phải nắm đượctâm lý của những người sẽ thực hiện quyết định và những người có liên

Trang 21

quan đến kết quả thực hiện quyết định của mình đưa ra

Hoạt động thực tiễn ở địa phương tương đối phong phú Phù hợp với

nó, quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở cũng có nhiều loại khácnhau Có những quyết định mang tính chất chung cho địa phương như quyếtđịnh phát triển kinh tế - xã hội, quyết định thực hiện chính sách, giữ vững anninh chính trị, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh Bên cạnh nhữngquyết định chung còn có những quyết định mang tính chất riêng từng lĩnhvực, từng ngành cụ thể ở địa phương như công tác cán bộ, vốn, tài chính,chăm sóc sức khỏe cho nhân dân… Do đó, để ra quyết định, người cán bộlãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải xác định được nội dung cụ thể của việc raquyết định, đặc điểm, tình hình vấn đề ra quyết định từ đó đưa ra quyết địnhđúng và trúng

Một điểm quan trọng trong quá trình ra quyết định mà người cán bộlãnh đạo, quản lý phải lưu ý đó chính là đối tượng thực hiện quyết định Đốivới cơ sở, đối tượng của quyết định hướng tới chính là các hoạt động thực tiễncủa quần chúng nhân dân Chính vì vậy, quyết định của người lãnh đạo quản

lý không chỉ cần sự sát hợp với thực tiễn địa phương mà còn phải phù hợp vớinguyện vọng của quần chúng, đáp ứng được nguyện vọng của quần chúngnhân dân, phù hợp với văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương Khi đóquyết định mới có tính khả thi, mới mang lại hiệu quả cao

Thứ hai, hoạt động tổ chức thực hiện quyết định

Sau khi ra quyết định, nhiệm vụ tiếp theo mà người cán bộ lãnh đạo,quản lý cần thực hiện là tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện quyếtđịnh Đây là một khâu quan trọng trong lãnh đạo, quản lý Bởi, nếu khôngtiến hành tuyên truyền, phổ biến, tổ chức thực hiện thì mọi quyết định chỉ là

lý luận suông, không có ý nghĩa và giá trị thực tiễn Giá trị của các quyết địnhchỉ có được khi nó được quần chúng nhân dân biết, hiểu, tin tưởng và sử dụnglực lượng vật chất thực hiện Vì vậy, muốn thực hiện các quyết định, trước hết

Trang 22

người lãnh đạo quản lý phải tổ chức tuyên truyền sâu rộng chủ trương, đườnglối phát triển kinh tế - xã hội của địa phương vào trong quần chúng nhân dân,đồng thời tổ chức bộ máy cán bộ, sử dụng và bố trí cán bộ phù hợp để thựchiện quyết định Quá trình bố trí và sử dụng cán bộ hiệu quả đòi hỏi ngườicán bộ lãnh đạo, quản lý phải có trình độ lý luận và kinh nghiệm lãnh đạo,quản lý nhằm truyền đạt quyết định, biến quyết tâm của người ra quyết địnhthành quyết tâm của người thực hiện quyết định - biến khả năng thành hiệnthực giữa lý luận và thực tiễn Đồng thời, người lãnh đạo, quản lý phải dựđoán về xu hướng vận động của những sự kiện, nghĩa là những tình huống cóthể xảy ra để chuẩn bị biện pháp ngăn chặn những thay đổi bất lợi của tiếntrình Điều này có liên quan trực tiếp đến việc giao nhiệm vụ cho từnng cán

bộ thực hiện cụ thể, điều khiển trực tiếp tổ chức quá trình thực tiễn Muốnvậy, người lãnh đạo, quản lý phải năng động, sáng tạo, có bản lĩnh, có nănglực chuyên môn và phải xuất hiện đúng lúc, đúng nơi cần thiết trong quá trìnhthực hiện quyết định Đây là vấn đề rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến

sự thành bại của quá trình tổ chức thực tiễn Sự xuất hiện của người lãnh đạo

là điều rất quan trọng và cần thiết để giải quyết kịp thời những khó khăn, trởngại, động viên, khuyến khích kịp thời những thành tích và sáng kiến củanhững người thực hiện Trong thực tế, các quyết định ở cơ sở được thực hiệnnhanh chóng hay không, chất lượng và hiệu quả đến đâu phụ thuộc rất nhiềuvào yếu tố này Không ai có thể thay thế được người lãnh đạo, quản lý trongkhả năng nắm bắt nhạy bén, sáng suốt, chu đáo trước sự cảm nhận trực tiếpcủa người lao động Ngoài việc người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần có nănglực chuyên môn, biết tổ chức thực hiện quyết định thì bản thân họ phải gươngmẫu đi đầu trong mọi công việc Hồ Chí Minh từng cho rằng “…một tấmgương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [35, tr.263]

Nhưng, quá trình tổ chức thực hiện không chỉ phụ thuộc vào người lãnhđạo, quản lý Để đạt được mục tiêu đề ra của quyết định, đòi hỏi phải có bộ

Trang 23

máy và con người tổ chức thực hiện Bộ máy cán bộ ở đây đóng vai trò là lựclượng tổ chức trực tiếp, điều khiển trực tiếp các quá trình thực hiện quyếtđịnh Nói tới bộ máy là nói tới con người vì con người là chủ thể của bộ máy.

Ở đây là đảng viên và quần chúng nhân dân Chính họ đóng vai trò chủ thểtrong quá trình tổ chức thực tiễn Nếu không có bộ máy và con người tổ chứcthực hiện thì sẽ không có quá trình tổ chức thực tiễn, các quyết định sẽ khôngđược thực hiện trong thực tế Muốn quyết định đạt được hiệu quả đòi hỏi bộmáy thực hiện phải là những cán bộ năng động, sáng tạo, nắm bắt được bảnchất nội dung quyết định, có thể nhanh chóng đưa ra các giải pháp thay thếkhi quá trình triển khai thực hiện quyết định nảy sinh những tình huống khókhăn Quá trình tổ chức thực hiện phải đảm bảo được sự đồng bộ, đoàn kết,thống nhất cao độ giữa người cán bộ và nhân dân, những người trực tiếp thựchiện quyết định Bởi chỉ có sự thống nhất, đoàn kết bộ máy tổ chức mới cóthể vận hành tốt, đạt được kết quả cao

Bên cạnh đó,tính khả thi của quyết định, hiệu quả của tổ chức thực hiệnquyết định phụ thuộc cả vào việc người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sởbiết sử dụng các lợi thế của địa phương vào triển khai thực hiện Việc tận dụng,khai thác thế mạnh của địa phương vào thực hiện quyết định không chỉ giúp rútngắn thời gian triển khai mà còn giúp tiết kiệm các nguồn lực vật chất

Như vậy, đối với hoạt động tổ chức thực hiện quyết định muốn có kếtquả cao phải kết hợp hài hòa nhiều yếu tố, từ người lãnh đạo, quản lý đếnngười trực tiếp thực hiện, từ cán bộ đến nhân dân, từ con người đến những lựclượng vật chất cụ thể Các yếu tố ấy phải thống nhất với nhau thì bộ máy tổchức thực hiện mới tốt Trong đó, vai trò lãnh đạo, quản lý của người cán bộchủ chốt cấp cơ sở vẫn là quan trọng nhất

Thứ ba, vấn đề tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện quyết định.

Tổng kết thực tiễn là một khâu không thể thiếu trong quá trình hoạtđộng thực tiễn của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Vì tổng kết thực tiễn là

Trang 24

quá trình phân tích và khái quát những vấn đề thực tiễn để rút ra bài học chochỉ đạo tiếp theo cũng như bổ sung, phát triển lý luận nói chung, chủ trươngđường lối, chính sách nói riêng Không có tổng kết thực tiễn thì không có lýluận, không có lý luận thì không có phong trào cách mạng Đối với người cán

bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện quyếtđịnh đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo,quản lý Thông qua tổng kết thực tiễn, giúp người cán bộ lãnh đạo, quản lýđưa ra những quyết định phù hợp với thực tế ở địa phương mình Thông quatổng kết thực tiễn họ mới có điều kiện phân tích, so sánh tổng hợp để thấyđược những gì đã đạt được, những khó khăn, hạn chế, những vướng mắc màquá trình tổ chức thực hiện quyết định gặp phải Tổng kết thực hiện quyếtđịnh giúp phát hiện ra những vấn đề thực tiễn đặt ra chưa được giải quyết,những quyết định chưa phù hợp, chưa hiệu quả cần phải sửa đổi, bổ sung Mặtkhác, chính thông qua quá trình tổng kết thực hiện quyết định mỗi cán bộ lãnhđạo, quản lý có điều kiện để rèn luyện tư duy lý luận, tư duy biện chứng, khảnăng vận dụng lý luận vào thực tiễn, trên cơ sở đó nâng cao năng lực lãnhđạo, quản lý

Trong tổng kết thực hiện quyết định đòi hỏi người cán bộ lãnh đạoquản lý phải tuân thủ nguyên tắc khách quan Điều đó có nghĩa là việc tổngkết phải dựa trên những biểu hiện cụ thể của việc triển khai thực hiện quyếtđịnh, dựa trên những kết quả đạt được mà đánh giá cho chính xác, khôngđược tổng kết một cách cảm tính, tô hồng, hoặc bôi đen hiện thực khách quan.Nếu tổng kết thiếu khách quan thì những kết luận được rút ra cũng như xây dựngchương trình hành động cũng như cụ thể hóa đường lối, chính sách sẽ khôngchính xác vì sẽ bị bệnh kinh nghiệm hay bệnh chủ quan, duy ý chí chi phối

Yêu cầu tiếp theo của tổng kết thực hiện quyết định là những vấn đề lýluận được khái quát từ tổng kết phải đạt trình độ cao Quá trình tổng kết tổchức thực hiện đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện một quy trình

Trang 25

nhiều bước: Lựa chọn, xác định vấn đề tổng kết, thu thập thông tin liên quanđến quá trình tổng kết, tổ chức lực lượng cán bộ tham gia quá trình tổng kếtrút ra các bài học kinh nghiệm; vận dụng các bài học kinh nghiệm và tổ chứcthực hiện Để tổng kết có tính khái quát đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản

lý cấp cơ sở phải chọn vấn đề đúng và trúng, phải có năng lực tư duy lý luận

để phân tích, khái quát rút ra được những kết luận có có tính phổ biến, điểnhình và có giá trị thực tế cao, tức là có tác dụng định hướng, dẫn đường,chỉđạo hoạt động thực tiễn không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà cả ở giaiđoạn tiếp theo

Bên cạnh đó, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải xác địnhđược mục đích đúng đắn của việc tổng kết Tổng kết thực hiện quyết định đểđánh giá tính chính xác, phù hợp của nội dung quyết định đối với thực tiễn địaphương, để xác định phương án triển khai quyết định có hiệu quả hay không.Những kết luận rút ra từ quá trình tổng kết nhằm phục vụ mục đích chungphát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự ở địa phương chứ không vìquyền lợi, lợi ích của một cá nhân hay một nhóm người nào Mục đích đúngđắn thể hiện ở chỗ, những kết luận đó làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch,phương án thực hiện của hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tiếp theo Vớimục đích đó đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý tiến hành tổng kết mộtcách công tâm, khoa học để có những kết luận thực sự chính xác, khách quan.Khi đó quá trình tổng kết mới mang lại hiệu quả cho phát triển ở địa phương

Tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc thực hiện quyết định lãnh đạo,quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là vấn đề có vai trò hết sức quan trọng.Bởi vì, có tổng kết rút kinh nghiệm mới có thể rút ra được những bài học bổích trong quá trình lãnh đạo, quản lý Thực tế cho thấy, không phải mọi cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở nào cũng tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn một cách

có hiệu quả và có thể khái quát thành lý luận, mà chỉ có những cán bộ chủchốt có năng lực thật sự mới có thể rút ra được những tổng kết mang tính khái

Trang 26

quát cao, có giá trị trong hoạt động thực tiễn Từ đó, có thể nói rằng, sự hìnhthành và nâng cao tri thức là nhân tố quyết định đến năng lực, trí tuệ, phẩmchất của người cán bộ.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, người lãnh đạo, quản lý mới thấy đượcnhững ưu điểm và những hạn chế của quyết định cũng như quá trình tổ chứcthực hiện quyết định Chỉ trên cơ sở tổng kết thực tiễn, mới có thể kiểm nghiệm

sự đúng sai để có thể điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quyết định và tổ chức thựchiện quyết định Vì thế, quá trình tổng kết thực tiễn không chỉ được tiến hànhsau khi tổ chức thực hiện quyết định xong mà là quá trình diễn ra thường xuyên,ngay cả khi đang tiến hành tổ chức thực hiện Điều đó đảm bảo cho việc cán bộlãnh đạo, quản lý kịp thời phát hiện ra ưu điểm để phát huy, hạn chế để khắcphục Khi đó khâu tổ chức thực hiện mới thực sự đem lại hiệu quả

Như vậy, thực chất hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốtcấp cơ sở là tổ chức thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở địa phươngthông qua ba hoạt động cơ bản: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định vàtổng kết thực hiện quyết định Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ lãnh đạo, quản lýđòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải tăng cường nâng cao trình độ

lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Mặt khác, cán bộ lãnh đạo quản lýphải biết vận dụng lý luận một cách phù hợp với yêu cầu của thực tiễn ở địaphương, tăng cường tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý luận, đảmbảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong công tác lãnh đạo, quản lý

1.2 BIỂU HIỆN CỦA SỰ QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ

Khi bàn về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, triết học Mác - lênin

đã khẳng định lý luận và thực tiễn có sự tác động qua lại với nhau Trong tácphẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ăngghen đã viết:

Những quan điểm lý luận của những người cộng sản tuyệt nhiên

Trang 27

không dựa trên những ý niệm, những nguyên lý do một nhà cải cáchthế giới nào phát minh hay phát hiện ra Những nguyên lý ấy chỉ làbiểu hiện khái quát của những quan hệ thực tại của một cuộc đấutranh giai cấp hiện có, của một sự vận động lịch sử đang diễn ratrước mắt chúng ta [32, tr.615]

Như vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen, chỉ trên cơ sở lý luận được kháiquát, tổng kết từ thực tiễn mới không bị xa rời thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn

Tiếp thu tư tưởng của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủtịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là mộtnguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luậnhướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ vớithực tiễn là lý luận suông” [42, tr.496] Như vậy, thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biệnchứng: thực tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, địnhhướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng

vo, mù quáng mất thời gian Còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảysinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và được bổsung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn khái quát lý luậnkhoa học Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậuthuẫn, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn sẽ không có lý luận; ngượclại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương hướng

Cán bộ lãnh đạo, quản lý nếu coi thường lý luận, không chịu rèn luyện,học tập nâng cao lý luận chính trị, lý luận chuyên môn, lý luận khoa học,tuyệt đối hóa kinh nghiệm bản thân, kinh nghiệm cá biệt, cụ thể sẽ rơi vàobệnh kinh nghiệm Chính vì vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là người đitiên phong trong việc nắm được bản chất cách mạng, nội dung khoa học của

lý luận để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của địa phương làm cho lýluận có sức sống và phát triển, lý luận có giá trị thực tiễn Ngược lại, nếu cán

Trang 28

bộ lãnh đạo, quản lý tuyệt đối hóa lý luận, coi thường kinh nghiệm phổ biến

sẽ rơi vào bệnh giáo điều Vì vậy, mọi cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải quántriệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, hiểu và vận dụng đúngđắn mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Nguyên tắc đó đòi hỏicán bộ phải biết vận dụng lý luận vào thực tiễn, lý luận và thực tiễn phải điđôi với nhau, cán bộ lãnh đạo, quản lý nói phải đi đôi với làm, học đi đôi vớihành Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải trở thành bản chấtnội tại, nét đặc trưng không thể thiếu trong nhận thức và hoạt động lãnh đạo,quản lý của cán bộ chủ chốt cơ sở Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:

1.2.1 Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc ra quyết định

Trong tổ chức thực tiễn thì ra quyết định là khâu đầu tiên Người lãnhđạo, quản lý tất yếu phải gắn với việc ra quyết định và xem đó là một trongnhững chức năng của mình Bởi vì trong quá trình phát triển của thực tiễnluôn xuất hiện những vấn đề mới đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phảigiải quyết kịp thời Quá trình tổ chức thực tiễn có đạt hiệu quả thiết thực haykhông, điều đó trước hết phụ thuộc vào việc ra quyết định, đặc biệt là nhữngquyết định về phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến tình hìnhphát triển của địa phương Ra quyết định đúng, giải quyết được vấn đề cấpthiết của địa phương sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển.Ngược lại, những quyết định không đúng, không phù hợp sẽ kìm hãm sự pháttriển của kinh tế xã hội, thậm chí là gây ra những hậu quả khó lường Muốnvậy, người lãnh đạo, quản lý không chỉ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ màphải có một tư duy nhạy bén, nắm bắt kịp thời tình hình thực tiễn, có tư duy lýluận để thấy được xu hướng vận động của thực tiễn địa phương, từ đó đưa racác phương án phù hợp Trong quá trình chuẩn bị ra quyết định, cần có nhiềuphương án để từ đó lựa chọn phương án tốt nhất Chọn phương án tốt nhấtchính là nâng cao được khả năng thực hiện và hiệu quả thực hiện của quyết

Trang 29

định Vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn là trong việc chuẩn bị và thông quaquyết định phải đặc biệt chú ý tới yêu cầu cân đối của quá trình hoạt động đểđảm bảo hiệu quả cuối cùng của quyết định Xây dựng nhiều phương hướng,giải pháp, tổ chức bảo vệ các phương hướng, giải pháp Đó là cách làm chophép cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể chọn phương hướng, giải pháp tối ưu.

Như vậy, ra quyết định chính là hành động sáng tạo của người lãnhđạo, quản lý vào lúc mà thực tại đòi hỏi - tức là lúc có vấn đề nảy sinh - nhằmgiải quyết vấn đề, chuyển từ tình huống thực tại sang tình huống dự kiến, đápứng yêu cầu phát triển của cuộc cách mạng, thực hiện mục tiêu, ý đồ của lãnhđạo Để việc ra quyết định đúng và trúng đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý cấp

cơ sở phải vận dụng tốt mối quan hệ biện chứng giữa lý luận với thực tiễn địaphương, hay nói cách khác phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn

Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn trong việc raquyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở đòi hỏi phải đảm bảonhững nội dung sau:

Thứ nhất, quyết định đề ra phải phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước Quyết định phải xuất phát từ chỗ

hiểu vấn đề, hiểu xu hướng phát triển của sự vật Để nhận thức được sự vậtkhách quan, để hiểu biết quy luật khách quan, cần phải nắm vững các khoahọc trước hết là khoa học cách mạng của giai cấp công nhân tức là chủ nghĩaMác - Lênin Người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải là người nắmvững những nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, trên cơ sở đó đưa ra những quyếtđịnh phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương phù hợp với mục tiêu, lý tưởngcủa Đảng và Nhà nước Có nắm vững lý luận Mác - Lênin và đường lối củaĐảng mới có mốc định hướng đúng đắn khi lựa chọn phương án ra quyếtđịnh, mới có khả năng ngăn ngừa những sai lầm, nhất là trong các tình huống

Trang 30

phức tạp, mới tránh được sự tùy tiện, chủ quan trong quyết định

Thứ hai, Một quyết định được coi là chính xác bảo đảm được nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn khi nó giải quyết đúng vấn đề do thực tiễn địa phương đặt ra, do đó mà thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển Quyết định đúng bảo đảm sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

không thể dựa trên ý chí chủ quan hay tình cảm cá nhân mà hết sức kháchquan, xuất phát từ sự phát triển của thực tiễn Khi ra quyết định, người cán bộlãnh đạo, quản lý có tính đến tất cả các điều kiện vật chất và lực lượng vậtchất hiện có ở địa phương, cả truyền thống văn hóa, phong tục tập quán vàcác hoạt động khác có thể ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả thực hiện Quyếtđịnh phải phù hợp với nhu cầu nguyện vọng của quần chúng nhân dân, giảiđáp trúng và kịp thời những mâu thuẫn trong cuộc sống Đồng thời, đáp ứngkịp thời, đầy đủ sự phát triển hiện thực cuộc sống

Muốn ra quyết định chính xác, đúng, bảo đảm nguyên tắc thống nhấtgiữa lý luận và thực tiễn thì chủ thể ra quyết định phải nhận thức đúng, phảihiểu sâu sắc vấn đề thực tiễn cần giải quyết, hiểu nhu cầu của cuộc sống, mâuthuẫn của sự vật Không nắm vững những điều đó, thì không thể phát hiệnđược vấn đề, không thể biết lúc nào nên quyết định, quyết định về vấn đề gì,quyết định như thế nào, và đương nhiên khi cần lại không có quyết định, lúcquyết định sẽ không kịp thời, chính xác

Trái với quyết định đúng, một quyết định không đúng, không đảm bảo

sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn khi nó xuất phát đơn thuần từ nhữngmong muốn và suy nghĩ chủ quan, không phải từ nhu cầu thực tiễn của cuộcsống, từ quy luật của sự phát triển khách quan Do đó nó không liên quan gìđến việc giải quyết những mâu thuẫn thật sự nảy sinh trong sự phát triển.Những quyết định như vậy mang tính sách vở, giáo điều, chủ quan, xa rờicuộc sống

Có nhiều biểu hiện của quyết định không đúng, không bảo đảm sự

Trang 31

thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Đó có thể là một quyết định bảo thủ, rụt

rè, trì trệ, chậm trễ so với yêu cầu thực tiễn Hoặc đó là một quyết định có tính

ảo tưởng; cũng có thể đó là quyết định thoả hiệp, chung chung, “vô thưởng vôphạt”, không mang lại hiệu quả thực tế, một biến chuyển thực sự nào đối vớicuộc sống Quyết định mà chỉ thích ứng với tình hình trước mắt nhưng có hạicho tương lai, chỉ mang lại lợi ích bộ phận mà hại cho toàn cục thì cũng làquyết định không đúng, không bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn Hoặc đó là quyết định chỉ xuất phát từ sự tính toán đơn thuần vềkinh tế, không nhìn những hậu quả về chính trị, văn hoá, xã hội… Dù biểuhiện dưới dạng nào, nét đặc trưng của những quyết định không đúng, khôngbảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vẫn là ở chỗ khôngbắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, không hiểu đúng và đầy đủ hiện thực,không đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chân chính của nhân dân Quyết định

mà xa rời thực tế cuộc sống của quần chúng nhân dân chỉ là quyết định mangtính sách vở, lý luận suông đơn thuần

Vì vậy, để ra quyết định đúng thì cán bộ lãnh đạo, quản lý một mặt phảidựa vào lý luận Mác - Lênin và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước; mặt khác phải xuất phát, căn cứ từ yêu cầu thực tiễnđịa phương, cơ quan, ngành mình trong việc ra quyết định Ngoài ra, còn cầnđến tư duy lý luận để nắm quy luật không chỉ ở dạng trừu tượng mà trongnhững điều kiện cụ thể, trong cơ chế tác động của nó, khắc phục sự hiểu biếtđại khái, cách giải quyết chung chung giáo điều và công thức Để giải quyếtcác vấn đề cụ thể đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có tinh thần sángtạo, nhiệt tình với công việc, niềm say mê, trách nhiệm của bản thân

1.2.2 Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc tổ chức thực hiện quyết định

Tổ chức, thực hiện quyết định là hoạt động đưa quyết định của cán bộ

Trang 32

lãnh đạo quản lý vào triển khai trong thực tế Đây là bước tất yếu để lý luậntrở thành thực tiễn Tổ chức thực hiện quyết định chính là việc tuyên truyền,phổ biến, chương trình, kế hoạch thực hiện quyết định, đưa nội dung củaquyết định tới người dân, giúp cho quần chúng nhân dân biết, hiểu được trên

cơ sở đó họ mới tin tưởng và làm theo Nhưng tuyên truyền, phổ biến mới chỉ

là bước đầu trong tổ chức thực hiện, là bước giúp cho nghị quyết của cấp trênthâm nhập vào đời sống thực tế của từng người dân Bước quan trọng hơn đó

là triển khai thực hiện bằng những hoạt động thực tế Trên cơ sở căn cứ vàonội dung và mục đích của việc ra quyết định mà người cán bộ cần phải xácđịnh được lực lượng vật chất, con người, phương tiện, khoa học công nghệ đểthực hiện, xác định thời gian, thời điểm thực hiện một cách hợp lý và đặc biệt

là phải xác định được bộ máy cán bộ thực hiện quyết định

Có thể nói, việc tổ chức bộ máy, bố trí và sử dụng cán bộ thực hiện cóvai trò quyết định đến sự thành bại của quá trình tổ chức thực tiễn Họ đóngvai trò là lực lượng tổ chức trực tiếp, điều khiển trực tiếp quá trình tổ chứcthực tiễn Nói tới bộ máy là nói tới con người, bởi con người là chủ thể của bộmáy Mà ở đây là các cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân Chính họđóng vai trò chủ thể trong quá trình tổ chức thực tiễn

Việc tổ chức bộ máy, bố trí và sử dụng cán bộ thực hiện các quyết định

có phát huy được năng lực và đạt kết quả hay không phụ thuộc rất lớn vào vaitrò tổ chức của người cán bộ lãnh đạo, quản lý Người lãnh đạo phải dựa vàonội dung cụ thể của quyết định mà lựa chọn cán bộ và sử dụng họ nhằm hoànthành tối ưu các quyết định đã được đề ra Do đó, trong công tác cán bộ,người lãnh đạo, quản lý phải biết tùy việc, tùy người mà bố trí Có như vậy,trong tổ chức thực hiện mới phát huy, khai thác hết tiềm năng của họ

Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý khi tổ chức thực hiện quyết định một mặt phải căn cứ vào chính sách pháp luật, mặt khác phải căn cứ vào điều kiện cụ thể

Trang 33

của địa phương mình Điều kiện cụ thể của địa phương chính là điều kiện về

mặt không gian, thời gian Cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải xác địnhđược thời gian nào thực hiện quyết định hiệu quả nhất, quyết định ấy có hiệulực đối với những đối tượng nào Điều kiện vật chất, kỹ thuật cũng là một yếu

tố quan trọng để cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở xem xét tổ chức thựchiện Tùy vào điều kiện vật chất hiện có của địa phương mà người cán bộ lãnhđạo, quản lý cấp cơ sở lựa chọn phương án triển khai cho phù hợp Các khâu, cácbước tuyên truyền, triển khai phải rõ ràng cụ thể Có như vậy việc vận dụng chủtrương, chính sách pháp luật mới đi vào cuộc sống kịp thời, những quyết định và

tổ chức thực hiện quyết định mới nhanh chóng và chính xác với từng giai đoạnphát triển của địa phương Do đó, cán bộ lãnh đạo, quản lý cần có sự nhạybén để nắm bắt được tình hình cụ thể khi tổ chức thực hiện quyết định

Để đảm bảo thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tổ chức thực hiện quyết định đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết sắp xếp sử dụng đúng người, đúng việc, bố trí người thực hiện một cách khoa học Điều

này thể hiện ở chỗ sử dụng đúng người, đúng việc, đúng chuyên môn Trong

tổ chức, thực hiện quyết định, sử dụng cán bộ phù hợp với năng lực, trình độ

là một yêu cầu quan trọng Đây là khâu quyết định đến kết quả thực hiệnquyết định Nếu không có bộ máy và con người thực hiện quyết định thìkhông có quyết định được thực hiện trong thực tế Nếu như bộ máy và conngười ấy không phù hợp, không có trình độ, năng lực thì cũng không thể triểnkhai được quyết định một cách khả thi Sự thống nhất giữa lý luận và thựctiễn của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức thực hiện quyết định đòi hỏi phảitránh xa tư duy chủ quan duy ý chí, điều động cán bộ theo cảm tính, tình cảm cánhân, cục bộ địa phương không quan tâm đến năng lực, phẩm chất, sự phù hợphay không phù hợp của cán bộ, tổ chức bộ máy cán bộ thiếu khoa học

Để đảm bảo thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tổ chức thựchiện quyết định đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo, quản lý cần tổ chức tuyên

Trang 34

truyền rộng rãi hiệu quả các quyết định phát triển kinh tế - xã hội của địaphương vào quần chúng nhân dân để quần chúng nhân dân hiểu, tin tưởng vàlàm theo Bởi mục tiêu của các quyết định đều nhằm phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương, nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.Chính quần chúng nhân dân là lực lượng chủ yếu để thực hiện và thụ hưởngkết quả của những quyết định Vì vậy, làm cho nhân dân hiểu, tin tưởng vàocác quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở, họ sẽ đồng tâm, đồnglòng cùng cán bộ thực hiện quyết định Khi đó, việc triển khai quyết định sẽnhanh chóng và hiệu quả hơn.

1.2.3 Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp cơ sở trong việc tổng kết thực hiện quyết định

Tổng kết thực hiện quyết định là một khâu không thể thiếu trong công táclãnh đạo Có tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện các quyết định thì người lãnhđạo, quản lý mới có cái nhìn tổng thể từ việc ra quyết định đến việc tổ chức thựchiện các quyết định một cách hoàn chỉnh Qua đó mới đánh giá được toàn diệnnhững thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, trên cơ sở đó đưa ranhững giải pháp phù hợp tiếp theo cho tổ chức thực tiễn Mặt khác, thông quatổng kết rút kinh nghiệm mà người lãnh đạo, quản lý đánh giá được đúng nănglực, trình độ, phẩm chất của đội ngũ cán bộ thuộc quyền mình quản lý

Ở đây chúng ta phải đánh giá đúng tầm quan trọng tổng kết rút kinhnghiệm, tuyệt đối tránh hình thức, thành tích và chủ quan trong tổng kết thựctiễn Tổng kết rút kinh nghiệm là nhằm chỉ ra những cái đã làm được và chưalàm được, đánh giá đúng nguyên nhân tồn tại, yếu kém của nó Đồng thời quatổng kết phải rút ra được những bài học kinh nghiệm cho tổ chức thực tiễntiếp theo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Công việc gì bất cứ thành cônghay thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tích thật rõ ràngrồi mới kết luận Kết luận đó là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp

Trang 35

cán bộ tiến tới" [39, tr.243].

Từ tổng kết rút kinh nghiệm về việc ra quyết đinh, việc tổ chức thựchiện quyết định, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải biết vận dụng các bài học kinhnghiệm để ra quyết định mới ngày càng phù hợp hơn với tình hình địa phương

mà mình phụ trách Trên cơ sở đó thúc đẩy kinh tế - xã hội ở địa phương pháttriển Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tổng kết thực hiện quyếtđịnh thể hiện ở những điểm sau:

Việc tổng kết tổ chức, thực hiện quyết định phải trên cơ sở thực tiễn của địa phương Đây là một yêu cầu cơ bản của công tác tổng kết Bởi vì quá

trình tổng kết tổ chức thực hiện quyết định chính là việc kiểm tra hiệu quảtriển khai trong thực tiễn đến đâu, từ đó xác định được tính đúng đắn củaquyết định, tính chính xác, hợp lý của khâu tổ chức thực hiện quyết định Vậynên, khách quan trong tổng kết thực tiễn là một yêu cầu bắt buộc Chỉ có thực

sự dựa trên hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân ở địa phươngmình mới có đánh giá đúng, chính xác các quyết định và tổ chức thực hiệnquyết định Mặt khác, chính kết quả của việc tổng kết thực hiện quyết định

sẽ được dùng làm căn cứ cho việc ra quyết định cũng như việc thực hiệnquyết định tiếp theo Nếu việc tổng kết thực tiễn máy móc, siêu hình,không dựa trên hoạt động thực tiễn của quần chúng nhân dân địa phươngmình mà sao chép, làm hình thức, chỉ thấy thành tựu, không thấy nhữngthiếu sót của địa phương mình thì những kết luận rút ra cũng như việc raquyết định, thực hiện quyết định sẽ không chính xác, không mang lại hiệuquả Việc tổng kết hiệu quả thực hiện quyết định mà theo kiểu tô hồng hoặcbôi đen, chủ quan duy ý chí đều vi phạm nguyên tắc khách quan, xa rờithực tế Trong tổng kết, phải xác định được tầm quan trọng của việc tổngkết thực tiễn, đó là từ tổ chức thực hiện mà thấy được những gì đã làmđược, những gì chưa làm được, chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủquan, từ đó tìm ra những phương pháp hiệu quả cho những hoạt động tiếp

Trang 36

theo Do đó việc tổng kết phải vận dụng quan điểm toàn diện, phân tíchkhách quan, phải có thái độ trung thực, thẳng thắn, tôn trọng sự thật, nhìnthẳng vào sự thật để đánh giá chính xác thực tiễn, không rơi vào bệnhthành tích, chủ nghĩa cá nhân Cần khắc phục tình trạng là khi phân tích,đánh giá tình hình hoặc là chỉ đổ lỗi cho hoàn cảnh khách quan, hoặc là chỉ

đổ lỗi cho những thiếu sót, khuyết điểm chủ quan

Những lý luận rút ra từ công tác tổng kết thực tiễn phải phản ánh được bản chất của vấn đề Đây là yêu cầu thứ hai không thể thiếu được trong công tác tổng kết Muốn vậy, cán bộ lãnh đạo, quản lý phải lựa chọn thực tiễn điển

hình, tránh rơi vào tổng kết những thực tiễn vụn vặt Trên cơ sở đó, những kếtluận rút ra được nâng lên tầm lý luận, chứ không phải là những kết luận vụnvặt, do đó kết luận có giá trị chỉ đạo cho hoạt động ra quyết định và tổ chứcthực hiện tiếp theo, ngăn ngừa, khắc phục được bệnh kinh nghiệm Qua phântích các sự kiện thực tế trong quá trình triển khai thực hiện, phải nắm đượcbản chất của sự việc, những quan hệ bản chất nhất có giá trị cho việc chỉ đạo

tổ chức thực hiện tiếp theo cũng như cho việc bổ sung, hoàn thiện chính sách

Từ đó mới có thể khẳng định được những quan điểm cơ bản nhất để chỉ đạohoạt động thực tiễn, góp phần định hướng bổ sung, hoàn thiện chủ trương,chính sách

Tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tổng kết tổ chức, thực hiện quyết định phải nhằm chỉ đạo hoạt động thực tiễn tiếp theo và thực hiện

vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội

ở địa phương Tổng kết nhằm rút ra kinh nghiệm, tìm ra những hạn chế, thiếu

sót để kịp thời sửa chữa, khắc phục và bổ sung những thiếu sót của khâu raquyết định và khâu tổ chức thực hiện quyết định, giúp cho những bước thựchiện tiếp theo hiệu quả hơn Do đó, tổng kết thực tiễn trong trường hợp nàocũng phải đảm bảo được mục đích đúng đắn, tránh phục vụ cho lợi ích vị kỷ,

cá biệt của một nhóm người hay một cá nhân nào đó Mọi biểu hiện xa rời

Trang 37

mục tiêu này như chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thành tích, chủ nghĩa chủquan, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa xét lại, tư tưởng cục bộ địa phương, cục

bộ ngành đều làm cho hoạt động tổng kết biến dạng

Do yếu kém về năng lực tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình tổchức thực hiện quyết định nên phần lớn cán bộ chủ chốt cơ sở khi tổng kết rútkinh nghiệm chỉ dừng lại ở mức độ kinh nghiệm, mang tính hình thức bênngoài, chưa đạt được ở tầm lý luận Trong đánh giá việc tổng kết, chưa thật sựnhìn thẳng vào sự thật, không dám nói ra khuyết điểm của mình và cũngchính vì lợi ích trước mắt và vì hạn chế về trình độ, năng lực nên việc tổngkết rút kinh nghiệm còn sơ sài, đại khái, qua loa, chứ chưa tìm ra được vấn đềtrọng tâm để chỉ đạo thực tiễn trong các giai đoạn tiếp theo, chưa đánh giámột cách đúng đắn sự phát triển trong từng lĩnh vực cụ thể tại cơ sở Trongtổng kết rút kinh nghiệm, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa rút ra đượcnhững bài học kinh nghiệm có giá trị khoa học về mặt lý luận, làm cơ sở choquá trình nhận thức, chỉ đạo, định hướng hoạt động thực tiễn trong các giaiđoạn tiếp theo Vì vậy, quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thựctiễn trong tổng kết tổ chức thực hiện quyết định là rất cần thiết, nó giúp chođường lối chính sách của Đảng, Nhà nước đi vào cuộc sống có hiệu quả caonhất và có thể tiếp tục rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để chỉ đạohoạt động thực tiễn ở những giai đoạn tiếp theo

Như vậy trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở luôn thực hiện nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn sẽ mang lạithắng lợi to lớn Nó giúp cho mọi hoạt động ra quyết đinh, tổ chức thực hiện

và tổng kết quá trình thực hiện luôn gắn với sự biến đổi phong phú của thựctiễn ở địa phương Nhờ đó mà nội dung, mục đích của các quyết định đặt raphù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, mang lại hiệu quả tích cựctrong phát triển kinh tế xã hội Quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn sẽ giúp cho người cán bộ lãnh đạo quản lý xa rời bệnh kinh

Trang 38

nghiệm, bệnh giáo điều, xa rời chủ nghĩa quan liêu, thành tích

1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC QUÁN TRIỆT THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA CÁN

ro Tuy nhiên, không vì thế mà tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, nếukhông sẽ mắc phải sai lầm trong hoạt động thực tiễn Những người tuyệt đốihoá kinh nghiệm, sử dụng kinh nghiệm sẵn có áp dụng cho mọi trường hợp sẽmắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa Bệnh kinh nghiệm được hiểu là khuynhhướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi kinh nghiệm làyếu tố duy nhất quyết định thành công Người mắc bệnh kinh nghiệm coithường, hạ thấp vai trò của lý luận, họ chỉ biết xem xét sự thật một cách chấtphác, giản đơn thuần tuý ngoài các mối liên hệ và như vậy không thể khôngdẫn đến sai lầm Họ vận dụng kinh nghiệm để giải quyết vấn đề một cách máymóc dẫn đến áp đặt kinh nghiệm trong nhận thức cũng như trong thực tiễn

Về bản chất, bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa là căn bệnh tuyệt đối hóa kinhnghiệm cá biệt, cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biết và ápdụng cho mọi trường hợp, mọi điều kiện, hoàn cảnh Những người mắc bệnh

Trang 39

kinh nghiệm thường lấy sự từng trải của bản thân, kinh nghiệm của bản thânlàm tiêu chí duy nhất cho sự nhận thức và hành động Họ không nhận thứcđược những kinh nghiệm của bản thân chỉ có ý nghĩa cục bộ chứ không mangtính phổ biến tất yếu Những kinh nghiệm ấy chỉ là sự khái quát một thực tiễn,một hoàn cảnh cụ thể, trong nhiều trường hợp nó mới chỉ phản ánh được cái

bề ngoài ngẫu nhiên Những người mắc bệnh kinh nghiệm thường là nhữngngười nắm lý luận một cách chắp vá, cho nên họ càng hạ thấp lý luận

Hiện nay ở nước ta bệnh kinh nghiệm tương đối phổ biến Không ít cán

bộ, đảng viên chỉ dừng ở những kinh nghiệm sẵn có của bản thân, ngại học lýluận, ngại tiếp thu tri thức khoa học Những cán bộ ấy quên rằng “kinhnghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉthiên về một mặt mà thôi Có kinh nghiệm mà không có lý luận giống nhưmột mắt sáng một mắt mờ” [39, tr.234] Những cán bộ theo xu hướng nàythường coi thường côn tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ Họcoi thường chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật cho nên khi giảiquyết công việc thường theo kinh nghiệm có tính chất chủ quan của mình Cáinhìn của họ thường ở phạm vi hẹp, không nhìn xa trông rộng, giải quyết sựviệc có tính chất sự vụ, không theo những nguyên tắc khoa học

Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở biểu hiện cụ thể như sau:

Trong hoạt động ra quyết định, cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở thực

hiện một cách mò mẫm, tuỳ tiện, gặp đâu hay đó, ra quyết định chỉ dựa trênkinh nghiệm bản thân Các quyết định đưa ra còn thiếu dự kiến, chỉ thấy việctrước mắt, không thấy việc lâu dài, thấy cục bộ, bộ phận mà không thấy tổngthể, thấy cái riêng mà không thấy cái chung Trước những biến đổi của thựctiễn, những cán bộ này tỏ ra bỡ ngỡ, lúng túng, bối rối không ra được cácquyết định một cách kịp thời Nếu có ra được các quyết định thì cũng theokinh nghiệm cá nhân, không phản ánh được bản chất những vấn đề đang bức

Trang 40

xúc của thực tiễn địa phương Đây cũng chính là một nguyên nhân ảnh hưởngtới chất lượng của những quyết định khi đề ra chưa phản ánh hết tình hìnhthực tế địa phương.

Trong thực tế ở cơ sở, việc ra quyết định của người lãnh đạo, quản lýthường xuất phát từ việc phân tích đặc điểm, tình hình một cách sơ sài, lấynhững thuận lợi và khó khăn, cái được của cái có trước, thời kỳ trước để ápdụng cho hiện tại và tương lai, bỏ qua hoặc coi nhẹ việc phân tích, xác định rõnhững đặc điểm, những biến đổi đang diễn ra của quá trình kinh tế - xã hội,điều đó làm hạn chế chất lượng và tính khả thi của quyết định

Đối với hoạt động tổ chức thực hiện quyết định, người cán bộ lãnh đạo,

quản lý mắc bệnh kinh nghiệm thường triển khai nghị quyết một cách chungchung, tùy tiện, gặp đâu làm đấy, không có kế hoạch cụ thể, không có cơ sởkhoa học Họ thường giải quyết công việc theo lối mòn, theo kinh nghiệm vụnvặt của bản thân mà không chịu vận dụng lý luận khoa học vào thực tiễn.Chính điều đó dẫn đến tình trạng sản xuất ở địa phương manh mún, thiếukhoa học và rơi vào sự trì trệ, nếu có phát triển thì sự phát triển ấy thiếu tínhbền vững

Trong tổng kết thực tiễn, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở

thường dừng lại ở mức độ kinh nghiệm mang tính hình thức bên ngoài Donăng lực tư duy yếu kém nên họ nhìn nhận vấn đề thiếu tính khái quát, tính hệthống, thiếu chính xác, chặt chẽ, thiếu toàn diện Vì vậy, những kết luận mangtính vụn vặt, chưa nâng lên tầm lý luận

Để có một quyết định đúng đắn, khả thi, triển khai thực hiện có hiệuquả và tổng kết được bản chất của vấn đề, người lãnh đạo, quản lý cần thấyhết khả năng, xu hướng vận động của thực tiễn, đánh giá đúng hành động củamình để bố trí con người và các nguồn lực khác một cách hợp lý giúp cấpdưới thực hiện tốt quyết định Muốn vậy, cần phải cân nhắc kỹ lưỡng các điềukiện, tình huống, hoàn cảnh, đảm bảo tính lý luận đúng đắn của quyết định,

Ngày đăng: 19/07/2022, 12:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Chí Bảo (1988), “Từ tư duy kinh nghiệm tới tư duy lý luận”, Tạp chí Thông tin lý luận, (6), tr.54 - 62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tư duy kinh nghiệm tới tư duy lý luận”, "Tạpchí Thông tin lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1988
3. Nguyễn Đức Bình (1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiệnnay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1992
4. Nguyễn Đức Bình (1983), Mấy vấn đề về tổ chức thực tiễn, Tập 4, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề về tổ chức thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: NxbSự thật
Năm: 1983
5. Bộ Chính trị (1992), Nghị quyết số 01 của Bộ Chính trị khoá VII về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01 của Bộ Chính trị khoá VII về côngtác lý luận trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Triết học dùng cho nghiên cứu sinh và cao học không thuộc chuyên ngành, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học dùng cho nghiên cứu sinh vàcao học không thuộc chuyên ngành
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
7. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhlần thứ XIV
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Năm: 2001
8. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, Ninh Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnhlần thứ XX
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Ninh Bình
Năm: 2011
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện đại đội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại đội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba BanChấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986- 2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986- 2006)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại đội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Năm: 2011
15. Nguyễn Trọng Điều (2002), “Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý - một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý hiện nay”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý -một yêu cầu bức thiết trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ lãnhđạo và quản lý hiện nay”, "Tạp chí Tổ chức nhà nước
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Năm: 2002
16. Nguyễn Trọng Điều (2007), “Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức”, Tạp chí Cộng sản, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chế độ công vụ và nâng caochất lượng đội ngũ công chức”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Trọng Điều
Năm: 2007
18. Lương Việt Hải (1999), "Một số nguyên tắc phương pháp luận trong vận dụng quan hệ lý luận và thực tiễn", Tạp chí Triết học (5), tr.24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên tắc phương pháp luận trong vậndụng quan hệ lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lương Việt Hải
Năm: 1999
19. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2001), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trìnhtriết học Mác - Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
20. Nguyễn Thị Huệ (2007), Thông tin với hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thanh Hoá, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin với hoạt động lãnh đạo, quản lý củacán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở tỉnh Thanh Hoá
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2007
21. Nguyễn Duy Hùng (2008), Luận cứ khoa học và một số giải pháp xây dựng đội ngũ lãnh đạo cán bộ phường hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học và một số giải pháp xâydựng đội ngũ lãnh đạo cán bộ phường hiện nay
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốcgia
Năm: 2008
22. Vũ Nhật Khải (1996), “Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của giai đoạn mới”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo đội ngũ cánbộ lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của giai đoạnmới”, "Tạp chí Nghiên cứu lý luận
Tác giả: Vũ Nhật Khải
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w