13 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2 1 Nhận thức về lý luận và thực tiễn 2 1 1 Nhận thức về lý luận 2 1 2 Nhận thức về thực tiễn 3 2 Nhận thức của Đảng ta về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn[.]
Trang 1NỘI DUNG 2
1 Nhận thức về lý luận và thực tiễn 2
1.1 Nhận thức về lý luận 2
1.2 Nhận thức về thực tiễn 3
2 Nhận thức của Đảng ta về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 5
3 Vận dụng đối với bản thân 10
KẾT LUẬN 12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 2MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”5 Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng: thực tiễn cần tới lý luận (khoa học) soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để không mắc phải bệnh kinh nghiệm, không rơi vào mò mẫm, vòng
vo, mù quáng mất thời gian Còn lý luận (khoa học) phải dựa trên cơ sở thực tiễn, nảy sinh từ thực tiễn, phản ánh thực tiễn, luôn liên hệ với thực tiễn và được bổ sung, hoàn thiện, phát triển thông qua tổng kết thực tiễn có lý luận nếu không sẽ mắc phải bệnh giáo điều Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau Không có thực tiễn
sẽ không có lý luận; ngược lại, không có lý luận thì thực tiễn sẽ mất phương hướng Vì vậy, hiểu rõ lý luận và thực tiễn, cũng như nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với việc phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội của Đảng, để từ đó vận dụng vào công việc của bản thân là yêu cầu hiết sức
quan trọng trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ lý do trên em chon chủ đề
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam” để làm bài thu
hoạch môn Triết học Mác – Lênin
Trang 3NỘI DUNG
1 Nhận thức về lý luận và thực tiễn
1.1 Nhận thức về lý luận
Lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: ‘‘Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm
tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu”6 Để hiểu đ-ược tính tất yếu, bản chất của sự vật, con người phải khái quát những tri thức kinh nghiệm thành lý luận Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”5 Lý luận được hình thành trên cơ sở khái quát kinh nghiệm thực tiễn, nhưng không phải cứ có kinh nghiệm thực tiễn là có được lý luận Lý luận được hình thành thông qua hoạt động tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát lý luận của các nhà lý luận Vì vậy, lý luận không thể ra đời một cách tự phát và luôn luôn phải được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bằng tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn mới, phong phú bởi các nhà lý luận Do tính độc lập tương đối của mình, lý luận có thể phản ánh vượt trước các dữ liệu thực tiễn Nhưng xét đến cùng, lý luận không thể không dựa trên cơ sở của kinh nghiệm thực tiễn
Từ cách hiểu lý luận ở trên cho thấy, lý luận có những đặc trưng sau: Một là, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính lôgic chặt chẽ
Hai là, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn
Ba là, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng
Do có được những đặc trưng trên mà lý luận có phạm vi ứng dụng rộng hơn, phổ biến hơn so với tri thức kinh nghiệm Mặc dù, tri thức kinh nghiệm đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống thường ngày của con người, nhưng
Trang 4rõ ràng, vai trò của tri thức kinh nghiệm bị hạn chế ở những giới hạn, phạm vi
cụ thể xác định
1.2 Nhận thức về thực tiễn
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất - cảm tính, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Từ quan niệm về thực tiễn trên của triết học Mác -Lênin, chúng ta thấy thực tiễn gồm những đặc trưng sau:
Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ
là những hoạt động vật chất - cảm tính, như lời của Mác, đó là những hoạt động vật chất cảm giác được Nghĩa là con người có thể quan sát trực quan được các hoạt động vật chất này Hoạt động vật chất - cảm tính là những hoạt động mà con người phải sử dụng lực lượng vật chất, công cụ vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng Trên cơ sở đó, con người mới làm biến đổi được thế giới khách quan và biến đổi chính bản thân mình
Thứ hai, hoạt động thực tiễn là những hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của con người Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động chỉ diễn ra trong xã hội, với
sự tham gia của đông đảo người trong xã hội Trong hoạt động thực tiễn con người truyền lại cho nhau những kinh nghiệm từ thế hệ này qua thế hệ khác Cũng vì vậy, hoạt động thực tiễn luôn bị giới hạn bởi những điều kiện lịch sử
-xã hội cụ thể Đồng thời, thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển cụ thể
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên
và xã hội phục vụ con người Khác với hoạt động có tính bản năng, tự phát của động vật nhằm thích nghi thụ động với thế giới, con người bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, chủ động tác động cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới Như vậy, nói tới thực tiễn là nói tới hoạt động có tính tự giác cao của con người, khác với hoạt động bản năng thụ động của động vật
Trang 5Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao giờ cũng bao gồm mục đích, phương tiện và kết quả Mục đích được nảy sinh từ nhu cầu và lợi ích, nhu cầu xét đến cùng được nảy sinh từ điều kiện khách quan Lợi ích chính là cái thoả mãn nhu cầu Để đạt mục đích, con người trong hoạt động thực tiễn của mình phải lựa chọn phương tiện, công cụ để thực hiện Kết quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trước kết là phụ thuộc vào mục đích đặt ra và phương tiện mà con người sử dụng để thực hiện mục đích
Dù xem xét theo chiều dọc hay chiều ngang thì thực tiễn là hoạt động thể hiện tính mục đích, tính tự giác cao của con người - chủ động tác động làm biến đổi tự nhiên, xã hội, phục vụ con người, khác với những hoạt động mang tính bản năng thụ động của động vật, nhằm thích nghi với hoàn cảnh Rõ ràng, hoạt động thực tiễn là hoạt động cơ bản, phổ biến của con người và xã hội loài người, là phương thức cơ bản của mối quan hệ giữa con người với thế giới Nghĩa là con người quan hệ với thế giới bằng và thông qua hoạt động thực tiễn Không có hoạt động thực tiễn thì bản thân con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển
Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, nhưng gồm những hình thức cơ bản: Hoạt động sản xuất vật chất; hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm khoa học Ba hình thức thực tiễn này có quan hệ biện chứng, tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Trong đó, sản xuất vật chất đóng vai trò quan trọng, quyết định hai hình thức thực tiễn kia Tuy nhiên, hai hình thức thực tiễn kia có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất Điều này thể hiện rõ ở chỗ, nếu xã hội không ổn định thì sản xuất vật chất cũng không thể phát triển Thực nghiệm khoa học phát triển
sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới năng xuất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất vật chất Ngoài ba hình thức cơ bản trên, hoạt động thực tiễn còn được thể hiện ở một số lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, nghệ thuật, thể thao,v.v Nhưng xét
Trang 6đến cùng, những hình thức hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực trên lại thuộc về các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn
2 Nhận thức của Đảng ta về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng
ta luôn chú trọng việc vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển
lý luận, đặc biệt là lý luận về chủ nghĩa xã hội Điều này thể hiện rõ nét ở những điểm sau:
Thứ nhất, Đảng tăng cường tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội Tổng kết thực tiễn quá trình đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển vượt bậc lý luận về chủ nghĩa xã hội Tiểu biểu là một số vấn đề lý
luận sau:
Một là, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội Lý luận này được thể hiện xuyên suốt thông qua các kỳ đại hội, đặc biệt là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) Đó là “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới”3
Trang 7Hai là, về phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội Tổng kết lý luận
và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, Đảng ta đã đưa ra các phương hương lớn về xây dựng chủ nghĩa xã hội như sau:
“Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội
Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh”3
Ba là, phát triển lý luận về quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Trước đổi mới, Đảng ta xác định quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự “quá độ gián tiếp”, nghĩa là “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
Trong Cương lĩnh (1991) đã sử dụng cụm từ “bỏ qua chế độ tư bản” và xác định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp”1 Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển 2011) chỉ rõ, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội “là một qúa trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển,
Trang 8nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”3 Đây là bước phát triển quan trọng của lý luận về con đường lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của Đảng ta
Bốn là, hình thành và phát triển lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đại hội VI của Đảng xác định nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần
là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Đại hội VII xác định, đó là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”1 Đồng thời cụ thể hóa một bước về chế độ công hữu, đó là công hữu “về các tư liệu sản xuất chủ yếu”1
Lý luận về nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát triển qua các kỳ Đại hội VIII, IX, X, XI, XII và đặc biệt là Hội nghị Trung ương năm khóa XII đã xác định rõ: “Nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng
bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh
tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh… Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế Doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt và là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cùng với kinh tế tư nhân là nòng cốt để phát triển một nền kinh tế độc lập, tự chủ Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác, cạnh tranh cùng phát triển theo pháp luật Khuyến khích làm giàu hợp pháp Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả
Trang 9lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội Năm là, hình thành và phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa Tổng kết việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và quá trình đổi
mới, Đảng ta nhận thấy sự cần thiết phải khai thác những giá trị của lý luận nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta để đưa ra lý luận, làm rõ đăc trưng, bản chất của nhà nước ta là nh ta là nhà nước: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”3
Sáu là, phát triển lý luận về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) lần đầu tiên trong qúa trình đổi mới đề ra nhiệm vụ “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Đại hội tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của phát triển văn hóa: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội”2 Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII của Đảng (tháng 7/1998) cụ thể hóa hơn nội dung của “nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, yêu cầu bảo tồn, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa tiên tiến văn hóa nhân loại Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc của chúng ta hướng tới sự giáo dục, phát triển những con người có tinh thần yêu nước, chủtriển hài hòa giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, phát triển các giá trị thể chất, giá trị đạo đức, giá trị tri thức, giá trị thẩm
mỹ trong con người một cách nhịp nhàng, cân đối, hài hòa Các quan điểm về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc tiếp tục được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng, đặc biệt là tổng kết 15 năm
Trang 10thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Hội nghị Trung ương chín khóa XI đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” Nghị quyết
đã đề ra mực tiêu “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”4
Thứ hai, Đảng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn Việt Nam trong điều kiện mới Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như sự vận dụng sáng tạo của Đảng ta vào thực tiễn mới của đất nước
Thứ ba, Đảng luôn luôn nâng cao trình độ lý luận của mình cũng như của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới
Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch, Đảng mà không có lý luận cách mạng khoa học như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam, Đảng
ta luôn luôn nâng cao trình độ lý luận của mình và của cán bộ, đảng viên trong quá trình đổi mới Đây thực chất là sự quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Bởi lẽ, không có trình độ lý luận thì không thể tổng kết kinh nghiệm một cách có lý luận và không thể định hướng cho công cuộc đổi mới Ngay trong lúc cam go của phong trào cách mạng, chẳng hạn, ngay sau sự sụp
đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Bộ chính trị Đảng ta đã ra Nghị quyết 01 (ngày 28 tháng 3 1992) nêu rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh việc học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Trong tất cả các Văn kiện Đại hội, Đảng ta luôn nhấn mạnh, khảng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng Đại