ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ LƯƠNG THỊ KIM DUNG QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
LƯƠNG THỊ KIM DUNG
QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VĨNH PHÚC
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-
LƯƠNG THỊ KIM DUNG
QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT
GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
VĨNH PHÚC TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN NGỌC UẨN
Trang 3HÀ NỘI - 2009
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Ngọc Uẩn
Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2009
Tác giả luận văn
Lương Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1 Nguyên tắc thống giữa lý luận và thực tiễn và vai trò của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo 5
1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin 5
1.1.1 Phạm trù thực tiễn và lý luận 5
1.1.2 Thực chất của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đào tạo 20
1.2 Vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo 24
1.2.1 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc quán triệt xác định mục tiêu và xây dựng nội dung, chương trình đào tạo 24
1.2.2 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc xác định hình thức, phương pháp dạy và học 30
1.2.3 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc tổ chức quản lý và xây dựng cơ sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo 33
Chương 2 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc - kết quả và một số vấn đề đặt ra 35
2.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc tác động đến hoạt động đào tạo của Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 35
2.2 Kết quả việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 38
2.2.1 Những nhiệm vụ chủ yếu trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 38
2.2.2 Kết quả của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 39
2.3 Một số vấn đề đặt ra 58
2.3.1 Một số hạn chế 58
2.3.2 Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế 61
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh
Trang 63.1 Phương hướng chủ yếu nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 65
3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm quán triệt hơn nữa nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc 66
3.2.1 Tiếp tục bám sát nhiệm vụ, đối tượng và thực tiễn đào tạo để đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng 66
3.2.2 Tiếp tục thực hiện đa dạng hóa hình thức và mở rộng quy mô đào tạo 69
3.2.3 Đẩy mạnh đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập 70
3.2.4 Tăng cường công tác, tổ chức, quản lí quá trình học tập của sinh viên 74
3.2.5 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên 79
3.2.6 Cần có cơ chế chính sách phù hợp, tăng cường cơ sở vật chất phục vụ quá trình đào tạo 82 Kết luận 86
Danh mục tài liệu tham khảo 89
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, đến sự nghiệp chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc về những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định về nhân tố con người - chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và nhân dân Việt Nam, sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước và suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đã khẳng định: Vì lợi ích 10 năm phải trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người Người nói: Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu và dốt là một trong ba thứ giặc “Giặc ngoại xâm, giặc đói, giặc dốt” Quán triệt quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đã từng bước nhận thức rõ tầm quan trọng của nền giáo dục trong sự phát triển của đất nước
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) của Đảng đã nêu rõ “Hiện nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo đang đứng trước những mâu thuẫn lớn giữa vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục và đào tạo, vừa phải gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong khi khả năng và đáp ứng yêu cầu còn nhiều hạn chế Đó là mâu thuẫn trong quá trình phát triển” [7, tr.175]
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định giáo dục
Trang 8quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh
tế nhanh và bền vững
Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, giáo dục… Vì vậy, đòi hỏi phải phát huy hơn nữa nguồn lực con người là nhân tố quyết định sự thành công của quá trình đổi mới Để đáp ứng được những đòi hỏi
đó cần phải đổi mới giáo dục một cách toàn diện, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Nhận thức và quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng về công tác giáo dục
và đào tạo cũng như xác định được tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong những năm vừa qua tỉnh Vĩnh Phúc
đã chú trọng tới công tác giáo dục và đào tạo, đặc biệt là việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, tỉnh Vĩnh Phúc đã giải quyết đồng bộ nhiều nội dung có liên quan, trong đó việc tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhằm đảo bảo đủ số lượng, chất lượng phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Bởi vì, đào tạo đội ngũ giáo viên có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển giáo dục, đó chính là công tác đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Nằm trong hệ thống giáo dục của Tỉnh, Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc là trung tâm chính đào tạo đội ngũ giáo viên trung học cơ sở cho toàn tỉnh
Để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên trung học cơ sở, trong những năm qua Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc không ngừng đổi mới về nội dung,
Trang 9trường đã cung cấp số lượng lớn đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên trung học cơ sở nói riêng có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt phục vụ cho sự nghiệp giáo dục của tỉnh Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong hoạt động đào tạo của trường vẫn còn những bất cập, hạn chế Để tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên trung học cơ sở nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu giáo dục và đào tạo của tỉnh Vĩnh Phúc, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, trong thời gian tới, nhà trường phải giải quyết tốt đồng bộ những vấn đề có liên quan, trong đó việc tiếp tục quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong toàn bộ các khâu của quá trình đào tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Với ý nghĩa đó việc nghiên cứu đề tài: “Quán triệt nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay” là có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Vấn đề vận dụng mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn đã có những công trình, bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu từ các góc độ khác nhau
- “Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ triết học của Phan Đình Đạt, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,1993
- “Vận dụng quan điểm Duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa lí luận
và thực tiễn trong nhận thức và hình thành các giải pháp của quá trình đổi mới kinh tế của nước ta hiện nay”, luận văn Thạc sĩ khoa học Triết học của Đặng Thành Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, 1999
Trang 10- “Mấy vấn đề về nhận thức thực tiễn”, Nguyễn Đức Bình - Nxb Sự thật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Trên cơ sở phân tích làm rõ một số kết quả và hạn chế của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư Phạm Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
* Nhiệm vụ
- Phân tích vai trò của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn đối với quá trình đào tạo
- Phân tích thực trạng quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc
Trang 11- Đề xuất một số giải pháp thực tiễn để tiếp tục nhằm quán triệt sâu sắc hơn nữa nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn để tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo giáo sinh sư phạm thuộc khối đào tạo giáo viên trung học cơ sở
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp cơ bản và chủ yếu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu, điều tra, khảo sát, thống kê…
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ vai trò của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động đào tạo, phân tích kết quả chủ yếu và hạn chế chủ yếu của việc quán triệt nguyên tắc này, đồng thời đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên trung học cơ
sở có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt phục vụ cho sự nghiệp giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho tổ chức hoạt động đào tạo ở các trường cao đẳng sư phạm, nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến giáo dục và đào tạo; tham khảo trong việc xây dựng các chính sách cho giáo dục và đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Trang 12Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
3 chương, 6 tiết
Chương 1 Nguyên tắc thống giữa lý luận và thực tiễn và vai trò của việc
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn với hoạt động đào tạo
Chương 2 Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động đào tạo ở Trường Cao đẳng Sư phạm Vĩnh Phúc - kết quả và một số vấn đề đặt ra
Chương 3 Phương hướng, giải pháp nhằm quán triệt nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng đào tạo ở Trường Cao đẳng
Sư phạm Vĩnh Phúc
Trang 13Chương 1 NGUYÊN TẮC THỐNG GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỚI HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO
1.1 Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin
1.1.1 Phạm trù thực tiễn và lý luận
1.1.1.1 Các quan niệm trước Mác về lý luận và thực tiễn
Các nhà triết học cổ đại phương Đông khoảng thế kỷ thứ V-IV trước công nguyên (TCN) như Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử đã đề cập đến vấn đề khả năng nhận thức của con người về thế giới
Khổng Tử cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế giới thông qua nhận thức cảm tính Theo ông, nhờ cái sẵn có tự nhiên trong con người gồm có minh đức và lương tri Cái đó thể hiện qua trực giác, nhờ trực giác mà con người
có thể nhận thức được chân lý,nhận thức đúng bản chất của sự vật và cái sai khiến trực giác đó lại nằm trong tâm mỗi con người nhờ tâm này mà con người
có thể làm chủ được hành vi của mình nhưng trong lý luận nhận thức Như vậy,
ở đây Khổng Tử chỉ thiên về nhận thức cảm tính mà không bàn đến nhận thức lý tính tư duy trừu tượng, cho nên nhận thức thế giới của ông chỉ dừng ở bên ngoài hình tượng mà không đi đến bản chất của sự vật Vì vậy, khi bàn về con người Khổng Tử không xây dựng một con người nhận thức và hành động, không làm chủ thế giới để đạt đến mục đích là mưu đến lợi ích vật chất mà chính là xây dựng con người luân lý đạo đức, con người nhân nghĩa theo một nguyên mẫu có sẵn, từ đó xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự, trên dưới phân minh
Trang 14Còn Mặc Tử lại cho rằng, tri thức của loài người có được là do nhận thức thế giới quan ở phần lí luận nhận thức, Mặc Tử thấy được vai trò của thực tiễn, tuy nó còn rất mơ hồ Ông viết, nhận thức là do vật thể và ông giải thích: “Nhận thức là gì? là cái mà cho ta biết được, mà đã biết được thì phải nhìn thấy rõ và hình dung ra nó như người ta trông thấy bằng thị giác” [6, tr.41]
Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thế kỷ VI-V (TCN) cũng bàn nhiều về vấn
đề lý luận và thực tiễn, về khả năng nhận thức của con người đối với thực tiễn, tiêu biểu là Platôn và Arixtốt
Platôn cho rằng, thế giới những sự vật cảm tính và thế giới ý niệm là hai thế giới song song cùng tồn tại và độc lập với nhau, vật chất được Platôn hiểu theo nghĩa là cái không tồn tại, không nhìn thấy được, không nhận thức được nhưng lại là nguồn gốc của cái nhiều, cái đơn nhất, cái sinh ra và cái tử Như vậy, ở đây Platôn cho rằng con người không có khả năng nhận thức thế giới và thế giới là từ ý niệm mà ra
Arixtốt là một trong những người có quan niệm cổ điển về chân lý, ông đã cho rằng, chân lý là sự phù hợp giữa quan niệm con người về sự vật với sự vật tồn tại trên thực tế Theo Ông, tự nhiên là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai, nhiệm vụ của nhận thức là nhận thức cái tất yếu của tự nhiên và phản ánh vào trong khái niệm Con đường hình thành khái niệm diễn ra như sau: Cảm giác - kinh nghiệm - nghệ thuật - khoa học Đây là sự phát triển đi lên từ thấp đến cao
và các giai đoạn phát triển này có liên quan chặt chẽ đến nhau, giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau Trong khoa học các phạm trù và các khái niệm được hình thành, trong đó triết học là khoa học có tính khái quát cao nhất Đây là quan niệm rất tiến bộ về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong thời kỳ cổ
Trang 15Triết học tiền tư bản chủ nghĩa tiêu biểu là triết học Anh, chủ nghĩa duy vật Pháp và triết học cổ điển Đức
Triết học Anh cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, đại diện là triết học duy tâm chủ quan của Béccơli và bất khả tri luận của Hium Họ cho rằng, ý thức là cái tồn tại có thực, còn sự vật chỉ có trong cảm giác, trong khái niệm, trong “cái tôi” do ý thức sản sinh Do vậy, họ cho rằng nhận thức lý luận không phải là phản ánh hiện thực khách quan mà chỉ là phản ánh những trạng thái nội tâm của chủ quan con người
Các nhà duy vật Pháp thế kỷ XVIII đại diện là HônBách và Điđrô đã có sự phát triển thêm học thuyết về cảm giác luận duy vật Họ cho rằng, cảm giác là nguồn gốc của tri thức, nguồn gốc của cảm giác là sự vật Ngoài ra họ đã thừa nhận nhận thức lý tính chế biến những tư tưởng đơn giản thành tư tưởng phức tạp Các nhà duy vật Pháp thấy được mối liên hệ giữa nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính thấy được sự phát triển của sản xuất ảnh hưởng sự phát triển của
tư duy Chủ nghĩa duy vật pháp cũng đã thấy được thực tiễn là cơ sở của nhận thức Đây là những tư tưởng rất tiến bộ lúc bấy giờ mà sau này được đánh giá cao
Triết học cổ điển Đức thế kỷ XVIII, đại diện là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen cho rằng, “Tinh thần thế giới” hay “ý niệm” đó là cơ sở đầu tiên của mọi tồn tại, nó có trước thế giới vật chất Còn nhận thức lý luận là sự “tự nhận thức” Ông cho rằng, “Trong ý niệm lý luận, khái niệm chủ quan với tư cách là cái chung và tự nó không có tính qui định, đứng đối lập với thế giới khách quan mà từ đó nó lấy một nội dung và một bổ sung đầy đủ nhất định” [24, tr.299]
Như vậy, Hêghen thừa nhận sự tồn tại của thế giới khách quan “ý niệm”
Trang 16trước sinh ra thế giới khách quan Tư tưởng này không tránh khỏi sai lầm của chủ nghĩa duy tâm khách quan
Các học thuyết khác, như Thuyết hoài nghi: Không tin là con người có thể nhận thức được thế giới khách quan, đại biểu là Pirô 360 - 270 (TCN)
Thuyết không thể biết cho rằng nhận thức của con người chỉ phản ánh bề ngoài của sự vật chứ không nhận thực được bản chất của sự vật
Như vậy, chủ nghĩa duy tâm và những học thuyết biến tướng của nó bằng cách này hay cách khác không thừa nhận nhận thức của con người là sự phản ánh thế giới khách quan, không thấy được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Các nhà duy vật trước Mác tuy có nhiều tiến bộ và kiên quyết chống lại chủ nghĩa duy tâm nhưng quan niệm về nhận thức còn hạn chế mang tính trực quan máy móc, coi nhận thức của con người như là sự phản ánh của cái gương Còn các nhà duy vật thô thiển quan niệm rằng, óc tiết ra tư tưởng cũng như gan tiết ra mật từ đó dẫn đến họ không phân biệt được đặc tính riêng của tinh thần hay nhận thức và đi đến đồng nhất vật chất với tinh thần
Quan niệm tiến bộ nhất về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa duy vật trước Mác là triết học của Cantơ Ông đã nhận thấy vai trò đặc biệt của tri thức lý luận đối với khoa học, ông coi đây là nền tảng của quá trình nhận thức chân lý của con người Vì thế, giải quyết nhiệm vụ trên cũng có nghĩa là luận chứng sự tồn tại của các khoa học lý luận thời đó
V.I.Lênin nhận xét: “Lần đầu tiên trong lịch sử Cantơ hiểu được vai trò quyết định của hành động thực tiễn con người, đặt nó cao hơn lý luận” [21, tr.172]
Nhận xét về các quan điểm triết học duy vật trước Mác, Mác viết “Khuyết
Trang 17cảm giác của con người, là thực tiễn không được nhận thức về mặt chủ quan” [25, tr.9]
1.1.1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lý luận và thực tiễn
Dựa vào những thành tựu của khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng, cùng với hoạt động của các ông trong phong trào đấu tranh của quần chúng lao động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã có công lớn trong việc đưa thực tiễn vào nhận thức luận Không những thế cả lý luận và thực tiễn đều được các ông nâng lên trình độ mới: thực tiễn cách mạng và lý luận cách mạng Nhờ đó, lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận thức và cải tạo thế giới Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, C.Mác, Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong nhận thức luận nói riêng
Phạm trù thực tiễn
Theo triết học Mác-Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người
Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Thực tiễn là hoạt động vật chất Hoạt động vật chất là những hoạt động mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhất định, nhằm cải tạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng các phương tiện để tác động vào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích của con người Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng
Mỗi một hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể Nó chỉ
Trang 18triển và kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động
Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người, nhưng không thể tách rời các quan hệ xã hội Xã hội quy định mục đích, đối tượng, phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn Do đó, hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng, do cộng đồng
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý thức Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng,… đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động Mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội Mỗi một hoạt động đều có mục đích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải là lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mục đích của con người
Hoạt động thực tiễn rất phong phú, đa dạng, song có thể chia ra ba hình thức cơ bản là: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt
động thực nghiệm khoa học Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp
tác động vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại
và phát triển của xã hội Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con người trực tiếp tác động vào xã hội, cải biến các quan hệ xã hội theo hướng tiến bộ Hoạt
động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhà khoa học tác động làm cải
biến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định.Trong đó hoạt động sản xuất vật chất đóng vai trò quyết định
Trang 19Thứ nhất, về mặt quan hệ là nó là tính thứ nhất và là cái quyết định đối với
ý thức và với tất cả các hình thức hoạt động xã hội - tinh thần khác của con người
Thứ hai, nó là cái quyết định, xét về mặt tiềm năng dù ở bất cứ trình độ
nào của nó đối với tất cả các hoạt động cơ bản của con người như các hoạt động khoa học, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật…
Thứ ba, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động thực tiễn cảm tính, nó
được thực hiên ở bên ngoài ý thức theo các quy luật khách quan không phụ thuộc vào ý thức
Hoạt động chính trị - xã hội bao gồm các quan hệ các giai cấp, dân tộc, nhà nước, hoạt động của các đảng phái chính trị… các quan hệ chính trị bắt nguồn từ các quan hệ kinh tế, các nhu cầu, lợi ích kinh tế Các quan điểm tư tưởng chính trị phản ánh các nhu cầu, lợi ích kinh tế Tuy nhiên, không thể từ đó suy ra rằng: Hoạt động chính trị là hoạt động thực tiễn tư tưởng Hoạt động chính tri - xã hội là hình thức hoạt động đặc trưng của con người trong điều kiện xã hội phân chia thành giai cấp, xã hội phân chia con người thành các nhóm lợi ích khác nhau Hoạt động chính trị - xã hội phản ánh cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với lực lượng chính trị nhằm giành, giữ và bảo vệ quyền lực chính trị - công
cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích kinh tế của các giai cấp
Hoạt động chính trị - xã hội là hình thức bên ngoài của các quá trình vận động kinh tế Nó có quan hệ biện chứng, phản ánh mối quan hệ của cơ cở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng Hoạt động chính trị có vai trò mở đường nhằm thúc đẩy các quá trình kinh tế - xã hội Với ý nghĩa đó, hoạt động chính trị
- xã hội gắn liền, chịu sự chi phối của sản xuất xã hội, đồng thời góp phần tích cực vào quá trình sản xuất - xã hội
Trang 20Hoạt động chính trị - xã hội có ý nghĩa cách mạng thúc đẩy xã hội phát triển Vì vậy, triết học Mác coi hoạt động chính trị - xã hội thuộc cấu trúc của phạm trù thực tiễn Thực chất, hoạt động chính trị là ở sự làm thay đổi trực tiếp các quan hệ xã hội hiện thực mà muốn thay đổi các quan hệ xã hội ấy thì phải có những con người sử dụng những lực lượng thực tiễn
Dạng thứ ba cơ bản của thực tiễn đó là các hoạt động quan sát thực nghiệm khoa học, nó là dạng thực tiễn đặc biệt, vì nó không nhằm tạo ra các sản phẩm vật chất nhất định mà nhằm đạt đến các tri thức khoa học để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Đối với khoa học tự nhiên, nếu coi thực tiễn chỉ là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm thì chưa đủ, bởi thực nghiệm trong phòng thí nghiệm chỉ tạo ra những điều kiện lý tưởng, giả định của thực tiễn thuận tiện nhất cho việc nhận thức từng quy luật khách quan, nó chưa thể bao quát đầy đủ toàn bộ mối liên hệ phổ biến của những điều kiện lịch sử cụ thể và của sự tác động qua lại với các quy luật khác Chỉ trong hoạt động thực tiễn thì các hoạt động của các quy luật khách quan mới được biểu hiện thực sự phong phú, sinh động cụ thể
Song, thực nghiệm là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của thực tiễn
và rất cần thiết để nhận thức quy luật khách quan, phát hiện ra bản chất của hiện tượng, không có thực nghiệm khoa học thì không thể tiến lên được Có ba loại thực nghiệm: Thực nghiệm trong sản xuất; trong khoa học tự nhiên và trong xã hội
Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng chúng thống nhất, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích, chúng hỗ trợ, ảnh hưởng lẫn nhau Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn
Trang 21Hoạt động sản xuất vật chất không thể không hoạt động trong cộng đồng
xã hội Mặc dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những vấn đề của đời sống chính trị, tinh thần, nhưng kết quả hoạt động của lĩnh vực này lại tác động tích cực đến phát triển sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt động thực nghiệm khoa học đang quan tâm Cũng như vậy, hoạt động thực nghiệm khoa học không thể không lấy mục đích phục vụ kinh tế - xã hội
Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất là
cơ bản nhất Mặc dù các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học vẫn diễn ra thường xuyên, quan trọng nhưng hoạt động sản xuất vật chất tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trung tâm, chủ yếu của con người
Trên cơ sở những hình thức thực tiễn cơ bản trên còn có một số lĩnh vực của thực tiễn như hoạt động giáo dục, hoạt động nghệ thuật cũng được hình thành Nó cũng tác động vào quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Đó là những hình thức thực tiễn phát sinh, hình thức đặc thù của thực tiễn
Phạm trù lý luận
“Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgic của các khái niệm cái lôgic khách quan của các sự vật” [46, tr.342-343]
Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật, hiện tượng Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trực lại trong quá