Biểu hiện của việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở .... Thực trạng việc vận dụng sự thống nhất gi
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ MINH NGHĨA
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ MINH NGHĨA
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MÊ LINH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triểt học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ CÔNG THƯƠNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn
là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Đề tài nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Nghĩa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG
HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 101.1 Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - một nguyên tắc căn bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin 101.2 Biểu hiện của việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở 211.3 Vai trò của việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở 44
Chương 2: THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG
HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 532.1 Thực trạng việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt
cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội hiện nay 532.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo,
quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh,
Thành phố Hà Nội hiện nay 84
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
87 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc ta
đã giành được nhiều thắng lợi vĩ đại mang tính chất bước ngoặt lịch sử Tổng kết 30 năm đổi mới của nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã rút ra những bài học kinh nghiệm chủ yếu, trong đó bài học quan trọng là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam” [22, tr.46]
Vì vậy, việc nghiên cứu, học tập để nắm vững, biết vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ và trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong mọi giai đoạn cách mạng của dân tộc
Trong hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc căn bản nhất, xuyên suốt trong toàn bộ hệ thống lý luận cũng như quá trình lãnh đạo phong trào cách mạng của C.Mác, Ph.Ăngghen,V.I.Lênin và Hồ Chí Minh Đây cũng là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Sức mạnh của lý luận chính
là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý luận Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng, cơ sở của sự thống nhất ấy chính là vai trò của thực tiễn đối với lý luận và ngược lại
Nước ta hiện nay đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Trong bối cảnh đó, chúng ta có
Trang 6thêm nhiều cơ hội cho sự phát triển đất nước, nhưng cũng đứng trước nhiều thách thức, khó khăn Một loạt vấn đề mới nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đòi hỏi lý luận phải nghiên cứu, tổng kết và giải đáp Vai trò của lý luận ngày càng được tăng lên Cùng với điều đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng trau dồi, nâng cao trình độ của mình, nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào thực tiễn một cách sáng tạo, có hiệu quả, có như vậy, chúng ta mới có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII khẳng định: “Đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra” [22, tr.69]
Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, bên cạnh đa số cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng đã vận dụng tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, thì cũng còn không ít cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng vi phạm nguyên tắc này, biểu hiện cụ thể như tách rời giữa lý luận và thực tiễn, coi trọng lý luận xem nhẹ thực tiễn hoặc ngược lại, xem nhẹ lý luận đề cao thực tiễn Thực trạng đó làm cho một bộ phận cán bộ chủ chốt cấp cơ sở mắc phải các căn bệnh như: bệnh chủ quan duy ý chí, xa rời quần chúng, xa rời thực tiễn, bệnh kinh nghiệm, bệnh giáo điều, bệnh hình thức, bệnh quan liêu Một bộ phận cán bộ chủ chốt cấp cơ sở không quan tâm đến việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để khái quát, bổ sung, hoàn chỉnh, phát triển lý luận, không quan tâm tới việc nâng cao trình độ lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn, hoặc tổng kết thực tiễn chưa có mục đích đúng đắn, chưa quán triệt tốt nguyên tắc khách
Trang 7quan, quan điểm thực tiễn, còn tô hồng, bôi đen thực tiễn, vận dụng lý luận còn giáo điều, hình thức Thực tế này đã và đang làm suy giảm vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước Đồng thời, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói riêng, cản trở việc thực hiện mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân ta
Huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội được tách ra từ tỉnh Vĩnh Phúc và được sáp nhập về Hà Nội vào tháng 8 năm 2008, là huyện phía Bắc của Thủ
đô Hà Nội, với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội có những bước phát triển mới Trong những năm qua, việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh tương đối tốt Nhờ đó, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện phát triển ổn định, đời sống nhân dân được nâng cao cả
về vật chất lẫn tinh thần Bên cạnh những kết quả đạt được đó vẫn còn những hạn chế nhất định như trình độ lý luận, năng lực tổ chức thực tiễn, khả năng vận dụng, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vào thực tiễn của địa phương vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa của huyện Do đó, đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của huyện Mê Linh phải vận dụng tốt hơn nữa sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của mình
Xét thấy tầm quan trọng của vấn đề và tính bức thiết của nó trong giai
đoạn hiện nay, tôi chọn vấn đề: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện
Mê Linh, thành phố Hà Nội hiện nay”, làm đề tài nghiên cứu và viết luận
văn tốt nghiệp của mình
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm gần đây đã có nhiều bài viết, công trình khoa học do nhiều tác giả thực hiện nghiên cứu về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở nhiều khía cạnh khác nhau Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau:
- Vi Thái Lang, “Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn”, Tạp chí triết học, số 1/1999
Quan điểm mà tác giả đề cập đến trong bài viết này về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn được vạch rõ trên cả bình diện bản thể luận và nhận thức luận Quan hệ này là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội cụ thể, nên khi nắm được tính chất biện chứng của quá trình này để nhận thức và vận dụng sẽ thiết lập được một lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa giáo điều máy móc cũng như chủ nghĩa thực dụng thiển cận
và bệnh lý luận suông
- Nguyễn Đình Trãi, “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
với việc nâng cao tư duy lý luận cho giảng viên Mác - Lênin ở các trường Chính trị hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 1/1999
Tác giả đã phân tích rõ sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và nêu ra vị trí, vai trò của nguyên tắc này đối với việc nâng cao tư duy lý luận cho giảng viên ở các trường Chính trị tỉnh, thành phố như một yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
- Bài viết: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong tư tưởng triết
học Hồ Chí Minh” của PGS.TS Trần Văn Phòng trong sách “Tư tưởng triết
học Hồ Chí Minh”, Nxb Lao động, Hà Nội, 2002
Tác giả tập trung nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là về tư tưởng triết học trong hệ thống tư tưởng của Người Một trong những nội dung
Trang 9quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc, liên quan trực tiếp công tác giáo dục và đào tạo cán bộ đó chính là việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Tác giả đã tìm hiểu và hệ thống lại những quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhìn nhận, xem xét, đánh giá dưới góc độ triết học, xem sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như một giải pháp cơ bản và chủ yếu nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều Đây được coi là một trong những di sản lý luận quý báu mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta
- Trần Văn Phòng, “Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động lý luận của chúng ta hiện nay”, Tạp chí Nghệ thuật quân sự, số 2/1998
- Trần Văn Phòng, “Quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
quá trình đổi mới của Đảng”, Tạp chí Khoa học chính trị, số 4/2005
- Lê Đức Phúc, “Mối liên hệ giữa lý luận và thực tiễn trong nghiên cứu
giáo dục”, Tạp chí giáo dục, số 28/2002
Trong các bài viết trên, các tác giả đã phân tích tầm quan trọng của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, việc vận dụng nguyên tắc này trong nghiên cứu các lĩnh vực cụ thể như trong quá trình đổi mới, trong hoạt động lý luận, trong nghiên cứu giáo dục
- Nguyễn Thị Thuỷ, “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc
ra quyết định của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Quảng Ninh hiện nay”, luận văn thạc sỹ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 2010
Luận văn đã nêu lên tầm quan trọng của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động cụ thể của công tác lãnh đạo, quản lý đó là việc ra quyết định Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng việc quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở tỉnh Quảng Ninh, luận văn đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả việc quán triệt sự thống nhất này
Trang 10trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay
- Đặng Tuyết Em, “Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Kiên Giang)”, luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000
Luận văn đã phân tích được tầm quan trọng của việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh Luận văn cũng đã phân tích, đánh giá thực trạng của việc thực hiện nguyên tắc này trong phong cách làm việc của người cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở tỉnh Kiên Giang Từ đó luận văn đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong phong cách làm việc của người cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở tỉnh Kiên Giang
- Vũ Công Thương, “Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt
động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ hiện nay (qua thực tế tỉnh Bình Phước)”, luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2012
Luận án đã làm rõ thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, biểu hiện và tầm quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc này trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã Tác giả cũng đã phân tích thực trạng việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ (qua thực tế tỉnh Bình Phước) Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ chủ chốt cấp xã ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ
Trang 11Các công trình nghiên cứu trên đã bàn đến nhiều khía cạnh khác nhau của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn như nội dung, yêu cầu của nguyên tắc; việc quán triệt nguyên tắc trong quá trình đổi mới; trong hoạt động
lý luận; trong nghiên cứu giáo dục; trong phong cách làm việc của người lãnh đạo, quản lý; trong công tác ra quyết định của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp tỉnh Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây là nguồn
tư liệu quý giá để tác giả luận văn tham khảo và kế thừa trong quá trình thực hiện đề tài luận văn của mình Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu
về vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản
lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội hiện nay, chính vì vậy tác giả mong muốn làm sáng tỏ vấn đề này trong luận văn của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở phân tích thực trạng việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ này ở huyện
Mê Linh, thành phố Hà Nội
- Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
- Phân tích thực trạng việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Trang 12- Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu việc vận dụng (vận dụng
được hiểu là mang những tri thức, lý luận dùng vào thực tiễn) sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội hiện nay
- Phạm vi nghiên cứu: Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở (cấp cơ sở
bao gồm: xã, phường, thị trấn) ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội giai đoạn
Luận văn sử dụng những chỉ thị, nghị quyết, quyết định cùng các tài liệu khác được cung cấp bởi Huyện ủy, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp
ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội từ 2010 đến nay
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với các phương pháp cụ thể khác như: lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, so sánh, khảo sát thực tế
Trang 136 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ biểu hiện, vai trò của việc vận dụng
sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
- Đưa ra những giải pháp khả thi, phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần đưa ra những luận cứ khoa học nhằm nâng cao hiệu quả việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội hiện nay, giúp các cấp Uỷ Đảng, chính quyền trong công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở ở địa phương
- Dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các trường chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 2 chương, 5 tiết
Trang 14Chương 1
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG
HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ
Các nhà duy vật trước Mác, mặc dù có công lớn trong việc chống lại những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa duy tâm, nhưng bản thân họ lại không nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn về thực tiễn, cũng như vai trò của nó đối với nhận thức, lý luận Mặc dù họ đã hiểu thực tiễn là một hoạt động vật chất của con người, nhưng lại xem nó là một hoạt động trực quan đơn thuần, nó không có vai trò, ý nghĩa gì đối với nhận thức của con người Điều này được thể hiện rõ trong cả quan điểm của nhà duy vật lỗi lạc của triết học cổ điển Đức
đó là Phoiơbắc
Trang 15Kế thừa và phát triển sáng tạo những yếu tố hợp lý, khắc phục những yếu tố sai lầm, hạn chế trong quan niệm về thực tiễn của các nhà triết học trước
đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra quan điểm đúng đắn về thực tiễn cũng như vai trò của nó đối với nhận thức, lý luận Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào
lý luận nhận thức, các ông đã tạo nên một cuộc cách mạng trong triết học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng
Trong Luận cương thứ 8 về Phoiơbắc, C.Mác viết: “Đời sống xã hội, về
thực chất, là có tính chất thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận
đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [35, tr.12] Trong tác phẩm
“Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”, Ph.Ăngghen
cho rằng: “Sự bác bỏ một cách hết sức đanh thép những sự vặn vẹo triết học
ấy, cũng như tất cả những triết học khác, là thực tiễn, chính là thực nghiệm và công nghiệp” [38, tr.406]
Kế thừa quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong tác phẩm “Chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” V.I.Lênin cho rằng:
“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản
của lý luận về nhận thức” [31, tr.167]
Theo Từ điển Triết học của nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva, xuất bản năm 1986:
Thực tiễn - đó là hoạt động của con người nhằm đảm bảo cho
xã hội tồn tại và phát triển, và trước hết nó là quá trình khách quan của sản xuất vật chất - quá trình này là cơ sở của đời sống con người, đồng thời nó cũng là hoạt động cải tạo - cách mạng của các giai cấp và tất cả các hình thức hoạt động thực tiễn xã hội khác nhằm biến đổi thế giới Thí nghiệm khoa học cũng là một trong những hình thức của thực tiễn [58, tr.343]
Trong giáo trình triết học Mác - Lênin của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, xuất bản năm 2004 định nghĩa: “Thực
Trang 16tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất cảm tính có mục đích, mang tính lịch sử
- xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội” [25, tr.124]
Như vậy có thể thấy, các quan điểm trên đều thống nhất ở chỗ: Thực tiễn chính là hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo thế giới, thoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của xã hội Thực tiễn chính là hoạt động vật chất, ở đó con người sử dụng công cụ vật chất tác động vào đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng theo những nhu cầu, mục đích của con người Thực tiễn chính
là phương thức cơ bản để con người liên hệ với thế giới xung quanh, từ đó hiểu
về thế giới cũng như chính bản thân con người
Thống nhất với cách hiểu trên, chúng tôi đồng ý với quan niệm: “Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội” [2, tr.292] Như vậy, hoạt động thực tiễn rất đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú, song có
ba hình thức cơ bản là: Hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị xã hội
và hoạt động thực nghiệm khoa học Giữa các hoạt động này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với những hoạt động khác Tuy nhiên, hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động sản xuất vật chất Sự tác động lẫn nhau đó giữa các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn làm cho nó không ngừng vận động, phát triển, và ngày càng có vai trò quan trọng đối với nhận thức, lý luận
1.1.2 Phạm trù lý luận
Cho đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về lý luận, song về bản chất giữa các định nghĩa đó đều có điểm chung nhất định, có thể nêu ra các định nghĩa sau:
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ, lý luận là: “Biểu hiện khái quát của những quan hệ thực tại của một cuộc đấu tranh giai cấp hiện có, của một sự vận động lịch sử đang diễn ra trước mắt chúng ta” [36, tr.615] Đó chỉ là một
Trang 17trong nhiều cách diễn giải của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác khi nói về lý luận Ở đây, các ông muốn khẳng định, lý luận là sự phản ánh có tính khái quát sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển của chúng
Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác và ông nêu lên nhiều luận điểm
quan trọng Trong tác phẩm “Bút ký triết học”, V.I.Lênin đã đưa ra khái niệm về
lý luận: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự
nó và vì nó” [32, tr.227] Vấn đề mà V.I.Lênin quan tâm tới ở đây chính là nhận thức ở trình độ lý luận Nhận thức ở trình độ lý luận, theo ông, phải nắm bắt khách thể trong sự tồn tại, vận động và phát triển của nó, trong sự tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành chỉnh thể, phải thấy sự vận động nội tại của bản thân sự vật, hiện tượng Khách thể như vậy thì nhận thức cũng phải tương xứng phù hợp, nghĩa là luôn phải xem xét, đánh giá khách thể một cách bao quát, toàn diện và cụ thể Phương pháp nhận thức cũng phải luôn dựa trên đối tượng cụ thể để có sự vận dụng các nguyên lý chung một cách thích hợp Yêu cầu cơ bản là nhận thức lý luận phải phản ánh được khách thể trong sự vận động biến đổi bên trong tất yếu, trong mối quan hệ toàn diện của nó
Trong Từ điển Triết học của nhà xuất bản Tiến bộ Mátxcơva, xuất bản năm 1986 định nghĩa: “Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong
ý thức của con người, là toàn bộ những tri thức về thế giới khách quan, là
hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện trong lôgích của các khái niệm cái lôgích khách quan của các sự vật” [58, tr.342-343] Với cách định nghĩa này thì khái niệm lý luận được thể hiện một cách toàn diện, nêu rõ được đặc trưng của lý luận là “tính tương đối độc lập” Tính chất tương đối độc lập của lý luận thể hiện khả năng sản sinh ra tri thức mới dựa trên những nguồn gián tiếp, mà không cần dựa trực tiếp vào đối tượng
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Lý luận là đem thực tế trong kinh nghiệm, trong lịch sử, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng,
rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý
Trang 18luận chân chính” [40, tr.233] Người còn cho rằng: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong lịch sử” [41, tr.497]
Như vậy, có thể thấy, lý luận là hệ thống những tri thức khoa học được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan
và được biểu đạt bằng hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù Lý luận là sản phẩm của quá trình tư duy của con người, nó được nảy sinh từ hoạt động thực tiễn, lý luận chính là sự tổng kết những tri thức về tự nhiên, xã hội và con người Đặc trưng của lý luận là tính hệ thống, tính khái quát hoá, tính trừu tượng hoá cao; cơ sở của lý luận là những kinh nghiệm thực tiễn, nó có thể phản ánh được bản chất của các sự vật, hiện tượng
Lý luận chính là một cấp độ cao của quá trình nhận thức của con người, xét ở góc độ này, dựa trên trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng nhận thức, ta có thể phân chia thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận Đây là những tri thức khác nhau về đối tượng, chức năng, tính chất, cũng như trình độ và hình thức phản ánh cũng khác nhau
Tri thức kinh nghiệm, là những tri thức được chủ thể thu nhận từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học Loại tri thức này có hai loại: Tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của con người Tri thức kinh nghiệm là cơ sở để tổng kết, khái quát thành lý luận và cũng là căn cứ để chúng ta không ngừng xem xét lại, bổ sung, sửa đổi, phát triển hệ thống lý luận cũ Tri thức kinh nghiệm cụ thể và sinh động giúp chúng ta kịp thời điều chỉnh phương hướng, cách thức hoạt động của mình, giúp con người có những quyết định nhanh chóng và đáng tin cậy trong phạm vi và hoàn cảnh cụ thể nhất định Khi mà trình độ tư duy của con người còn thấp, mức độ khái
Trang 19quát chưa cao, chưa có hệ thống nguyên lý, lý luận thì tri thức kinh nghiệm đóng vai trò chủ yếu hướng dẫn hoạt động của con người Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm mới chỉ là sự khái quát ban đầu và trong phạm vi hẹp, thường mới là sự phản ánh sự vật trong những hoàn cảnh cụ thể Trong nhiều trường hợp, tri thức kinh nghiệm chỉ phản ánh được mối liên hệ bên ngoài, ngẫu nhiên của các sự vật một cách rời rạc Do vậy, tri thức kinh nghiệm chưa đi sâu nắm bắt được cái tất yếu, mối quan hệ bản chất và quy luật của các sự vật hiện tượng, chưa tạo thành một hệ thống tri thức chặt chẽ
Tri thức lý luận, là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, nó tồn tại trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của lý luận nói chung Khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận mang tính trừu tượng, khái quát và tính phổ biến, nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan, tri thức lý luận thể hiện tính chân lý sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn Tư duy xa sự vật, nhưng lại gần sự vật hơn Phạm vi ứng dụng cũng như tính hướng dẫn, chỉ đạo của tri thức lý luận phổ biến, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm, làm cho hoạt động của con người trở nên chủ động hơn, tự giác hơn, tránh được tình trạng mò mẫm, tự phát
1.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
Thứ nhất , thực tiễn là nguồn gốc, là cơ sở của lý luận Có thể khẳng
định, những tri thức được con người khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan, làm cho thế giới khách quan bộc
lộ những thuộc tính, những tính chất ẩn giấu bên trong chúng để con người nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, sau đó con người tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để phản ánh bản chất, quy luật vận động, phát triển của các sự vật, hiện
Trang 20tượng trong thế giới, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận Logic của thực tiễn đã quy định logic của nhận thức Hoạt động thực tiễn đã cung cấp cho nhận thức của con người những hiểu biết, góp phần hình thành lý luận về thế giới Quá trình hoạt động thực tiễn là cơ sở để bổ sung , điều chỉnh và phát triển các lý luận đã được khái quát Mă ̣t khác, chính hoạt đô ̣ng thực tiễn của con người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhâ ̣n thức phải tiếp tu ̣c nghiên cứu , giải quyết , trên cơ sở đó lý luận được bổ sung mở
rô ̣ng Chính vì vậy ,V.I.Lênin khẳng định: “Nhâ ̣n thức lý lu ận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó , trong những quan hê ̣ toàn diê ̣n của nó , trong sự vâ ̣n đô ̣ng mâu thuẫn của nó tự nó và vì nó” [32, tr.227]
Thứ hai, thực tiễn là động lực của lý luận Nhu cầu thực tiễn ngay từ
đầu đã quy định hoạt động thực tiễn của con người Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái quát hóa thành lý luận để giải đáp những vấn đề thực tiễn đề ra Chính vì vậy, thực tiễn
đã thúc đẩy sự hình thành nhiều ngành khoa học mới Khoa học ra đời chính
là vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người
Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người biến đổi thế giới khách quan, đồng thời cũng biến đổi luôn cả chính bản thân con người, từ đó con người phát triển năng lực trí tuệ, năng lực khám phá, năng lực sáng tạo của mình Nhờ đó, con người ngày càng hiểu biết sâu sắc hơn, làm phong phú hơn, đa dạng hơn những tri thức của mình về tự nhiên, xã hội và bản thân con người Quá trình hoạt động thực tiễn còn có tác dụng rèn luyện, phát triển các giác quan của con người, làm cho chúng tinh tế hơn, hoàn thiện hơn, từ đó giúp nhận thức của con người đạt hiệu quả cao hơn Ph.Ăngghen khẳng định:
“Chính việc người ta biến đổi giới tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới
tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc
Trang 21người ta đã học cải biến tự nhiên” [37, tr.720] Hoạt động thực tiễn thúc đẩy con người tìm tòi, khám phá, nghiên cứu, cải tiến, sáng tạo ra các công cụ, máy móc, phương tiện để nâng cao năng suất lao động, nối dài khí quan của con người trong nhận thức, thúc đẩy nhận thức, tư duy phát triển hơn nữa
Thứ ba, thực tiễn là mục đích của lý luận Nhận thức không vì mục
đích tự thân, cũng không phải để thoả mãn trí tò mò, tiêu khiển, mà nhận thức của con người là nhằm phục vụ, hướng dẫn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nhận thức mà không nhằm mục đích vì thực tiễn, phục vụ thực tiễn sẽ rơi vào mất phương hướng, bế tắc Mọi tri thức khoa học, mọi lý luận chỉ có ý nghĩa khi chúng được vận dụng vào thực tiễn Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức khái quát về thế giới, làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết, khám phá thế giới của con người, nhưng bản thân lý luận không thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Mọi tri thức khoa học, mọi lý luận phải được áp dụng vào quá trình sản xuất, đấu tranh chính trị - xã hội, thực nghiệm khoa học, nhằm biến đổi tự nhiên, xã hội theo quy luật, phục vụ cho mục đích của con người
Đó thực chất là mục đích của lý luận, tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
Thứ tư, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, là căn cứ để chứng minh tính đúng đắn của lý luận Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức, tri thức
có thể phản ánh đúng, hoặc sai lệch hiện thực khách quan Tính chân lý của lý luận - sự phát triển cao của nhận thức con người chính là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan Triết học Mác - Lênin chỉ ra rằng, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan để kiểm tra chân lý, là căn cứ để chứng minh tính đúng đắn của lý luận C.Mác viết:
Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân
lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý
luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con
Trang 22người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực
và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình [35, tr.9-10]
V.I.Lênin cũng đã từng khẳng định: “Con người chứng minh bằng thực tiễn của mình, sự đúng đắn khách quan của những ý niệm, khái niệm, tri thức của mình, khoa học của mình” [32, tr.203] Chỉ có thực tiễn mới có thể “vật hoá” được tri thức, hiện thực hoá được tư tưởng, từ đó mới có thể khẳng định hay phủ định một lý luận, một giả thuyết khoa học nào đó Căn cứ vào thực tiễn, người ta chứng minh, kiểm nghiệm tính chân lý của lý luận Qua kiểm nghiệm từ thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp với thực tiễn sẽ được tiếp tục bổ sung, điều chỉnh hoặc nhận thức lại cho phù hợp
Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, tuy nhiên cần phải hiểu tiêu chuẩn thực tiễn ấy vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tiêu chuẩn thực tiễn có tính tuyệt đối vì thực tiễn, xét đến cùng là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để có thể kiểm nghiệm chân lý, bác bỏ sai lầm Còn tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối vì thực tiễn không đứng yên một chỗ, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển
Về vấn đề này, V.I.Lênin chỉ ra rằng: “Theo bản chất của nó, tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại đem thêm những hạt nhân mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối” [31, tr.158] Xem xét thực tiễn trong thời gian càng dài, trong không gian càng rộng, trong chỉnh thể càng toàn vẹn thì càng thấy rõ đâu là chân lý, đâu là sai lầm Chính
vì vậy, những tri thức đã đạt được trước đây, đã được thực tiễn giai đoạn đó kiểm nghiệm vẫn phải thường xuyên được kiểm nghiệm bởi thực tiễn mới để bổ sung, hoàn thiện, phát triển cho phù hợp với điều kiện lịch sử - cụ thể mới
- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn
Thực tiễn có vai trò quan trọng, quyết định đối với nhận thức nói chung
và lý luận nói riêng Song, lý luận cũng có vai trò quan trọng tác động trở lại thực tiễn
Trang 23Lý luận khái quát kinh nghiệm, chỉ ra quy luật vận động của thực tiễn Lý
luận bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định, phụ thuộc vào thực tiễn, nhưng lý luận lại có tính độc lập tương đối so với thực tiễn Sinh ra lý luận trước hết là để khái quát kinh nghiệm thực tiễn, chỉ ra tính bản chất, tính quy luật trong sự vận động, phát triển của thực tiễn Thực tiễn phong phú, đa dạng, muôn màu, muôn vẻ Đằng sau cái hiện tượng, lý luận cho ta thấy bản chất, đằng sau cái ngẫu nhiên cho ta thấy cái tất nhiên, đằng sau cái “thường xuyên biến đổi” cho ta thấy cái “tương đối ổn định”
Hàng ngàn năm nay, con ong, con nhện vẫn mãi mãi làm công việc lặp
đi, lặp lại vô cùng khéo léo Chỉ có con người - động vật duy nhất có trí tuệ mới có khả năng sáng tạo, phát triển và làm phong phú hoạt động của mình Chỉ có con người mới in dấu ấn của mình vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên và sự cải tạo đó ngày càng tinh vi, hiện đại và nhân lên mãi mãi Vào thế kỉ XVI, nhà triết học duy vật người Anh - Ph.Bêcơn đã nhận thấy tri thức là sức mạnh làm tăng thêm quyền lực của con người với tự nhiên Với bản chất hoạt động
có mục đích và sáng tạo, con người bằng lý luận khoa học, ngày càng cải tạo tự nhiên có hiệu quả hơn, có quyền năng hơn nhờ nắm bắt được bản chất, quy luật vận động, phát triển của thế giới khách quan
Lý luận dự báo, định hướng cho hoạt động thực tiễn Lý luận khoa học
giúp con người nắm bắt quy luật vận động của thực tiễn Nắm quy luật thực chất là nắm các mối quan hệ tất yếu, bản chất, quyết định chiều hướng vận động, phát triển của thực tiễn Do vậy, lý luận có khả năng dự báo, dự đoán
được sự vận động, phát triển của thực tiễn
Từ dự báo, dự đoán chiều hướng vận động, phát triển của thực tiễn, lý luận khoa học có khả năng dự báo, dự đoán những rủi ro, khó khăn, thách thức, tình huống có thể xảy ra trên con đường vận động, phát triển của thực tiễn Lý luận khoa học soi đường, dẫn dắt cho sự vận động, phát triển của thực tiễn, giúp con người tự giác, giảm thiểu sự mò mẫm, tự phát trong hoạt động thực tiễn, “Lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho
Trang 24chúng ta trong công việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [40, tr.233-234] Tất cả những dự báo, dự đoán trên giúp con người chủ động trong định hướng mục tiêu phát triển, xây dựng bản lĩnh vững vàng, kiên định, không bi quan, dao động trên con đường đi tới tương lai mà
lý luận khoa học đã chỉ ra
Lý luận giáo dục, tập hợp, liên kết lực lượng, chỉ đạo và cải tạo thực tiễn Lý
luận không chỉ tập trung vào việc giải thích thế giới, điều quan trọng hơn là cải tạo thế giới, phục vụ cho cuộc sống của con người Lý luận không chỉ mở rộng khả năng nhìn thấy trước, dự báo, dự đoán tương lai, mà lý luận khoa
học còn bao hàm cả ý nghĩa tự giác hình thành tương lai đó
Lý luận có vai trò giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ mục tiêu, lý tưởng, xác định phương pháp, biện pháp thực hiện, tập hợp, liên kết lực lượng tạo thành sức mạnh to lớn trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội vì sự phát triển của các cá nhân và của xã hội Chính vì vậy, C.Mác đã cho rằng: “Vũ khí của
sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [34, tr.580]
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, do tính trừu tượng, khái quát cao, tính gián tiếp trong sự phản ánh thực tiễn, nên lý luận sẽ có khả năng xa rời thực tiễn và trở thành ảo tưởng Mặt khác, thực tiễn luôn luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng, nếu lý luận không bắt kịp nhịp điệu vận động, phát triển của cuộc sống, lý luận cũng dễ lạc hậu hơn so với thực tiễn Phải coi trọng lý luận, bên cạnh đó không được cường điệu, tuyệt đối hoá vai trò của
lý luận, coi thường thực tiễn và tách rời giữa lý luận và thực tiễn
- Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, gắn bó với nhau và tác động qua lại lẫn nhau Trong mối quan hệ ấy, thực tiễn giữ vai trò là cơ sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của lý luận, là tiêu chuẩn của chân lý, là căn cứ
Trang 25để chứng minh tính đúng đắn của lý luận Lý luận xuất phát từ thực tiễn, nhưng
có vai trò như “kim chỉ nam”, khái quát kinh nghiệm, chỉ ra quy luật vận động,
dự báo, định hướng cho hoạt động thực tiễn, lý luận giáo dục, liên kết, tập hợp lực lượng, chỉ đạo và cải tạo thực tiễn
Những vấn đề của lý luận xét về thực chất là những vấn đề do thực tiễn quy định Giải quyết những vấn đề của lý luận cũng chính là giải quyết những vấn đề của thực tiễn Do đó, khi thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng phải biến đổi cho phù hợp Muốn hiểu và kiểm tra tính chính xác, đúng đắn của lý luận cần phải căn cứ vào thực tiễn, nhưng để hiểu thực tiễn cũng cần phải có lý luận V.I.Lênin nhấn mạnh: “Phải có sự kết hợp giữa nhận thức và thực tiễn” [32, tr.233] Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” [41, tr.496]
1.2 Biểu hiện của việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
Lãnh đạo, theo Từ điển tiếng Việt (2000), nhà xuất bản Đà Nẵng, đó
là: “Đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện” [59, tr.544] Lãnh đạo là một hoạt động thuyết phục mọi người cùng hợp tác để thực
hiện một mục tiêu chung “Sự lãnh đạo được xác định như là một nghệ
thuật hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức đề ra Lãnh đạo
là chỉ dẫn, điều khiển, ra lệnh và nêu gương Thực chất của lãnh đạo là tạo
ra sự tuân thủ” [24, tr.11] Như vậy, hoạt động lãnh đạo là quá trình tạo
ảnh hưởng, tác động tới con người và tổ chức, đưa ra những chủ trương, phương hướng phát triển tổ chức, nhằm thực hiện mục tiêu chính trị, kinh
Trang 26tế, văn hóa, xã hội đặt ra ở từng giai đoạn, phù hợp với yêu cầu và điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của xã hội
Quản lý, theo Từ điển tiếng Việt (2000), nhà xuất bản Đà Nẵng, đó là:
“Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [59, tr.800] Có nghĩa, hoạt động quản lý là quá trình hiện thực hóa những đường lối, chủ trương chiến lược thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý và phù hợp với yêu cầu, điều kiện của cơ quan, địa phương cụ thể
Qua hai khái niệm trên cho thấy, hoạt động lãnh đạo, quản lý là hai khái niệm tuy khác nhau, nhưng chúng lại có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Điểm chung của hai hoạt động này là đều đạt đến mục đích mong muốn thông qua hành động của người khác, có nghĩa, hai hoạt động này thể hiện quyền lực, quyền uy đến đối tượng là những người dưới quyền để thực hiện một nhiệm vụ nào đó theo yêu cầu và mục đích định trước Lãnh đạo là đề ra chủ trương và tổ chức động viên đối tượng bị lãnh đạo thực hiện, còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu nhất định Như vậy, có thể hiểu: lãnh đạo
là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng, hướng tới mục tiêu cuối cùng, còn quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo các yêu cầu đó
Nếu xét về mục tiêu, nội dung, phương pháp thì có sự khác nhau căn bản giữa hai khái niệm trên
Về mục tiêu, hoạt động lãnh đạo là hoạt động mang tính định hướng chung, còn hoạt động quản lý là hoạt động tổ chức, sắp xếp, chỉ huy các vấn
đề theo một trật tự nhất định nhằm đạt hiệu quả cao nhất các quyết định của lãnh đạo Lãnh đạo thường quan tâm đến những vấn đề chiến lược, những mục tiêu lâu dài, còn quản lý chú trọng tới những yêu cầu mang tính chiến thuật, mục tiêu cụ thể và thường là ngắn gọn
Về nội dung, hoạt động lãnh đạo đề ra những quan điểm, chủ trương, đường lối chiến lược, hoạch định các kế hoạch mang tính chất định hướng chung Còn hoạt động quản lý tiến hành xây dựng những phương án, chỉ
Trang 27tiêu, kế hoạch cụ thể, tổ chức lực lượng để thực hiện chủ trương, đường lối chiến lược đó
Về phương pháp, hoạt động lãnh đạo chủ yếu dùng phương pháp giáo dục, thuyết phục, động viên, cổ vũ, gây ảnh hưởng nhằm phát huy tính tự giác của đối tượng Hoạt động quản lý dựa vào pháp luật, sử dụng mệnh lệnh, mang tính nguyên tắc bắt buộc với những pháp chế, thể chế, quy chế, chế tài, biện pháp hành chính nhất định
Sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý ở đây không mang tính biệt lập, tuyệt đối, máy móc Lãnh đạo và quản lý là những nội dung có quan hệ mật thiết tác động qua lại lẫn nhau Ở đây, lãnh đạo làm tiền đề, cơ sở cho quản lý, còn quản lý là quá trình hiện thực hoá đường lối lãnh đạo, để lãnh đạo đạt hiệu quả cao nhất Cho nên đã là cán bộ lãnh đạo giỏi thì phải biết công tác nghiệp
vụ quản lý và cán bộ quản lý giỏi ở một mức độ nhất định cũng phải biết tiến hành công tác lãnh đạo, ranh giới giữa hai khái niệm này cũng chỉ là tương đối
Cán bộ, tuỳ theo góc độ tiếp cận, mục đích nghiên cứu mà mỗi quốc
gia, dân tộc có cách hiểu khác nhau về cán bộ, điều đó bắt nguồn từ truyền thống, đặc điểm của dân tộc cũng như lịch sử phát triển của các nước Thuật ngữ cán bộ được dùng phổ biến hơn ở các nước xã hội chủ nghĩa, các nước theo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, còn các nước tư bản chủ nghĩa thường dùng khái niệm quan chức, công chức Ở nước ta, cán bộ là thuật ngữ được du nhập và sử dụng khá phổ biến trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cho đến nay cán bộ vẫn là khái niệm được sử dụng khá nhiều, đặc biệt trong các quan hệ công tác xã hội Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có cách hiểu thống nhất về quan niệm cán bộ
Theo từ điển Tiếng Việt (2000), nhà xuất bản Đà Nẵng, thì cán bộ có hai nghĩa: “1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước 2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ” [59, tr.109]
Trang 28Trong cuốn “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đưa ra
khái niệm chung nhất: “Cán bộ là khái niệm dùng để chỉ những người có chức
vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức” [56, tr.18]
Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi “Cán bộ là công bộc của nhân dân”, trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Bác viết: “Cán bộ là những người đem chính
sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [40, tr.269]
Hiện nay dưới góc độ khoa học, quản lý, Luật Cán bộ, Công chức năm
2008 nêu rõ khái niệm cán bộ và khái niệm cán bộ cấp xã:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu khái quát khái niệm cán bộ theo hai nghĩa cơ bản sau:
Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc
trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã
Trang 29hội, các doanh nghiệp nhà nước và các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến cơ sở địa phương
Hai là, cán bộ là những người giữ chức vụ quan trọng trong cơ quan
hay một tổ chức để phân biệt với những người không có chức vụ trong cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị Mỗi một loại cán bộ có vai trò, vị trí nhất định trong xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm cán bộ được hiểu là những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, là những công chức, viên chức làm việc hưởng lương hay phụ cấp từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác, được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và được phân công giữ một chức danh nào đó trong bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta
Cán bộ chủ chốt, theo Từ điển Tiếng Việt (2008), nhà xuất bản Từ điển
Bách khoa: “Chủ chốt là quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [57, tr.283]
Trong đội ngũ cán bộ, có một số người được gọi là cán bộ chủ chốt Trong tiếng anh gọi những người này là Leader (người cầm đầu) Đây là những người có vai trò quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể và có quyền ra những quyết định, có trách nhiệm và quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện nhiệm vụ của tập thể, đơn vị, tổ chức ấy; đồng thời họ là lực lượng nòng cốt, quan trọng nhất, chi phối, dẫn dắt toàn bộ
hoạt động của tập thể, đơn vị, tổ chức đó
Cán bộ chủ chốt là thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ những cán bộ
có vị trí quan trọng nhất trong tổ chức bộ máy Trong hệ thống chính trị ở trung ương, những cán bộ có vị trí quan trọng được xem như “chính khách”,
là “cán bộ chiến lược”, thì ở địa phương và cơ sở, những cán bộ có vị trí quan trọng được gọi là “cán bộ chủ chốt”
Liên quan đến khái niệm cán bộ chủ chốt, hiện nay cần phân định rõ hai khái niệm cán bộ chủ chốt và cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt Về hình thức
có nhiều người đồng nhất hai khái niệm trên, nhưng về bản chất đây là hai khái
Trang 30niệm có sự khác nhau, cần phân biệt rõ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt để chỉ những người lãnh đạo, quản lý nhưng là lãnh đạo, quản lý toàn diện, có thẩm quyền cao nhất, có trọng trách, trách nhiệm lớn nhất trước tập thể
mà họ lãnh đạo, quản lý Còn cán bộ chủ chốt là khái niệm tương đối rộng bao gồm cả những cán bộ cấp trưởng và cấp phó ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có tác động chi phối hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ấy Mỗi cán bộ chủ chốt gắn với một tổ chức và chức danh cụ thể theo quy định
Việc xác định cán bộ chủ chốt không những phải gắn với một hệ thống
tổ chức nhất định mà còn phải căn cứ vào chức danh cụ thể của từng người, vị trí công tác mà họ đang đảm nhiệm, vì trên thực tế một người cán bộ ở cương
vị này, trong một tổ chức này là cán bộ chủ chốt nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí, cương vị khác, thì lại không phải là cán bộ chủ chốt Do đó, khi xác định cán bộ chủ chốt hay không phải cán bộ chủ chốt cần đặt cán bộ đó trong mối quan hệ với toàn bộ hệ thống tổ chức của bộ máy và dựa vào chức trách cụ thể mà họ đang đảm nhiệm Chẳng hạn, Bí thư Đảng uỷ xã là cán bộ chủ chốt của một xã, nhưng không phải là cán bộ chủ chốt của huyện, mặc dù
có thể là huyện uỷ viên
Có thể hiểu khái niệm cán bộ chủ chốt như sau: Cán bộ chủ chốt là những người có vai trò, chức vụ quan trọng trong một cơ quan, một tổ chức nhất định, có tác dụng làm nòng cốt, chi phối toàn bộ hoạt động của cơ quan,
tổ chức đó; họ là những người trực tiếp đưa ra những quyết định lãnh đạo, quản lý, tổ chức các hoạt động của cơ quan, tổ chức đó; đồng thời là người có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý theo chức trách của mình nhằm đảm bảo duy trì hoạt động của cơ quan, tổ chức đó
Như vậy, cán bộ chủ chốt là người có vị trí, vai trò, chức vụ quan trọng trong hệ thống chính trị Đây là lực lượng tiên phong trong các hoạt động, họ
là những người vừa có chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời vừa có năng lực,
Trang 31trình độ và kinh nghiệm thực tiễn Kết quả hoạt động của họ có ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của cả hệ thống chính trị, có thể tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị tuỳ theo phẩm chất, năng lực và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ Họ có thể “làm cho tổ chức mạnh lên hay yếu đi, thiếu họ tổ chức có thể mất ổn định, thậm chí có thể tan rã” [43, tr.43]
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, “đội ngũ” theo Từ điển Tiếng Việt
(2008), nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, là: “Khối đông người được tập hợp
và tổ chức thành một lực lượng có quy củ” [57, tr.535]
Theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013,
hệ thống chính trị của nước ta chia thành 4 cấp: cấp trung ương; cấp tỉnh; cấp
huyện và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) Cấp cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ
thống quản lý hành chính Nhà nước bốn cấp hiện nay ở nước ta, là đơn vị hành chính - lãnh thổ cuối cùng nhỏ nhất Cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng,
là nền tảng của nền hành chính quốc gia, là nơi đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nhân dân và tổ chức hoạt động để phát triển tốt nhất khả năng sáng tạo, năng lực làm chủ của nhân dân lao động Cấp cơ sở là nơi thực tiễn diễn ra sôi động hàng ngày, hàng giờ, là nơi kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và là nơi biến những chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, chỉ thị, nghị quyết đó trở thành hiện thực cuộc sống Cấp cơ
sở là nơi trực tiếp giải quyết các mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nói cách khác, cấp cơ sở là cấp tổ chức thực hiện, cấp chấp hành, cấp hành động Hiện nay cấp cơ sở ở nước ta chủ yếu là ở địa bàn nông thôn, nông dân làm nông nghiệp, nên có tiềm năng rất lớn về lao động, đất đai, ngành nghề, sản xuất ra lương thực, thực phẩm, của cải vật chất dồi dào cho
Trang 32xã hội Đồng thời, cấp cơ sở cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm cũng như cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Có thể nói, cấp cơ sở là địa chỉ cần phải tới, là cái đích cần đạt được của tất cả mọi hoạt động chỉ đạo chiến lược từ trung ương tới địa phương
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người đứng đầu, quan trọng nhất trong hệ thống chính trị ở cấp cơ sở, là lực lượng nòng cốt, chi phối việc chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở; thông qua việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an ninh - quốc phòng theo sự định hướng của Đảng, Nhà nước nhằm hoàn thành những mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra, kiểm tra, giám sát những nhiệm vụ đó, đảm bảo cho các kế hoạch, mục tiêu được thực hiện chính xác, hiệu quả
Như vậy, có thể hiểu đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò quan trọng nhất, chi phối, ảnh hưởng, quyết định đến chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, họ là những người tiêu biểu nhất của tổ chức, là người trực tiếp đưa ra những quyết định lãnh đạo và điều hành quản lý tổ chức của mình theo thẩm quyền, chức trách của mình nhằm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển địa phương, cơ sở theo định hướng của Đảng và Nhà nước, thúc đẩy cơ sở phát triển toàn diện nhằm nâng cao đời sống nhân dân, họ chịu trách nhiệm về những quyết định lãnh đạo, quản lý của mình
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở đây được xác định bao gồm cán
bộ Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể Như ở phần trên luận văn đã chỉ rõ, cấp cơ sở bao gồm xã, phường, thị trấn, cấp cơ sở ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội bao gồm 16 xã và 2 thị trấn (không có phường), do đó trong phạm vi luận văn này, các chức danh thuộc đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở được đề cập tới bao gồm:
Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ cấp xã, thị trấn
Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, thị trấn
Trang 33 Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã, thị trấn
Chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam cấp xã, thị trấn
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh cấp xã, thị trấn
Chủ tịch Hội Nông dân cấp xã, thị trấn
Chủ tịch Hội Phụ nữ cấp xã, thị trấn
Bí thư Đoàn Thanh niên cấp xã, thị trấn
Như vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở không đồng nhất (trùng khít) với cấp uỷ cơ sở, nhưng ít nhất cũng 2/3 chức danh trên nằm trong cấp
uỷ Do đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vững mạnh là nhân tố đảm bảo
và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, đồng thời phát huy vai trò năng động, sáng tạo của các tổ chức chính trị - xã hội cũng như đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ở địa phương cơ sở
1.2.2 Đặc trưng hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Thứ nhất, tính trực tiếp, hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng cầu nối giữa Đảng với nhân dân, giữa công dân với Nhà nước Họ là lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên ở cơ sở Đồng thời, hoạt động lãnh đạo, quản lý của họ góp phần trực tiếp vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc của cộng đồng dân cư Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và chăm lo xây dựng cấp cơ sở Người đã tổng kết, rút ra bài học có ý nghĩa cực kỳ quan trọng:
Trang 34“Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi” [40, tr.371]
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người trực tiếp hàng ngày, hàng giờ tiếp xúc với quần chúng nhân dân Đa số họ là những người sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ cơ sở, từ chính quê hương mình Cuộc sống và công việc của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở gắn liền với họ tộc, làng xóm, quê hương Do vậy, hơn ai hết họ là những người hiểu quần chúng nhân dân, hiểu tâm tư, nguyện vọng, tình cảm cũng như những thuận lợi, khó khăn của quần chúng nhân dân; họ am hiểu phong tục, tập quán, đặc điểm truyền thống văn hoá trên địa bàn họ phụ trách, gắn bó mật thiết với cơ sở Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở gần gũi, tiếp xúc với nhân dân không chỉ trong giờ hành chính mà còn ngoài giờ hành chính, không chỉ trong thời gian làm việc ở văn phòng mà còn trong các buổi sinh hoạt ở địa bàn cơ sở Họ làm nhiệm vụ của mình thông qua các biện pháp hành chính, đồng thời còn phải trực tiếp làm công tác dân vận, vận động quần chúng, tạo nên tinh thần đoàn kết nhất trí cao trong nhân dân, bảo vệ, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống, những phong tục tập quán lâu đời của địa phương mình Với tính chất hoạt động ở địa bàn cơ sở nên trong công tác và quan hệ xã hội của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thường bị chi phối bởi tác động từ gia đình, dòng tộc, đến công việc chung của xã hội Họ giải quyết nhiều công việc không chỉ tại bàn giấy mà phải lội xuống đồng, đến từng hộ xã viên, công việc không chỉ diễn ra ban ngày mà nhiều khi cả ban đêm Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đóng nhiều vai trò khác nhau trong giao tiếp, ứng xử để điều hoà hoạt động chung Chẳng hạn, họ đóng vai trò hoà giải trong các mối quan hệ giữa các công dân, làm chứng cho các quan hệ có tính chất công giữa nhân dân lao động với nhau và giữa công dân với Nhà nước Ở địa bàn cơ sở,
họ là người giải quyết tranh chấp dân sự lần đầu tại khu dân cư, là chỗ dựa tin cậy của nhân dân cũng như các cơ quan quản lý khác trong việc xác định tư cách, xác định thân nhân của các đối tượng khác nhau ở địa phương
Trang 35Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người trực tiếp triển khai chủ trương, đườ ng lối của Đảng , chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên tại đi ̣a phương Họ là người đưa ra những quyết đi ̣nh, giải pháp thực hiện , đồng thời la ̣i trực tiếp tổ chức thực hiê ̣n chủ trương, giải pháp đó ngay tại địa phương Họ trực tiếp kiểm nghiệm tính đúng đắn của các chủ trương, giải pháp, trực tiếp chứng kiến kết quả lãnh đa ̣o , quản
lý của mình và của các cán bộ chủ chốt khá c tại địa phương Mọi công việc của họ đều được nhân dân giám sát trực tiếp Các chủ trương, chính sách, nghị quyết của cấp trên có thành hiện thực và đem lại hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực thực hiện của đội ngũ này Các chủ trương, chính sách, nghị quyết của cấp trên dù đúng đắn đến mấy, mà không được đội ngũ cán bộ chủ chốt cơ sở có đủ năng lực triển khai đúng thì cũng không thể trở thành hiện thực, không đem lại kết quả thực tế, nhằm phục vụ
sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân ở địa phương Đồng thời họ cũng là người đại biểu cho nguyện vọng, quyền lợi của quần chúng nhân dân Họ phản ánh lại nhu cầu, khát vọng, tâm tư, tình cảm của quần chúng nhân dân lên lãnh đạo cấp trên, để cấp trên kịp thời nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước cho phù hợp với đòi hỏi khách quan của thực tiễn Chính đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là những người làm cho ý Đảng, lòng dân được thống nhất, làm cho Đảng và Nhà nước có cơ sở ăn sâu, bám rễ trong quần chúng, tạo nên quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Trực tiếp củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước
Thứ hai, tính toàn diện, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở lãnh đạo , quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hô ̣i ở địa phương mình phụ trách
như: kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh, quốc phòng… Điều đó quy định tính toàn diê ̣n trong hoạt động lãnh đạo , quản lý của đội ngũ cán bô ̣ chủ chốt cấp cơ sở , họ phải giải quyết mo ̣i mối quan hê ̣ theo chiều dọc: trung ương - tỉnh - huyê ̣n - cơ sở (xã, phường, thị trấn) và ngược lại Đồng thời họ
Trang 36phải giải quyết các mối quan hệ theo chiều ngang với mo ̣i đối tượng trong cơ
sở và các cơ sở khác trong địa bàn Khi giải quyết những công việc lớn, nhỏ
họ vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý lại vừa là một công dân với những mối quan hệ nhiều chiều trong thôn, xóm, bản, làng nên cách làm việc của họ phải đảm bảo thấu tình đạt lý Trong các mối quan hê ̣ và các hoa ̣t đô ̣ng này , biết bao tình h uống nảy sinh với tính đa dạng của nó mà đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải quan tâm giải quyết
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở lãnh đạo toàn diện tất cả mọi công việc diễn ra trong hoạt động quản lý như: xác định nhiệm vụ chính trị, đề ra giải pháp thực hiện, cụ thể hoá nhiệm vụ chính trị, tổ chức thực hiện và kiểm tra, tổng kết việc thực hiện Họ là những người đại diện cho Đảng và Nhà nước
để lãnh đạo bà con nông dân phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, chính quyền, bảo đảm an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng nông thôn mới ở cơ sở Quần chúng nhân dân biết tới chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên chủ yếu thông qua đội ngũ cán bộ này Vì vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở như là người thay mặt Đảng và Nhà nước ở địa phương, phẩm chất, tài năng của họ sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của Đảng và Nhà nước Hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở trước tiên phụ thuộc vào niềm tin của nhân dân, vào sự phán xét của nhân dân về những điều mà họ nói và làm
Thứ ba, tính tổng hợp, cấp cơ sở là cấp hành đô ̣ng, trực tiếp tổ chức thực
hiê ̣n nên hoa ̣t đô ̣ng lãnh đạo , quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
phải mang tính tổng hợp Tính chất trực tiếp và toàn diện trong hoa ̣t đô ̣ng lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở dẫn tới tính tổng hợp trong
hoạt động lãnh đạo, quản lý của họ Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải có khả năng chỉ đa ̣o mo ̣i mă ̣t Họ không chỉ nói được mà quan trọng hơn là phải làm được Sự thống nhất giữa lời nói và viê ̣c làm , giữa nhâ ̣n thức và hành
đô ̣ng, giữa lý luâ ̣n và thực tiễn sẽ góp phần mang la ̣i hiê ̣u q uả trong hoạt động
Trang 37lãnh đạo, quản lý của họ Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vừa phải am hiểu, nắm rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên vừa phải tuyên truyền , vâ ̣n đô ̣ng và chỉ đa ̣o quần chúng nhân dân thực hiê ̣n tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, chỉ thị và nghị quyết đó Không chỉ vâ ̣y, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ
sở còn phải biết kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiê ̣m để có thể thực hiê ̣n tốt hơn chức trách, nhiệm vụ của mình Do đă ̣c trưng của hoa ̣t đô ̣ng của cấp cơ sở như
vâ ̣y nên viê ̣c đào ta ̣o , bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vừa phải đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ vừa phải chú ý đào tạo tổng hợp, toàn diện các mặt khác Chú trọng tới kĩ năng thực hành : tiếp dân, xử lí tình huống khi ếu kiê ̣n, xử lí những “điểm nóng” chính trị… Trên cơ sở những hiểu biết khoa học, thực tiễn đời sống, đội ngũ cán bộ cấp cơ sở phải thường xuyên phát huy tính năng động, sáng tạo để tìm ra các hình thức, biện pháp phù hợp cho việc thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu cụ thể của mỗi phong trào ở địa phương Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra hiện nay
Hiê ̣n nay , chúng ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp h óa, hiê ̣n đa ̣i hóa đất nước , thời kì hô ̣i nhâ ̣p kinh tế quốc tế và khu vực , thực tiễn này đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng đươ ̣c mô ̣t đô ̣i ngũ cán bô ̣ chủ chốt cấp cơ
sở ngang tầm với n hiê ̣m vu ̣ Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của họ là việc làm hết sức cần thiết
1.2.3 Biểu hiện của việc vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở
Hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở có
vị trí và vai trò quan trọng, về thực chất đây là quá trình bao gồm các khâu: ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra việc thực hiện các quyết định, tổng kết việc thực hiện quyết định
Trang 381.2.3.1 Hoạt động ra quyết định
Hoạt động ra quyết định là quá trình tư duy, tìm ra những giải pháp, bước đi để nhằm đưa đối tượng lãnh đạo, quản lý từ trạng thái này sang trạng thái khác, phù hợp với nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý; là sự phát hiện mâu thuẫn giữa tình huống lãnh đạo, quản lý với đòi hỏi nhiệm vụ phải thực hiện, dựa vào các nguồn lực để lựa chọn và tìm ra phương án tối ưu để giải quyết chúng Điều đó cho thấy quyết định là sản phẩm sáng tạo và là phương tiện quan trọng để đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở thực hiện hoạt động lãnh đạo, quản lý của mình
Hoạt động ra quyết định gắn với chức năng lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở một cách tất yếu đến mức có thể khẳng định rằng không thể nói là cán bộ chủ chốt xứng đáng nếu không dám quyết định, nếu không biết quyết định một cách chính xác các vấn đề, hoặc phần lớn các vấn đề Lãnh đạo, quản lý phải ra quyết định điều đó bắt nguồn từ việc trong quá trình phát triển của hiện thực và của thực tiễn, luôn luôn xuất hiện những vấn đề mới đòi hỏi phải giải quyết nhằm biến đổi hiện thực theo con đường tiến bộ, cách mạng Ra quyết định chính là hành động sáng tạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vào lúc mà thực tại đòi hỏi - tức là lúc có vấn đề nảy sinh nhằm giải quyết vấn đề, chuyển từ tình huống thực tại sang tình huống dự kiến thực hiện mục tiêu, ý đồ của lãnh đạo, quản lý từ đó đưa ra các quyết định phù hợp Thông qua các quyết định của họ, nó có tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội ở cơ sở, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế -
xã hội ở cơ sở
Vận dụng sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong việc ra quyết định của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở đòi hỏi phải đảm bảo những nội dung sau:
Quyết định đưa ra phải dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời phải phù hợp với chủ trương, đường lối của
Trang 39Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên
Quyết định đúng đắn phải xuất phát từ chỗ hiểu vấn đề, hiểu xu hướng phát triển của sự vật Để nhận thức được sự vật khách quan, để hiểu biết các quy luật khách quan, cần phải nắm vững các khoa học trước hết là khoa học cách mạng của giai cấp công nhân tức là chủ nghĩa Mác - Lênin Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải là người nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, từ đó mới có thể vận dụng sáng tạo, cụ thể hoá vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở từng lĩnh vực; xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, kế sách phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với thực tế địa phương và tổ chức thực hiện có hiệu quả cao, phù hợp với mục tiêu, lý tưởng của Đảng và Nhà nước Có nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên mới có mốc định hướng đúng đắn khi đưa ra quyết định, mới có khả năng ngăn ngừa sai lầm, tránh được sự tuỳ tiện, chủ quan trong quá trình ra quyết định Nếu quyết định đưa ra không phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chỉ thị, nghị quyết của cấp trên sẽ dẫn đến chệch hướng, kìm hãm sự phát triển của địa phương
Quyết định ban hành phải chính xác, giải quyết kịp thời, đúng và trúng những vấn đề do thực tiễn địa phương đặt ra Một quyết định được coi là
chính xác khi nó giải quyết đúng vấn đề do cuộc sống, do mâu thuẫn của sự vật và phát triển hiện thực đặt ra, do đó mà thúc đẩy sự vật, hiện thực tiến lên theo đúng quy luật của nó Quyết định đúng vì vậy phải xuất phát từ cuộc sống, giải quyết trúng và kịp thời những mâu thuẫn trong cuộc sống, đáp ứng trúng và kịp thời nhu cầu của sự phát triển hiện thực Trái với quyết định đúng, một quyết định được coi là không đúng khi nó xuất phát đơn thuần từ
Trang 40mong muốn và suy nghĩ chủ quan, chứ không phải xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, từ quy luật của sự vận động và phát triển khách quan, do đó nó không liên quan gì đến việc giải quyết những mâu thuẫn thật sự nảy sinh trong sự phát triển, không hiểu đúng và đầy đủ về hiện thực, không đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân
Sự phát triển của thực tiễn, của kinh tế xã hội ở địa phương phụ thuộc rất nhiều vào việc ra quyết định đúng đắn hay sai lầm của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Quyết định đúng sẽ thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển, ngược lại quyết định không chính xác, thiếu tính khả thi sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Do đó, để đưa ra quyết định đúng và chính xác, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải tìm hiểu, nghiên cứu, bám sát điều kiện lịch sử - cụ thể ở địa phương; phải tính đến tất cả các điều kiện vật chất và điều kiện tinh thần hiện có của địa phương có thể ảnh hưởng, tác động đến hiệu quả thực hiện quyết định Quyết định phải phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng chân chính của quần chúng nhân dân, giải đáp trúng và kịp thời những mâu thuẫn trong cuộc sống, đáp ứng kịp thời, đầy đủ sự vận động, phát triển và biến đổi của hiện thực cuộc sống Trên cơ sở đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở mới có thể phát hiện ra vấn đề cần giải quyết và kịp thời đưa ra các giải pháp phù hợp Không nắm vững những điều đó, thì không thể phát hiện được vấn đề, không thể biết lúc nào nên quyết định, quyết định về vấn đề gì, quyết định như thế nào và đương nhiên khi cần lại không có quyết định và lúc quyết định sẽ không kịp thời, không chính xác
Để quá trình ra quyết định mang tính khách quan, chính xác, đúng đắn đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải có năng lực thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin, phát hiện những vấn đề nảy sinh có liên quan đến mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở địa bàn mà họ phụ trách một cách kịp thời, chính xác, linh hoạt, sáng tạo Bên cạnh đó phải hiểu rõ về địa