Sự thống nhất này thực hiện trên cơ sở một sự phát triển cáo của cả thực tiễn và lý luận.. Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người phải lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất để tồn tại Qua lao động mà kinh nghiệm được tích luỹ phong phú, đó là cơ sở cho việc khái quát lý luận Phân công lao động phát triển, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, giai câps thống trị có điều kiện vật chất để tách khỏi lao động chân tay để nghiên cứu lý luận Đó là cơ sở xã hội cho việc tách rời giữa thực tiễn với lý luận đi đến đối lập chúng với nhau Triết học Mác – Lênin đã thực hiện sự thống nhất trở lại lý luận với thực tiễn
Sự thống nhất này thực hiện trên cơ sở một sự phát triển cáo của cả thực tiễn
và lý luận
Quan điểm của triết học Mác về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn không chỉ ở chỗ vạch rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với lý luận, coi thực tiễn là cơ sở, là tiêu chuẩn, là mục đích quan trọng của lý luận với thực tiễn
Vấn đề thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin Quán triệt quan điểm Mácxit về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn nói chung mà còn là yêu cầu khách quan đối với việc cải tạo xã hội, đối với công cuộc đổi mới xã hội hiện nay
Trang 2NỘI DUNG
I NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Phạm trù lý luận và thực tiễn
1.1.1 Phạm trù thực tiễn
* Khái niệm
Hoạt động con người chia làm hai lĩnh vực cơ bản Một trong hai lĩnh vực quan trọng đó là: hoạt động thực tiễn
Thực tiễn theo quan điểm triết học Mác – Lênin là những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo, làm biến đổi tự nhiên và xã hội
* Đặc trưng của thực tiễn
Từ quan niệm về thực tiễn của triết học Mác – Lênin, nếu xem xét theo chiều ngang thì thực tiễn gồm những đặc trưng sau:
Thứ nhất, thực tiễn không phải toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ
là những hoạt động vật chất - cảm tính, như lời Mác, đó là những hoạt động vật chất cảm giác được
Thứ hai, hoạt động thực tiễn là hoạt động mang tính lịch sử - xã hội của
con người Đồng thời, thực tiễn có trải qua các giai đoạn lịch sử - xã hội phát triển cụ thể
Thứ ba, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích nhằm cải tạo tự nhiên
và xã hội phục vụ con người
Nếu cắt theo chiều dọc, thực tiễn bao giờ cũng bao gồm mục đích, phương tiện và kết quả
Dù xem xét theo chiều dọc hay chiều ngang thì thực tiễn là hoạt động thể hiện tính mục đích, tính tự giác cao của con người - chủ động tác động
Trang 3làm biến đổi tự nhiên, xã hội, phục vụ con người, khác với những hoạt động mang tính bản năng thụ động của động vật nhằm thích nghi hoàn cảnh Không
có hoạt động thực tiễn thì bản thân con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển
1.1.2 Phạm trù lý luận
* Khái niệm
Lý luận khoa học là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật, hiện tượng được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù
* Đặc trưng của lý luận
Từ cách hiểu lý luận ở trên cho thấy, lý luận có những đặc trưng sau:
Thứ nhất, lý luận có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt
chẽ Bởi lẽ bản thân lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn
Thứ hai, cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn.
Không có tri thức kinh nghiệm thực tiễn thì không có cơ sở để khái quát thành
lý luận
Thứ ba, lý luận xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật,
hiện tượng
1.2 Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn – nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
* Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn
Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn Thực tiễn là hoạt động cơ bản nhất của con người, quyết định sự tồn tại
và phát triển xã hội Lý luận không có mục đích tự nó mà mục đích cuối cùng
Trang 4là phục vụ thực tiễn Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ cho yêu cầu của thực tiến
* Thực tiễn phải luôn được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học, nếu không sẽ là thực tiễn mù quáng, mò mẫm.
Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời
lý luận, không thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận
Vai trò của lý luận khoa học là ở chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan,
từ đó mới có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn Quan hệ lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ
đó có thể là thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập
* Lý luận và thực tiễn là thống nhất
Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau Sự thống nhất
đó là một trong những nguyên lý căn bản của triết học Mác- Lênin
* Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin.
Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông Vì vậy cho nên trong khi nhấn mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại rằng
lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng
Trang 5tạo Lý luận luôn luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động
II ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Hoàn cảnh thực tiễn Việt Nam sau chiến tranh đặt ra yêu cầu đổi mới
*Tình hình:
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế
kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ quốc doanh được phát triển Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được những tính ưu việt đó Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kế hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế
Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng kinh tế Việt Nam đã thay đổi Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả
ba loại hình: Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp); kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc); kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam) Mặc
dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước Đó là sự áp đặt rất bất lợi
* Hậu quả
Trang 6Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất nước Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn, nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh
Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn của các thành phần kinh tế này không được khai thác và phục vụ cho mục tiêu chung của nền kinh tế
Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt hậu
* Nguyên nhân
Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước
ta Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị xoá bỏ Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời chưa được thay đổi Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống dưới
2.2 Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam
Công cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và cho phép phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
Trang 7trường Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít
Sự nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý luận khoa học soi sáng Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn Tuy nhiên, lý luận không bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của lý luận Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái quát thành lý luận
Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quá trình đổi mới Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều điều phải chờ thực tiễn
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không
hề coi nhẹ lý luận Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Nó được thể hiện qua năm bước chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vận động của thực tiễn cuộc sống trong những hoàn cảnh và điều kiện mới
- Bước chuyển thứ nhất: Từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật
với sự tuyệt đối hoá sở hữu xã hội (Nhà nước và tập thể) sang tư duy mới Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các hình thức phân phối
Trang 8- Bước chuyển thứ hai: Từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền
kinh tế chỉ huy tập trung, kế hoạch hoá tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy quản lý mới thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
- Bước chuyển thứ ba: Đó là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ
chế độ tập trung quan liêu với phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá các lĩnh vực của đời sống xã hội
- Bước chuyển thứ tư : Đổi mới quan niệm về sự hình thành và phát
triển của chủ nghĩa xã hội ở một nước phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước đó Và đây cũng chính
là tính khách quan, là cơ sở khách quan quy định nhận thức và những tìm tòi sáng tạo của chủ thể lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
- Bước chuyển thứ năm: Đó là sự hình thành quan niệm mới của Đảng
ta về Chủ nghĩa Xã hội những nhận thức mới về nhân tố con người
Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lê nin là ở chỗ trong khi khái quát thực tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ quy luật khách quan của sự phát triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hoá xã hội Để khắc phục những quan niệm lạc hậu trước đây cần chúng ta phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới Có như vậy, lý luận mới thực hiện vai trò tích cực của mình đối với thực tiễn
2.3 Tác động của quá trình đổi mới đến kinh tế xã hội Việt Nam
Sau hơn 30 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Trang 9sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Đó là hai trong số năm thành tựu mà Việt nam đã đạt được
Nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ
để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của người dân Tổng tích luỹ tăng từ 9,5% - 12% tuỳ từng giai đoạn Nhưng cơ bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước xây dựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế
Thực hiện đường lối đổi mới, với mô hình kinh tế tổng quát là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đếm 1995, lần đầu tiên, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch nhà nước 5 năm 1991 – 1995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới
Giai đoạn 1986 – 1990: GDP tăng 4,4%/năm Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện bước đổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sức sản xuất
Giai đoạn 1991 – 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao và toàn diện GDP bình quân năm tăng 8,2%
Từ năm 1996 – 2000 là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 10Năm 2000 – 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5% Từ một nước thiếu ăn, phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới
Giai đoạn 2006 đến nay, tăng trưởng giai đoạn này tiếp tục được duy trì, vượt qua nhiều khó khăn của thế giới để đạt mức 6,38% Có thể khẳng định, giai đoạn này đã đánh dấu sự cải thiện đáng kể và phục hồi mang tính thực chất của nền kinh tế Đây là tiền đề quan trọng để Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập, đặc biệt là giai đoạn sắp tới với hàng loạt hiệp định thương mại tự do với Mỹ, EU, Cộng đồng kinh tế ASEAN hay TPP…
Qua 30 năm đổi mới, hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự vận hành các loại thị trường cơ bản, theo cơ chế mới Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Công tác giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, ứng dụng công nghệ tiên tiến
2.4 Đề xuất nhiệm vụ và giải pháp cho tương lai
Tương lai đất nước nằm trong tay mỗi chúng ta, việc cải tạo nó, biến đổi nó làm cho nó ngày càng đẹp đẽ hơn là nhiệm vụ của bất cứ người dân nào Hiện nay, Việt Nam còn là một nước đứng vào hàng những nước nghèo trên thế giới, việc đưa nước ta thoát khỏi tình trạng này đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của mỗi người đặc biệt là phát triển kinh tế Mục tiêu của chúng ta là phát triển kinh tế đi kèm với công bằng và tiến bộ xã hội Vì vậy, cần đẩy mạnh hơn nữa công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đổi mới một cách toàn diện mọi lĩnh vực những mục tiêu trên đây, cần thiết phải có một số giải pháp cho phát triển kinh tế tương lai