1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người khmer ở nước ta hiện nay (qua thực tế ở tỉnh kiên giang)

113 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bệnh Kinh Nghiệm Ở Đội Ngũ Cán Bộ Chủ Chốt Cấp Cơ Sở Người Khmer Ở Nước Ta Hiện Nay
Trường học Trường Đại Học Kiên Giang
Chuyên ngành Quản Lý Nhà Nước
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Kiên Giang
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 534,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nguyên nhân đưa đến hạn chế đó là do đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở của các tỉnh, nhất là cán bộ chủ chốt ngườiKhmer còn mắc bệnh kinh nghiệm trong nh

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay cả nước ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu tổng quát

mà Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đề ra, đó là:

Phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷcương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânđược nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹnlãnh thổ được giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếptục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn tronggiai đoạn sau [35, tr.724-725]

Để phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu đó không thể không có sựđóng góp của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung, đội ngũ cán bộ lãnhđạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở nói riêng

Trong hệ thống cán bộ của nước ta, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sởgiữ một vị trí quan trọng Đội ngũ này chính là cầu nối có hiệu quả nhất giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân Họ là những người hàng ngày trực tiếp gắn bó,làm việc với dân, có điều kiện thường xuyên bám sát, thấu hiểu dân đồng thờitrực tiếp chỉ đạo triển khai mọi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ởbước cuối cùng, đối mặt và giải quyết những vấn đề cụ thể nảy sinh trong hoạtđộng thực tiễn Cũng từ trong hoạt động của họ mà nhiều vấn đề nảy sinh đãđược tổng kết, khái quát thành lý luận, thành những chủ trương, đường lối cótính chất bước ngoặt trong quá trình phát triển của đất nước Vai trò này của độingũ cán bộ cấp cơ sở càng có ý nghĩa hơn trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá hiện nay, thời kỳ đặc biệt coi trọng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá nông nghiệp và nông thôn - khu vực tập trung khoảng 70% dân cư của

xã hội và cũng là nơi tập trung chủ yếu đội ngũ cán bộ cấp cơ sở

Trang 2

Ở một số tỉnh của đồng bằng sông Cửu Long như Trà Vinh, Sóc Trăng,Kiên Giang, An Giang… có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống Trongnhững năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh, cùng với sự nỗlực phấn đấu vươn lên của đội ngũ cán bộ các cấp nói chung, đội ngũ cán bộchủ chốt cấp cơ sở, trong đó có một số cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ngườiKhmer nói riêng đã góp công sức không nhỏ vào những thành tựu trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh mình Nhiều cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở đã giữ vững phẩm chất chính trị, tận tụy với công việc, chấp hành và triểnkhai đúng đắn các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng vàNhà nước, mạnh dạn suy nghĩ, quyết đoán, tìm tòi cái mới từ đó tạo nênkhông ít các mô hình phát triển tốt ở nhiều nơi

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động lãnh đạo,quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở, nhất là cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở người Khmer vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Đội ngũ này cònnhiều mặt bất cập, còn yếu cả về trình độ văn hóa, trình độ lý luận, năng lựcchuyên môn và phẩm chất chính trị Những yếu kém này đã làm cho chấtlượng, hiệu quả hoạt động thực tiễn không cao, chưa đáp ứng được yêu cầuthực tiễn đặt ra, nhất là trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạihóa Một trong những nguyên nhân đưa đến hạn chế đó là do đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở của các tỉnh, nhất là cán bộ chủ chốt ngườiKhmer còn mắc bệnh kinh nghiệm trong nhận thức và chỉ đạo thực tiễn

Do vậy, việc nghiên cứu bản chất, những biểu hiện chủ yếu và nhữngnguyên nhân của bệnh kinh nghiệm, từ đó đưa ra giải pháp phù hợp để ngănngừa, hạn chế căn bệnh này ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp

cơ sở nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer nói riêngthực sự mang tính cấp thiết Công việc này sẽ giúp họ có thể tổ chức thực tiễnphát triển kinh tế- xã hội trên địa bàn mình phụ trách một cách có hiệu quảnhất, từ đó góp phần vào việc thực hiện thắng lợi quá trình đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh mình

Trang 3

Đây chính là lý do chúng tôi chọn đề tài: “Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (qua thực tế ở tỉnh Kiên Giang)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Triết học.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, đã có một số tác giả nghiên cứu bệnh kinhnghiệm ở nhiều góc độ khác nhau Có tác giả nghiên cứu về bản chất, tác giảnghiên cứu về biểu hiện, tác giả nghiên cứu về nguyên nhân… và đưa ra nhữnggiải pháp ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm Có thể kể tên một số công

trình tiêu biểu như: Lê Hữu Nghĩa (1988), “Một số căn bệnh trong phương pháp

tư duy của cán bộ ta”, tạp chí Triết học (số 2) và “Về những khuyết điểm và yếu kém trong tư duy lý luận ở cán bộ ta”, trong sách: “Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận”, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Văn Phòng

(1994), “Bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở đội ngũ cán bộ nước ta trong quá trình

xây dựng chủ nghĩa xã hội”, luận án Phó tiến sĩ khoa học Triết học, Học viện

Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; Trần Văn Phòng: “Bước đầu tìm hiểu

những biểu hiện đặc thù của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa ở nước ta so với chủ nghĩa kinh nghiệm phương Tây”, Tạp chí Giáo dục lý luận số 2/1997 và “Giải pháp nâng cao năng lực tư duy biện chứng, chống bệnh giáo điều, kinh nghiệm

và chủ quan duy ý chí”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8/2007; Vũ Khiêu (1971),

“Nền sản xuất nhỏ Việt Nam và hậu quả của nó trong tâm lý dân tộc”, Thông báo Triết học; Lê Thi (1988), “Thực trạng tư duy cán bộ đảng viên ta và căn

nguyên của nó”, Tạp chí Triết học (số 4); Nguyễn Ngọc Long: “Kinh nghiệm và

lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 1/1984, “Chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí, khắc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều trong quá trình đổi mới tư duy lý luận”, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, 1988…

Ngoài ra còn có một số luận văn, luận án cũng đề cập tới bệnh kinh

nghiệm Tác giả Võ Thị Bích trong luận văn thạc sĩ “Bệnh kinh nghiệm ở đội

ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Long An” (năm 2001) đã tìm hiểu tương đối có

Trang 4

hệ thống về bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Long An,

đó là: bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt tỉnh Long An do họ tuyệtđối hóa những kinh nghiệm thông thường của cá nhân họ; chịu sự tác độngnhiều của bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh giáo điều; ảnh hưởng của tâm lýnông dân gia trưởng tự do tâm lý “liều lĩnh”, “phiêu lưu” dám làm miễn là cólợi ; xác định được nguyên nhân khách quan, chủ quan Qua đó luận văn đã

đề ra 04 nhóm giải pháp thiết thực và khoa học Tuy nhiên, luận văn này tậptrung vào đối tượng là cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở Long An - một tỉnh củađồng bằng sông Cửu Long - với những điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,dân cư, dân tộc có nhiều khác biệt so với các tỉnh có đông đồng bào Khmersinh sống, hơn nữa tác giả đã tập trung nghiên cứu đối tượng rộng hơn (tứccán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói chung) Cùng với tác giả Võ Thị Bích, tác giả

Lương Thị Mến với luận văn thạc sĩ “Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ

lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn hiện nay” (năm 2008) đã

chỉ ra những biểu hiện đặc thù của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở tỉnh Bắc Kạn, đó là: bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở gắn bó chặt chẽ với một số tư tưởng lạc hậu của bà con cácdân tộc; với bệnh sự vụ, tùy tiện; lối suy nghĩ sơ lược, áng chừng, đại khái,thiếu tính hệ thống … và cũng đã đưa ra 05 nhóm giải pháp thiết thực, có tínhkhả thi… Các công trình trên đều xuất phát từ thực tiễn của chính tỉnh mà cáctác giả đó đang công tác Do vậy, việc tìm hiểu bệnh kinh nghiệm ở đội ngũcán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay qua thực tế ở tỉnhKiên Giang, một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long có biên giới giáp vớinước bạn Campuchia - vẫn là mảng trống cần tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ bản chất, biểu hiện cơ bản, nguyên nhân của bệnhkinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện

Trang 5

nay (qua thực tế ở tỉnh Kiên Giang), luận văn đề xuất một số giải pháp chủyếu nhằm ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ này.

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích làm rõ bản chất của bệnh kinh nghiệm nói chung

- Phân tích làm rõ những biểu hiện cũng như những nguyên nhân chủyếu của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer

ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế ở tỉnh Kiên Giang)

- Đề xuất một số giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm

ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (quakhảo sát thực tế ở tỉnh Kiên Giang)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đề tài chỉ nghiên cứu bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp

cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế ở tỉnh KiênGiang), trong đó tập trung vào các chức danh như: Bí thư, Phó Bí thư Đảngủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó chủ tịch Ủy bannhân dân (xã, phường, thị trấn)

- Thời gian từ năm 2010 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Cơ sở lý luận

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩaduy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Đồng thời, dựa trên quanđiểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các văn kiện, nghị quyết của Đảng

và Nhà nước cũng như Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh Kiên Giang

- Luận văn kế thừa, chọn lọc kết quả của các nhà nghiên cứu có liênquan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp: phân tích tổng hợp; quy nạp diễn dịch; lịch sử - lôgíc, thống kê số liệu và phương pháp khảo sát thực tế

Trang 6

-6 Đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn chỉ ra những biểu hiện của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (qua khảo sát thực tế ởtỉnh Kiên Giang)

- Luận văn chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của bệnh kinh nghiệm ởđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (qua khảosát thực tế ở tỉnh Kiên Giang), đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện

cụ thể của địa phương, nhằm ngăn ngừa, hạn chế có hiệu quả căn bệnh này

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp những luận cứkhoa học cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở nói chung và độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở nước ta hiện nay (qua khảo sátthực tế ở tỉnh Kiên Giang) nói riêng đáp ứng yêu cầu trước tình hình nhiệm

vụ mới

- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo khi nghiên cứu,giảng dạy những vấn đề về lý luận nhận thức, về công tác xây dựng Đảng vàcông tác tư tưởng hiện nay ở các Trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồidưỡng chính trị cấp huyện,…

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương, 9 tiết

Trang 7

Chương 1 BỆNH KINH NGHIỆM - BẢN CHẤT VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGĂN NGỪA, HẠN CHẾ NÓ Ở Ở ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ NGƯỜI KHMER Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1 BẢN CHẤT CỦA BỆNH KINH NGHIỆM

Để tìm hiểu bệnh kinh nghiệm có bản chất như thế nào, trước hết cầnhiểu thế nào là kinh nghiệm Thuật ngữ kinh nghiệm bắt nguồn từ tiếng Hy-

Lạp là empeiria để chỉ những tri thức mà con người có được do tiếp xúc, quan

sát, thực nghiệm Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại đã có nhiều nhà triếthọc, nhiều trường phái triết học khác nhau bàn về kinh nghiệm Về cơ bản cóthể chia thành hai trường phái có quan điểm đối lập nhau về kinh nghiệm, đó

là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm V.I.Lênin trong tác phẩm “Chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” đã chỉ rõ: “Lịch sử triếthọc cho biết rằng việc giải thích khái niệm “kinh nghiệm” đã phân chia nhữngngười duy vật cổ điển với những người duy tâm cổ điển” [50, tr.175] Đồngthời Người cũng chỉ rõ, dưới danh từ kinh nghiệm nhất định có thể che giấuđường lối duy vật và duy tâm trong triết học cũng như khuynh hướng củaCan-tơ và Hi-um [50, tr.180] Lược khảo khái quát lịch sử triết học chúng ta

sẽ thấy rõ hơn nhận định của Lênin

Nhà triết học Đê-mô-crít (khoảng 460 - đầu thế kỷ IV tr.CN) là ngườiđầu tiên trong lịch sử triết học phát triển lý luận nhận thức trên cơ sở phânchia hai dạng tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức lý tính Ông coi kinhnghiệm cảm tính là điểm khởi đầu của nhận thức, nhưng kinh nghiệm cảmtính tự nó chỉ có thể cung cấp cho ta những tri thức “mờ tối”, tức là những trithức chưa đầy đủ, chưa thật đáng tin cậy, bởi lẽ “bản chất” đích thực của cácvật (các nguyên tử) không thể nhận thức được bằng kinh nghiệm cảm tính màchỉ nhận thức được với sự trợ giúp của tư duy lý tính mà thôi Đê-mô-crít

Trang 8

không đối lập tri thức kinh nghiệm với tri thức lý tính Theo ông, nguồn gốccủa những tri thức kinh nghiệm là những vật thể cảm giác được và chúng chỉtồn tại trong ý kiến, nhưng không phải ý kiến cá nhân mà là “ý kiến chung” -mang tính chất con người nói chung Trên thực tế ông công nhận nguồn gốckhách quan của những tri thức kinh nghiệm [73, tr.6].

Nhà triết học duy tâm Platôn (427-347 tr.CN) đã phủ nhận mọi tri thứckinh nghiệm, chỉ công nhận tri thức tiên nghiệm, tri thức có trước và ngoàikinh nghiệm mà thôi Bởi vậy tri thức, sự hiểu biết đối với Platôn chính là sựhồi tưởng lại cái mà linh hồn đã gặp ở đâu đó

Aristốt (384-322 tr.CN) - nhà triết học cổ Hy-Lạp, người lập ra môn gích học và một số ngành tri thức chuyên môn cho rằng, kinh nghiệm là nấcthang thứ hai trong quá trình nhận thức sau nấc thang tri giác cảm tính Kinhnghiệm cung cấp cho ta những “tri thức về những sự vật riêng lẻ” kinhnghiệm xuất hiện ở con người nhờ trí nhớ, cụ thể là rất nhiều sự nhớ về mộtđối tượng nhất định sẽ tạo nên tri thức kinh nghiệm… khoa học và nghệ thuậtxuất hiện ở con người thông qua kinh nghiệm” [73, tr.6] Aristốt cũng chorằng, kinh nghiệm là tri thức về cái đơn nhất còn nghệ thuật là tri thức về cáiphổ biến “Bởi thế, những ai có tri thức trừu tượng nhưng lại không có kinhnghiệm và khi nhận thức cái phổ biến mà không biết cái đơn nhất chứa trong

lô-nó thì thường hay mắc phải sai lầm… Những người có kinh nghiệm chỉ biếtđược “cái gì” mà không biết được “tại sao”, những người biết nghệ thuật sẽbiết được “tại sao” tức là biết nguyên nhân” [73, tr.7] Về cơ bản Aristốtkhông phủ nhận nguồn gốc khách quan của kinh nghiệm

Ph.Bêcơn (1561-1626) - nhà triết học Anh, người sáng lập chủ nghĩaduy vật và khoa học thực nghiệm cận đại đánh giá cao vai trò của kinhnghiệm trong nhận thức cũng như trong việc đấu tranh chống chủ nghĩa kinhviện, giáo điều, luận ba đoạn của triết học trung cổ và ông đã giải thích duyvật nguồn gốc của kinh nghiệm Theo ông, mọi tri thức khoa học đều được

Trang 9

bắt nguồn từ kinh nghiệm nhưng không phải từ những kinh nghiệm trực tiếpđơn thuần mà từ những kinh nghiệm có mục đích rõ ràng tức thực nghiệm.Kinh nghiệm dựa trên cơ sở thực nghiệm, theo Bêcơn, là tiền đề chứng minhtốt nhất sự đúng đắn của mọi tri thức Bêcơn đã chỉ ra hai loại kinh nghiệm -

đó là kinh nghiệm có kết quả và kinh nghiệm ánh sáng Kinh nghiệm có kếtquả mang lại lợi ích trực tiếp, còn kinh nghiệm ánh sáng mang lại tri thứcchân thật nhưng không phải bao giờ cũng mang lại lợi ích trực tiếp Ông đánhgiá cao kinh nghiệm ánh sáng Mặc dù vậy, Bêcơn không đối lập kinh nghiệmmột cách cực đoan với lý tính Phương pháp thực nghiệm mà ông đề ra phảiđược dựa tối đa vào trí tuệ khi phân tích các dữ kiện kinh nghiệm, không phảingẫu nhiên mà ông cho rằng các nhà kinh nghiệm cũng giống như những conkiến chỉ biết có thu nhặt và bằng lòng với những gì thu nhặt được [73, tr.8]

Cũng giống như Bêcơn, Hôp-bơ (1588-1679) - nhà triết học duy vậtAnh, cũng có quan điểm duy vật về kinh nghiệm Theo ông, khi thế giớikhách quan tác động vào các cơ quan cảm giác thì sẽ làm nảy sinh tư tưởng -kinh nghiệm Nội dung của những tư tưởng - kinh nghiệm này không phụthuộc vào ý thức con người và những tư tưởng - kinh nghiệm này phải đượctrí tuệ tiếp tục “chế biến”, xử lý bằng các phương pháp so sánh, tổng hợp vàphân chia Kinh nghiệm, theo Hôp-bơ, là tri thức về các yếu tố đơn nhất hiệntại hay là các yếu tố đơn nhất đã qua (quá khứ) Kinh nghiệm chỉ có thể chonhững tri thức không chắc chắn lắm về mối liên hệ của các vật, còn tri thứcđáng tin cậy về cái phổ biến và cái trừu tượng chỉ có thể xuất hiện nhờ sự hiệndiện của ngôn ngữ Ông cũng phân biệt tư duy lý luận với sự quan sát có tínhchất thực nghiệm

Tiếp tục truyền thống duy vật Anh, nhà triết học duy vật G.Lốc-cơ(1632-1704) cũng có quan niệm duy vật về kinh nghiệm Theo ông, mọi trithức đều bắt nguồn từ kinh nghiệm Ông chia kinh nghiệm thành kinh nghiệmbên ngoài (cảm giác) và kinh nghiệm bên trong (phản xạ) Hai dạng kinh

Trang 10

nghiệm này là cơ sở, là nguồn gốc của mọi tư tưởng của chúng ta Về nguồngốc kinh nghiệm, thì cơ bản ông có quan điểm duy vật, mặc dù khi xem xétkinh nghiệm bên trong (phản xạ) G.Lốc-cơ đã có sự “lùi bước” nhất định cólợi cho quan điểm duy tâm, khi ông cho rằng đôi khi kinh nghiệm bên trongkhông phụ thuộc vào kinh nghiệm bên ngoài và có thể hiểu như một lĩnh vựcđộc lập Nhưng điều kiện quan trọng là theo G.Lốc-cơ “chỉ có thực tiễn mớihoàn thiện trí tuệ của chúng ta cũng như thân thể của chúng ta” [73, tr.9].

Béc-cơ-li (1685-1753) - nhà triết học người Anh, nhà duy tâm chủ quan,

đã vứt bỏ điểm xuất phát duy vật của Lốc-cơ về nguồn gốc khách quan củakinh nghiệm và tuyên bố rằng cảm giác là hiện thực duy nhất được con ngườinhận thức Quan điểm của Béc-cơ-li về kinh nghiệm là quan điểm duy tâmchủ quan, bởi lẽ kinh nghiệm theo ông là những “tập hợp ý niệm” hay “nhữngphức hợp cảm giác” Cũng giống như Béc-cơ-li, Hi-um (1711-1766) - nhàtriết học duy tâm, nhà tâm lý học, nhà sử học Anh đã có quan điểm duy tâm

về kinh nghiệm, hơn nữa ông còn có quan điểm bất khả tri trong nhận thức.Theo Hi-um chỉ có số lượng và con số - những khách thể của toán học - mới

là đối tượng duy nhất của tri thức tin tưởng còn tất cả những khách thể nghiêncứu khác đều được rút ra từ kinh nghiệm Nhưng bản thân kinh nghiệm lạiđược ông hiểu một cách duy tâm Theo ông, hiện thực đây là “dòng cảm xúc”

và chúng ta không thể biết cũng không thể nhận thức được nguyên nhân của

“dòng cảm xúc” này Cơ sở của những kết luận được rút ra từ kinh nghiệmđược ông tìm thấy trong thói quen [73, tr.9]

Nhà triết học và là nhà bác học Đức, người khai sáng chủ nghĩa duy tâm

cổ điển Đức - Can-tơ (1724-1804) cho rằng nhận thức bắt đầu từ thời điểmkhi mà “vật tự nó” tác động lên các cơ quan cảm giác và gây nên những cảmgiác trong ta Trong điểm khởi đầu này của lý luận nhận thức thì Can-tơ làngười duy vật Nhưng trong học thuyết về các hình thức và những giới hạncủa nhận thức ông lại là người duy tâm và theo thuyết không thể biết Theo

Trang 11

ông không có tri thức nào có thể cho ta hiểu biết đúng về “vật tự nó” Mặc dùông cho rằng tri thức kinh nghiệm có thể được mở rộng và được làm sâu sắchơn, nhưng nó chỉ có thể làm cho chúng ta tiến gần tới nhận thức “vật tự nó”

mà thôi [73, tr.10] Đồng thời Can-tơ cũng công nhận những hình thức tri thứctiên nghiệm ở con người Cho nên, trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩakinh nghiệm phê phán” V.I.Lênin đã chỉ rõ:

Khi Can-tơ thừa nhận rằng kinh nghiệm, cảm giác là nguồn gốc duynhất của những hiểu biết của chúng ta thì ông ta hướng triết học củaông ta đến thuyết cảm giác và thông qua thuyết cảm giác, trongnhững điều kiện nào đó, hướng đến chủ nghĩa duy vật Khi ông tathừa nhận tính tiên nghiệm của không gian, của thời gian, của tínhnhân quả, v.v., thì ông ta hướng triết học của ông ta về phía chủnghĩa duy tâm [50, tr.239]

Đối với Hê-ghen (1770-1831) - nhà triết học Đức, nhà duy tâm kháchquan, đại diện của nền triết học cổ điển Đức, thì kinh nghiệm được rút ra mộtcách duy tâm từ sự vận động của ý thức Ý thức, ở Hê-ghen, đã đặt sẵn chomình một mục đích và chừng nào, kết quả đạt được của hoạt động khôngđồng nhất hoàn toàn với mục đích đã được đặt ra bởi ý thức thì trong quátrình so sánh những kết quả này sẽ diễn ra sự hình thành các quan niệm về sựvật Khi đó sẽ xuất hiện tri thức mới về sự vật và quá trình này sẽ tạo nên kinhnghiệm [73, tr.10-11]

Khác với Hê-ghen, nhà triết học duy vật và là nhà vô thần Đức - bách (1804-1872) là người tiếp tục quan niệm duy vật về kinh nghiệm Kinhnghiệm theo ông là nguồn gốc đầu tiên của mọi tri thức và nó có nguồn gốckhách quan ở thế giới hiện thực Ông cũng là người đã nhấn mạnh mối quan

Phơ-hệ qua lại giữa kinh nghiệm và lý luận Nhưng ông chưa hiểu mối quan Phơ-hệgiữa kinh nghiệm với hoạt động thực tiễn của con người [73, tr.11]

Trong triết học tư sản ở cuối thế kỷ XIX và thế kỷ XX có nhiều quanđiểm duy tâm chủ quan khác nhau về kinh nghiệm Chủ nghĩa kinh nghiệm

Trang 12

phê phán mà đại biểu là Ma-khơ và A-vê-na-ri-út v.v cho rằng kinh nghiệm làtổng số những cảm giác không có quan hệ gì với thế giới khách quan Kinhnghiệm là cái hoàn toàn có tính chất chủ quan V.I.Lênin trong “Chủ nghĩaduy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” đã chỉ ra rằng trên thực tế chủnghĩa kinh nghiệm phê phán đã tiếp tục theo quan điểm của Béc-cơ-li và Hi-

um Chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa công cụ coi kinh nghiệm như là kếhoạch “công cụ” sử dụng các vật dụng sao cho có lợi nhất Chủ nghĩa hiệnsinh coi kinh nghiệm như là thế giới nội tâm của những cảm xúc, những sựthể nghiệm trực tiếp của chủ thể Chủ nghĩa thực chứng mới cho rằng kinhnghiệm chỉ là những cảm giác, cảm xúc cá nhân của con người không có nộidung khách quan và kinh nghiệm cảm tính chỉ là những mệnh đề mộc mạchoàn toàn có tính chất chủ quan… Những trường phái triết học trên nói chungđều coi kinh nghiệm là nguồn gốc của tri thức nhưng họ giải thích nội dungkinh nghiệm theo lập trường duy tâm, họ đều mượn danh từ “kinh nghiệm” đểche giấu bản chất duy tâm của mình [50, tr.148]

Trong Từ điển triết học do M.Rô-den-tan và P.I.U.Đin (Liên Xô cũ) chủbiên được Nhà xuất bản Sự thật in lần thứ ba năm 1976 (trang 422) đã thểhiện quan điểm đồng nhất kinh nghiệm với một bộ phận của thực tiễn thậmchí với toàn bộ thực tiễn Đây là sự lẫn lộn giữa chủ quan và khách quan, giữanhận thức và thực tiễn Quan niệm như vậy sẽ lâm vào bế tắc không giảiquyết được một cách khoa học duy vật triệt để vấn đề kinh nghiệm trong nhậnthức luận

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, kinh nghiệm là mộtdạng tri thức phản ánh hiện thực khách quan, cho nên xét về mặt nhận thứcluận, kinh nghiệm là tính thứ hai, thế giới khách quan là tính thứ nhất Tức làxét về hình thức thì kinh nghiệm là cái thuộc về chủ quan, là hình thức của ýthức, của tư duy, còn về mặt nội dung kinh nghiệm luôn mang một nội dungkhách quan, nó phản ánh thế giới khách quan Trong “Chủ nghĩa duy vật và

Trang 13

chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” V.I.Lênin đã chỉ rõ những người duy vậtthừa nhận thực tại khách quan mà họ nhận được trong kinh nghiệm vì họ thừanhận một nguồn gốc khách quan độc lập đối với con người [50, tr.149].Nhưng kinh nghiệm không phải là sự thể hiện nội dung thụ động của ý thức

mà là kết quả sự tác động tích cực của con người đối với thế giới khách quan

Khảo sát về mặt lịch sử, nội dung của kinh nghiệm luôn có tính lịch sử

-cụ thể Kinh nghiệm là cái riêng nếu so với lý luận là cái chung Kinh nghiệmcũng phản ánh trình độ hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người ở mộtgiai đoạn, một thời điểm lịch sử nhất định Thế hệ trước truyền lại cho thế hệsau những kinh nghiệm đã đạt được và thế hệ sau khi kế thừa kho tàng qúybáu đó, thông qua hoạt động thực tiễn lại làm giàu thêm kho tàng ấy bằngnhững kinh nghiệm mới, đồng thời làm đầy đủ, chính xác thêm những kinhnghiệm cũ bằng hàng loạt những tư liệu mới Tất nhiên, kho tàng tri thức củanhân loại không chỉ có những tri thức kinh nghiệm mà còn có tri thức lý luận

Thực tế chứng minh, kinh nghiệm là điểm xuất phát, là cơ sở ban đầu

vô cùng quan trọng của quá trình nhận thức Kinh nghiệm càng phong phú thìcàng tạo ra nhiều dữ kiện cho khái quát lý luận, đặc biệt là trong hoạt động thựctiễn xã hội thì kinh nghiệm của mỗi người là hết sức quan trọng để giúp nhậnthức đúng về xã hội Thiếu kinh nghiệm, khoa học không thể phát triển được.Khoa học đã và luôn gắn liền với kinh nghiệm Khoa học đã trở thành khoa họckhi nó được phát triển từ kinh nghiệm và khắc phục những hạn chế của nó Tiến

bộ khoa học - kỹ thuật ngày nay, những lý thuyết khoa học bậc cao của tư duy sẽkhông thể có được, nếu thiếu các ngành khoa học có tính chất kinh nghiệm Khoahọc hiện đại biết tới hàng tỷ dạng vật chất trong tự nhiên mà hầu hết chúng đềuđược tìm ra bằng con đường kinh nghiệm Cũng có thể khẳng định được nhưvậy đối với các yếu tố hóa học, các loài sinh vật và động vật

Kinh nghiệm đối với quá trình nhận thức và phát triển tư duy của nhânloại có vai trò hết sức to lớn Kinh nghiệm là nấc thang không thể thiếu trong

Trang 14

quá trình nhận thức của con người Thiếu kinh nghiệm thì không thể có lýluận Lý luận xét ở góc độ nhất định chính là kết quả của sự tổng kết, kháiquát những kinh nghiệm Nếu lý luận tách rời khỏi kinh nghiệm, không đượcxuất phát từ kinh nghiệm nói chung, thì lý luận đó rất dễ chỉ là một sự tưởngtượng hoang đường hoặc là một sản phẩm thuần túy của ý thích chủ quan màthôi Tất nhiên chúng ta đều biết rằng không phải mọi lý luận đều được ra đờitrực tiếp từ kinh nghiệm, hơn nữa lý luận với sức mạnh nội tại đặc thù của mình

nó có thể vượt trước các kinh nghiệm, các tài liệu kinh nghiệm Nhưng xét đếncùng và xét trong mối quan hệ giữa kinh nghiệm và lý luận nói chung thì lý luậnkhông thể không xuất phát từ kinh nghiệm Mỗi lần tổng kết, khái quát kinhnghiệm cũng có nghĩa là một sự tích lũy dần về lượng để dần dần hình thành nên

lý luận Lênin đã chỉ rõ: “Muốn hiểu biết thì phải bắt đầu tìm hiểu, nghiên cứu từkinh nghiệm, từ kinh nghiệm mà đi đến cái chung” [52, tr.220]

Kinh nghiệm cũng như lý luận đều là kết quả hoạt động nhận thức củacon người được hình thành và phát triển thông qua hoạt động thực tiễn.Chúng đều phản ánh hiện thực khách quan, song ở những cấp độ khác nhau.Con đường phát triển từ kinh nghiệm lên lý luận cũng chính là con đường đi

từ cái đơn nhất đến cái phổ biến, từ cái phổ biến ít đến cái phổ biến hơn, từbản chất cấp một đến bản chất sâu hơn v v Đó cũng chính là quá trình tổngkết, khái quát kinh nghiệm nhằm gạt bỏ những cái ngẫu nhiên, cái bề ngoài,cái chưa phải là bản chất để tìm ra cái bản chất, cái quy luật vận động của sựvật Quá trình tiến triển đó của nhận thức cũng chính là nhằm đạt đến sự chỉđạo hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới khách quan đạt hiệu quả cao hơn.Nhưng bản thân lý luận đó đạt được sự phản ánh đúng đắn chân lý kháchquan không thì phải được kiểm nghiệm qua thực tiễn Chỉ có thực tiễn mới là

cơ sở, là tiêu chuẩn kiểm nghiệm mọi tri thức Như vậy là, nếu không có kinhnghiệm hay, thậm chí kinh nghiệm chưa đạt đến trình độ nhất định về phạm vicũng như mức độ phản ánh thì cũng không có đủ cơ sở cho ra đời một lý luận

Trang 15

khoa học thực sự Kinh nghiệm và lý luận không đối lập nhau, không tách rờinhau mà thống nhất với nhau thông qua hoạt động thực tiễn Kinh nghiệm là

cơ sở, là tiền đề cho lý luận, lý luận định hướng cho hoạt động thực tiễn vàthực tiễn đến lượt mình lại cung cấp cho lý luận hàng loạt những kinh nghiệmmới Chỉ có thể lấy mặt mạnh của lý luận để khắc phục tính hạn chế vốn cócủa kinh nghiệm và lấy mặt mạnh của kinh nghiệm để khắc phục khả năng xarời thực tế của lý luận Có như vậy mới làm cho lý luận ngày càng hoàn hảo,chính xác, kinh nghiệm ngày càng phong phú, đa dạng

Tuy nhiên, dù quan trọng đến đâu thì kinh nghiệm cũng chỉ mới phảnánh được cái bề ngoài chứ chưa phải cái bản chất bên trong của sự vật, mớiphản ánh được tổng số giản đơn chứ chưa phản ánh được mối liên hệ tất yếucủa sự vật Kinh nghiệm mới dừng lại ở miêu tả, tường thuật, ghi chép các sựkiện cục bộ, riêng lẻ mà thôi Bởi vậy như Ph.Ăng-ghen đã viết: “Sự quan sátdựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủtính tất yếu” [2, tr.355]

Đặc điểm cơ bản của kinh nghiệm không phải là ở chỗ nó phản ánh mốiliên hệ bên trong hay mối liên hệ bên ngoài của sự vật, mà ở chỗ nó bao giờcũng phản ánh một quan hệ riêng biệt hay các quan hệ riêng biệt không liênquan với nhau trong sự vật Nội dung của kinh nghiệm biểu hiện ở các sự kiện

- là quan hệ khách quan thu nhận được khi quan sát hay thực nghiệm Mỗi sựkiện phản ánh một mặt nào đó của sự vật Nhưng ngay cả khi có nhiều sựkiện, thì trong trường hợp này, tri thức nhận được vẫn mang tính chất hạn chếvốn có ở mức độ kinh nghiệm, vì các sự kiện được biểu hiện ra là những cáikhông liên hệ với nhau (xem Vắc-tô-min.N.C: Thực tiễn - tư duy - tri thức.NXB Khoa học, M.1978 Bản dịch của thư viện Học viện chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh) Đằng sau các sự kiện mà kinh nghiệm ghi nhận còn ẩn giấunhững quan hệ phức tạp hơn, sâu xa hơn, hơn nữa còn có nhiều lĩnh vực màcon người không thể trực tiếp tiếp cận được khi nghiên cứu Chính ở đây phải

Trang 16

sử dụng tư duy lý luận Khi kinh nghiệm không thể vươn được xa hơn thì lýluận bắt đầu Chẳng hạn, kinh nghiệm chỉ biết ghi nhận rằng nếu trông thấybầu trời bị che khuất trong thời gian ngày hoặc đêm thì người ta cho đó làhiện tượng nhật thực hay nguyệt thực, còn tại sao như vậy và giữa mặt trời,mặt trăng và trái đất có mối quan hệ ra sao, chu trình chuyển động của nó nhưthế nào thì kinh nghiệm không lý giải được; thả giấy qùy vào axit thì nóchuyển thành màu hồng, thả vào kiềm thì nó chuyển sang màu xanh, còn tạisao như vậy và giữa quỳ với axit, quỳ với kiềm có mối quan hệ nội tại ra saothì kinh nghiệm không lý giải được.

Kinh nghiệm dù là kinh nghiệm thông thường cũng không chỉ là kết quảcủa nhận thức cảm tính mà còn là kết quả hoạt động của tư duy trừu tượng ở mộtmức độ nhất định Tuy vậy, kinh nghiệm không chỉ khác biệt với tri thức cảmtính Nếu xét từ phương diện sinh thành thì kinh nghiệm xuất hiện từ tri thức cảmtính còn lý luận xuất hiện từ kinh nghiệm, trên cơ sở của kinh nghiệm Như vậythì kinh nghiệm là cái thứ hai so với tri thức cảm tính nhưng là cái thứ nhất sovới lý luận Tức là kinh nghiệm đã có tính chất lý tính, bởi lẽ trong quá trình hìnhthành kinh nghiệm đã có sự tham gia tích cực của lý tính Nếu không có các kháiniệm, phán đoán suy lý và được thể hiện bằng ngôn ngữ thì con người không thểdiễn đạt ra bằng ngôn ngữ các kinh nghiệm của mình [73, tr.16-17]

Kinh nghiệm có tính chất trực quan dễ nhận biết, dễ cảm nhận nênchúng dễ bị con người tuyệt đối hóa Những người tuyệt đối hóa vai trò củakinh nghiệm, hạ thấp hoặc phủ nhận vai trò của lý luận là những người kinhnghiệm chủ nghĩa

Trong triết học, chủ nghĩa kinh nghiệm được hiểu như là một xu hướngnhận thức luận, coi kinh nghiệm cảm tính là nguồn gốc duy nhất của mọi trithức và cho rằng nội dung của tri thức được hiểu hoặc như là sự mô tả kinhnghiệm, hoặc là đồng nhất với kinh nghiệm hay là “sự khuếch đại thái hóahoạt động thực tiễn - kinh nghiệm có hại cho tri thức lý luận” [73, tr.17-18]

Trang 17

Chủ nghĩa kinh nghiệm nói chung cho rằng tính chất phổ biến và tất yếucủa tri thức không phải bắt nguồn từ nhận thức lý tính mà từ kinh nghiệm cảmtính Sai lầm của chủ nghĩa kinh nghiệm chính là ở chỗ nó phóng đại mộtcách siêu hình vai trò của kinh nghiệm, không đánh giá đúng mức vai trò củanhận thức lý tính, của những trừu tượng khoa học trong nhận thức, phủ nhậnvai trò tích cực và tính độc lập tương đối của tư duy lý luận, của lý luận

Với tư cách là một quan điểm nhận thức luận tương đối hoàn chỉnhtrong triết học, chủ nghĩa kinh nghiệm được hình thành ở thế kỷ XVII, XVIII.Ngay từ khi mới xuất hiện nó đã thể hiện tính chất không thuần nhất về mặtthế giới quan Một mặt chủ nghĩa kinh nghiệm biểu hiện như là một quanđiểm nhận thức luận duy vật Quan điểm này gắn liền với những thành tựucủa khoa học thực nghiệm mà các đại biểu là Bê-cơn, Hốp-xơ, Lốc-cơ, Đi-đờ-

rô, v.v Chủ nghĩa kinh nghiệm của các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII có vaitrò rất lớn trong lịch sử tư tưởng nhân loại Nó góp phần thúc đẩy phươngpháp nghiên cứu thực nghiệm, chống lại phương pháp tư duy tư biện, kinhviện, giáo điều Mặt khác chủ nghĩa kinh nghiệm biểu hiện như là một quanđiểm nhận thức luận duy tâm dưới nhiều hình thức khác nhau, dùng danh từ

“kinh nghiệm” để làm bình phong che đậy những hệ thống duy tâm của mình.Những đại biểu của quan niệm này là Béc-cơ-li, Hi-um, Ma-khơ, A-vê-na-ri-út… cùng những môn đồ khác của chủ nghĩa hiện sinh mà tiêu biểu là J P.Sartre; chủ nghĩa thực chứng mới mà tiêu biểu là K.Pốp-pơ; chủ nghĩa thựcdụng mà tiêu biểu là J Đin-Uây; chủ nghĩa hiện tượng mà tiêu biểu là Hu-xerl, v.v.v Từ lược khảo lịch sử triết học ở trên chúng ta đã rõ những đại biểunày đều coi kinh nghiệm là nguồn gốc của tri thức và mặc dù giữa họ cónhững quan điểm khác nhau về kinh nghiệm, song họ đều thống nhất với nhau

ở chỗ giải thích nội dung kinh nghiệm theo lập trường duy tâm

Tuyệt đối hóa kinh nghiệm cụ thể, cá biệt, biến chúng thành những kinhnghiệm phổ biến nhằm áp dụng cho mọi trường hợp sẽ mắc bệnh kinh nghiệm

Trang 18

chủ nghĩa Người mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa cho rằng bằng kinhnghiệm họ có thể giải quyết được mọi vấn đề và họ luôn hạ thấp vai trò của lýluận Họ còn nhân danh đề cao thực tiễn để hạ thấp lý luận, nhưng thực tiễn

mà họ đề cao là thực tiễn được hiểu bằng vô số các sự kiện riêng lẻ trong đờithường Hơn nữa, họ nắm thực tiễn chỉ ở những biểu hiện vụn vặt, bề ngoài,trong khi đó thì nắm lý luận một cách chấp vá và thiếu hệ thống nên họ càng

hạ thấp lý luận Họ không hiểu được rằng điều quan trọng là phải nâng trình

độ lý luận tới mức bản thân nội dung và các nguyên lý lý luận không những làcác vấn đề của đời sống hiện thực mà còn là lời giải đáp chính xác các vấn đề

đó Đúng là không có gì thực tiễn hơn một lý luận xuất sắc Trên đây là sailầm cơ bản của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa xét dưới góc độ triết học Còn sailầm về phương diện nhận thức luận và phương pháp luận của bệnh kinhnghiệm chủ nghĩa chính là ở chỗ không nắm được thực chất mối liên hệ biệnchứng giữa tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, giữa thực tiễn và lý luận.Người mắc bệnh kinh nghiệm chỉ biết xem xét sự thật một cách chất phác,giản đơn, thuần túy ngoài các mối liện hệ và như vậy thì không thể không dẫnđến sai lầm V.I.Lênin đã chỉ rõ:

Nếu xét các sự thật trong chỉnh thể của chúng, trong mối liên hệ củachúng thì sự thật không những bao giờ cũng “bướng bỉnh”, mà còn lànhững chứng cứ chắc chắn chứng minh được Nếu xét những sự việcnhỏ đó không trong chỉnh thể của chúng, không trong mối liên hệ củachúng, nếu chúng bị tách rời nhau và bị lựa chọn tùy tiện, thì chúng thậtđúng chỉ là những trò chơi hay là một thứ còn tệ hơn nữa [53, tr.436] Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cáchmạng Việt Nam; đồng thời trong quá trình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh rút ranguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin là “thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn”: “Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mùquáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” Trong luận

Trang 19

điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra mối quan hệ khăng khít giữa lýluận và thực tiễn: lý luận được khái quát từ thực tiễn và hoạt động thực tiễncủa con người phải được soi đường bởi lý luận [67, tr.496].

Người kinh nghiệm chủ nghĩa sẽ bế tắc, mất phương hướng khi sốlượng tri thức kinh nghiệm tăng lên, khi đó họ sẽ bị chìm ngập trong đốnghỗn loạn các sự kiện Từ đây họ dễ mắc bệnh chủ quan duy ý chí bắt hiệnthực khuôn theo kinh nghiệm bản thân và rơi vào trạng thái cực đoan đối lập -

từ chỗ chỉ tin vào những kinh nghiệm cảm tính tới chỗ chẳng tin vào cái gì cả

- vì những cái cực đoan thường hay gặp nhau

Ph.Ăng-ghen trong “Biện chứng của tự nhiên” đã viết:

ở đây người ta thấy hai năm rõ mười rằng con đường chắc chắn nhất

từ khoa học tự nhiên tới chủ nghĩa thần bí là con đường nào Đókhông phải là sự phát triển dồn dập, về lý luận, của triết học tựnhiên mà là chủ nghĩa kinh nghiệm nông cạn nhất, khinh thườngmọi lý luận, không tin vào mọi tư duy [1, tr.77]

Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán” V.I.Lênin đã chỉ ra rằng trước những phát minh mới của khoa học, đặcbiệt là của vật lý học và do không vượt được giới hạn của những tri thức kinhnghiệm đã có các nhà khoa học trượt dài sang chủ nghĩa duy tâm Chẳng hạnnhư Poanh-ca-rê, do không hiểu phép biện chứng của quá trình nhận thức từhiện tượng đến bản chất và từ bản chất cấp một đến bản chất cấp sâu hơn đãcho rằng phát minh ra Ra-đi-um đã lật đổ nguyên lý bảo toàn năng lượngcũng như hầu hết tất cả những nguyên lý cũ khác của vật lý học Từ đó ôngđưa ra kết luận duy tâm về mặt nhận thức luận như sau: “Không phải giới tựnhiên đem lại cho chúng ta (hay ép buộc chúng ta phải nhận) những kháiniệm về không gian và thời gian, mà chính chúng ta đem những khái niệm ấylại cho giới tự nhiên”; “phàm cái gì không phải là tư tưởng đều là hư vô thuầntúy” [73, tr.21]

Trang 20

Người mắc bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa chỉ thấy từng sự kiện riêng lẻchứ không thấy mối liên hệ giữa các sự kiện Họ “chỉ dựa vào thực nghiệm,nên rất coi khinh tư duy [1, tr.62] Do vậy mà chính họ đã “ngăn chặn conđường của mình tiến từ sự hiểu biết cái cá biệt đến sự hiểu biết cái toàn thể,đến sự thấu suốt mối liên hệ phổ biến của các sự vật” [1, tr.54].

Như vậy là bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa có tác hại vô cùng to lớn đốivới quá trình nhận thức của nhân loại, nó gây cản trở cho sự phát triển tư duytheo hướng duy lý của tư duy lý luận Bởi nó gây tâm lý ngại học tập, củng cốtâm lý đề cao vai trò lãnh đạo của các già làng, trưởng bản thái quá, cũng nhưcoi thường năng lực của thế hệ trẻ, đồng thời không hiểu đúng vai trò của độingũ trí thức và những người làm công tác lý luận

Ở đây cũng cần phân biệt rõ hơn khái niệm “bệnh kinh nghiệm” và kháiniệm “chủ nghĩa kinh nghiệm”

Theo Từ điển Triết học, “chủ nghĩa kinh nghiệm” - học thuyết trong lýluận nhận thức, coi kinh nghiệm cảm tính là nguồn duy nhất của tri thức,khẳng định rằng toàn bộ tri thức đều dựa trên kinh nghiệm và có được nhờkinh nghiệm Chủ nghĩa kinh nghiệm duy tâm (Béc-cli, Hi-um, Ma-khơ, A-vê-na-ri-út, Bô-gđa-nốp, chủ nghĩa kinh nghiệm lô-gích ngày nay, v.v) quykinh nghiệm thành toàn bộ những cảm giác hoặc biểu tượng, và không thừanhận cơ sở của kinh nghiệm là thế giới khách quan Chủ nghĩa kinh nghiệmduy vật (Ph.Bê-cơn, Hô-bơ, Lốc-cơ, chủ nghĩa duy vật Pháp thế kỷ XVIII)cho rằng cội nguồn của kinh nghiệm cảm tính là cái thế giới bên ngoài tồn tạikhách quan Tuy nhiên, sự đối lập chủ yếu giữa chủ nghĩa kinh nghiệm và chủnghĩa duy lý không phải ở vấn đề nguồn gốc hoặc cội nguồn của tri thức: một

số nhà duy lý đồng ý cho rằng trong trí tuệ không có cái chưa tồn tại trước đótrong cảm giác Điểm bất đồng chủ yếu là ở chỗ chủ nghĩa kinh nghiệm chorằng, tính chất phổ biến và tất yếu của tri thức không phải bắt nguồn từ bảnthân trí tuệ, mà là từ kinh nghiệm Một số nhà triết học theo chủ nghĩa kinh

Trang 21

nghiệm (thí dụ, Hô-bơ, Hi-um) do chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý nên

đã đi đến kết luận khẳng định kinh nghiệm không thể cấp cho tri thức nghĩatất yếu và phổ biến Tính chất hạn chế của chủ nghĩa kinh nghiệm là ở chỗ nóphóng đại theo quan điểm siêu hình về vai trò của nhận thức cảm tính, củakinh nghiệm và không đánh giá đúng mức vai trò của những trừu tượng và lýluận khoa học trong nhận thức, ở chỗ phủ nhận vai trò tích cực và tính độc lậptương đối của tư duy [95, tr.289-290] Đặc điểm của chủ nghĩa kinh nghiệm ởTây Âu thời kỳ này biểu hiện ở chỗ, công nhận tính đúng đắn của các tri thứckhoa học thực nghiệm, đồng thời phủ nhận tính phổ biến của tri thức lý luận

Với tư cách là một trào lưu nhận thức luận tuyệt đối hóa tri thức kinhnghiệm, đối lập với chủ nghĩa duy lý, thì ở nước ta không có chủ nghĩa kinhnghiệm Tuy nhiên, bệnh kinh nghiệm ở nước ta cũng mang bản chất của chủnghĩa kinh nghiệm - là cường điệu, tuyệt đối hóa tri thức kinh nghiệm, coithường tri thức lý luận

Đặc điểm của bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủchốt cấp cơ sở ở nước ta cơ bản là gắn bó chặt chẽ với bệnh giáo điều, chịunhiều ảnh hưởng của tư tưởng gia trưởng, phong kiến, phong tục tập quán lạchậu, cường điệu kinh nghiệm chiến tranh Biểu hiện cơ bản của bệnh kinhnghiệm ở đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta làkhông đánh giá đúng vai trò của tri thức lý luận, coi thường hạ thấp lý luận;lối suy nghĩ giản đơn, áng chừng, đại khái, thiếu lôgíc, thiếu hệ thống, hướngvào quá khứ là chủ yếu; cách làm việc mò mẫm, tùy tiện Nhận thức và vậndụng tri thức vào thực tiễn đều chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân

Do vậy, xét về bản chất, hai khái niệm “bệnh kinh nghiệm” và “chủnghĩa kinh nghiệm” ở nước ta thường vẫn được sử dụng như nhau, song giữachúng có sự khác biệt Khi dùng khái niệm“chủ nghĩa kinh nghiệm” là muốn

đề cập đến một khuynh hướng trong lý luận nhận thức cho rằng, kinh nghiệm

là nguồn gốc của tri thức, coi nội dung của tri thức chỉ là sự mô tả của kinh

Trang 22

nghiệm đó Khi dùng khái niệm “bệnh kinh nghiệm” là đề cập đến những sailầm trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, đó là do con người

đã tuyệt đối hóa vai trò của kinh nghiệm, hạ thấp vai trò của lý luận Kháiniệm “bệnh” ở đây cần được hiểu như một trạng thái tư tưởng không lành mạnh,biểu hiện bằng những thái độ không đúng đắn như tuyệt đối hóa kinh nghiệm;coi thường, hạ thấp lý luận, không đánh giá đúng vai trò đội ngũ trí thức, ngạihọc tập; phong cách làm việc luộm thuộm, tùy tiện, sự vụ sự việc, v.v

1.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGĂN NGỪA, HẠN CHẾ BỆNH KINH NGHIỆM Ở ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ NGƯỜI KHMER

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm trong đội ngũ cán bộ chủ chốtngười Khmer cấp cơ sở Kiên Giang có tầm quan trọng rất lớn đối với quátrình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Thứ nhất, ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm sẽ góp phần hạn chế,

khắc phục bệnh giấy tờ, sự vụ trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũcán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer Một trong những biểu hiện của bệnhkinh nghiệm là bệnh giấy tờ, sự vụ, sự việc, tức là trong hoạt động lãnh đạo,quản lý họ thiếu tầm nhìn xa, trông rộng, chỉ thấy trước mắt không thấy lâudài Do vậy, mà họ thường bị công việc sự vụ có tính chất tình huống lôi kéonên người cán bộ không còn thời gian để chăm lo đến mục tiêu lâu dài của địaphương trong phát triển kinh tế - xã hội Cho nên, họ dễ bị động trong việcxây dựng các chương trình kinh tế - xã hội ở địa phương Nếu ngăn ngừa, hạnchế được bệnh kinh nghiệm thì sẽ giúp cho cán bộ có tầm nhìn xa, trông rộnghơn trong việc đề ra các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địaphương Khi xây dựng các chương trình này, họ sẽ không chỉ dựa và ỷ lạinhững kinh nghiệm của cá nhân hoặc tập thể nữa mà sẽ phải căn cứ vào nhiềuyếu tố khác nhau của địa phương, của ngành và của Trung ương Điều quantrọng nữa là nếu ngăn ngừa, hạn chế có hiệu quả bệnh kinh nghiệm sẽ giúp

Trang 23

cho cán bộ hiểu được tác hại của bệnh này Trên cơ sở đó, họ mới tích cực họctập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận, trongcông tác họ sẽ bớt mò mẫm, bớt vòng vo, sẽ hiệu quả hơn Tính hướng đíchtrong hoạt động lãnh đạo, quản lý sẽ rõ hơn, thiết thực hơn, những quyết địnhcủa họ sẽ không còn bị động, mang tính xử lý tình huống nữa Cán bộ sẽ chủđộng ra quyết định; tổ chức thực hiện quyết định; tổng kết rút kinh nghiệmviệc tổ chức thực hiện quyết định một cách lý luận hơn, bài bản hơn, khoa họchơn và có tổ chức hơn

Thứ hai, ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm ở cán bộ chủ chốt người

Khmer cấp cơ sở sẽ góp phần nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý của họ trênđịa bàn phụ trách Chúng ta đều biết, bệnh kinh nghiệm làm cho đội ngũ cán

bộ cấp cơ sở trong đó có cán bộ chủ chốt người Khmer chỉ dừng ở tư duy ángchừng, đại khái, tác phong làm việc luộm thuộm, sự vụ, xa thực tế địaphương Trong thực tế, để lãnh đạo, quản lý có hiệu quả thì các quyết địnhcủa cán bộ phải đúng và trúng Muốn vậy, các quyết định không thể được đưa

ra chỉ trên cơ sở kinh nghiệm cá nhân của người lãnh đạo mà phải sát thực tếđịa phương Nếu ngăn ngừa, hạn chế được bệnh kinh nghiệm thì việc ra quyếtđịnh nói riêng, hoạt động lãnh đạo, quản lý nói chung sẽ phản ánh được nhucầu, nguyện vọng của nhân dân địa phương Từ đó, họ mới thu phục đượcđông đảo quần chúng nhân dân tham gia tổ chức thực tiễn trên địa bàn Nhưvậy, thì hiệu quả lãnh đạo, quản lý của cán bộ sẽ được nâng cao

Thứ ba, ngăn ngừa, hạn chế có hiệu quả bệnh kinh nghiệm ở cán bộ chủ

chốt cấp cơ sở người Khmer tỉnh Kiên Giang là góp phần nâng cao được trình

độ lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ này Như chúng ta đều biết, chính vìmắc bệnh kinh nghiệm nên người cán bộ mới coi nhẹ lý luận, dẫn tới coithường việc học tập nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ cũngnhư trình độ lý luận Cũng vì vậy, họ không thấy được vai trò to lớn của trithức khoa học, của lý luận Do vậy, ngăn ngừa, hạn chế có hiệu quả bệnh kinh

Trang 24

nghiệm sẽ giúp cán bộ nhận thức đầy đủ hơn vai trò của tri thức khoa học, của

lý luận, hiểu được vai trò cũng như hạn chế của bản thân kinh nghiệm Trên

cơ sở đó cán bộ mới thấy được sự cần thiết phải học tập nâng cao trình độ vềmọi mặt, trong đó có trình độ lý luận Đối với cán bộ chủ chốt cấp cơ sởngười Khmer Kiên Giang thì việc ngăn ngừa, hạn chế bệnh kinh nghiệm càng

có vai trò quan trọng Bởi lẽ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụcũng như trình độ lý luận của đội ngũ này rất thấp

Trang 25

Chương 2 NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA BỆNH KINH NGHIỆM Ở ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ

NGƯƠI KHMER

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY (QUA THỰC TẾ Ở TỈNH KIÊN GIANG)

2.1 ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ Ở NƯỚC TA VÀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ NGƯỜI KHMER (QUA THỰC TẾ Ở TỈNH KIÊN GIANG)

2.1.1 Về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nước ta

Theo Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) cơ cấu tổ chức bộmáy của hệ thống chính trị nước ta được phân chia thành bốn cấp: Trungương; tỉnh, thành phố; huyện, quận và cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) Cấp

cơ sở là nơi nhân dân cư trú, sinh sống gắn bó chặt chẽ trong các quan hệ kinh

tế, dòng tộc và văn hóa Cấp cơ sở có vị trí rất quan trọng, là nơi trực tiếp giảiquyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, là địa bàn tổ chức thựchiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăngcường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; là nơitrực tiếp sản xuất ra của cải vật chất; là nền tảng cơ bản của xã hội; là nơi cóthể tổ chức huy động, phát huy cao độ nội lực của quần chúng nhân dân Hiệnnay, cấp cơ sở ở nước ta, chủ yếu là địa bàn nông thôn, nông dân làm nghềnông nghiệp, nên có nhiều tiềm năng rất lớn về nguồn lao động, đất đai,ngành nghề Do chủ yếu là địa bàn nông thôn nên cơ sở chính là nơi trực tiếpsản xuất ra lương thực, thực phẩm, tạo ra nhiều của cải vật chất dồi dào cho

xã hội, đồng thời, cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm và cung cấp nhiên liệu chonhiều ngành nghề, cho công nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội củađịa phương

Trang 26

Trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, cấp cơ sở là nơi động viên triệt để sức người, sức của cho sự nghiệpgiải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Trong công cuộc xây dựng đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới,Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, thì cấp cơ sở càng giữ vị trí vô cùng quan trọng Đảng và Nhà nước taluôn chú trọng xây dựng hệ thống chính trị cấp cơ sở, cụ thể: Nghị quyết 3,4,5của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, đặc biệt là Nghị quyết Trungương 5, khóa IX đã nhấn mạnh: “ Đổi mới và nâng cao chất lượng của hệthống chính trị ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước” [34, tr.165]

và Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựngĐảng hiện nay” của Đảng xác định và chỉ đạo thực hiện sâu rộng từ Trungương đến cơ sở là một việc làm mang ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể hiện sựquan tâm lãnh đạo của Đảng trong tình hình hiện nay

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là lực lượng quantrọng trong việc thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của Nhà nước tại cơ sở Họ là những người giữ chức vụquan trọng, là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thuộc hệ thống chính trị cấp

cơ sở; là những người giữ cương vị chính phụ trách trong một tổ chức, mộttập thể, có ảnh hưởng chính, quyết định, chi phối việc chấp hành, tổ chức thựchiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tổ chứcthực hiện nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương đã đề

ra, là hạt nhân đoàn kết trong Đảng, đồng thời là những người “đứng mũi chịusào”, chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chổt cấp cơ sở là những người đứng đầuquan trọng nhất trong bộ máy Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang, Mặttrận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội ở cấp cơ sở; có tácdụng chính, chi phối việc chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của

Trang 27

Đảng, pháp luật của Nhà nước, thông qua việc lãnh đạo và tổ chức thực hiệncác nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn mình quản lý Đội ngũ cán bộ nàycòn tạo nên những thành tựu, cung cấp những bài học kinh nghiệm có giá trị,góp phần quan trọng cho sự phát triển chung của đất nước Thực tế hiện naymột số xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo diễn ratình trạng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện khôngđến nơi, đến chốn, thậm chí gây hậu quả xấu, ảnh hưởng không tốt đến pháttriển kinh tế, giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở vững mạnh sẽ làmột trong những nguồn cán bộ quan trọng cung cấp cho Đảng và Nhà nước

Đề cập đến vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định; cấp cơ sởkhông những là cái khâu liên hệ mà là cái kho dồi dào cho Đảng lấy thêm lựclượng mới Cấp cơ sở là môi trường quan trọng tạo điều kiện cho cán bộ rènluyện và trưởng thành Thời gian qua, một số địa phương, trong đó có tỉnhKiên Giang chưa thấy được hết vị trí chiến lược của cấp cơ sở, nên không ítngười đã coi cấp cơ sở là thấp kém, là không có tiền đồ trong tương lai Vìthế, họ không tâm huyết, phấn khởi, nhiệt tình khi được thuyên chuyển, luânchuyển đi công tác ở cấp cơ sở, thậm chí còn né tránh, thoái thác khi được tổchức phân công đến công tác tại cơ sở xã, phường, thị trấn

Cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở được xác định và bao gồmcác chức danh sau: Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hộiđồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

Để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dângiao phó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở có vị trí đặcbiệt quan trọng

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở là bộ phận quan

trọng trong hệ thống cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta Cấp cơ sở là cấp gầndân nhất, là nơi biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất những ưu việt của chế độ xã

Trang 28

hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: cấp xã là cấp gần gủi với dânnhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được thì mọi việc đều xongxuôi Chính vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở đều ảnhhưởng lớn đến uy tín của Đảng, Nhà nước, đến lòng tin của nhân dân đối vớiĐảng và Nhà nước.

Thứ hai, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là cầu nối trực tiếp quan trọng giữa

Đảng - Nhà nước với nhân dân; giữa chính quyền Trung ương với cơ sở, họ làgốc của mọi công việc ở cơ sở; là nơi trực tiếp tổ chức thực thi pháp luật, đưachính sách, đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn đời sống xã hội Do

đó, chất lượng của các thể chế hành chính nhà nước phụ thuộc rất lớn vàoviệc tổ chức thực thi của cấp này; là nơi thể hiện phản ánh tâm tư, nguyệnvọng, lợi ích chính đáng của nhân dân địa phương, cũng như điều kiện, hoàncảnh của địa phương Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàpháp luật của Nhà nước đều bắt nguồn từ cơ sở và hướng về cơ sở Đồng thời,

là nơi trực tiếp thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu hợp pháp của nhân dân, cungcấp dịch vụ công cho công dân; là nơi xây dựng và phát triển tiến trình dânchủ; là nơi thể hiện sự công bằng và bình đẳng xã hội được thực hiện; là nơithể hiện bản chất tốt đẹp của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, cán bộ chủ chốt cấp cơ sở là một trong những cán bộ dự nguồn

quan trọng cung cấp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện và tương đương

Tại cấp cơ sở, chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước giao cho được thựchiện bởi đội ngũ cán bộ này Phần lớn họ được nhân dân bầu lên và được cơquan hành chính cấp trên bổ nhiệm Tùy theo tính chất công việc và vị trícông tác mà đội ngũ cán bộ cấp cơ sở được phân thành nhiều loại khác nhau.Đội ngũ cán bộ cấp cơ sở là người có vai trò quyết định trong việc hiện thựchóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vàođịa phương; là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức quần chúng thực hiện sángtạo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước

Trang 29

vào đời sống thông qua phong trào của quần chúng nhân dân Do đó, để hoànthành nhiệm vụ cách mạng của mình, mỗi cán bộ chủ chốt cấp cơ sở phải lànhững tấm gương sáng trong việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đứccách mạng, phải thật sự: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà sinh thờiBác Hồ đã dạy.

Đứng trước những nhiệm vụ to lớn của thời kỳ đổi mới, trước nhữnghoàn cảnh và tình thế mới đòi hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốtcấp cơ sở phải có trình độ và hiểu biết toàn diện trên mọi lĩnh vực, không chỉ

có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị mà còn phải cókiến thức quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhội, quốc phòng - an ninh, tin học,… Có khả năng tiếp cận và xử lý thông tinnhạy bén phục vụ cho công tác lãnh đạo, quản lý ở cơ sở; đồng thời quy tụđược quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước vàchính quyền địa phương Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu của thực tiễnđặt ra hiện nay

2.1.2 Về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer (qua thực

tế ở tỉnh Kiên Giang) hiện nay

Như trên đã trình bày, Kiên Giang là tỉnh có khá đông đồng bào Khmersinh sống (chiếm 12,2% dân số toàn tỉnh) Do đó, trong đội ngũ cán bộ chủchốt cấp cơ sở của tỉnh, số cán bộ người Khmer cũng có một số lượng nhấtđịnh để thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giaophó Đội ngũ cán bộ này được sinh ra từ những gia đình nông dân, cán bộ,chiến sĩ người Khmer nên họ gắn liền với quê hương, phum, sóc Họ chịu ảnhhưởng của những phong tục, tập quán, truyền thống, bản sắc văn hóa, ngônngữ của dân tộc,… từ lúc còn nhỏ đến trưởng thành nên họ là những ngườihiểu nhất về đồng bào mình, hiểu được phong tục, tập quán, truyền thống, tưtưởng, hiểu được tâm tư, nguyện vọng, những thuận lợi, khó khăn, cũng nhưđịa bàn mà họ phụ trách Khi giải quyết những công việc dù lớn hay nhỏ, họ

Trang 30

vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý, lại vừa là một công dân với những mối quan

hệ nhiều chiều trong xóm, ấp, khu phố, tổ dân phố, tổ nhân dân tự quản nêncách làm việc của họ phải bảo đảm thấu tình, đạt lý

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer là những người đạidiện cho Đảng và Nhà nước để lãnh đạo bà con nông dân, nhất là ngườiKhmer phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới ở cơ sở Chính độingũ cán bộ này là những người thực hiện chính sách dân tộc, góp phần làmcho Đảng và Nhà nước có cơ sở ăn sâu, bám rễ trong đồng bào các dân tộc, tạoquan hệ máu thịt, tinh thần đoàn kết, thống nhất của các dân tộc anh em và lòngtin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được củng cố, thắt chặt

Chính những điều kiện trên, trong công tác lãnh đạo, quản lý của độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer có những thuận lợi cơ bản sau:

Thứ nhất, trong lĩnh vực tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc

Khmer thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước, của địa phương Do họ thông hiểu ngôn ngữ Khmer nên việcphiên dịch các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhànước, của địa phương từ ngôn ngữ Kinh sang ngôn ngữ dân tộc Khmer để làmtài liệu tuyên truyền, vận động khá thuận lợi Bên cạnh đó, họ có thể nghiêncứu, tìm hiểu các tài liệu, sách báo do Ban Dân tộc Trung ương phát hành, cácchương trình tiếng Khmer trên các phương tiện thông tin đại chúng để vậndụng vào công tác ở địa phương do mình quản lý, nhất là trong đồng bàoKhmer Hơn nữa, do họ là con em của đồng bào Khmer nên họ được tiếp thucác tinh hoa của dân tộc mình như phong tục, tập quán nên họ có thể vậndụng các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước vào việc triển khai, tổchức thực hiện hợp lý trong đồng bào Khmer Bởi lẽ, trong thực tế, khôngphải tất cả mọi người Khmer đều am hiểu đầy đủ ngôn ngữ dân tộc Kinh,hoặc họ có hiểu đi nữa thì vẫn chỉ là nửa vời Mặt khác, cho dù đội ngũ cán

bộ chủ chốt cấp cơ sở người Kinh sinh sống gần gũi, khá am hiểu ngôn ngữ

Trang 31

và một số phong tục, tập quán truyền thống của người Khmer chăng nữanhưng người Khmer vẫn không có sự đồng cảm hoàn toàn như là với cán bộcùng dân tộc mình

Chính vì vậy, chỉ có những cán bộ là người Khmer họ mới tin tưởng,mới nghe theo Điều đó cho thấy, để đảm bảo hiệu quả công tác tuyên truyềnvận động trong đồng bào Khmer thì không thể không có cán bộ người Khmer,nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer

Một thuận lợi cơ bản của cán bộ chủ chốt người Khmer trong công táctuyên truyền vận động nữa, đó là: hầu hết cán bộ chủ chốt người Khmer đều

có thời gian tu học, trả lễ ở các chùa trên quê hương mình Trong thời gian

tu học họ được tiếp thu những kiến thức cơ bản về “đối nhân, xử thế”, vìvậy, họ được xem là những người hội đủ các giá trị đạo đức của nhà Phật

và được đồng bào Khmer tin yêu, quý trọng Từ các vị Hòa thượng,Thượng tọa cho đến đồng bào Phật giáo Nam tông họ đều tin tưởng ở độingũ cán bộ này Cho nên, khi cần thiết để tập hợp đồng bào Phật giáo Namtông đến chùa tiếp thu các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước, các phong trào hành động của địa phương đềuđược các vị trụ trì chùa cùng đồng bào phật tử nghiêm túc thực hiện Từ

đó, chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền vận động đạt cả chiều rộnglẫn chiều sâu, tạo được sinh khí phấn khởi thi đua lao động, sản xuất vàhọc tập trong đồng bào Khmer, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu

mà Đảng, Nhà nước và địa phương đã đề ra

Thứ hai, do am hiểu được phong tục, tập quán, truyền thống,… của

đồng bào Khmer nên trong quá trình cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyếtcủa Đảng và Nhà nước, của cấp trên cũng như khi xây dựng các nghị quyết,chương trình lãnh đạo, điều hành ở địa phương họ đều có cơ sở, có căn cứhợp lý để đề ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả trong đồng bào dân tộcmình Bởi lẽ, chỉ khi nào am hiểu được tình hình đồng bào thế nào, họ cần gì,

Trang 32

họ nghĩ gì, khả năng của họ ra sao thì việc đề ra các giải pháp thực hiện mớikhông trái với thuần phong, mỹ tục của họ, mới thu hút được sự chú ý vàhưởng ứng thực hiện của họ.

Thực tế cho thấy, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp hầu hết ngườiKhmer đều kế thừa tập quán sản xuất cũ của cha ông để lại cùng với kinhnghiệm cá nhân mình, họ vẫn gieo mạ, cấy lúa trên mảnh đất của mình, vẫnmột năm hai vụ, vẫn trông cậy vào sự ưu đãi của đất đai, thời tiết, họ chưaquan tâm ứng dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật vào canh tác Trướctình hình đó, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đội ngũ cán bộ ngườiKhmer được sử dụng làm lực lượng chính trong công tác tuyên truyền vậnđộng đồng bào Khmer thay đổi tập quán sản xuất Nhờ đó mà chất lượng đờisống vật chất trong đồng bào tiếp tục được nâng lên

Trong vận động đồng bào Khmer thay đổi nếp sống, tập quán cũ kỹ, lạchậu, tích cực học tập nâng cao trình độ dân trí, đội ngũ cán bộ chủ chốt ngườiKhmer có vai trò đặc biệt quan trọng, đội ngũ cán bộ này đã thấu hiểu đồngbào nên họ là những người làm gương, đi tiên phong trong thực hiện, đượcđồng bào trông thấy, học và làm theo rất hiệu quả, nhất là trong việc học tậpnâng cao trình độ dân trí, xây nhà ở, nhà vệ sinh, ma chay, tế lễ, Chất lượngđời sống vật chất và tinh thần của họ tiếp tục được nâng lên ngang tầm vớicác dân tộc anh em khác

Thứ ba, đội ngũ cán bộ chủ chốt người Khmer có khả năng tập hợp,

quy tụ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ đảng và ngoài quần chúng nhân dân.Bởi lẽ, truyền thống của người Khmer là rất tôn trọng đạo lý, chân thành vớibạn bè, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, ngay thẳng, thật thà, bộc lộ rõ quanđiểm nhận thức của mình với mọi người Cho nên trong lãnh đạo, quản lý, độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer luôn là người “cầm cân nảymực”, phân biệt được đúng sai trong “đối nhân xử thế”, không thiên vị cho dù

là người thân của họ, vì vậy họ rất có uy tín trong việc giải quyết tranh chấp,

Trang 33

mâu thuẩn trong đồng bào Bên cạnh đó, chính từ lòng chân thành của bảnthân mình nên trong tình cảm bạn bè, họ sẵn sàng chia sẻ nỗi buồn đau khikhó khăn, hoạn nạn, ốm đau, họ luôn xem mọi người như người thân tronggia đình nên luôn được mọi người yêu thương, quý mến Đặc biệt, trong côngtác tự phê bình và phê bình họ luôn trung thực, thẳng thắn, dám nhìn thẳngvào những khuyết điểm của bản thân cũng như trong đóng góp phê bình cho

cá nhân và tập thể của chi bộ, đảng bộ mình Chính những đức tính truyềnthống tốt đẹp đó mà cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer luôn được đồngchí, đồng nghiệp và quần chúng nhân dân tin yêu, quý trọng, là cơ sở để xâydựng chi bộ, đảng bộ cơ sở luôn trong sạch, vững mạnh

Thứ tư, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt cấp cơ sở người

Khmer còn có khả năng xây dựng được lòng tin của nhân dân đối với tổ chứcĐảng và Chính quyền địa phương thông qua tiếp nhận, xử lý các yêu cầu,nguyện vọng chính đáng của bà con nói chung và người Khmer nói riêng Bởi

lẽ, khi người Khmer đến chính quyền để xin xác nhận hồ sơ, lý lịch, ký tên,trình báo,… thì ngoài những người am hiểu ngôn ngữ dân tộc Kinh vẫn cònkhá đông đồng bào còn hạn chế, do đó khi tiếp xúc với chính quyền để đề đạt

ý kiến, nguyện vọng sẽ khó khăn, làm cho người tiếp nhận không hiểu hoặchiểu nhầm ý muốn của họ, gây tâm lý e ngại nên họ không dám đến liên hệ.Chính vì vậy mà vai trò của cán bộ chủ chốt người Khmer trong địa phương

có đồng bào Khmer sinh sống là khá quan trọng Thông qua đội ngũ này sẽgiúp cho Đảng bộ, chính quyền nắm rõ được tình hình nhân dân địa phương,góp phần xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, đấu tranh, bài trừ kịp thời cácloại tội phạm và tệ nạn xã hội, nhất là đối với các luận điệu tuyên truyềnxuyên tạc của các thế lực thù địch…

Quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cán bộ là cái gốc củamọi công việc Có cán bộ tốt thì công việc dù khó khăn đến đâu cũng thànhcông, xuất phát từ thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer,

Trang 34

trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách,

cơ chế, nhiều giải pháp, hình thức đào tạo cán bộ là người dân tộc Khmer khátoàn diện

Tuy nhiên, cũng như đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nói chung, độingũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer ở Kiên Giang vẫn còn nhiều hạnchế trong hoạt động Một trong những nguyên nhân gây nên những hạn chế

đó là do họ vẫn còn chịu ảnh hưởng của bệnh kinh nghiệm

2.2 NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH KINH NGHIỆM Ở ĐỘI NGŨ CÁN

BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ NGƯƠI KHMER (QUA THỰC TẾ Ở TỈNH KIÊN GIANG)

Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmertỉnh Kiên Giang có rất nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan vànguyên nhân khách quan; có cả nguyên nhân chung ở đội ngũ cán bộ chủ chốtcấp cơ sở của cả tỉnh nhưng cũng có những nguyên nhân mang tính đặc thùriêng ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer Kiên Giang

2.2.1 Nguyên nhân khách quan

a) Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên

Kiên Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở phía Tâynam của Tổ quốc, có rừng, núi, hải đảo, biển và đồng bằng; là nơi có khốilượng dự trữ sinh quyển lớn và cũng là nơi ở cuối nguồn lũ của vùng Đồngbằng sông Cửu Long Đặc điểm đó tạo cho Kiên Giang nguồn tài nguyênphong phú về nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp và du lịch Đơn vị hànhchính của tỉnh có 15 huyện, thị, thành phố; 145 xã, phường, thị trấn với dân số1.721.700 người (số liệu năm 2012) Trong đó, người Kinh chiếm khoảng85,5%, người Khmer chiếm khoảng 12,2% (tức 210.247 người), người Hoachiếm khoảng 2,2% còn lại là các dân tộc khác như Chăm, Tày, Mường,Nùng,… Kiên Giang có bờ biển dài hơn 200 km, vùng biển rộng trên 63.000

km2 và đường biên giới đất liền giáp với Campuchia dài 56,8 km

Trang 35

Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng đến núi rừng và biểnđảo Trong đó, phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần Đôngbắc xuống Tây nam Do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên Kiên Giang có khíhậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm, nhiệt độ trung bình từ 27-27,50C.Kiên Giang không chịu trực tiếp ảnh hưởng của bão nhưng lượng nước mưa

do bão chiếm một tỷ trọng đáng kể, nhất là vào cuối mùa mưa Mùa mưa bắtđầu từ tháng 4 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau.Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600-2.000 mm ở đất liền và 2.400-2.800 mm ở vùng đảo Phú Quốc Ít chịu ảnh hưởng của thiên tai lại có khíhậu ôn hòa, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào nên rất thuận lợi cho nhiều loạicây trồng và vật nuôi sinh trưởng, phát triển tốt

Kiên Giang có 04 vùng đất đai chính là: vùng phù sa ngọt thuộc Tâysông Hậu, vùng phèn ngập lũ thuộc Tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộcBán đảo Cà Mau và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải.Trong đó, đất nông nghiệp chiếm 64,2% diện tích tự nhiên, đất rừng chiếm 122,8nghìn hécta, đất chuyên dùng 35,4 nghìn hécta, đất ở 10,1 nghìn hécta Ngoài ra,tỉnh còn có khoảng 70 nghìn hécta đất hoang hóa và sản xuất chưa ổn định vớitrên 25 nghìn hécta vườn tạp Rừng tại Kiên Giang rất ít, chủ yếu là rừng phòng

hộ Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn mặc dù đang ởmức thăm dò, nghiên cứu nhưng bước đầu đã xác định được 152 điểm quặng và

23 mỏ khoáng sản các loại khác Trữ lượng đá vôi toàn tỉnh hiện có 440 triệu tấn,

có khả năng khai thác 342 triệu tấn, trong đó, trữ lượng khai thác công nghiệp là

235 triệu tấn, đủ nguyên liệu để sản xuất 4,6 triệu tấn clinker/năm trong suốt 40năm Than bùn, ước tính còn khoảng 150 triệu tấn

Nền nông nghiệp của Kiên Giang là nông nghiệp trồng lúa nước Đấtcanh tác không tập trung nhưng phần lớn phân bố ở ven các trung tâm huyện.Trên Quốc lộ 61 có một vùng trồng lúa ven nội ô huyện Giồng Riềng, ngoài

ra còn có đất canh tác của các gia đình nằm sâu trong những xóm nhỏ Xen kẽ

Trang 36

với việc trồng lúa nước là các loại hoa màu và một số cây có giá trị côngnghiệp như dừa, khóm, mía,…

Kiên Giang là tỉnh có nghề đánh bắt hải sản phát triển Với bờ biển dàitrên 200 km, có diện tích biển khoảng 63.000 km2, kinh tế biển của KiênGiang có tiềm năng phát triển tốt - đây là lĩnh vực mà Kiên Giang có lợi thếhơn hẳn so với một số tỉnh trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Nướcmắm Phú Quốc là một thương hiệu nước mắm nổi tiếng không những trongphạm vi cả nước mà còn trên bình diện quốc tế

Người Khmer ở Kiên Giang thường cư trú thành những cụm rời, nhỏ làmột ấp, lớn hơn là xã, xen kẽ với người Kinh và người Hoa Ngoài ra, ngườiKhmer còn định cư dọc theo biên giới Việt Nam - Campuchia Do đặc điểmđịa lý và phương thức sản xuất nên người Khmer đều sống trên các giồng cao(Giồng Riềng), gò nổi (Gò Quao), ven đồi (Kiên Lương - Hà Tiên - Hòn Đất),ngọn sông (Miệt Thứ), ngọn lạch, lung bào (Chắc Băng - Vĩnh Thuận), nơi khíhậu ôn hòa thuận lợi cho phát triển trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản

Người Khmer từ xa xưa đã có kỹ thuật trồng lúa nước Ở gần sông rạch,người dân đã biết lợi dụng nước thủy triều lên để đưa nước vào đồng ruộngrồi đắp đập nhỏ giữ nước rửa phèn Ngoài ra, người Khmer ở Kiên Giang còn

cư trú ở “miệt vườn” lấy sông rạch, vườn cây làm tiêu chuẩn để đem lại sựthoáng mát… Tập quán cư trú của người Khmer Kiên Giang được hình thành

do nhiều yếu tố khác nhau: nguồn gốc lịch sử tộc người, địa lý tự nhiên, đặcđiểm hoạt động kinh tế, sự giao lưu văn hóa, những biến động của xã hội…

Có thể nói, đất giồng là nơi cư trú đầu tiên của người Khmer Có nhiều loạiđất giồng: tên chữ Khmer là Phnô Bần Đôy (giồng xuôi), Phnô Tôi Tưng(giồng ngang), Phnô Com Bôch (giồng cụt), Phnô Thôm (giồng lớn), Phnô Tít(giồng nhỏ) Khi đồng bằng sông Cửu Long chưa được khai phá, phần lớn đấtnơi đây hoang vu, ngập nước, lầy lội … thì đất giồng là nơi dừng chân thíchhợp đầu tiên của con người để từ đó dần dần lấn đất, khai mở ra thêm Đất

Trang 37

giồng được tạo thành do sự phân chia dòng chảy của các con sông mangnhiều phù sa, mặt trên là đất cát pha trộn, dưới bùn là đất sét (dấu tích này cònlại tại Láng Cát - Chùa Láng Cát - Thành phố Rạch Giá) nên dễ thoát nước ởmặt trên lại giữ được nước ở dưới sâu Cũng như gò, đất giồng cao hơn mặtruộng nhưng lại khá rộng hơn về bề ngang nên có thể vừa cất nhà để ở, vừa cóđất để trồng một số loại hoa màu, cây ăn trái Do diện tích lớn nên trên giồng

có thể lập thành nhiều phum hoặc nhiều sóc, dân cư sinh sống và sinh hoạtcộng đồng thuận lợi, đông đúc Lúc đầu dân lập phum, sóc ngay ở phần giữacủa giồng nên trục giao thông chính nằm ở giữa, dân cư phát triển dọc theohai bên đường tạo thành “xương sống” của cả khu vực Quá trình khẩn hoangngày càng mạnh mẽ, dân cư mỗi ngày một đông lên nên các phum lập sau lầnlượt được phát triển về phía ngoài, đất canh tác được mở rộng ra vùng chângiồng, đất gò (Đây tual) nơi đất đai màu mỡ Họ canh tác trên khoảng trốnggiữa các giồng chính và giồng nhánh, nơi đây có loại đất rất tốt (đất Đâyklanh) có thể dùng để trồng nhiều loại cây khác nhau Giồng Riềng, Gò Quao

là loại hình cư trú này Dưới áp lực của sự gia tăng dân số và việc các phầnđất tốt, thuận lợi cho việc sản xuất trên giồng đã được sở hữu hết, ngườiKhmer mới đến (do di dân tự nhiên và chuyển cư tại chỗ) hoặc những hộKhmer mới tách phải đi xa hơn, vào sâu hơn để khai phá Để tiện lợi trongquản lý đất ruộng, đồng thời cũng để giải phóng bớt dân cư trong các phum,sóc, người Khmer bắt đầu chuyển xuống vùng đất ruộng tạo lập các phummới (phum nên hiểu như là các đồi nhỏ đủ chứa một gia đình) Tuy cư trú trênđất ruộng nhưng người Khmer vẫn đắp đất để tạo thành những khoảng gò sau

đó mới cất nhà Kiểu cất nhà trên gò độc đáo này phản ánh tập quán cư trú và

sự sáng tạo của người Khmer trong quá trình khai phá vùng đất này

Hệ thống kênh, rạch ở Kiên Giang rất phong phú với đủ loại như: sông(tự nhiên), kênh (nhân tạo), rạch, lạch, xẻo… Có thể nói rằng cư trú ven sông,kênh, rạch, đường giao thông thủy là đặc trưng của người Khmer ở Kiên

Trang 38

Giang, kể cả ở những vùng hệ thống thủy lợi tương đối hạn chế hoặc kémphát triển (như vùng ba Hòn-Hòn Đất, Phú Mỹ-Hà Tiên) Hệ thống sông,kênh, rạch ở Kiên Giang chiếm vị trí vô cùng quan trọng đối với hoạt độngsản xuất nông nghiệp nói riêng và hoạt động kinh tế nói chung Đó là nguồnnước tưới tiêu đồng ruộng, sinh hoạt: tham gia điều tiết lũ lụt hàng năm từthượng ngồn sông MêKông để mang phù sa bồi đắp cho đồng ruộng thêmmàu mỡ: đem đến nguồn thủy sản phong phú cho bữa ăn hàng ngày Hệ thốngkênh, rạch còn là hệ thống đường giao thông, lưu thông, mua bán hàng hóa.Chính vì vậy sông, kênh, rạch luôn gắn liền với hoạt động lao động sản xuất

và đời sống của nhân dân, nhất là đối với cư dân sống bằng nghề trồng lúanước Những phum, sóc người Khmer ở Kiên Giang phát triển mạnh dọc theocác con sông, kênh, rạch và bị biến dạng đi nhiều, ít mang tính chất quần tụđậm đặc của đất giồng mà phân tán theo chiều dài như Sóc Ven (sóc dài theocon kênh) Dọc theo bờ sông, bờ kênh của người Khmer được xây dựng nốitiếp nhau, mặt trước quay ra kênh, rạch, mặt sau quay về phía ruộng, khuônviên xung quanh nhà gần giống với nhà của người Kinh Trước nhà có khoảngsân rộng, bên hông nhà có một khoảng đất trống, phía sau nhà có khi là mảnhvườn nhỏ, có khi là ao cá, mương vườn, phía xa là đất ruộng Ngăn cách giữahai nhà có thể là con mương bao quanh hoặc có khi là một hàng rào ước lệ,cũng có khi là một bờ đất chạy thẳng từ trước đến sau, ra bờ ruộng Nếu như

cư trú trên đất giồng là phương thức quần cư truyền thống của người KhmerNam bộ thì đối với bộ phận dân cư Khmer Kiên Giang ngày nay, phương thức

cư trú dọc theo đường bộ đang dần trở nên phổ biến hơn Họ nhận thức đượctính tiện lợi của việc sinh sống gần đường giao thông như tiện đi lại, vậnchuyển, mua bán sản phẩm, vật tư, học hành, giao lưu, quan hệ qua lại… Dodấu ấn quần cư trên đất giồng vẫn còn đậm nét và kinh nghiệm sống chungvới những điều kiện bất lợi của tự nhiên (lũ, lụt) nên người Khmer vẫn đắpnền, tôn nền nhà hoặc cả khuôn viên nhà lên cao Quan sát toàn toàn cảnh một

Trang 39

phum Khmer theo dạng này chúng ta vẫn có thể nhận thấy: cao độ của phum

so với chân đất từ 40 đến 50 cm, thậm chí có nơi còn cao hơn, tạo thành giồnghẹp nhân tạo với bề ngang từ 30 - 40 m Kiểu cư trú dọc theo các trục lộ giaothông của người Khmer là hệ quả của quá trình phát triển mạng lưới giaothông đường bộ, đồng thời cũng là sự thích ứng với điều kiện sản xuất trong

cơ chế kinh tế mới - kinh tế thị trường Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù ở dọctheo các trục đường giao thông và quanh các chợ nông thôn nhưng tỷ lệ hộdân Khmer hoạt động thương mại, buôn bán vẫn còn ít, chủ yếu là buôn bánlẻ (<5%) và phần lớn vẫn sống bằng hoạt động nông nghiệp Điều này chothấy sự thay đổi tập quán cư trú chỉ là một yếu tố thích nghi với hoàn cảnhkinh tế mới chứ hoàn toàn chưa phải là do nhu cầu chuyển đổi từ hoạt độngnông nghiệp sang hoạt động thương mại - dịch vụ (lĩnh vực này vốn khôngphải là sở trường của người Khmer Kiên Giang) Ở các vùng có núi như vùng

Hà Tiên, Kiên Lương, Hòn Đất cư dân Khmer trước đây thường thiết lập cácphum, sóc quanh các sườn đồi, núi thành từng lớp từ triền núi trải dài xuốngchân núi Hình thức này ngày nay vẫn còn tồn tại nhưng đã ít phổ biến, họchuyển dần sang cư trú ven kênh, rạch và dọc theo các trục giao thông đường

bộ [71, tr.11-21]

Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên như vậy là một trong những cơ

sở hình thành nên bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở nóichung và đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer Kiên Giang nóiriêng Bởi lẽ, họ chỉ biết dựa vào tự nhiên để khắc phục tự nhiên đảm bảocuộc sống, sinh hoạt hàng ngày Họ sử dụng những kinh nghiệm truyền thống

mà các thế hệ trước truyền lại và kinh nghiệm từ quá trình trải nghiệm củachính bản thân họ, tìm kiếm những điều kiện thuận lợi trong tự nhiên để mưucầu cuộc sống chứ chưa thật sự có sự vận dụng khoa học kỹ thuật để áp dụngvào quá trình sản xuất và canh tác Do vậy, từ việc họ sống tập trung quanhcác trục lộ giao thông chính, sông, kênh, rạch (ngoài mặt tiền trước đây) thì

Trang 40

hiện nay, qua thực tế khảo sát cho thấy hầu hết người Khmer ở Kiên Giang lại

di dân (tự nhiên) vào sinh sống sâu trong các cánh đồng (xa các trung tâm xã,thị trấn) với điều kiện tự nhiên thuận lợi cho quá trình sản sản xuất - điều nàythể hiện rõ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào điều kiện của tự nhiên ở họ

b) Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội

Một trong những nguyên nhân khách quan dẫn đến bệnh kinh nghiệm ởđội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở người Khmer Kiên Giang đó là kinh tế pháttriển chậm, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chậm được đầu tư, thiếu đồng bộ,trình độ dân trí còn hạn chế , đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân cácdân tộc trong tỉnh mặc dù có nâng lên nhưng vẫn còn thấp, nhất là trong đồngbào dân tộc Khmer Cụ thể là:

* Về kinh tế:

Nghị quyết Đảng bộ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ

2010-2015 đã đề ra mục tiêu: phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đạt13% trở lên Về cơ cấu kinh tế phấn đấu đạt giá trị: Nông - lâm - thủy sảnchiếm 30%, công nghiệp - xây dựng 32%, dịch vụ 38% Sản lượng lương thựcđạt 3,550 triệu tấn; sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 684.000 tấn,kim ngạch xuất khẩu 900 triệu USD; 100% xã trong đất liền có đường từhuyện về trung tâm xã và 60% trở lên đường liên ấp được nhựa hóa hoặcbêtông hóa; 98% số hộ sử dụng điện; 96% số hộ sử dụng nước hợp vệ sinh;25% số xã đạt các tiêu chí xã nông thôn mới, các xã còn lại đạt 50% trở lêncác tiêu chí nông thôn mới, xây dựng 01 huyện đạt tiêu chí huyện nông thônmới Thu ngân sách gấp 02 lần trở lên so với năm 2010 Huy động vốn đầu tưtoàn xã hội, giai đoạn 2011-2015 khoảng 170 ngàn tỷ đồng

Kết quả qua 03 năm triển khai thực hiện cho thấy, tốc độ tăng trưởngkinh tế năm 2011 đạt 12,02%, năm 2012 đạt 11,81% và năm 2013 đạt 9,4%,thấp hơn so với đầu nhiệm kỳ là 12,5% Mặc dù thu nhập bình quân đầungười hàng năm có chiều hướng tăng là 35.890.000 đồng năm 2011, năm

Ngày đăng: 19/07/2022, 23:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. F.F.Aunapu (1977), Phương pháp khoa học để ra quyết định trong quản lý, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp khoa học để ra quyết định trong quảnlý
Tác giả: F.F.Aunapu
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1977
2. Ph.Ăngghen (1971), Biện chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên
Tác giả: Ph.Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1971
10. Ban Tổ chức Trung ương Đảng (2003), Một số văn kiện xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ và đảng viên, Quyển III, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số văn kiện xây dựng Đảngvề tổ chức, cán bộ và đảng viên
Tác giả: Ban Tổ chức Trung ương Đảng
Năm: 2003
11. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2003), Tài liệu học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh, (Dùng cho cán bộ, đảng viên cơ sở), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Tư tưởngHồ Chí Minh
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2003
12. Hoàng Chí Bảo (1988), “Từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy lý luận”, Thông tin lý luận, (6), tr.15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ tư duy kinh nghiệm đến tư duy lý luận”,"Thông tin lý luận
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 1988
13. Hoàng Chí Bảo (2011), "Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỳ XXI - mục tiêu, con đường và mô hình phát triển", Triết học, (6/241), tr.10-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trong những thập kỷ đầu thế kỳ XXI -mục tiêu, con đường và mô hình phát triển
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2011
14. Tần Xuân Bảo (2012), Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý, kinh nghiệm từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo cán bộ lãnh đạo và quản lý, kinh nghiệm từthực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Tần Xuân Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
15. Võ Thị Bích (2001), Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở Long An, Luận văn thạc sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh kinh nghiệm ở đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơsở Long An
Tác giả: Võ Thị Bích
Năm: 2001
16. Nguyễn Đức Bình (1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (6), tr.20-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiệnnay”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Năm: 1992
19. Nguyễn Thị Thanh Dung (2010), Phong cách tư duy Hồ Chí Minh với việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh vớiviệc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Dung
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
20. Nguyễn Thị Kim Dung (2013), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng", Đặc san Hồ Chí Minh, (2), tr.03-7, 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng,chỉnh đốn Đảng
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2013
21. Trần Sỹ Dương (2010), Ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ cơ sở chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cánbộ cơ sở chủ chốt cấp cơ sở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay
Tác giả: Trần Sỹ Dương
Năm: 2010
22. Đảng bộ tỉnh Kiên Giang (2010), Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ (2010-2015), Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng bộtỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ (2010-2015)
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Kiên Giang
Năm: 2010
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinhtế - xã hội đến năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khóa VII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị giữa nhiệm kỳ(khóa VII)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w