1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương môn Giáo dục học

48 49 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 473,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương môn Giáo dục học được biên soạn nhằm giúp cho các bạn củng cố được những kiến thức về giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người; xu hướng phát triển của giáo dục; giáo dục với sự phát triển nhân cách; mục tiêu giáo dục và một số kiến thức khác.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN GIÁO DỤC HỌC

1 Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người:

Câu 1: Bằng lý luận và thực tiễn giáo dục hãy phân tích vằ chứng minh “Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người, hãy rút ra kết luận cần thiết dưới góc độ của nhà giáo dục:

Trả lời:

1.Định nghĩa hiện tượng:

Hiện tượng là việc thế hệ đi trước truyền thụ hệ thống kinh nghiệm mà loài người tích lũy được trongquá tình phát triển của lịch sử Thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử đó để tham gia vào các hoạt độngcủa đời sống xã hội, để tồn tại và phát triển trong xã hội loài người

2 Giáo dục là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người:

- Giáo dục theo nghĩa rộng là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch thông qua các hoạt động và cácmối quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục, nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinhnghiệm lịch sử - xã hội của loài người để hình thành và phát triển nhân cách

- Giáo dục theo nghĩa hẹp là sự tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục giúp họ có được những trithức, thái độ, hành vi thói quen đúng đắn về các lĩnh vực tư tưởng - chính trị, đạo đức, lao động thẩm mỹ, thểchất

- Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt chỉ có ở xã hội loài người Giáo dục xuất hiện, phát triển gắn bó cùng loàingười

- Ở đâu có con người, ở đó có giáo dục – giáo dục mang tính phổ biến Khi nào còn loài người lúc đó còn giáodục – giáo dục mang tính vĩnh hằng

- Giáo dục là một hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của xã hội loài người

+ Về bản chất, giáo dục là sự truyền đạt và tiếp thu kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ

loài người;

+ Về mục đích, giáo dục là sự định hướng của thế hệ trước cho thế hệ sau;

+ Về phương thức, giáo dục là cơ hội giúp mỗi cá nhân đạt tới hạnh phúc và là cơ sở đảm

bảo cho sự kế thừa, tiếp nối và phát triển những thành quả văn hoá của xã hội loài nguời

- Giáo dục là hiện tượng có tính lịch sử : Giáo dục ra đời theo nhu cầu của lịch sử xã hội, một mặt nó phản ánhtrình độ phát triển của lịch sử, bị qui định bởi trình độ phát triển của lịch sử, mặt khác nó lại tác động tích cựcvào sự phát triển của lịch sử

- Giáo dục có tính giai cấp: Trong xã hội có giai cấp, giáo dục được sử dụng như công cụ của giai cấp cầmquyền nhằm duy trì quyền lợi của mình thông qua mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục

- Giáo dục có tính dân tộc: Mỗi quốc gia đều có một truyền thống lịch sử, có nền văn hoá riêng, cho nên giáodục ở mỗi nước cũng có những nét độc đáo, những sắc thái đặc trưng Tính dân tộc của giáo dục được thể hiệntrong mục đích nội dung, phương pháp và sản phẩm giáo dục của mình

- Cùng với sự xuất hiện xã hội loài người thì cũng phát sinh một hiện tượng xã hội đặc trưng đó là hiện tượnggiáo dục Với tư cách là hiện tượng xã hội giáo dục có mối quan hệ bình đẳng với các hiện tượng xã hội khácnhư: Chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, đạo đức v.v Tất cả đều là những hiện tượng nảy sinh tồn tại trong xã hộiloài người, phản ánh các mối quan hệ, những dạng hoạt động khác nhau của con người để phân biệt với các hiệntượng tự nhiên như: mưa, gió, động đất, bão… do thế giới tự nhiên sinh ra

Loài người muốn tồn tại và phát triển phải luôn duy trì hiện tượng giáo dục Như vậy dấu hiệu bàn chấtcủa giáo dục là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội từ thế hệ này sang thế hệ khác Nội dung của sựtruyền đạt kinh nghiệm xã hội là hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, hệ thống phương thức, cách thức tiến hànhhoạt động và hệ thống thái độ trong việc đánh giá cảm xúc đối với nền văn hóa do con người sáng tạo ra trongtiến trình lịch sử Mục đích của sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội là vì lợi ích chung của toàn xã hội

và cá nhân con người, vì sự phát triển xã hội cũng như sự phát triển của mỗi cá nhân

- Kinh nghiệm có nguồn gốc từ bên ngoài vừa có tác động qua lại của chủ thể xã hội với thế giói thế bênngoài vừa là kết quả của sự tác động đó Các kinh nghiệm xã hội mà loài người tích lũy được trong quá trìnhphát triển sẽ không mất đi mà được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác nhờ quá trình giáo dục

- Ý nghĩa của giáo dục với tư cách là hiện tượng xã hội giúp cho sự phát triển tâm lý, ý thức giúp choviệc tồn tại nền văn hóa nhân loại

- Xã hội muốn tồn tại và phát triển buộc phải tổ chức, thực hiện hoạt động truyền đạt và lĩnh hội kinhnghiệm xã hội (phải thực hiện chức năng giáo dục) Do đó giáo dục là hiện tượng tất yếu, nó mang tính chất phỏ

Trang 2

biến và vĩnh hằng đối với xã hội Xã hội nào cũng tồn tại hiện tượng giáo dục và cồn tồn tại xã hội là còn tồn tạigiáo dục.

KLSP: Giáo dục được coi là là hiện tượng đặc biệt của xã hội tồn tại trong xã hội loài người, nó phản

ánh một hoạt động đặc biệt của con người và các mối quan hệ của con người khi tham gia và các hoạt động xãhội Đó là hoạt động tái sản xuất nhân cách, tái sản xuất nhu cầu và năng lực của con người

Giáo dục là một chức năng xã hội nhờ có chức năng này mà xã hội có sự tái sản xuất các hoạt động xãhội, duy trì và phát triển xã hội đó là nhu cầu sống còn của xã hội

Cần có cách nhìn đúng đắn về hiện tượng giáo dục Phê phán những quan điểm sai lầm về hiện tượng giáodục

Giáo dục chỉ tồn tại trong xã hội loài người chứ không có ở loài vật Ngay cả trường hợp con vật mẹ dạycon nó một số thao tác nhất định để thích nghi với môi trường;

Ví dụ: Mèo mẹ dạy mèo con vồ mồi đó là sự truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm nhưng không có quá trình pháttriển Trải qua hàng triệu năm hiện tượng đó vẫn diễn ra như vậy, ngày nay mèo con vẫn vồ mồ theo cách của tổtiên để lại-> không phải là hiện tượng gd

Hiện tượng con người huấn luyện khỉ biết đi xe đạp để làm xiếc hiện tượng này không có sự truyền thụ

và lĩnh hội kinh nghiệm nên không phải là hiện tượng giáo dục Con khỉ được huấn luyện này không thể dạycho thể hệ sau hay đồng loại của nó biết đi xe đạp, hoặc nếu không được tập luyện thường xuyên nó cũng dầnkhông biết đi xe đạp (quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm ở loài vật chỉ mang tính chất cá nhân hay mộtnhóm cá thể và nó có thể mất đi khi điều kiện sống thay đổi)

Nhưng ở xã hội loài người con người luôn lĩnh hội và phát triển kinh nghiệm xã hội, chẳng hạn là ngôinhà để ở nhưng con người đã tiến từ hang đá tự nhiên đến nhà lá, nhà tranh, nhà ngói, nhà xây và tương lai lànhà thông minh Ngôi nhà không chỉ đơn thuần là nơi để ăn, ngủ, nghỉ ngơi mà còn là nơi nơi học tập, chữabệnh, giải trí, mua bán, trao đổi, làm ăn (con người lĩnh hội kinh nghiệm làm phong phú kinh nghiệm đó và phổbiến rộng rãi trong xã hội loài người, các kinh nghiệm xã hội đó là quá trình giáo dục “quá trình giáo dục chỉmất đi khi xã hội không tồn tại)

Giáo dục ở mọi thời đại, mọi thiết chế khác nhau là khác nhau Nói một cách khác giáo dục xuất hiệncùng với sự xuất hiện xã hội loài người, nó mất đi khi xã hội không còn là điều kiện không thể thiểu cho sự tồntại và phát triển của mỗi cá nhân và xã hội loài người Giáo dục là con đường cơ bản để loài người tồn tại vàphát triển

Câu 3: Hãy phân tích tính lịch sử và tính giai cấp giáo dục và từ đó hãy cho ý kiến của mình về quan điểm sau " Giữ nguyên mô hình giáo dục đã được hình thành ở giai đoạn lịch sử trước đó khi xã hội đã bước sang giai đoạnlịch sử mới là một việc làm khoa học"

Là một hiện tượng xã hội, GD chịu sự tác động của các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội : kinh tế,

chính trị, xã hội, văn hoá… Khi những quá trình xã hội đó có những biến đổi thì toàn bộ hệ thống xã hội tươngứng với hình thái kinh tế xã hội đó cũng biến đổi theo Ngay những biến đổi về văn hoá – khoa học cũng buộc

GD phải có những biến đổi tương ứng Lịch sử phát triển của GD học và nhà trường trên thế giới cũng như ởnước ta đã khẳng định rất rõ ràng tính quy định của xã hội đối với GD Đó là một tính quy luật quan trọng của

sự phát triển GD

Do tính quy luật này, GD biến đổi không ngừng trong quá trình lịch sử của xã hội loài người và của xã hộitừng đất nước, từng dân tộc.Vì vậy, GD bao giờ cũng có tính lịch sử cụ thể, tính giai cấp trong xã hội có giaicấp

Tính lịch sử cụ thể của GD

Giáo dục là hiện tượng ra đời gắn liền với tiến trình đi lên của xã hội Một mặt

nó phản ánh trình độphát triển của lịch sử, bịquy định bởi trình độphát triển của lịch

sử, mặt khác nó lại tác động tích cực vào sựphát triển của lịch sử

Giáo dục phù hợp với trình độ phát triển của phương thức sản xuất Giáo dục

chịu sựquy định của các quá trình khác: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá … Trình độ

sản xuất, tính chất quan hệsản xuất, chế độchính trị, cấu trúc xã hội, hệtưtưởng, nền

văn hoá, khoa học của một nước trong một giai đoạn lịch sửnhất định đã quy định tính

chất, nhiệm vụ, nội dung của nền giáo dục đó

Ởmỗi giai đoạn phát triển của xã hội có một trang lịch sửgiáo dục đặc trưng cho

giai đoạn phát triển đó Nó tương ứng với trình độphát triển kinh tế- xã hội cũng như

với mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục trong mỗi giai đoạn

Trang 3

- Ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử XH loài người đều có 1 nền GD phù hợp với nó Khi chuyển từhình thái kinh tế - XH này sang hình thái kinh tế - XH khác thì toàn bộ hệ thống GD tương ứng cũng biến đổitheo Như vậy, GD phản ánh trình độ phát triển kinh tế - XH và đáp ứng các yêu cầu của kinh tế - XH trongnhững điều kiện cụ thể.

- Mỗi quốc gia độc lập có nền GD riêng của nước đó Nền GD đó 1 mặt vừa phải vận động và phát triểntheo các xu hướng phát triển chung của nền GD nhân loại (phù hợp với phương thức sx chung); mặt khác vừaphải giữ gìn và phát huy được bản sắc văn hóa của dân tộc mình Như vậy, GD vừa mang tính dân tộc, vừamang tính thời đại và tính quốc tế

- Trong từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia (tương ứng với những giai đoạn lịch sử nhất định) đòihỏi phải có 1 hệ thống GD tương ứng nhằm đáp ứng tốt các nhu cầu phát triển của XH trong giai đoạn phát triển

đó đặt ra

-Lịch sử loài người đã lần lượt, tuần tự trải qua 5 giai đoạn lịch sử từ thấp đến cao:

+ Công xã nguyên thuỷ

+ Chiếm hữu nô lệ

để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bềnvững”

Tính giai cấp của GD trong xã hội có giai cấp

Giáo dục là một hiện tượng xã hội, nảy sinh tồn tại cùng với sựtồn tại của xã hội

loài người Khi xã hội có sựphân chia giai cấp, giáo dục cũng mang tính giai cấp Tính

giai cấp của giáo dục là quy luật quan trọng của việc xây dựng và phát triển giáo dục

trong xã hội có giai cấp

3

Trong xã hội có giai cấp, giáo dục được sửdụng nhưmột công cụcủa giai cấp

cầm quyền nhằm duy trì quyền lợi của mình thông qua mục đích, nội dung và phương

pháp giáo dục Tính giai cấp chi phối toàn bộnền giáo dục trong xã hội có giai cấp Ở

những chế độxã hội có giai cấp thì giáo dục cũng mang tính đặc quyền, giáo dục là

phương thức đấu tranh giai cấp, nhà trường là công cụcủa chuyên chính giai cấp Giai

cấp thống trịbao giờcũng sửdụng nhà trường nhưlà một phương tiện đểduy trì, củng

cốnền thống trịvà sựáp đặt của nó đối với nhân dân lao động

Nền giáo dục Việt nam là nền giáo dục xã hội chủnghĩa, có tính nhân dân, dân

tộc, khoa học, hiện đại lấy chủnghĩa Mác - Lê nin và tưtưởng HồChí Minh làm

nền tảng

Học tập là quyền của mọi công dân Bậc học tiểu học là bậc học bắt buộc với

trẻem từ6 - 14 tuổi Nhân dân tham gia vào sựphát triển giáo dục Xã hội hoá giáo

dục là nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển giáo dục Việt Nam theo hướng

chuẩn hóa, hiện đại hóa và phổcập trung học, giáo dục nghềnghiệp

+ Giáo dục là hình thái ý thức xã hội

Giáo dục là hình thái ý thức xã hội, là hiện tượng văn minh của xã hội loài người

Vềbản chất, giáo dục là sựtruyền đạt lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử- xã hội của

các thếhệ

Vềmục đích, giáo dục là sự định hướng của thếhệtrước cho sựphát triển của

thếhệsau

Vềphương thức, giáo dục là cơhội giúp đỡcá nhân đạt đến hạnh phúc và là cơ

s ở đảm bảo cho sự k ế th ừa, tiếp nối và phát tri ển những thành quả c ủa xã hội

Trang 4

loài người

+ Giáo dục có tính dân tộc

Mỗi quốc gia đều có một truyền thống lịch sử, có nền văn hoá riêng, cho nên

giáo dục ởmỗi nước cũng mang nét độc đáo, sắc thái đặc trưng thểhiện trong mục

đích, nội dung, phương pháp và trong sản phẩm giáo dục của mình

Nền giáo dục hiện đại Việt Nam mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.

Do tính quy định của xã hội đối với GD nên trong xã hội có giai cấp GD bao giờ cũng mang tính giai cấp Trong cuộc đấu tranh giai cấp thì giai cấp nào nắm được quyền thống trị bao giờ cũng sử dụng GD, sửdụng nhà trường như là một phương tiện để duy trì và củng cố sự thống trị.Tính chất giai cấp thấm sâu vào hệthống GD trong và ngoài nhà trường

Còn đối với giai cấp bị trị, bị bóc lột thì thông qua những đại biểu ưu tú của mình đã sử dụng GD như làmột phương tiện đấu tranh lật đổ giai cấp thống trị Họ không ngừng đấu tranh giành lại quyền học tập cho con

em mình, cho một nền GD dân chủ, thống nhất, bình đẳng, tạo nên sự phát triển nhân cách hài hoà

Trong xã hội có giai cấp thì không có và không thể có 1 nền GD “trung lập” đứng ngoài chính trị, đứngngoài cuộc đấu tranh giai cấp Tuy nhiên giai cấp tư sản thường che đậy tính giai cấp của GD bằng luận điệutuyên truyền bịp bợm về trường học và GD đứng ngoài chính trị và phục vụ cho toàn xã hội Lênin đã vạch ratính chất xảo trá của luận điểm đó

Trong xã hội có giai cấp thì không có và không thể có một nền giáo dục trung lập đứng ngoài chính trị,đứng ngoài cuộc đấu tranh giai cấp Vì vậy tính giai cấp của giáo dục là một quy luật quang trọng của việc xâydựng và phát triển trong xã hội có giai cấp, nhà trường là một công cụ chuyên chính giai cấp và hoạt động giáodục cũng như môi trường nhà trường là một vũ đài đấu tranh giai cấp

Quan điểm " Giữ nguyên mô hình giáo dục đã được hình thành ở giai đoạn lịch sử trước đó khi xã hội đã bước sang giai đoạn lịch sử mới là một việc làm khoa học" là quan điểm sai vì nó không phù hợp với

tính giai cấp và tính lịch sử của giáo dục:

Trong quá trình phát triển của một quốc gia việc phát triển giáo dục phải tránh khuynh hướng máy móctrong việc vận dụng kinh nghiệm của các nước đi trước nhưng phải học hỏi những kinh nghiệm xã hội của nềngiáo dục của các nước khác, nhưng không bao giờ được bỏ quan bản sắc văn hóa của dân tộc cũng như điềukiện cụ thể về kinh tế xã hội và trình độ phát triển của đất nước để xây dựng nền giáo dục đặc trưng của đấtnước mình Nếu giữ nguyên mô hình giáo dục khi điều kiện lịch sử đã thay đổi thì sẽ vi phạm tính lịch sử vàkhông đáp ứng được sự phát triển của đất nước Nên khi lịch sự đã thay đổi ta cần phải đổi mới giáo dục chophù hợp với hoàn cảnh lịch sử và sự phát triển của đất nước (Phải cải cách giáo dục khi các điều kiện đã chínmuồi)

2 Giáo dục là một khoa học:

Câu 1: Hãy phân tích đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của giáo dục từ đó hãy cho ý kiến của mình

về vai trò của giáo dục học đối với giáo dục thực tiễn Việt Nam:

Quá trình giáo dục là quá trình hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch,căn cứ vào mục đích, những điều kiện xã hội quy định được thực hiện nhờ thông hoạt động giữa nhà giáo dục vàngười được giáo dục giúp người được giáo dục chiếm lĩnh kinh nghiệm kinh nghiệm xã hội

Trang 5

Quá trình giáo dục có tính định hướng diễn ra trong thời gian nhất định biểu hiện thông qua hoạt độngcủa con người vận động do tác động của nhân tố bên trong (Di tuyền) bên ngoài (Môi trường xã hội, giáo dụchọc)

Quá trình giáo dục là sự thống nhất của 2 quá trình: Quá trình dạy học và quá trình giáo dục, các quátrình này đều thực hiện chức năng chung của giáo dục trong việc hình thành và phát triển nhân cách

Quá trình giáo dục là sự vận động từ mục đích của giáo dục đến các kết quả của nó, tioanf toàn vẹn như

là sự thống nhất nội tại của các thành tố trong quá trình giáo dục

Quá trình giáo dục được xem như là một hệ thống bao gồm: Mục đích giáo dục, nội dung giáo dục,phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục

Quá trình giáo dục luôn có sự phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục giúp người đượcgiáo dục chiếm lĩnh giá trị văn hóa của nhân loại, hình thành và phát triển nhân cách

+ Nhiệm vụ của giáo dục:

Giải thích nguồn gốc phát sinh, phát triển và bản chất của hiện tượng giáo dục, phân biệt các mối quan

hệ có tính quy luật và tính ngẫu nhiên, tìm ra các quy luật chi phối quá trình giáo dục để tổ chức chúng có hiệuquả cao

Giáo dục học nghiên cứu, dự báo tương lai gần và tương lai xa của giáo dục, nghiên cứu xu thế phát triển

và mục tiêu chiến lược của giáo dục trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội Từ đó xây dựng chương trìnhgiáo dục cụ thể đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

Nghiên cứu xây dựng các lý thuyết giai đoạn mới hoàn thiện các mô hình giáo dục dạy học, phân tíchkinh nghiệm tìm ra con đường gắn nhất và các phương tiện để áp dụng vào thực tiễn giáo dục trên cơ sở cácthành tựu khoa học, chức năng giáo dục còn nghiên cứu các phương tiện mới nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục

Trên cơ sở phân tích đối tượng và nhiệm vụ dạy học của giáo dục học Đối với đất nước ta là một nướcđang phát triển, Đảng và Nhà nước đã xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu Việc nắm được đối tượng đểxây dựng mục tiêu giáo dục nhằm đưa giáo dục VN tiến lên bền vững Xây dựng mục tiêu là CNH-HĐH đấtnước, nâng cao trình độ tri thức cho mọi người bằng cách cải cách giáo dục, tích cực đổi mới phương pháp(người dạy chỉ hướng dẫn, còn người học chủ động lĩnh hội tri thức, chuyển từ dạy học sang tự học), đổi mớicách thức dạy học, mô hình dạy học, trang bị thiết bị đáp ứng việc dạy và học, ứng dụng khoa học công nghệvào dạy học tăng cường trang bị thiết bị hiện đại nhằm nâng cao chất lương dạy - học

3 Hệ thống các khoa học giáo dục và mối quan hệ giữa chúng

Câu 1: Hãy trình bày sự hiểu biết của mình về hệ thống các khoa học giáo dục và mối quan hệ giữa khoa học giáo dục và các khoa học khác.

Trả lời:

*) Hệ thống khoa học giáo dục:

Quá trình phát triển xã hội luôn đi kèm với sự tích lũy tri thức ở tất các các lĩnh vực trong đó có giáo dục Giáodục học được chia thành các chuyên ngành khoa học riêng biệt tạo thành hệ thống khoa học giáo dục gồm:

- Giáo dục đại cương nghiên cứu quy luật cơ bản của giáo dục học

- Giáo dục học lứa tuổi (Giáo dục trước tuổi đi học, giáo dục trong nhà trường và giáo dục người lớn)nghiên cứu khía cạnh về lứa tuổi của việc dạy học và giáo dục

- Giáo dục khuyết tật nghiên cứu giáo dục cho người khuyết tật

- Giáo dục bộ môn nghiên cứu việc áp dụng quy luật chung vào dạy các môn cụ thể

-Lịch sử giáo dục và giáo dục học nghiên cứu sự phát triển của các tư tưởng và thực tiễn giáo dục ở cácthời kỳ lịch sử khác nhau

- Giáo dục theo chuyên ngành

*) Mối quan hệ giữa giáo dục học với các ngành khoa học khác

Giáo dục với triết học: Mối quan hệ này là một quan hệ lâu dài và có hiệu quả, các tư tưởng triết học đãhình thành quan điểm và lý luận giáo dục, nó làm cơ sở cho phương pháp luận của giáo dục học

Giáo dục học và sinh lý học: Sinh lý học được coi là cơ cở của giáo dục học, việc nghiên cứu giáo dụchọc phải dựa trên sinh lý học như: Hệ thần kinh cao cấp, đặc điểm các loại thần kinh, hoạt động của hệ thống tínhiệu thứ nhất và thư hai giúp giáo dục học xây dựng hệ thống giáo dục phù hợp với sinh lý lứa tuổi, khảnăng lĩnh hội của các đối tượng dược giáo dục

Giáo dục học với tâm lý học: Tâm lý học cung cấp cho giáo dục những tri thức là bản chất, cơ chế, diễnbiến và các điều kiện tổ chức quá trình bên trong sự hình thành và phát triển nhân cách theo từng lứa tuổi, từnggiai đoạn

Trang 6

Giáo dục học với điều khiển học: Điều khiển học là môn khoa học nghiên cứa lôgic những quá trìnhtrong tự nhiên và xã hội Nó xác định những cái chung, quy định sự vận hành của các quy định đó Giáo dục họcvận dụng điều khiển học để xây dựng lý thuyết giáo dục học.

Giáo dục học và xã hội học: Giáo dục học giúp xã hội phát triển

4 Các chức năng xã hội của giáo dục

Câu 1: Phân tích các chức năng của giáo dục, chứng minh việc thực hiện các chức năng này trong thực tiễn giáo dục VN.

Trả lời:

GD chịu sự quy định của xã hội nhưng điều đó không có nghĩa GD thụ động chịu sự tác động của xã hội

mà GD cũng có tác động tích cực trở lại xã hội thông qua thực hiện những chức năng xã hội, đó là:

Chức năng tái sản xuất con người

Chức năng tái sản xuất xã hội

Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau Trong xã hội chúng ta, haichức năng trên được cụ thể hoá thành ba chức năng sau:

- Chức năng kinh tế - sản xuất

Nói GD có chức năng kinh tế - sản xuất có nghĩa là GD có khả năng tác động đến quá trình sx xã hội và gópphần tăng trưởng nền kinh tế của quốc gia

Chức năng này thể hiện như sau:

- GD có vai trò quan trọng để tái sản xuất sức LĐ xã hội: GD tạo ra sức lao động mới ở 1 trình độ cao hơn,khéo léo hơn, hiệu quả hơn để thay thế sức lao động cũ bị mất đi Vì vậy, GD tạo ra 1 năng suất LĐ xã hội caohơn, có tác dụng đẩy mạnh sản xuất và phát triển kinh tế

Tác động của GD đến KT – SX chính nằm ở sức lao động của con người; có sức lao động con người mớilàm ra của cải cho XH GD góp phần tạo ra sức LĐ ấy bằng cách phát triển những năng lực chung và năng lựcchuyên biệt của con người (năng lực chung là học vấn, phẩm chất , năng lực chuyên biệt là năng lực nghềnghiệp)

Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin và nền kinh tế tri thức ngày nay, xã hội đặt ra yêu cầu rất cao ởnguồn nhân lực LĐ: phải có trình độ học vấn cao, có kiến thức sâu sắc, tay nghề vững vàng, có tính năng động,linh hoạt, dễ thích nghi thì vai trò của GD càng quan trọng

- GD là con đường chủ đạo để rút ngắn thời gian LĐ tất yếu trong XH và nâng cao hiệu suất LĐ, GD, bồidưỡng nâng cao trình độ khoa học và kĩ năng cho người LĐ sẽ rút ngắn được thời gian LĐ tất yếu trong XH

- Khoa học kĩ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; trong khi đó GD là con đường hữuhiệu để phổ biến và phát triển khoa học kĩ thuật

- GD là điều kiện quan trọng để nâng cao trình độ quản lí kinh tế: quản lí kinh tế có khả năng thúc đẩy sx

và kinh tế của XH tăng trưởng Muốn vậy phải có đội ngũ quản lí kinh tế đủ về số lượng và chất lượng GD cóthể bồi dưỡng được 1 đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế đông đảo, nâng cao trình độ quản lí kinh tế cũng như khả năngquyết định chính sách cho đội ngũ này

- Chức năng chính trị - xã hội

Trong một chế độ chính trị, giai cấp cầm quyền bao giờ cũng sử dụng GD để duy trì chế độ chính trị, phục

vụ mục tiêu chính trị và lợi ích mà giai cấp đó đại diện Đồng thời, GD còn có khả năng tác động tới cấu trúc xãhội (tức là tập hợp các bộ phận của XH), cụ thể là tác động đến cá nhân, các giai cấp, các nhóm giai tầng trong

xã hội góp phần làm thay đổi cấu trúc cũng như tính chất của chúng theo hướng giảm bớt sự khác biệt, tạo ra sự

thuần nhất trong cấu trúc XH Cụ thể:

- Trong XH có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị sử dụng GD để duy trì xã hội mang tính đẳng cấp

- Trong XH không có giai cấp đối kháng, giai cấp cầm quyền thông qua GD làm cho cấu trúc XH trở nên thuầnnhất hơn, hướng tới sự công bằng cho mọi người Nghĩa là GD làm cho khoảng cách giữa các tầng lớp XH xích lạigần nhau, góp phần xóa bỏ sự phân chia XH thành giai cấp bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung

- Thông qua đào tạo, GD nâng cao trình độ học vấn cho các thành viên của XH Đây là 1 trong những điềukiện để mỗi cá nhân có thể thay đổi vị trí, vai trò XH của bản thân (kể cả việc chuyển đổi giai cấp) Điều này sẽ dẫnđến những thay đổi về số lượng trong cấu trúc XH (về phương diện giai cấp, nghề nghiệp)

- Cũng bằng việc nâng cao học vấn cho cá nhân của từng giai cấp mà GD đã góp phần tạo ra những thayđổi về tính chất của các giai cấp theo hướng vươn đến chiếm lĩnh những giá trị văn minh của nhân loại

- GD nâng cao nhận thức của công dân, tạo cho họ có cơ sở để thực hiện những hành vi đúng trong cácmối quan hệ XH của mình Do đó, quan hệ XH sẽ phát triển theo hướng ngày càng trở nên thuần khiết hơn

- Chức năng tư tưởng – văn hoá

Trang 7

GD có khả năng to lớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng, xây dựng 1 lối sống phổ biến trong toàn xãhội, đồng thời nâng cao trình độ văn hóa cho cộng đồng và xã hội , bởi vì:

- Hệ tư tưởng và lối sống không được hình thành và phát triển 1 cách tự phát mà phải được thực hiện 1cách có ý thức Hệ tư tưởng ảnh hưởng đến toàn xã hội là kết quả của quá trình tác động 1 cách thường xuyên,liên tục của GD tới XH (thông qua đào tạo và dạy học mà tác động đến 1 số lượng lớn dân cư)

- GD góp phần nâng cao dân trí, nhờ đó phát triển đời sống tinh thần của nhân dân và làm cho đời sốngtinh thần của XH ngày càng phát triển

Dưới góc độ văn hóa, thế giới ngày nay coi GD là con đường cơ bản để giữ gìn và phát triển văn hóa A.Toffer, nhà tương lai học người Mĩ phát biểu tại hội đồng Liên hợp quốc khóa 15 (1990): “Một dân tộc khôngđược GD – dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được GD – cá nhân đó sẽ bị XH loại bỏ”

KL chung:

Để thực hiện tốt chức năng này, GD nước ta phải tập trung thực hiện những yêu cầu cơ bản sau:

- GD phải gắn với thực tiễn xã hội, đáp ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu phát triển KT – SX trong từnggiai đoạn cụ thể

- Xây dựng nền GD quốc dân cân đối đa dạng nhằm thực hiện 3 mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài

- Hệ thống GD quốc dân không ngừng đổi mới ND, PP, phương tiện để nâng cao chất lượng GD (nâng caochất lượng nguồn nhân lực)

- GD thông qua các chức năng của mình đã tác động sâu sắc và toàn diện tới các lĩnh vực khác nhau củađời sống xã hội Điều này khẳng định GD là nhân tố, là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển xã hội

- Nhận thức rõ vai trò của GD với sự phát triển xã hội nên Đảng và Nhà nước ta đã có quan điểm vàđường lối phát triển rất đúng đắn là: “Coi GD và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho GD là đầu tư chophát triển” “GD vừa là mục đích vừa là động lực, của sự phát triển xã hội”

Ba chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chức năng nào cũng có vai trò quan trọng Vì thếkhông nên tuyệt đối hóa bất kì chức năng nào

Ba chức năng trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chức năng nào cũng có vai trò quan trọng Vì thếkhông nên tuyệt đối hóa bất kì chức năng nào

Câu 2: Hãy phân tích các chức năng xã hội của giáo dục và liên hệ việc thực hiện các chức năng xã hội của giáo dục trong giai đoạn lịch sử Việt Nam hiện nay.

Trả lời:

GD chịu sự quy định của xã hội nhưng điều đó không có nghĩa GD thụ động chịu sự tác động của xã hội

mà GD cũng có tác động tích cực trở lại xã hội thông qua thực hiện những chức năng xã hội, đó là:

Chức năng tái sản xuất con người

Chức năng tái sản xuất xã hội

Hai chức năng này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động, hỗ trợ lẫn nhau Trong xã hội chúng ta, haichức năng trên được cụ thể hoá thành ba chức năng sau:

- Chức năng kinh tế - sản xuất

Nói GD có chức năng kinh tế - sản xuất có nghĩa là GD có khả năng tác động đến quá trình sx xã hội và gópphần tăng trưởng nền kinh tế của quốc gia

Chức năng này thể hiện như sau:

- GD có vai trò quan trọng để tái sản xuất sức LĐ xã hội: GD tạo ra sức lao động mới ở 1 trình độ cao hơn,khéo léo hơn, hiệu quả hơn để thay thế sức lao động cũ bị mất đi Vì vậy, GD tạo ra 1 năng suất LĐ xã hội caohơn, có tác dụng đẩy mạnh sản xuất và phát triển kinh tế

Tác động của GD đến KT – SX chính nằm ở sức lao động của con người; có sức lao động con người mớilàm ra của cải cho XH GD góp phần tạo ra sức LĐ ấy bằng cách phát triển những năng lực chung và năng lựcchuyên biệt của con người (năng lực chung là học vấn, phẩm chất , năng lực chuyên biệt là năng lực nghềnghiệp)

Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin và nền kinh tế tri thức ngày nay, xã hội đặt ra yêu cầu rất cao ởnguồn nhân lực LĐ: phải có trình độ học vấn cao, có kiến thức sâu sắc, tay nghề vững vàng, có tính năng động,linh hoạt, dễ thích nghi thì vai trò của GD càng quan trọng

- GD là con đường chủ đạo để rút ngắn thời gian LĐ tất yếu trong XH và nâng cao hiệu suất LĐ, GD, bồidưỡng nâng cao trình độ khoa học và kĩ năng cho người LĐ sẽ rút ngắn được thời gian LĐ tất yếu trong XH

- Khoa học kĩ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; trong khi đó GD là con đường hữuhiệu để phổ biến và phát triển khoa học kĩ thuật

Trang 8

- GD là điều kiện quan trọng để nâng cao trình độ quản lí kinh tế: quản lí kinh tế có khả năng thúc đẩy sx

và kinh tế của XH tăng trưởng Muốn vậy phải có đội ngũ quản lí kinh tế đủ về số lượng và chất lượng GD cóthể bồi dưỡng được 1 đội ngũ cán bộ quản lí kinh tế đông đảo, nâng cao trình độ quản lí kinh tế cũng như khả năngquyết định chính sách cho đội ngũ này

- Chức năng chính trị - xã hội

Trong một chế độ chính trị, giai cấp cầm quyền bao giờ cũng sử dụng GD để duy trì chế độ chính trị, phục

vụ mục tiêu chính trị và lợi ích mà giai cấp đó đại diện Đồng thời, GD còn có khả năng tác động tới cấu trúc xãhội (tức là tập hợp các bộ phận của XH), cụ thể là tác động đến cá nhân, các giai cấp, các nhóm giai tầng trong

xã hội góp phần làm thay đổi cấu trúc cũng như tính chất của chúng theo hướng giảm bớt sự khác biệt, tạo ra sự

thuần nhất trong cấu trúc XH Cụ thể:

- Trong XH có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị sử dụng GD để duy trì xã hội mang tính đẳng cấp

- Trong XH không có giai cấp đối kháng, giai cấp cầm quyền thông qua GD làm cho cấu trúc XH trở nên thuầnnhất hơn, hướng tới sự công bằng cho mọi người Nghĩa là GD làm cho khoảng cách giữa các tầng lớp XH xích lạigần nhau, góp phần xóa bỏ sự phân chia XH thành giai cấp bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung

- Thông qua đào tạo, GD nâng cao trình độ học vấn cho các thành viên của XH Đây là 1 trong những điềukiện để mỗi cá nhân có thể thay đổi vị trí, vai trò XH của bản thân (kể cả việc chuyển đổi giai cấp) Điều này sẽ dẫnđến những thay đổi về số lượng trong cấu trúc XH (về phương diện giai cấp, nghề nghiệp)

- Cũng bằng việc nâng cao học vấn cho cá nhân của từng giai cấp mà GD đã góp phần tạo ra những thayđổi về tính chất của các giai cấp theo hướng vươn đến chiếm lĩnh những giá trị văn minh của nhân loại

- GD nâng cao nhận thức của công dân, tạo cho họ có cơ sở để thực hiện những hành vi đúng trong cácmối quan hệ XH của mình Do đó, quan hệ XH sẽ phát triển theo hướng ngày càng trở nên thuần khiết hơn

- Chức năng tư tưởng – văn hoá

GD có khả năng to lớn trong việc xây dựng một hệ tư tưởng, xây dựng 1 lối sống phổ biến trong toàn xãhội, đồng thời nâng cao trình độ văn hóa cho cộng đồng và xã hội , bởi vì:

- Hệ tư tưởng và lối sống không được hình thành và phát triển 1 cách tự phát mà phải được thực hiện 1cách có ý thức Hệ tư tưởng ảnh hưởng đến toàn xã hội là kết quả của quá trình tác động 1 cách thường xuyên,liên tục của GD tới XH (thông qua đào tạo và dạy học mà tác động đến 1 số lượng lớn dân cư)

- GD góp phần nâng cao dân trí, nhờ đó phát triển đời sống tinh thần của nhân dân và làm cho đời sốngtinh thần của XH ngày càng phát triển

Dưới góc độ văn hóa, thế giới ngày nay coi GD là con đường cơ bản để giữ gìn và phát triển văn hóa A.Toffer, nhà tương lai học người Mĩ phát biểu tại hội đồng Liên hợp quốc khóa 15 (1990): “Một dân tộc khôngđược GD – dân tộc đó sẽ bị loài người đào thải, một cá nhân không được GD – cá nhân đó sẽ bị XH loại bỏ” Việc thực hiện các chức năng xã hội của giáo dục trong giai đoạn lịch sử Việt Nam hiện nay đã cơ bản đápứng được nhu cầu phát triển của đất nước, với chủ trương “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” “Đầu tư cho giáodục là đầu tư cho phát triển” Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm sâu sắc đến giáo dục: Đầu tư kinh phí nâng cao

cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy học ứng dụng khoa học và công nghệ thông tin, tích cực chỉ đạo đổi mớiphương pháp dạy học, xây dựng kế hoạch đổi mới nội dung chương trình(thay sách giáo khoa, giảm tải nộidung) đổi mới kiểm tra đánh giá, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người dạy nhằm đáp ứng chuẩn kiến thức đểbắt kịp sự phát triển nền giáo dục nhân loại

Với phương châm đi tắt đón đầu về khoa học và công nghệ để phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nướcđòi hỏi giáo dục phải đáp ứng được việc đào tạo ra những sản phẩm vừa hồng vừa chuyên phục vụ cho sự pháttriển đất nước

Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc nhưng để tham gia vào lĩnhvực này đòi hỏi phải có đội ngũ lao động có trình độ cao, làm chủ khoa học công nghệ Do đó đòi hỏi giáo dụcphải đào tạo ra những sản phẩm này đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế

Sự hội nhập còn làm ảnh hưởng đến tư tương - văn hóa, một xã hội hội nhập phải là xã hội tiên tiến nhưngphải giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, vấn đề này bị chi phối bởi sự hình thành và phát triển nhân cách củamỗi con người trong xã hội, đặt ra cho giáo dục một nhiệm vụ hết sức quan trọng là “Dạy chữ phải đi đôi vớidạy người” để con người Việt Nam có thể tham gia hội nhập quốc tế nhưng không làm mất bản sắc văn hóa củadân tộc

Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn hãy chứng tỏ rằng " Giáo dục và là điều kiện vừa là động lực phát triển

xã hội"

Trả lời:

Giáo dục với các chức cơ bản sau:

Trang 9

+ Chức năng kinh tế sản xuất: Thể hiện của chức năng này là tái sản xuất sức lao động xã hội Để giáodục thực hiện chức năng này Giáo dục được nhận thức như động lực để phát triển xã hội Vì có phát triển giáodục thì xã hội mới phát triển, mặt khác khi xã hội phát triển sang hình thái kinh tế - chính trị khác giáo dục cũngphải biến đổi theo để đáp ứng nhu cầu mới của xã hội.

Giáo dục tạo ra nguồn lao động có tri thức cao tạo điều kiện cho việc áp dụng khoa học công nghệ vàosản xuất, giảm bớt giá thành sản phẩm, ít tốn nguyên liệu, đem lại hiệu quả kinh tế cao

+ Chức năng tư tưởng - chính trị: Giáo dục là công cụ của giai cấp cầm quyền trong xã hội có giai cấp đểthực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chính trị Yêu cầu của giáo dục thể hiện ở chức năng này là duy trì kết cấu xãhội, duy trì kỷ cương xã hội Xây dựng hệ tư tưởng chi phối toàn xã hội thông qua tổ chức các hoạt động giáodục

+ Chức năng văn hóa - xã hội: Thể hiện ở chức năng giáo dục giữ gìn và phát triển văn hóa nhân loạithông qua giáo dục nền văn hóa được tiếp nối và bổ sung tạo nên giá trị văn hóa của nhân loại và giá trị văn hóacủa mỗi cá nhân

Qua các chức năng của giáo dục thì giáo dục có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội,

sự hình thành và phát triển nhân các của mỗi cá nhân và hình thành nền văn hóa nhân loại Một xã hội không cógiáo dục thì xã hội đó không tồn tại, một xã hội mà giáo dục không phát triển thì xã hội đó không phát triển.Trong thực tiễn xã hội luôn luôn biến đổi và phát triển không ngừng, nhu cầu của con người trong xã hội cũngđòi hỏi ngày một cao Việc phát triển giáo ducjn tạo điều kiện cho mọi người phát triển kinh tế nâng cao chấtlượng cuộc sống nhưng vẫn luôn giữ được bản sắc văn hóa riêng biệt Tạo điều kiện cho xã hội ngày càng caohướng con người đến tri thức mới tạo điều kiện cải tạo xã hội nâng cao chất lượng cuộc sông cả vật chất lẫn tinhthần

Câu 4: Hãy phân tích các chức năng xã hội của giáo dục và từ đó hãy cho ý kiến của mình về vai trò của giáo dục xã hội chủ nghĩa đối với sự phát triển xã hội VN.

Trả lời:

Giáo dục chịu sự quy định của xã hội nhưng điều đó không có nghĩa là giáo dục thụ động chịu sự tácđộng của xã hội, mà giáo dục cũng có tác động tích cực trở lại xã hội thông qua thực hiện chức năng xã hội đólà:

Chức năng tái sản xuất con người

Chức năng tái sản xuất xã hội

Trong xã hội hai chức trên được cụ thể hóa bằng 3 chức năng cơ bản sau:

Chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng chính trị - xã hội, chức năng tư tưởng - văn hóa

Với các chức năng của giáo dục trong thế kỷ XXI thế kỷ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ Sựchuyển biến này đã tác động đến tất cả các lĩnh vực làm biển đổi nhanh chống và sâu sắc đời sống vật chất vàtinh thần của văn hóa Sự chuyển biến to lớn này là thành quả của sự ra đời công nghệ cao, toàn cầu hóa và hộinhập về kinh tế, văn hóa, sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức; đứng trước bổi cảnh lịch sử mới vànhững thách thức chưa từng có đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có những định hướng đúng đắn cho giáo dục

Từ đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách thức giáo dục ở tất cả các cấp học và tổ chức lại hệ thốnggiáo dục phù hợp với điều kieenh phát triển kinh tế định hướng XHCN, xây dựng đất nước giàu mạnh - dân chủ

- văn minh, đậm đà bản sắc dân tộc nhưng phải đáp ứng được nguồn lao đọng có tri thức có tay nghề cao và làmchủ công nghệ Muốn làm được điều đó chúng ta phải thực hiện đổi mới giáo dục toàn diện với phươngchâm"Giáo dục là sự nghiệp hàng đầu của quốc gia"

- Đảng và nhà nước ta đã chỉ đạo : “GD là QSHĐ” tập trung vào 4 điểm chủ yếu sau:

+ Mục tiêu về GDĐT là mục tiêu ưu tiên quốc gia

+ Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện mục tiêu ở tầm quyền lực quốc gia

+ Chính sách đầu tư thuộc hàng ưu tiên ngân sách mỗi năm một tăng

+ Hệ thống chính sách đối với người dạy, người học ngày càng thể hiện sự tôn vinh của XH; Phát huy các giá trịđức tài của mọi công dân thông qua GDĐT

Xã hội hóa GD: Mục tiêu là thu hút mọi thành phần trong XH tham gia đóng góp phát triển sự nghiệp

GD và được hưởng các quyền lợi GD

XHHGD đòi hỏi nhà trường cần phải được hỗ trợ nhiều mặt bởi các thành phần của XH đó là GD cho mọi ng vàmọi người làm GD Đa dạng hóa các loại hình nhà trường và các hình thức gd; khuyến khích huy động và tạođiều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD.Mọi tổ chức, gia đình và công dân có tráchnhiệm chăm lo sự nghiệp GD phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lànhmạnh và an toàn” GD suốt đời: là một xu thế tất yếu cần thiết trong XH hiện nay bởi nó thường xuyên làm giàu

Trang 10

tiềm năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của XH Học tập suốt đời là một định hướng mới,người dạy đóng vai trò hướng dẫn còn người học chủ động, tích cực tiếp nhận tri thức bằng nhiều hình thức.Muốn hoạt động học tập suốt đời đạt hiệu quả cần chú ý tới 4 nội dung chính: Học để biết, học để làm, học đểchung sống, học để tự khẳng định mình.

Áp dụng sáng tạo công nghệ thông tin vào quá trình GD: sẽ mở rộng năng lực của cá nhân để nắm đượcthông tin nhằm giải quyết vấn đề trong suốt cuộc đời của họ.Trong kỉ nguyên của công nghệ thông tin, cácphương tiện hiện đại phục vụ cho GD&ĐT là không thể thiếu

Đổi mới mạnh mẽ quản lí GD: hoạt động quản lí GD là làm cho các bộ phận cấu thành của hệ thống GDvận hành đúng mục đích, cân đối, hài hòa, làm cho hoạt động của toàn hệ thống đạt hiệu quả cao

Cần đổi mới tư duy, cơ chế và phương thức quản lí GD theo hướng nâng cao hiệu quả quản lí GD của nhà nước

và phân cấp nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD

Đ Mới quản lí GD theo hướng: đổi mới về tổ chức, về đào tạo bồi dưỡng, về thông tin trong quản lí

Phát triển GD đại học: Nền kinh tế tri thức là kết quả nhưng cũng là động lực của sự phát triển sự nghiệp

GD all các quốc gia trên thế giới ở các mức độ khác nhau, đặc biệt là GD ĐH.Cuộc sống XH, thị trường luônđòi hỏi đổi mới công nghệ, sản phẩm thì vai trò, vị trí GD ĐH càng trở lên quan trọng

5 Xã hội hiện đại và những thách thức đặt ra cho xã hội:

Câu 1: Hãy trình bày hiểu biết của mình về một xã hội hiện đại và thách thức đặt ra cho giáo dục Theo anh chị cần làm gì trước những thách thức đặt ra cho giáo dục

Trả lời:

Đầu thế kỷ XXI trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ sự chuyển biến từ thời kỳ côngnghiệp sang thời kỳ phát triển công nghệ thông tin và kinh tế tri thức đã tác động đến tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội làm chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần cảu xã hội

Cuộc cachs mạng khoa học công nghệ: Tri thức nhân loại trên mọi lĩnh vực đặc biệt là khoa học tự nhiên

và công nghệ đã phát triển tăng tốc so với nhiều thế kỷ trước, sự phát triển khoa học công nghệ đã hình thànhcác ngành khoa học công nghệ cao như: Công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ thông tin đã tácđộng và làm đổi phương thức học tập, làm việc, giải trí của từng người làm thay đổi mối quan hệ cá nhân vớinhà nước, thay đổi các phương thức thương mại quốc tế, quân sự, làm thay đổi cơ bản các đặc tính văn hóa, giáodục

Công nghệ cao đưa yếu tố thông tin và tri thức lên hàng đầu làm giảm sự tiêu hao năng lượng, nhân lực, nguyênliệu nâng cao chất lượng sản phẩm đến tuyệt hảo, hạ giá thành, đảm bảo sự cạnh tranh và hòa nhập thế giới.Giáo dục và đào tạo cung cấp nguồn nhân lực và nhân tài cho sự phát triển khoa học công nghệ đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế xã hội

Xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế khách quan vừa là quá trình hợp tác đểphát triển vừa là quá trình đấu tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia Toàn cầu hóa và kinh tế là cuộc cách mạng vềphương pháp và tổ chức sản xuất để tham gia vào đó đòi hỏi các quốc gia phải tăng hàm lượng tri thức về khoahọc công nghệ trong các sản phẩm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Về văn hóa, lối sống có tính quốc tế tạo ra thị trường liên thông giữa các quốc gia, sự di cư ồ ạt của conngười từ nước này sang nước khác, sự giao lưu văn hóa tạo điều kiện cho nền văn hóa tiếp thu các tinh hoa vănhóa của nhân loại phát triền nền văn hóa của dân tộc mình Vấn đề toàn cầu hóa về văn hóa dẫn đến đồng bọhóa văn hóa làm phát sinh chiến tranh, dân số, ô nhiễm môi trường, đói nghèo, bệnh tật và các tệ nạn xã hội

Phát triển nền kinh tế tri thức: tri thức trở thành nhân tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển, tạotăng trưởng hơn cả vốn, tài nguyên, đất đai Trong sản phẩm hàng hóa tri thức chiếm tỷ lệ cao vật liệu giảm làmcho giá trị sản phẩm giảm, trong lao động lao động cơ bắp giảm lao động tri thức tăng, cơ cấu kinh tế từ sảnxuất vạt chất sang dịch vụ, xử lý thông tin

Những thách thức đăth ra cho giáo dục VN:

Sự phát triển khoa học công nghệ làm cho nhân loại có cuộc sống ấm lo, hạnh phúc song cũng không ítkhó khăn chưa giải quyết được như: sự suy kiệt tài nguyên, thiên tai, suy thoái môi trường, một bộ phận loàingười đang sống trông đói nghèo, dịch bệnh, ngu dốt, bị áp bức, bocxs lột, chiến tranh Trước những vấn đề đógiáo dục phải giải quyết một số vấn đề sau:

- Con người trở thành công dân toàn cầu vừa mang tính quốc tế những vẫn tiếp tục là thành viên củaquốc gia mình

-Mối quan hệ toàn cầu và cá nhân có văn hóa của nhân loại, văn hóa dân tộc, từng khu vực đồng thờiphải tôn trọng và tạo điều kiện phát triển cá tính con người

- Mối quan hệ truyền thống và hiện đại không làm mất bản sắc văn hóa dân tộc

Trang 11

- Mối quan hệ giữa cách nhìn dài và cách nhìn ngắn giáo dục phải quyết định.

- Sự cạnh tranh pahir quan tâm đến sự bình đẳng vấn đề này thể hiện ở cả kinh tế, xã hội và giáo dục

- Sự phát triển tri thức làm cải tiến nội dung chương trình một cách hợp lý đổi mới phương pháp dạyhọc

- Mối quan hệ vật chất và tinh thần: Nâng cao đời sống vật chất, quan tâm giáo dục lý tưởng và các giátrị đạo đức

Đứng trước những thách thức của giáo dục chúng ta cần phải:

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nhằm nâng cao trình độ dân trí, chú ý đào tạo tạo nhân lực trình độ cao

và bồi dưỡng nhân tài để tạo ra nguồn nhân lực có tri thức để phục vụ nhiệm vụ CNH HĐH đất nước và hộinhập quốc tế

Phải đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục đem lại hiệu quả cao trong từng cấp học

Giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống chho mọi người để hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ đượcbản sắc văn hóa của dân tộc

Xây dựng giáo dục ngắn hạn và dài hạn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội hội nhập kinh tế quốc

tế và làm chủ được khoa học công nghệ trước mắt và trong tương lai

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, sự dụng hiệu quả tài nguyên, chống đói nghèo, bệnh tật bằng cáchnâng cao trình độ dân trí, ý thức xã hội, tích hợp các nội dung dạy học bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng,

kỹ năng sống vào các cấp học cho phù hợp với điều kiện địa phương

Đưa khoa học công nghệ tiên tiến vào giáo dục đại học và sau đại học để đào tạo nhân lực có trình độcao cho xã hội

Xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, khoa họchiện đại định hướng XHCN, giáo dục con người toàn diện có đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, thẩm mỹ Phát triểngiáo dục gắn với phát triển KT-XH tiến bộ khoa học, củng cố quốc phòng, giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng,nhà nước và toàn dân

6 Xu hướng phát triển của giáo dục

Câu 1: Anh chị hãy nêu xu hướng phát triển của giáo dục thế kỷ 21 Phân tích xu hướng xã hội hóa giáo dục Theo anh chị chúng ta càn làm gì để góp phần vào thành công của xu hướng xã hội hóa giáo dục của nghề giáo dục CNXHVN.

Trả lời:

Thế kỷ XXI – TK của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Sự chuyển biến này đã tác động đến allcác lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của XH Sự chuyển biến to lớnnày là thành quả của sự ra đời các công nghệ cao, toàn cầu hóa và hội nhập về kinh tế, văn hóa, sự hình thành vàphát triển của nền kinh tế tri thức

Đứng trước bối cảnh lịch sử mới và những thách thức chưa từng có đòi hỏi phải có những định hướng đúng cho

GD Từ đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp GD ở all các bậc học và tổ chức lại hệ thống GD phù hợp vớiđiều kiện của nền sản xuất và cuộc sống hiện đại

Trong xã hội hiện nay xu thế phát triển của GD hướng tới:

a GD là sự nghiệp hàng đầu của quốc gia: Trong XH hiện nay GD được coi là quốc sách hàng đầu

bởi GD có vị trí và vai trò quan trọng đối với sự phát triển của XH loài người nói chung, đặc biệt đối với sự pháttriển nền kinh tế - XH của quốc gia GD được coi là chiếc chìa khóa cuối cùng mở cánh cửa đưa XH loài ng vàotương lai GD là lực lượng sản xuất trực tiếp, đầu tư cho GD là đầu tư cho phát triển

- Đảng và nhà nước ta đã chỉ đạo : “GD là QSHĐ” tập trung vào 4 điểm chủ yếu sau:

+ Mục tiêu về GDĐT là mục tiêu ưu tiên quốc gia

+ Việc tổ chức chỉ đạo thực hiện mục tiêu ở tầm quyền lực quốc gia

+ Chính sách đầu tư thuộc hàng ưu tiên ngân sách mỗi năm một tăng

+ Hệ thống chính sách đối với người dạy, người học ngày càng thể hiện sự tôn vinh của XH; Phát huy các giá trịđức tài của mọi công dân thông qua GDĐT

Từ sự chỉ đạo trên có thể thấy GD là nhân tố quyết định sự phát triển của ĐN, phải nâng cao chất lượng GD và

có những chính sách ưu đãi xứng đáng, phù hợp với nhu cầu phát triển KTXH

b Xã hội hóa GD: Mục tiêu là thu hút mọi thành phần trong XH tham gia đóng góp phát triển sự nghiệp

GD và được hưởng các quyền lợi GD

XHHGD đòi hỏi nhà trường cần phải được hỗ trợ nhiều mặt bởi các thành phần của XH đó là GD cho mọi ng vàmọi ng làm GD

Trang 12

XHHGD là xu hướng có tính chất chiến lược quan trọng Chủ trương XHHGD ở nước ta đã được khẳng định:

“nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD: thực hiện đa dạng hóa các loại hình nhà trường vàcác hình thức gd; khuyến khích huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệpGD.Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo sự nghiệp GD phối hợp với nhà trường thực hiệnmục tiêu GD, xây dựng môi trường GD lành mạnh và an toàn”

c GD suốt đời: là một xu thế tất yếu cần thiết trong XH hiện nay bởi nó thường xuyên làm giàu tiềm

năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của XH

Học tập suốt đời là một định hướng mới, người dạy đóng vai trò hướng dẫn còn người học chủ động, tích cựctiếp nhận tri thức bằng nhiều hình thức Muốn hoạt động học tập suốt đời đạt hiệu quả cần chú ý tới 4 nội dung

chính: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.

d áp dụng sáng tạo công nghệ thông tin vào quá trình GD: sẽ mở rộng năng lực của cá nhân để nắm

được thông tin nhằm giải quyết vấn đề trong suốt cuộc đời của họ.Trong kỉ nguyên của công nghệ thông tin, cácphương tiện hiện đại phục vụ cho GD&ĐT là không thể thiếu

e Đổi mới mạnh mẽ quản lí GD: hoạt động quản lí GD là làm cho các bộ phận cấu thành của hệ thống

GD vận hành đúng mục đích, cân đối, hài hòa, làm cho hoạt động của toàn hệ thống đạt hiệu quả cao

Cần đổi mới tư duy, cơ chế và phương thức quản lí GD theo hướng nâng cao hiệu quả quản lí GD của nhà nước

và phân cấp nhằm phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD

Đ Mới quản lí GD theo hướng: đổi mới về tổ chức, về đào tạo bồi dưỡng, về thông tin trong quản lí

f Phát triển GD đại học: Nền kinh tế tri thức là kết quả nhưng cũng là động lực của sự phát triển sự

nghiệp GD all các quốc gia trên thế giới ở các mức độ khác nhau, đặc biệt là GD ĐH.Cuộc sống XH, thị trườngluôn đòi hỏi đổi mới công nghệ, sản phẩm thì vai trò, vị trí GD ĐH càng trở lên quan trọng

Trong nền kinh tế tri thức, khối lượng kiến thức được tiếp thu của một sinh viên đại học có gía trị sửdụng nhất định, nếu không được cập nhật, bổ sung sẽ nhanh chóng bị lạc hậu không đáp ứng được với yêu cầumới mà XH đặt ra nên phải học tập liên tục, học tập suốt đời Tất cả những xu hướng đổi mới GD của nhân loại

đã ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến GDVN Chính vì thế, sự đổi mới GD nước ta hiện nay cũng nằm trongguồng đổi thay của GD nhân loại, điều này giúp cho GDVN tự hoàn thiện và phát triển cao hơn, đáp ứng đượcnhững yêu cầu của thực tiễn đặt ra

Chúng ta là những người thực hiện nhiệm vụ giáo dục để góp phần vào thành công của xu hướng xã hộihóa giáo dục chúng ta cần phải: tổ chức đa dạng các loại hình đào tạo thu hút các tổ chức chính trị xã hộ đoànthể, danh nghiệp tập thể, cá nhân thao gia đóng góp xây dựng CSVC, kinh phí tổ chức các hoạt động giáo dục.Tuyên truyền chính sách xã hội hóa giáo dục đến mọi tổ chức, cá nhân, vận động, tạo điều kiện để mọi tổ chức

cá nhân tham gia vào các hoạt động giáo dục huy động nguồn lực, trí lực để nâng cao chất lượng giáo dục bằngcách nâng cao trình độ đội ngũ, tăng cường CSVC, đầu tư trang thiết bị hiện đại, gắn việc học tập với học tậpsuốt đời để phát triển toàn diện con người trong xã hội mới

Câu 2: Nêu xu thế phát triển giáo dục thế ký 21 Phân tích xu hướng giáo dục suốt đời Anh chị đã làm gì để góp phần vào thành công của xu hướng Giáo dục suốt đời trong giai đoạn lịch sử hiện nay ở VN.

Trả lời:

Thế kỷ XXI – TK của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ Sự chuyển biến này đã tác động đến allcác lĩnh vực, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của XH Sự chuyển biến to lớnnày là thành quả của sự ra đời các công nghệ cao, toàn cầu hóa và hội nhập về kinh tế, văn hóa, sự hình thành vàphát triển của nền kinh tế tri thức

Đứng trước bối cảnh lịch sử mới và những thách thức chưa từng có đòi hỏi phải có những định hướng đúng cho

GD Từ đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp GD ở all các bậc học và tổ chức lại hệ thống GD phù hợp vớiđiều kiện của nền sản xuất và cuộc sống hiện đại

Trong xã hội hiện nay xu thế phát triển của GD hướng tới:

Giáo dục là sự nghiệp hàng đầu

Xã hội hóa giáo dục

Giáo dục suốt đời

Áp dụng sáng tạo CNTT và q úa trình giáo dục

Đổi mới quản lý giáo dục

Phát triển giáo dục sau đại học

c GD suốt đời: là một xu thế tất yếu cần thiết trong XH hiện nay bởi nó thường xuyên làm giàu tiềm

năng của mọi cá nhân, đáp ứng kịp thời các yêu cầu của XH

Trang 13

Học tập suốt đời là một định hướng mới, người dạy đóng vai trò hướng dẫn còn người học chủ động, tích cựctiếp nhận tri thức bằng nhiều hình thức Muốn hoạt động học tập suốt đời đạt hiệu quả cần chú ý tới 4 nội dung

chính: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.

Trước hết trong chiến lược phát triển giáo dục của Đảng chúng ta phải phổ cạp GD cấp THCS duy trì vàphát triển bền vững đồng thời chuẩn bị các điều kiện tiến tới phổ cập THPT- bổ túc THPT, nhằm trang bị chomọi người dân kiến thức phổ thông ngang tầm thời đại và vốn hiểu biết sâu sắc về một số lĩnh vực là nền tảngcho mọi công dân thực hiện việc tiệp tục học và tự học Trong quá trình giáo ducjn phải chú ý đến hình thành kỹnăng, kỹ xảo cho người học, thực hiện học đi đôi với hành, lý thuyết với thực tiễn tạo ra sản phẩm là nhữngngười lao động có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Trong quá trình dạy học cần chú ý pháttriển nhân cách, tinh thần nhân văn có thái độn hành vi thói quen theo chuẩn mực đạo đức xã hội Trong quan hệứng xử đqảm bảo cuộc sống bình yên hạnh phúc gia đình, cộng đồng giáo dục góp phần phát triển toàn diện conngười tự do suy nghĩ, phán đoán để có thể phát triển tài năng của mình Các nhà giáo dục cần tạo mọi điều kiệncho giáo dục phát triển không dập khuôn máy móc, không xa vời thực tế tạo mọi điều kiện cho người học tíchcực chủ động lính hội tri thức, học mọi lúc, mọi nơi lấy tự học là chính tránh người dạy làm thay tạo tính lệthuốc kìm hãm sự phát triển của cá nhân người học để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

7 Giáo dục với sự phát triển nhân cách:

Câu 1: Nhân cách được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng phối hợp của các nhân tố nào? Phân tích vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh.

Môi trường tự nhiên là tất cả những điều kiện tự nhiên như: Hệ sinh thái, địa hình… phục vụ cho hoạt động củacon người

Môi trường xã hội là tập hợp các điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội Trong giáo dục người ta chú ýđến môi trường xã hội đây là môi trường ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách

Môi trường tạo dựng động cơ cung cấp những điều kiện phương tiện cho cá nhân hoạt động để chiếmlĩnh được kinh nghiệm xã hội Môi trường quy định giới hạn nội dung mà cá nhân có thể phản ánh làm giàukinh nghiệm của mình Tuy nhiên sự tác động của môi trường ở mức độ nhiều hay ít phụ thuộc vào lập trường,quan điểm thái độ của cá nhân đối với môi trường đó

Giáo dục đóng vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách Hoạt động cá nhân giữ vaitrò quyết định vì hoạt động cá nhân thực hiện hóa các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triểnnhân cách

Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh mà còn

tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo chiều hướng đó GD có thể mang lại những tiến bộ

mà các nhân tố khác như bẩm sinh - di truyền, hoặc môi trường, hoàn cảnh không thể có được

VD: Một em bé mới sinh ra không bị dị tật gì sau một thời gian phát triển bé biết đi biết nói nhưng không đượchọc tập thì bé không thể đọc sách, viết văn và không thể có nghề nghiệp

GD có tâm quan trọng đặc biệt với người bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây

ra cho con người; Thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký, nghệ sỹ đàn ghi ta Văn Vương là những minh chứng cụ thể

GD có khả năng uốn nắn những nét tâm lý xấu do tác động tự phát của môi trường đem lại làm cho nóphát triển theo chiều hướng không mong muốn của xã hội Đó là công tác giáo dục trẻ em hư hoặc người phạmtội phát triển theo chiều hướng tốt của xã hội Khác với các nhân tố khác, GD không chỉ thích ứng với hiện thực

mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát triển Thực tế CM sự phát triển tâm lý của con người chỉ

có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong những điều kiện của giáo dục và dạy học Do đó tầm quan trọng của giáodục chỉnh bởi giáo dục có vai trò chủ động trong việc hình thành và phát triển nhân cách GD và dạy học phảiphù hợp với quy luật phát triển tâm lý học sinh, coi trọng đúng mức nhu cầu động cơ, hứng thú của trẻ Quátrình giáo dục phải biết biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học

Khi nhấn mạnh vai trò của giáo dục ta không bỏ qua hoặc xem nhẹ vai trò của các nhân tố khác, cần có cáchnhìn nhận đúng đắn về vai trò của giáo dục không được tuyệt đối hóa vai trò giáo dục

Trang 14

Câu 2: Hãy phân tích và CM vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, hãy xác định những yêu cầu để giáo dục đảm bảo được vai trò của mình trong quá trình giáo dục học sinh Trả lời:

Sự phát triển nhân cách là sự biến đổi có quy luật cả lượng và chất về thể chất, về tâm lí, về mặt xã hội của cá nhân.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách gồn 4 yếu tố: Di tuyền, môi trường, giáo dục và hoạtđộng cá nhân

GD xác định chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách và dẫn dắt sự phát triển nhân cáchtheo hướng đó…

GD khai thác và phát triển những yếu tố bẩn sinh, di truyền của con người, có thể mở rộng và thu hẹpkhuôn khổ của tư chất theo chiều hướng phát triển của xã hội …

GD bù đắp phần nào những hạn chế của sự hình thành và phát triển nhân cách do khuyết tật gây ra cho conngười

GD uốn nắn, khắc phục làm hạn chế những phẩm chất xấu đã hình thành ở con người

GD chủ động phối hợp các lực lượng xã hội để hình thành và phát triển nhân cách theo mục tiêu giáo dục

GD đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách bởi vì:

- GD không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của HS, mà còn tổ chứcdẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của HS theo chiều hướng đó

- GD có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàncảnh không thể có được Chúng ta có thể lấy một ví dụ đơn giản: một em bé sinh ra không bị khuyết tật gì, cùngvới sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể thì một vài năm sau, chắc chắn em bé sẽ biết nói Nhưng nếu khôngđược học tập thì em sẽ không thể đọc sách, viết thư và càng không thể có nghề nghiệp

- GD có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt dobệnh tật gây ra cho con người Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, nghệ sĩ chơi ghi-ta Văn Vương… chính là một minhchứng thuyết phục cho luận điểm này Nhờ tác động đặc biệt của GD nên có thể phục hồi ở họ những chức năng

đã mất hoặc có thể phát triển về trí tuệ như những người bình thường

- GD có khả năng uốn nắn những nét tâm lí xấu do tác động tự phát của môi trường đem lại và làm cho nóphát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội Đó chính là hiệu quả của công tác GD lại đối với trẻ em hưhoặc những người phạm pháp

- Khác với các nhân tố khác, GD không chỉ thích ứng với hiện thực mà còn có thể đi trước hiện thực vàthúc đẩy nó phát triển Vì GD không chỉ phục vụ cho hôm nay mà còn phục vụ cho ngày mai, đào tạo con ngườilàm chủ xã hội trong tương lai

- Thực tế cũng đã chứng minh rằng: Sự phát triển tâm lí của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹptrong những điều kiện của GD và dạy học Điều đó càng chứng tỏ tầm quan trọng của GD

Chính bởi GD có vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách, cho nên trong quá trình dạy

học và GD chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:

- GD và dạy học phải phù hợp với các quy luật phát triển tâm lí của HS, coi trọng đúng mức nhu cầu, động

cơ, hứng thú của trẻ

- Trong quá trình GD phải biến quá trình GD thành quá trình tự GD

KLSP: - Khi nhấn mạnh vai trò chủ đạo của GD, ta không được bỏ qua hoặc xem nhẹ vai trò của các yếu

tố khác (di truyền, môi trường, tự hoạt động)

Câu 3: Bằng lý luận và thực tiễn giáo dục anh (chị) hãy chứng tỏ rằng “GD giữ vai trò chủ đạo trọng

sự hình thành và phát triển nhân cách” từ đó hãy cho ý kiến của mình về quan điểm sau đây: “Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng, vẽ hoặc viết lên đó cái gì là do nhà giáo dục quyết định”

Trả lời:

GD đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển nhân cách bởi vì:

- GD không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của HS, mà còn tổ chứcdẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của HS theo chiều hướng đó

- GD có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố khác như bẩm sinh – di truyền hoặc môi trường, hoàncảnh không thể có được Chúng ta có thể lấy một ví dụ đơn giản: một em bé sinh ra không bị khuyết tật gì, cùngvới sự tăng trưởng và phát triển của cơ thể thì một vài năm sau, chắc chắn em bé sẽ biết nói Nhưng nếu khôngđược học tập thì em sẽ không thể đọc sách, viết thư và càng không thể có nghề nghiệp

- GD có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật, nó có thể bù đắp những thiếu hụt dobệnh tật gây ra cho con người Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí, nghệ sĩ chơi ghi-ta Văn Vương… chính là một minh

Trang 15

chứng thuyết phục cho luận điểm này Nhờ tác động đặc biệt của GD nên có thể phục hồi ở họ những chức năng

đã mất hoặc có thể phát triển về trí tuệ như những người bình thường

- GD có khả năng uốn nắn những nét tâm lí xấu do tác động tự phát của môi trường đem lại và làm cho nóphát triển theo chiều hướng mong muốn của xã hội Đó chính là hiệu quả của công tác GD lại đối với trẻ em hưhoặc những người phạm pháp

- Khác với các nhân tố khác, GD không chỉ thích ứng với hiện thực mà còn có thể đi trước hiện thực vàthúc đẩy nó phát triển Vì GD không chỉ phục vụ cho hôm nay mà còn phục vụ cho ngày mai, đào tạo con ngườilàm chủ xã hội trong tương lai

- Thực tế cũng đã chứng minh rằng: Sự phát triển tâm lí của trẻ em chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹptrong những điều kiện của GD và dạy học Điều đó càng chứng tỏ tầm quan trọng của GD

Chính bởi GD có vai trò chủ đạo trong sự hình thành và phát triển nhân cách, cho nên trong quá trình dạy

học và GD chúng ta cần lưu ý một số điểm sau:

- GD và dạy học phải phù hợp với các quy luật phát triển tâm lí của HS, coi trọng đúng mức nhu cầu, động

cơ, hứng thú của trẻ

- Trong quá trình GD phải biến quá trình GD thành quá trình tự GD

Quan điểm “Tâm hồn trẻ thơ như tờ giấy trắng vẽ hoặc viết lên đó cái gì do nhà giáo dục quyết định” đây làquan điểm sai trái vì sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân không chỉ phụ thuộc tuyệt đối vàogiáo dục mà nó phụ thuộc và tất cả các yếu tố môi trường, di truyền, giáo dục và hoạt động cá nhân Sự pháttriển nhân cách không chỉ phụ thuộc vào yếu tố khách quan mà còn phụ thuộc vào đặc điểm sinh lý, nhận thức,thái độ của cá nhân Con người là chủ thể trong thế giới tự nhiên chịu sự tác động của các nhân tố tự nhiênnhưng con người cũng tác động trở lại để phát triển, chứ con người không phải vật vô tri vô giác lên sự hìnhthành và phát triển nhân cách không phải là sự phản chiếu của một vật qua gương mà là sự tác động qua lại giữacon người và các nhân tố tác động đến

Nếu chúng ta tuyệt đối hóa vai trò của giáo dục thì làm mất đi vai trò của người được giáo dục và vai trò củacác nhân tố khác tác động đến con người

8 Mục tiêu giáo dục

Câu 1: Trình bày khái niệm mục đích giáo dục Nêu mẫu con người mới và những yêu cầu về đào tạo thế hệ trẻ VN hiện nay theo mục đích giáo dục Liên hệ việc thực hiện mục đích giáo dục trong các trường phổ thông.

Trả lời:

Khái niệm mục giáo dục: MĐGD là một phạm trù cơ bản của giáo dục, phản ánh trước kết quả mongmuốn trong tương lai của quá trình giáo dục, phản ánh trước sản phẩm dự kiến của hoạt động giáo dục

Phân tích:

+ MĐGD là mô hình dự kiến của sản phẩm giáo dục đó là mô hình nhân cách học sinh

+ MĐGD có vai trò định hướng cho mọi lĩnh vực giáo dục, hoạt động giáo dục và luôn chịu sự quy địnhcủa điều kiện, trình độ phát triển kinh tế xã hội văn hóa trong từng giai đoạn phát triển và tiến bộ xã hội, đồngthời mục đích giáo dục tác động trở lại

+ MĐGD được xây dựng theo đơn đặt hàng của xã hội, là hình ảnh lý tưởng của sản phẩm giáo dục mới+ MĐGD có 2 chức năng: Chỉ đạo toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động giáo dục, chỉ đạoviệc lựa chọn nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục; trở thành tiêu chuẩn đánh giácác sản phẩm giáo dục và là cơ sở để xác định chuẩn đánh giá chất lượng giá dục

+ MĐGD là một phạm trù có tính lịch sử, giai cấp, dân tộc và thời đại

+ MĐGD xây dựng trên cơ sở:

Dựa theo chiến lược phát triển xã hội, phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ quốc gia

Dựa theo yêu cầu của đất nước và thời đại đối với sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ theo nhu cầu pháttriển nguồn nhân lực xã hội

Dựa theo xu thế phát triển của nền giáo dục quốc gia và quốc tế, dựa và trình độ và khả năng thực hiệncủa hệ thống giáo dục quốc gia

Tính toán đến những điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội những kinh nghiệm truyền thống giáo dục và khảnăng của xã hội thực hiện mục đích giáo dục

*) Mẫu con người mới hiện nay: MĐGD là làm cho thế hệ trẻ trở thành những nhân cách phát triển toàn diện vàhài hòa: có văn hóa, có khoa học và kỹ thuật, tích cực, sáng tạo có khả năng lao động có năng suất cao trongmột nền công nghiệp tiên tiến

Trang 16

Câu 2: Phân biệt mục đích giáo dục và mục tiêu đào tạo Phân tích các đặc điểm của mục đích giáo dục và rút ra kết luận sư phạm cần thiết

Mục tiêu giáo dục chỉ là một hoạt động trong mục đích giáo dục

MĐGD là những định hướng có tính lịch sử và giai cấp, cos thời gian lịch sử phản ánh kết quả trongtương lai

Mục tiêu giáo dục: Mang tính cụ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm sau một hoạt động giáo dục

Mục địch giáo dục có một số đặc điểm sau:

Mục đích giáo dục luôn biến đổi cùng sự phát triển kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của

xã hội Vì vậy nó có tính lịch sử và giai cấp phản ánh tính giai cấp

Mục đích giáo dục liên quan trực tiếp đến phát huy nhân tố con người của mỗi quốc gia Đối với nước tasức mạnh đó là sức mạnh con người VN XHCN, sức mạnh đó được thể hiện trong sức mạnh kinh tế, sức mạnhtri thức, chính trị, văn hóa của đất nước Do đó vấn đề mục đích giáo dục là vấn đề cơ bản của chiến lược xâydựng con người, phát triển nguồn lực là một bộ phận của hệ thống các vấn đề then chốt trong vấn đề kinh tế - xãhội của đất nước

Trong chế độ XHCN mục đích giáo dục là sự thống nhất giữa yêu cầu khách quan của sự phát triển cótính quy luật của xã hội với nguyện vọng chủ quan của mọi thành viên về sự phát triển nhân cách bản thân theogiá trị và chuẩn mực chung của xã hội

Mục đích giáo dục nó quy định tính chất của các thành tố khác trong quá trình giáo dục tổng thể, nó địnhhướng cho sự vận động của các thành tố đó đạt hiệu quả và chất lượng cao, không vận hành một cách chệchhướng bằng cách thông qua mục đích giáo dục và tự điều chỉnh sự vận động của mình

Mục đích giáo dục là cái chuẩn để đánh giá sản phẩm của quá trình giáo dục

Khi xây dựng mục đích giáo dục cần phải:

Phản ánh mô hình nhân cách đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhấtđịnh

Phản ánh được tính thời đại và tính dân tộc

Kế thừa những kinh nghiệm xây dựng và thực hiện mục đích giáo dục trước đấy

Tính tới hoàn cảnh và điều kiện phát triển giáo dục của đất nước để mục đích giáo dục có tính khả thi vàđạt hiệu quả tốt hơn

KLSP:

Để thực hiện mục đích giáo dục người làm công tác giáo dục cần phải căn cứ vào điều kiện cụ thể củađịa phương để áp dụng các nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp

Gắn việc dạy chữ với dạy người nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người học và trang bị cho

họ những kiến thức cơ bản để học có thể tham gia vào một số lĩnh vực sản xuất và học tiếp để nâng cao trình độcủa mình

Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước chọn lọc những hình thức, nội dung trọng tâm

để kế thừa và phát huy, đồng thời tích cực đổi mới nội dung phương pháp, kiểm tra đánh giá để điều chỉnh việcdạy học nhằm đạt chất lượng và hiệu quả cao

9 Nguyên lý giáo dục:

Câu 1: Phân tích nội dung nguyên lý giáo dục và nêu phương hướng thực hiện nguyên lý giáo dục trong các trường phổ thông

Trang 17

Định nghĩa nguyên lý giáo dục: Là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo thực tiễn nhà trường nhằm đảm bảo thựchiện mục tiêu giáo dục có chất lượng và hiệu quả.

Nội dung của nguyên lý giáo dục: Nội dung đã được quy định trong điều 3 Luật giáo dục Học đi đôi vớihành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường kết hợp vớigiáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Phương hướng thực hiện nguyên lý giáo dục:

Tiến hành phổ cập giáo dục các cấp tiểu học THCS và tiến tới phổ cập giáo dục THPT vào năm 2020Xây dựng nội dung giáo dục mang tính toàn diện, cơ bản và hiện đại

Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động lao động và các hoạt động xã hội theo những hình thức vàmức độ phù hợp với lứa tuổi học sinh, điều kiện của nhà trường và tình hình thực tế của địa phương và đất nước

Thực hiện xã hội hóa giáo dục

Liên hệ thực tế tại trường

Trang bị CSVC các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học đặc biệt là dạy học thực hành, tổ chức cáchoạt động ngoại khóa, dã ngoại để học sinh áp dụng kiến thức đã học vào thực tế

Tăng cường xã hội hóa giáo dục để mọi tổ chức cá nhân tham gia và quá trình giáo dục

Tổ chức các hoạt động lao động ở trường để học sinh có thể tham gia vào các hoạt động lao động sảnxuất

Phối kết hợp với các cơ quan ban ngành trên địa bàn của nhà trường để thực hiện các hoạt động xã hộinhư: Tuyên truyền, ủng hộ, làm công trình thanh niên, giúp nhau làm kinh tế, giữ gìn ATGT…

Câu 2: Phân tích nội dung nguyên lý giáo dục và liên hệ việc thực hiện nguyên lý giáo dục trong nhà trường THPT ở VN hiện nay

Trả lời:

Nội dung nguyên lý giáo dục được thể hiện trên 4 quan điểm sau:

- Học đi đôi với hành

- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất

- Lý luận gắn liền với thực tiễn

- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục giao đình và giáo dục xã hội

+ Học đi đôi với hành là một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống vừa hiện đại, vừa có giá trị khoa họcvừa có giá trị thực tiễn

Học sinh đến trường học tập là để nhận thức kiến thức khoa học và luyện tập vận dụng những kỹ năngvào thực tế, để làm được điêu này các em phải luyện tập để hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong lao động và cáchoạt động xã hội tức là biến kiến thức đã tiếp thu thành năng lực hoạt động của từng cá nhân Mục đích giáo dục

dù ở thời đại nào cũng nhằm giúp học sinh không chỉ nắm được kiến thức mà phải biết áp dụng vào thực tiễnhình thành kỹ năng kỹ xảo hoạt động

Học đi đôi với hành là một phương pháp có hiệu quả vì nó hỗ trợ nhau trong quá trình học tập, nếu biếtvận dụng kiến thức vào thực hành sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức làm giảm lý thuyết suông và thực hành khôngphải mò mẫm mà vận dụng trên cơ sở lý thuyết khoa học sâu sắc

Trong quá trình dạy học cần sử dụng nhiều mức độ thực hành và phải gắn liền với nội dung và kiến thứcmôn học, với quy trình và mục tiêu đào tạo

+ Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất: Là tư tưởng của nhà trường hiện đại, đây là nội dung của giáodục toàn diện, học sinh hôm nay là những người lao động trong trương lai, vì vậy nhà trường phải tạo cho các

em tâm lý, ý thức, kiến thức và kỹ năng sẵn sàng bước vào cuộc sống lao động Hiện nay các trường THPT đãđưa vào các môn học như thủ công, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề là nhằm mục đích đó

Giáo dục trong mọi thời đại đều sử dụng nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động Lao độngsản xuất vừa là môi trường vừa là phương tiện giáo dục, mọi phẩm chất nhân cách được hình thành trong laođộng và trong hoạt động xã hội vì vậy tùy từng điều kiện và trình độ văn hóa của học sinh mà các nhà trườngvận dụng sáng tạo và linh hoạt để giáo dục có hiệu quả Phối hợp giữa gia đình và nhà trường tổ chức cho họcsinh tự lao động phục vụ cho bản thân các em và tham gia các hoạt động sản xuất của gia đình và xã hội Cáctrường dạy nghề đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế, nguồn lao động này sẽ đạt chất lượng cao khiquá trình đào tạo gắn chặt với thực tiễn lao động sản xuất

+ Lý luận gắn liền với thực tiễn: Trong khi giảng dạy lý luận giáo viên thường liên hệ với thực tiễn sinhđộng của cuộc sống với nhứng diễn biến sôi động hàng ngày của đất nước và trên thế giới, đây là những minhhọa vô cùng quan trọng giúp học sinh nắm vững lý luận và hiểu rõ thực tiễn Học tập có liên hệ thực tiễn làmcho lý luận không còn khô khan, khó tiếp thu mà trở lên sinh động dễ hiểu

Trang 18

+ Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó có 3 lực lượng chính quan trọng nhất là: Giađình, nhà trường và các đoàn thể xã hội, ba lực lượng này đều có chung mục đích hình thành và phát triển nhâncách cho thế hệ trẻ Để tiến hành giáo dục các lực lượng này cần thống nhất về mục đích, yêu cầu về nội dung

và phương pháp giáo dục, mọi sự phân tán, không đồng bộ đều có thể phá vỡ sự toàn vẹn của quá trình giáodục

Gia đình là nơi sinh ra nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, giáo dục gia đình dựa trên tình cảm huyết thống,các thành viên gắn bó với nhau suốt đời lên giáo dục gia đình luôn bền vững Đây là nền tảng cho sự hình thành

và phát triển nhân cách và nó có ảnh hưởng rất lớn đến thế hệ trẻ

Giáo dục xã hội trong môi trường mà trẻ sinh sống, mỗi địa phương có điều kiện kinh tế và nền văn hóariêng, địa phương có phong trào hiếu học, có nhiều người thành đạt có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển củatrẻ.Giáo dục xã hội còn bao hàm cả giáo dục của các tổ chức xã hội như Đội thiếu niên, Đoàn thanh niên, Hộiliên hiệp thanh niên v.v có tôn chỉ, mục đích phù hợp với mục đích giáo dục của nhà trường và nhà nước, phùhợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi có tác dụng giáo dục rất lớn

Tuy nhiên quá trình giáo dục phải lấy nhà trường là trung tâm, giáo dục nhà trường có mục đích và nộidung toàn diện dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, có kế hoạch với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủđạo trong toàn bộ quá trình giáo dục trẻ em Mối quan hệ Gia đình - Nhà trường - Xã hội càng chặt chẽ thì sựthành công của giáo dục càng lớn trong đó nhà trường chịu trách nhiệm chính trong sự phối hợp này

LH giáo dục hiện nay:

Hiện nay đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách để thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục của nướcnhà Trong đó các trường phổ thông luôn chú trọng việc học đi đôi với hành, tăng cường cơ sở vật chất, muasắm trang thiết bị đồ dùng thí nghiệm thực hành, tổ chức các hội thảo, bồi dưỡng chuyên đề về việc gắn học điđôi với hành, các cơ sở giáo dục thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc giáo viên sử dụng thiết bị thí nghiệm thựchành, có kế hoạch mua sắm hàng năm để đảm bảo tối thiếu các bài thực hành được thực hiện

Tổ chức cho học sinh học nghề, lao động trong và ngoài nhà trường tạo điều kiện cho các em vận dụngkiến thức lí luận vào thực tiễn, tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, ngoại khóa, thăm quan các nhà máy, trangtrại để các em được quan sát được vận dụng kiến thức vào các hoạt động cụ thể

Các cơ sở giáo dục luôn chú trọng việc kết hợp gia đình - nhà trường và xã hội trong việc giáo dục đạođức học sinh Sự kết hợp này tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh một cách toàndiện và tạo điều kiện tốt nhất cho các em học tập, tham gia vào các hoạt động xã hội, giúp các em làm quen dần

từ việc nhở đến việc lớn, tạo ý thức trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội của các em

10 Khái niệm về quá trình giáo dục

Câu 1: Phân tích mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học trong quá trình dạy học:

Trả lời:

Quá trình dạy học là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình dạy học đó là hoạtđộng dạy và học

Hai quá trình này có mối quan hệ thống nhất với nhau:

Giáo viên đưa ra nhiệm vụ, yêu cầu nhận thức, những nhiệm vụ yêu cầu này có tác dụng đưa học sinhvào tình huống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh, học sinh tự đưa ra nhiệm vụ học tập cho mình

Học sinh ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết, có nhu cầu giải quyết nhiệm vụ, biến các nhiệm vụ kháchquan thành nhiệm vụ chủ quan, giải quyết nhiệm vụ dưới sự chỉ đạo của giáo viên ở các mức độ khác nhau

Giáo viên thu các tín hiệu ngược từ phía học sinh để giúp cho học sinh điều chỉnh hoạt động học, đồngthời giúp cho giáo viên tự điều chỉnh hoạt động dạy của mình Học sinh cũng thu tín hiệu ngược để tự phát hiện,

tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình

Trên cơ sở xử lý tín hiệu ngược, giáo viên đưa yêu cầu mới, học sinh cũng đưa yêu cầu cho bản thângiúp học sinh hoàn thành những nhiệm vụ học tập nhất định Giáo viên phân tích đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh và của mình

Hiểu được hoạt động trên không thể không nhận thấy vai trò của người học đã được tăng cường, họkhông chỉ thụ động tiếp thu những điều giáo viên truyền đạt mà còn là chủ thể của quá trình nhận thức - học tập.Vai trò của người giáo viên cũng hoàn toàn thay đổi, trong quá trình dạy học người giáo viên đóng vai trò nhưngười tổ chức hoạt động nhận thức độc lập của người học, làm cho người học phát huy tiềm năng của bản thân

và học một cách sáng tạo Chính điều này là cơ sở chủ yếu cho việc định hướng lại giáo dục nói chung và dạyhọc nói riêng

Trang 19

Quá trình dạy học là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học

tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiến hoạt động nhận thức của mình nhằm thực hiện những nhiệm

vụ dạy học

11 Bản chất của quá trình dạy học.

Câu 1: Trên cơ sở phân tích bản chất của quá trình dạy học hãy xác định những yêu cầu cần thiết

để quá trình dạy học ở trường phổ thông có hiệu quả.

Trả lời:

- Mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động học tập của học sinh: trong xã hội

có 2 hoạt động nhận thức diễn ra song song: hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động nhận thức trongdạy học trong đó hoạt động nhận thức của loài người đi trước hoạt động nhận thức trong dạy học (là cơ sở, nềntảng cho hoạt động nhận thức của học sinh) hay nói cách khác: những tri thức mà HS nhận thức là những trithức đã được loài người tổng kết, hệ thống hóa, và khái quát hóa qua kinh nghiệm lịch sử của mình

Bản chất của quá trình dạy học là:

- Quá trình nhận thức của HS cũng như quá trình nhận thức của loài người đều là quá trình phản ánh thếgiới khách quan vào não người Những tri thức mà HS nhận thức là những tri thức đã được loài người tổng kết,

hệ thống hóa, khái quát hóa qua kinh nghiệm lịch sử của mình song sự phản ánh này (đối với quá trình nhậnthức của HS) không phải là sự phản ánh thụ động như sự phản ánh của chiếc gương phẳng đối với những sự vật,hiện tượng ở trước nó Mà phản ánh của HS là phản ánh Tâm lí, nên nó có tính chủ thể vì thế nó mang tính tíchcực, sáng tạo do mỗi chủ thể nhận thức có vốn tri thức, kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú… khác nhau Vì vậy,với tư cách là chủ thể có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hìnhthức, nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản ánh đúng đắn bản chất và những quy luật của thế giớikhách quan, còn về hình thức, mỗi học sinh có phương thức phản ánh riêng của mình

- Quá trình học tập của học sinh cũng diễn ra theo công thức nổi tiếng của V.I.Lênin: “Từ trực quan sinh

động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, nhận thức hiện thực khách quan” Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của

học sinh đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tuỳ theo điểm xuất phát trong quátrình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng và từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn nhất đến khái quát và

từ khái quát đến đơn nhất

Trong thực tiễn dạy học, do không hiểu đúng công thức đó đã dẫn tới cách xây dựng nội dung và sử dụngphương pháp dạy học không đúng, dẫn đến việc quá đề cao vai trò của tính trực quan sinh động mà xem nhẹ vaitrò của tư duy logic, tư duy khái quát, trừu tượng…, hoặc là quá chú trọng đến nhận thức xã hội, thay thế vàxem xét nhận thức cá nhân bằng nhận thức xã hội

- Tuy nhiên quá trình nhận thức của HS không lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức của loài người Do được

tiến hành trong QTDH, được sự gia công sư phạm của người thầy giáo nên quá trình nhận thức này có tính độcđáo, có những đặc trưng riêng Tính độc đáo này được thể hiện ở những điểm sau:

- Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, quanh co, khúc khuỷu như quátrình nhận thức chung của loài người mà diễn ra theo con đường thẳng đã được khám phá, dưới sự hướng dẫncủa GV nên tránh được những sai lầm, tránh được con đường vòng quanh co, khúc khuỷu Vì thế nên trong 1 thờigian ngắn HS chiếm lĩnh được 1 lượng tri thức lớn 1 cách thuận lợi

- Quá trình nhận thức của nhà KH là phát hiện và chứng minh những cái mà loài người chưa hề biết trong

tự nhiên, xã hội và tư duy Còn quá trình nhận thức của học sinh chỉ là tái tạo lại những tri thức nhân loại đã tìm

ra cho bản thân, nên những tri thức mà họ lĩnh hội chỉ là mới đối với bản thân họ mà thôi

- Tri thức mà loài người tìm ra là phong phú và vô tận còn tri thức mà HS nhận thức là những tri thức phổthông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước (Do trong thời gian học ở trường phổ thông, HS khôngthể nắm vững toàn bộ kho tàng tri thức nhân loại mà chỉ cần những tri thức cần thiết nhất thôi)

- Trong một thời gian tương đối ngắn, học sinh có thể lĩnh hội một khối lượng tri thức rất lớn một cáchthuận lợi Chính vì vậy, trong quá trình dạy học người dạy phải củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức,

kĩ năng, kĩ xảo của học sinh nhằm biến chúng thành tài sản riêng của bản thân học sinh để học sinh có thể vậndụng giải thích các hiện tượng trong thực tế và vận dụng vào các bậc học tiếp theo

- Người dạy phải kết hợp dạy chữ với dạy người nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách cho học sinh.Trong quá trình dạy học cần phải chú ý tới tính đặc biệt đó trong quá trình nhận thức của học sinh để tránh

sự đồng nhất quá trình nhận thức chung của loài người với quá trình nhận thức của người học sinh Song cũngkhông vì quá coi trọng tính độc đáo đó mà thiếu quan tâm đúng mức tới việc tổ chức cho học sinh dần dần tìm

Trang 20

hiểu và tham gia các hoạt động khoa học vừa sức, nâng cao dần qua các lớp để chuẩn bị cho học sinh tham giahoạt động nghiên cứu khoa học trong tương lai.

Chúng ta nhận thấy rằng ngay bên trong QTDH tồn tại rất nhiều mâu thuẫn đòi hỏi phải giải quyết màngay một lúc thì không thể giải quyết hết được Vậy điều quan trọng nhất để QTDH phát triển nhanh, đúng và

có hiệu quả là trong vô vàn các mâu thuẫn nảy sinh trong QTDH phải xác định được mâu thuẫn chính, mâuthuẫn cơ bản của QTDH để tác động và giải quyết nó

Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình Giải quyết mâu thuẫn này sẽ giảiquyết được các mâu thuẫn khác và việc giải quyết các mâu thuẫn khác xét cho cùng là để phục vụ cho việc giảiquyết mâu thuẫn đó

Căn cứ vào đặc điểm này ta thấy mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa một bên là

nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra va một bên là trình độ tri thức, trình độ phát triển trí tuệ hiện có của học sinh.

Đây là mâu thuẫn tồn tại suốt từ đầu đến cuối quá trình dạy học và khi mâu thuẫn xuất hiện, dưới sự chỉđạo của người thầy giáo, học sinh độc lập giải quyết nó, và như vậy học sinh đã nâng cao trình độ lên đáp ứngcác nhu cầu học tập đề ra Song QTDH là quá trình liên tục nên các nhiệm vụ học tập mới lại đề ra ở mức caohơn trình độ đã đạt được Thế là mâu thuẫn lại xuất hiện và lại được giải quyết Điều đó đảm bảo cho hoạt độngnhận thức của HS phát triển liên tục Do đó, việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản này có liên quan trực tiếp sâu sắcđến sự vận động và phát triển của nhân tố HS và hoạt động học, nơi thể hiện tập trung kết quả vận động và pháttriển của QTDH Nói một cách khác: Việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn cơ bản tạo nên động lực cơ bảncủa QTDH

Muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học sinh phải tiến triển Vì vậy, mâu thuẫn cơ bảncủa QTDH phải chuyển hóa thành mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của người học sinh Vì vậy

mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội là mâu thuẫn giữa điều đã biết và điều chưa biết Điều đã biết ở dây

chính là kinh nghiệm, sự hiểu biết của bản thân; và điều chưa biết chính là tri thức mới cần lĩnh hội

Quá trình dạy học cần làm cho người học ý thức đầy đủ và sâu sắc Họ phải nhận thức rõ những yêu cầuđược nhiệm vụ học tập đề ra, thấy hết và đánh giá đúng mức trình độ tri thức, trình độ kĩ năng, kĩ xảo, trình độphát triển trí tuệ hiện có của mình Điều đó thể hiện ở sự cảm thấy khó khăn trong nhận thức và từ đó có nhucầu giải quyết khó khăn nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập

- Người dạy phải đưa ra các kiến thức vừa sức, đúng hơn là khó khăn vừa sức Điều đó có nghĩa là nhiệm

vụ học tập đề ra có mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng phát triển gần nhất của học sinh mà họ có thểgiải quyết được với sự nỗ lực cao nhất về trí lực cũng như thể lực của mình, không quá khó để người học khôngthể giải quyết được nhưng không quá dễ để người học có thể giải quyết được một cách dễ dàng mà không cầnđến sự nỗ lực của trí tuệ Do nó vừa sức nên nó sẽ phát huy trình độ của người học đảm bảo cho yêu cầu pháttriển

Trên cơ sở phân tích bản chất của của quá trình dạy học chúng ta cần xác định những yêu cầu cần thiết đểquá trình dạy học ở trường phổ thông đạt hiệu quả:

+ Các cấp quản lý cần đưa ra chiến lược phát triển giáo dục hợp lý, kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triểncủa khoa học công nghệ và kinh tế xã hội của quốc gia và trên thế giới (Đổi mới nội dung, phương pháp, môhình giáo dục đáp ứng nhu cầu xã hội)

+ Bản thân người dạy học cần tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mớiphương pháp dạy học, ứng dụng CNTT vào dạy học, biến tri thức khoa học thành niềm tin của người học, lấyngười học làm trung tâm trong quá trình dạy học, tạo sự hứng thú, say mê tìm tòi, nghiên cứa khoa học củangười học, phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của học sinh

+ Việc dạy học phải chú ý đến nhu cầu, khả năng tư duy - nhận thức, tâm lý, điều kiện hoàn cảnh của họcsinh để có phương pháp biện pháp dạy học phù hợp và hiệu quả

+ Đổi mới kiểm tra đánh giá để nắm bắt được khả năng nhận thức của từng học sinh từ đó điều chỉnh việcdạy học của mình

+ Việc học lý thuyết phải gắn với thực hành, vận dụng kiến thức kiến thức vào giải quyết những vấn đềthức tế vừa sức, hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động vừa sức tạo điều kiện cho học sinh được thể hiệnmình

Câu 2: Phân tích bản chất của quá trình dạy học từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết trong quá trình dạy học trong các nhà trường phổ thông.

Trả lời:

* Phân tích bản chất của quá trình dạy học

Trang 21

- Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo củagiáo viên.

- Quá trình dạy học bao gồm quá trình dạy và quá trình học Quá trình học của học sinh là quá trình nhậnthức Do đó, quá trình học của học sinh là quá trình phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của con người.Quá trình học tập về cơ bản diễn ra theo công thức nổi tiếng của Lênin: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng, từ tư duy trừu tượng trở về thực tiễn

- Tính độc đáo trong nhận thức của học sinh:

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu làtái tạo những tri thức của loài người đã sáng tạo ra, nên họ nhận thức những điều rút ra từ kho tàng tri thứcchung của loài người, đối với họ còn là mới mẻ

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như con đườngnhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựngchương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm Chính vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh cóthể lĩnh hội tri thức một cách thuận lợi

+ Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học: Lĩnh hội tri thứcmới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản củabản thân

+ Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong QTDH, cần hình thành ở học sinh thế giới quan,động cơ, các phẩm chất của nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội

+ Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò chủ đạo của giáo viên(lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với những điều kiện sư phạm nhất định

* Kết luận sư phạm:

+ QTDH cần phải chú ý tới tính độc đáo trong q/trình nhận thức của hsinh để tránh sự đồng nhất q/trìnhnhận thức chung của loài người với q/trình nhận thức của người hsinh (Thảo luận nhóm, tự nghiên cứu là đồngnhất)

+ Lựa chọn hệ thống phương pháp dạy học phù hợp với tính độc đáo và nhận thức của người học (thuyếttrình nêu vấn đề…)

+ Xây dựng nội dung, chương trình thiết thực và mang tính ý nghĩa đối với người học

+ Thường xuyên đổi mới cải biến các khâu của quá trình dạy học, nội dung, phương pháp dạy học

+ Đối với công tác quản lý cần có biện pháp tổ chức và quản lý việc đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc trong nhà trường, chất lượng dạy và học trong nhà trường, tổ chức quản lý hoạt động dạy và hoạt động học,giáo dục và phát triển nhân cách cho người học

Câu 3: Giải thích quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên và rút ra những kết luận sư phạm cần thiết cho giáo viên.

Trả lời:

* Quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên.

- Học của học sinh là một quá trình nhận thức, mang đặc điểm của một quá trình nhận thức:

+ Phản ánh thế giới khách quan vào ý thức

+ Nhận thức không máy móc, mang tính chọn lọc

+ Nhận thức làm phong phú vốn kinh nghiệm của chủ thể

+ Tuân theo quy luật nhận thức

- Nhận thức mang tính độc đáo:

+ Quá trình nhận thức của học sinh không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại mà chủ yếu làtái tạo những tri thức của loài người đã sáng tạo ra, nên họ nhận thức những điều rút ra từ kho tàng tri thứcchung của loài người, đối với họ còn là mới mẻ

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như con đườngnhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựngchương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm Chính vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh cóthể lĩnh hội tri thức một cách thuận lợi

+ Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học: Lĩnh hội tri thứcmới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản củabản thân

+ Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong QTDH, cần hình thành ở học sinh thế giới quan,động cơ, các phẩm chất của nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội

Trang 22

+ Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò chủ đạo của giáo viên(lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với những điều kiện sư phạm nhất định.

* Kết luận sư phạm:

+ Thầy giữ vai trò chủ đạo (điều khiển, hướng dẫn, tư vấn)

+ Dạy cho HS biết cách học và tự học

+ Tạo nên sự tương tác sư phạm

Câu 4: Hiện nay có quan điểm cho rằng: “Quá trình dạy học về bản chất là quá trình truyền tải tri thức đơn thuần từ thầy sang trò”.

Anh (chị) hãy cho ý kiến của mình về quan điểm trên và từ đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.

+ Quá trình nhận thức của học sinh không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như con đườngnhận thức chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựngchương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm Chính vì vậy, trong một thời gian nhất định, học sinh cóthể lĩnh hội tri thức một cách thuận lợi

+ Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trình dạy học: Lĩnh hội tri thứcmới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nhằm biến chúng thành tài sản củabản thân

+ Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong QTDH, cần hình thành ở học sinh thế giới quan,động cơ, các phẩm chất của nhân cách phù hợp với chuẩn mực xã hội

+ Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dưới vai trò chủ đạo của giáo viên(lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với những điều kiện sư phạm nhất định

* Kết luận sư phạm:

+ Thầy giữ vai trò chủ đạo (điều khiển, hướng dẫn, tư vấn)

+ Dạy cho HS biết cách học và tự học

+ Tạo nên sự tương tác sư phạm

12 Nhiệm vụ của quá trình dạy học.

Câu 1: Anh (chị) hãy nêu các nhiệm vụ của quá trình dạy học và phân tích mối quan hệ giữa chúng Liên hệ việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong thực tiễn dạy học phổ thông.

Trả lời:

* Quá trình dạy học có 3 nhiệm vụ sau:

NV1: Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thựctiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tươngứng

NV2: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tưduy, độc lập, sáng tạo

NV3: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nóiriêng và phát triển nhân cách nói chung

* Mối quan hệ giữa các nhiệm vụ dạy học

Các nhiệm vụ dạy học trên không tồn tại độc lập mà chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động,

hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục đích giáo dục hiệu quả

Nắm vững hệ thống tri thức kỹ năng, kỹ xảo thì sẽ tạo đkiện tốt cho sự phát triển trí tuệ, và là cơ sở đểhình thành thế giới quan khoa học

Sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả vừa là đkiện của việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và cũng là cơ sở

để hình hành thế giới quan khoa học và phẩm chất đạo đức

Nhiệm vụ thứ ba vừa là mục đích vừa là kết quả của hai nhiệm vụ trên Nó là yếu tố kích thích và chỉđạo việc nắm vững tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và phát triển năng lực nhận thức

Trang 23

* Liên hệ việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong thực tiễn dạy học phổ thông

Hiện nay việc dạy học trong các trường phổ thông đều thực hiện các nhiệm vụ giáo dục một cách tươngđối hiệu quả Việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò địnhhướng, tổ chức các hoạt động giáo dục, phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh và học sinh chủ động lĩnhhội tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo, vận dụng những kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống

Việc thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ giáo dục cũng gặp không ít khó khăn vì:

Đối tượng học sinh trong lớp không đồng đều về trình động và khả năng nhận thức

Một số học sinh ỉ lại trông chờ vào vào việc thầy cô làm giúp mình nên không tự chủ động lĩnh hội trithức, dẫn đến học ngày càng yếu đi và chán nản không muốn học

Việc thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ dạy học yêu cầu giáo viên phải có kiến thức tốt, phương pháp dạyhọc khoa học, phải đầu tư nhiều thời gian trong soạn giảng, tìm tòi hướng đi, cách tiếp cận mới Do vậy khôngphải ai cũng làm được việc này

Câu 2: Anh (chị) hãy phân tích các nhiệm vụ của quá trình dạy học và liên hệ việc thực hiện các nhiệm vụ của quá trình dạy học trong nhà trường phổ thông.

Trả lời:

* Phân tích các nhiệm vụ của quá trình dạy học:

NV1: Điều khiển, tổ chức chỉ đạo hsinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợpvới thực tiễn của đất nước về tự nhiên, XH - nhân văn, đồng thời rèn luyện cho hệ thống kỹ năng kỹ xảo tươngứng

Con người thường xuyên t/động vào TGKQ, nhận thức, cải tạo nó phục vụ cho lợi ích của con người,thong qua đó loài người tích lũy, khái quát hóa những kinh nghiệm xh dưới dạng các sự kiện khoa học, k/niệm,đ/nghĩa, định luật, tư tưởng k/học, học thuyết mà được gọi là những tri thức k/học Vì vậy nhiệm vụ của trườngphổ thông là giúp hsinh nắm vững những tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại phù hợp với thực tiễn đất nước,Hsinh phải hiểu, nhớ và vận dụng những tri thức đó vào trong hoàn cảnh thực tiễn đã biết hoặc trong hoàn cảnhmới

- Tri thức phổ thông cơ bản: Đó là những tri thức đã được xây dựng và chọn lọc từ những lĩnh vực khoahọc, xã hội Đó là những tri thức tối thiểu, cần thiết nhất, làm nền tảng giúp học sinh có thể tiếp tục học lên caohoặc bước vào lao động sản xuất, tham gia hoạt động xã hội Những tri thức cơ bản này biến đổi theo sự biếnđổi của yêu cầu xã hội

- Những thức cơ bản cần cung cấp cho hsinh phải là những tri thức h/đại, p/á những thành tựu mới nhấtcủa văn hóa, KH-CN phù hợp với chân lý khách quan, phù hợp với xu thế p/triển của thời đại

- Những trí thức đó cũng cần phải phù hợp với thực tiễn đất nước, cũng như phù hợp với lứa tuổi, đặcđiểm hđộng nhận thức của hsinh, đảm bảo được tính hệ thống, tính logic khoa học và mói quan hệ chặt chẽ giữacác môn học

Trong q/trình lĩnh hội những tri thức đó đã h/thành cho hsinh hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định tươngúng với nội dung môn học, kỹ năng, kỹ xảo của hsinh phải được diễn ra từ mức độ thấp đến cao, từ đơn giảnđến phức tạp, từ nhận biết tái hiện đến kỹ năng sang tạo

Trong thế kỷ XXI, thế hệ trẻ cần được trang bị tốt học vấn phổ thông và các kỹ năng cơ bản sau:

- Kỹ năng nắm bắt thông tin và giao tiếp xã hội

- Kỹ năng làm việc có hiệu quả trong một nhóm cộng đồng

- Kỹ năng nhận thức xã hội và nhân văn

- Kỹ năng vận dụng ngoại ngữ và vi tính

- Kỹ năng cảm thụ và sáng tạo nghệ thuật

- Kỹ năng phân tích và giải quyết các tình huống ứng xử

- Kỹ năng tổ chức và điều hành một guồng máy

- Kỹ năng phòng vệ sự sống và gia tăng sức khoẻ

- Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu và nâng cao trình độ

NV2: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là nănglực tư duy, độc lập, sáng tạo

- Trong quá trình dạy học, với vai trò tổ chức điều khiển của người giáo viên, học sinh không ngừng pháthuy tính tích cực nhận thức và tự mình rèn luyện các thao tác trí tuệ, dần dần hình thành các phẩm chất hoạtđộng trí tuệ như:

Trang 24

+ Tính định hướng của hoạt động trí tuệ: Xác định đối tượng của hoạt động trí tuệ và mục đích cần đạtđược, còn gọi là sự chóng hiểu, chóng biết.

+ Bề rộng của hoạt động trí tuệ: Có thể lĩnh hội tri thức, kỹ năng trên nhiều l/vực KH khác nhau

+ Chiều sâu của hoạt động trí tuệ: P/á năng lực đi sâu tìm hiểu bản chất của các s/vật, h/tượng trongt/giới k/quan phải nắm bắt tư duy sâu sắc, nắm vững bản chất vđề, phân biệt được các phạm trù ndung vàh/thức

+ Tính linh hoạt trong hoạt động trí tuệ: Khả năng thay đổi tư duy từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác đểthích ứng

+ Tính mềm dẻo của hoạt động trí tuệ: Là nét đặc trưng của hđộng nhận thức, đặc biệt là q/trình ty duy

vì q/trình đó được tiến hành một cách linh hoạt sáng tạo theo các chiều hướng xuôi ngược khác nhau

+ Tính độc lập trong hoạt động trí tuệ: Tự mình phát hiện được vđề, tự mình suy nghĩ và tìm ra p/ág/quyết vđề bằng chính hđộng và thao tác của mình

+ Tính nhất quán trong hoạt động trí tuệ: Chính là phản ánh tính logic trong hoạt động nhận thức củangười học đảm bảo sự thống nhất chủ đạo từ đầu đến cuối không mâu thuẫn

+ Tính phê phán của hoạt động trí tuệ: Khả năng nhận xét, đánh giá, phân tích bảo vệ quan điểm chủquan của mình

+ Tính khái quát của hoạt động trí tuệ: Là thể hiện việc giải quyết linh hoạt nhiệm vụ nhận thức trên cơ

sở hình thành một mô hình khái quát

- Như vậy, sự phát triển của trí tuệ được p/ánh thông qua sự phát triển không ngừng của các chức năngtâm lý và phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là quá trình tư duy độc lập, tư duy sáng tạo của người học

- Sự phát triển trí tuệ có MQH biện chứng với hoạt động dạy học Dạy học được tổ chức đúng sẽ thúcđẩy sự phát triển năng lực phẩm chất trí tuệ của học sinh và ngược lại, sự phát triển đó sẽ tạo điều kiện cho hoạtđộng dạy học đạt chất lượng cao Đó cũng là một quy luật của qúa trình dạy học

NV3: Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở, thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đứcnói riêng và sự phát triển nhân cách nói chung

Thế giới quan khoa học là gì?Là những quan điểm về thế giới, tự nhiên, xã hội, các quan điểm triết học,

xã hội học, luận lý, mỹ học…

Tại sao phải bồi dưỡng thế giới quan?

- Thế giới quan chi phối cách nhìn nhận và thái độ của mỗi cá nhân Dó đó, trong quá trình dạy học phảiquan tâm đến việc hình thành những cơ sở thế giới quan khoa học, đúng đắn để họ có suy nghĩ và hành độngđúng

- Việc bồi dưỡng thế giới quan cho người học góp phần ngăn ngừa sự xâm nhập của thế giới quan củagiai cấp bóc lột vì trong xã hội có giai cấp, thế giới quan bao giờ cũng mang tính giai cấp

Làm thế nào để bồi dưỡng thế giới quan:

- Trang bị cho người học những tri thức căn bản về tự nhiên, xã hội và tư duy cũng như những quy luậtcủa chúng

- Cần phải cho trẻ thường xuyên tiếp xúc với thực tiễn cuộc sống để có những quan điểm đúng đắn trên

cơ sở quan điểm đúng đắn

- Thường xuyên để các em thảo luận, tranh luận về nhưng vấn đề thực tiễn của cuộc sống hoặc các quanđiểm của nhưng người khác

- Các phẩm chất đạo đức cần hình thành ở ngýời học

+ Trách nhiệm và nghĩa vụ công dân,lòng yêu nước

+ Hình thành phẩm chất năng động, chủ đông sáng tạo và thích ứng nhanh hơn với sự thay đổi của đấtnước cũng như hệ thống các chuẩn mực đạo đức của xã hội quy định

- Làm thế nào để có những phẩm chất đạo đức

+ Cần phối hợp các hình thức, phương pháp dạy học và phương pháp giáo dục)

+ Cần phải có những hình thức, phương pháp dạy học phong phú, đa dạng

+ Cần tránh giáo dục sai lệch như gò ép hình thức, buông lỏng, coi thường tác dụng giáo dục của dạyhọc

* Liên hệ việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học trong thực tiễn dạy học phổ thông

Hiện nay việc dạy học trong các trường phổ thông đều thực hiện các nhiệm vụ giáo dục một cách tươngđối hiệu quả Việc đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò địnhhướng, tổ chức các hoạt động giáo dục, phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh và học sinh chủ động lĩnhhội tri thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo, vận dụng những kiến thức khoa học vào thực tiễn cuộc sống

Ngày đăng: 18/05/2021, 16:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w