Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống các CSGG này vẫn chưa có tiêu chuẩn chính thức nào được ban hành đề cập một cách cụ thể về thiết kế xây dựng, bảo vệ môi trường, hơn nữa việc tận dụng c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ VĂN HẢI
ĐÁNH GIÁ VÀ HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ GIAM GIỮ NHẰM ÁP DỤNG XÂY DỰNG MỚI TRẠM
XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO MỘT TRẠI TẠM GIAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LÊ VĂN HẢI
ĐÁNH GIÁ VÀ HOÀN THIỆN CÔNG NGHỆ XỬ LÝ NƯỚC THẢI TẠI MỘT SỐ CƠ SỞ GIAM GIỮ NHẰM ÁP DỤNG XÂY DỰNG MỚI TRẠM
XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO MỘT TRẠI TẠM GIAM
Chuyên ngành: Kỹ thuật môi trường
Mã số: 8520320.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN QUY
Hà Nội - 2019
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ, tạo điều kiện từ cơ quan nơi tôi công tác và từ các cơ sở giam giữ của Công an các tỉnh Điện Biên, thành phố Đà Nẵng, thành phố Huế
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp về sự chia sẻ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình!
Hà Nội, Ngày Tháng Năm 2019
Học viên
Lê Văn Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan về nước thải sinh hoạt 3
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước thải sinh hoạt 3
1.1.2 Khả năng gây ô nhiễm môi trường của nước thải sinh hoạt 3
1.2 Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt 5
1.2.1 Phương pháp cơ học 5
1.2.2 Phương pháp xử lý hóa lý 7
1.2.3 Phương pháp xử lý sinh học 7
1.3 Tổng quan về nước thải sinh hoạt từ các CSGG thuộc ngành Công an 11
1.4 Tổng quan về phân tích, đánh giá công nghệ môi trường 16
1.4.1 Tổng quan chung về đánh giá công nghệ môi trường 16
1.4.2 Hiện trạng đánh giá công nghệ môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam 17
1.5 Tổng quan điều kiện tự nhiên các khu vực thuộc phạm vi nghiên cứu 24
1.5.1 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng 24
1.5.2 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên 26
1.5.3 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế 27
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 29
2.2 Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu, tài liệu thứ cấp 29
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 29
Trang 52.2.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu 29
2.2.4 Phương pháp so sánh, đánh giá và tổng hợp 31
2.2.5 Phương pháp tính toán 31
2.2.6 Phương pháp phân tích đánh giá công nghệ 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Nguồn phát sinh và lưu lượng nước thải tại 02 Trại tạm giam 35
3.1.1 Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng 35
3.1.2 Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên 36
3.2 Công nghệ xử lý của hệ thống xử lý nước thải tại 02 CSGG 38
3.3 Đánh giá công nghệ của 02 hệ thống xử lý nước thải tại 02 cơ sở giam giữ 44
3.3.1 Đánh giá công nghệ tại Trại tạm giam thuộc CATP Đà Nẵng ……….44
3.3.2 Đánh giá công nghệ tại Trại tạm giam thuộc CA tỉnh Điện Biên 50
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả khi áp dụng CNXL cho hệ thống XLNT tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế 56
3.4.1 Hiện trạng nước thải tại Trại tạm giam của Công an tỉnh Thừa Thiên Huế 56 3.4.2 Đặc tính nước thải tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế 57
3.4.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khi áp dụng công nghệ xử lý 59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……64
PHỤ LỤC……… …………66
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 1.1 Tải lượng ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 4
2 Bảng 1.2 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 5
3 Bảng 1.3 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 5
4 Bảng 1.4 Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường 17
5
Bảng 1.5 Hệ thống các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá sự
phù hợp của công nghệ xử lý nước thải (Theo Tổng cục môi trường-Sổ
tay tài liệu kỹ thuật)
19
6 Bảng 1.6 Điều kiện áp dụng đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý 24
7 Bảng 2.1 Một số các phương pháp phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất
8 Bảng 3.1 Bảng chấm điểm tính phù hợp công nghệ xử lý nước thải
của Trại tạm giam của Công an thành phố Đà Nẵng 45
9 Bảng 3.2 Đánh giá tính phù hợp của công nghệ áp dụng 50
10 Bảng 3.3 Bảng chấm điểm tính phù hợp công nghệ xử lý nước thải
của Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên 51
11 Bảng 3.4 Đánh giá tính phù hợp của công nghệ áp dụng 56
12 Bảng 3.5 Một số các chỉ tiêu nước thải tại Trại tạm giam thuộc Công
Trang 7DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1: Dạng dẫn thải trực tiếp nước thải vào hệ thống cống thải chung 13
2 Hình 1.2: Dạng dẫn thải trực tiếp nước thải vào hệ thống cống thải
chung trong đó nước tắm giặt đổ chung vào khu vực bể phốt 13
3 Hình 3.1 Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng trên ảnh vệ tinh 35
4 Hình 3.2 Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên trên ảnh vệ tinh 37
5 Hình 3.3 Sơ đồ công nghệ XLNT tại các CSGG tại Đà Nẵng và Điện Biên 39
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9MỞ ĐẦU
Cho đến thời điểm hiện tại, Bộ Công an đang quản lý 70 Trại tạm giam (TTG) và 673 nhà tạm giữ, các cơ sở giam giữ (CSGG) này phân bố tại 63 tỉnh, thành phố thuộc 8 khu vực trong cả nước theo phân vùng địa lý (Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng Bắc bộ, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây Nguyên, Đông nam bộ, Tây nam bộ) Trong những năm qua, công tác xây dựng ở các Trại tạm giam, nhà tạm giữ thuộc Bộ Công an đang từng bước được cải thiện hơn Hệ thống các CSGG phát triển theo các giai đoạn khác nhau và từng giai đoạn đã có những cải tiến phù hợp với những điều kiện mới Tuy nhiên, việc xây dựng hệ thống các CSGG này vẫn chưa có tiêu chuẩn chính thức nào được ban hành đề cập một cách
cụ thể về thiết kế xây dựng, bảo vệ môi trường, hơn nữa việc tận dụng các cơ sở
cũ từ thời Pháp để cải tạo sử dụng đã không còn phù hợp với thời đại, không đáp ứng được các tiêu chuẩn về xây dựng và môi trường, song song với đó, việc chăn nuôi, canh tác trong khuôn viên các CSGG gây ô nhiễm môi trường cả trong và ngoài khu vực của CSGG, khiến cho tình trạng môi trường tại đa số các CSGG trên toàn quốc ngày càng trở nên bức xúc Lưu lượng nước thải của các CSGG thường không ổn định, lượng nước thải này thay đổi theo quy mô các cơ sở và thay đổi theo số lượng can phạm nhân tăng giảm bất thường, có những thời điểm lên đến hàng ngàn người tại một số CSGG trọng điểm Bên cạnh đó, đặc tính của NTSH của các CSGG ngoài những đặc của NTSH thông thường thì còn tiềm ẩn các thành phần nguy hại phát sinh từ nước vệ sinh của các đối tượng mang bệnh y
tế và đặc biệt là các bệnh xã hội
Nắm bắt được thực trạng đó, Lãnh đạo Bộ Công an đã giao Tổng cục Hậu Cần -
Kỹ thuật Bộ Công an triển khai các dự án nhằm cải thiện chất lượng môi trường cho các CSGG với nhiệm vụ trọng tâm là xử lý nước thải(XLNT) Cho đến nay, các dự
án bảo vệ môi trường ngành công an đã được triển khai tại nhiều CSGG trọng yếu trên toàn quốc Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế chưa cho phép, việc đầu tư chủ yếu vẫn dồn lực cho các cơ sở trọng điểm và đang có nhu cầu bức thiết trong XLNT với
Trang 10công nghệ xử lý chủ yếu là công nghệ sinh học theo các phương án khác nhau, tùy theo điều kiện tự nhiên, địa hình mà các đơn vị được giao nhiệm vụ đã chọn các giải pháp thi công thích hợp nhằm giải quyết vấn đề nước thải của các CSGG
Công nghệ sinh học là một công nghệ XLNT truyền thống, có nhiều ưu điểm phù hợp với điều kiện Việt Nam được áp dụng trong XLNT cho các CSGG Tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý sau thời gian sử dụng vẫn chưa được thực sự quan tâm Việc đánh giá tính phù hơp trong lựa chọn công nghệ đã áp dụng là cần thiết nhằm chỉ ra được tính phù hợp với điều kiện của từng cơ sở cũng như chỉ ra được các điểm chưa hợp lý để cải tạo nâng cao hiệu quả xử lý của trạm XLNT đã xây dựng, đồng thời làm cơ sở dữ liệu tham khảo cho các dự án xây dựng trạm XLNT tiếp theo
Vì vậy, việc lựa chọn và thực hiện đề tài luận văn: “Đánh giá và hoàn thiện công nghệ xử lý nước thải tại một số cơ sở giam giữ nhằm áp dụng xây dựng mới trạm xử lý nước thải cho một trại tạm giam” là cấp thiết, đáp ứng nhu cầu thực
tiễn đặt ra
Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá được hiện trạng công nghệ của hệ thống
XLNT đang vận hành tại Trạm XLNT của một số CSGG thuộc Bộ Công an, trên cơ
sở đó đề xuất giải pháp khả thi nâng cao hiệu quả của hệ thống XLNT để áp dụng thực tế cho Trại tạm giam của Công an Thành phố Huế
Nội dung nghiên cứu:
- Khảo sát, đánh giá thực trạng (về đặc điểm, quy mô, …) các CSGG;
- Nguồn gốc, lưu lượng và đặc tính nước thải các Trại tạm giam khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá công nghệ xử lý của một số hệ thống XLNT đang vận hành tại các Trại tạm giam;
- Đề xuất giải pháp khả thi nâng cao hiệu quả XLNT cho các hệ thống xử lý được nghiên cứu để làm cơ sở áp dụng cho hệ thống XLNT sẽ được xây dựng mới tại Trại tạm giam thuộc Công an Thành phố Huế
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nước thải sinh hoạt
1.1.1 Nguồn gốc phát sinh nước thải sinh hoạt
Nước thải sinh hoạt (NTSH) phát sinh từ các hoạt động như: tắm, giặt giũ, tẩy rữa, vệ sinh cá nhân, chúng thường được thải ra từ các căn hộ, cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, và các công trình công cộng khác Lượng nước thải của một khu dân cư phụ thuộc vào dân số, vào tiêu chuẩn cấp nước và đặc điểm hệ thống thoát nước Tiêu chuẩn cấp nước sinh hoạt cho một khu dân cư phụ thuộc vào khả năng cung cấp nước của nhà máy nước hay các trạm cấp nước hiện có Các trung tâm đô thị thường có tiêu chuẩn cấp nước cao hơn so với các vùng ngoại thành và nông thôn, do đó lượng nước thải tính trên một đầu người cũng có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn NTSH ở các trung tâm đô thị thường được thoát bằng hệ thống thoát nước dẫn ra các sông rạch, còn ở các vùng ngoại thành và nông thôn do không có hệ thống thoát nước nên nước thải thường được tiêu thoát tự nhiên vào các ao hồ hoặc thoát bằng biện pháp tự thấm
Thành phần NTSH gồm 2 loại:
- Nước thải nhiễm bẩn do chất bài tiết của con người từ các phòng vệ sinh;
- Nước thải nhiễm bẩn do các chất thải sinh hoạt: cặn bã từ nhà bếp, các chất rửa trôi do vệ sinh sàn nhà
1.1.2 Khả năng gây ô nhiễm môi trường của nước thải sinh hoạt
NTSH chứa nhiều chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học, ngoài ra còn có cả các thành phần vô cơ, VSV và vi trùng gây bệnh rất nguy hiểm Chất hữu cơ chứa trong NTSH dao đông trong khoảng 150 - 450 mg/L theo trọng lượng khô bao gồm các chất hữu cơ dễ bị phân hủy và các chất hữu cơ khó phân hủy, trong đó các hợp chất như protein (40 - 50 %); hydratcarbon (40 - 50 %) gồm tinh bột, đường, xenlulo,và các chất béo (5 - 10 %) Các chất dễ phân hủy như cacbonhydrat, protein chủ yếu làm suy giảm lượng oxy hòa tan trong nước dẫn đến suy thoái tài nguyên thủy sản
và làm giảm chất lượng nước mặt Các chất khó phân hủy (Khoảng 20 - 40 % trong tổng số chất hữu cơ có trong NTSH) gồm nhiều hợp chất hữu cơ tổng hợp Hầu hết
Trang 12chúng có độc tính với sinh vật và con người Chúng tồn tại lâu dài trong môi trường
và cơ thể sinh vật gây độc tích lũy, ảnh hưởng nguy hại đến cuộc sống Chất rắn lơ lửng hạn chế độ sâu tầng nước được ánh sáng chiếu xuống, gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của tảo, rong, rêu…Chất rắn có khả năng gây trở ngại cho phát triển thủy sản, cấp nước sinh hoạt nếu chúng có nồng độ cao Tiêu chuẩn của WHO đối với nước uống không chấp nhận tổng chất rắn hòa tan (TDS) cao hơn 1200 mg/L
Chất rắn lơ lửng cũng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên thủy sinh đồng thời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục nguồn nước) và gây bồi lắng Các chất rắn được tạo ra trong quá trình xói mòn, phong hóa địa chất hoặc do nước chảy tràn từ đồng ruộng Ngoài ra các loại VSV gây bệnh hiện hữu trong nước thải đưa ra sông góp phần làm cho các bệnh, đặc biệt là các bệnh đường ruột (thương hàn, tả, lỵ…) gia tăng do lây lan qua đường ăn uống và sinh hoạt
NTSH chủ yếu chứa các chất cặn bã, các chất rắn lơ lửng (SS), các hợp chất hữu cơ (BOD/COD), các chất dinh dưỡng (N, P) và các VSV Trong điều kiện lao động bình thường, tải lượng chất thải ô nhiễm có trong nước thải phát sinh được thể hiện trong Bảng 1.1
Bảng 1.1 Tải lượng ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
(Nguồn: Rapid Environmental Assessment WHO)
Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (1993) thì chất ô nhiễm và nồng độ chất ô nhiễm của NTSH được thể hiện một cách định lượng như trong Bảng 1.2:
Trang 13Bảng 1.2 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
TT Chất ô nhiễm Đơn vị Giá trị
(Nguồn: Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới – WHO)
NTSH được xử lý bằng hệ thống các bể tự hoại Thành phần nước thải trước
và sau khi xử lý bằng bể tự hoại được thể hiện trong Bảng 1.3:
Bảng 1.3 Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt
lý
Qua bể tự hoại
QCVN 14 2008/BTNMT
( Nguồn: Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO)
1.2 Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt
1.2.1 Phương pháp cơ học
Xử lý cơ học nhằm mục đích loại bỏ các tạp chất không tan (rác, cát, nhựa, dầu mỡ, cặn lơ lửng, các tạp chất nổi ) ra khỏi nước thải, điều hòa lưu lượng và nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải Các công trình XLNT bằng phương pháp
cơ học thông dụng gồm:
- Song chắn và lưới chắn rác:
Trang 14+ Song chắn rác: Song chắn rác thường đặt trước hệ thống XLNT hoặc có thể đặt tại các miệng xả trong phân xưởng sản xuất nhằm giữ lại các tạp chất có kích thước lớn như: Nhánh cây, gỗ, lá cây, giấy, nilông, vải vụn và các loại rác khác Đồng thời bảo vệ các công trình và thiết bị phía sau như bơm, tránh ách tắc đường ống, mương dẫn;
+ Lưới chắn rác: Lưới chắn rác dùng để khử các chất lơ lửng có kích thước nhỏ, thu hồi các thành phần quý không tan hoặc khi cần phải loại bỏ rác có kích thước nhỏ
- Bể lắng cát : Bể lắng cát nhằm loại bỏ cát, sỏi, đá dăm, các loại xỉ khỏi nước thải Trong nước thải, bản thân cát không độc hại nhưng sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của các công trình và thiết bị trong hệ thống như ma sát làm mòn các thiết bị cơ khí, lắng cặn trong các kênh hoặc ống dẫn, làm giảm thể tích hữu dụng của các bể xử lý và tăng tần số làm sạch các bể này Vì vậy trong các trạm xử lý nhất thiết phải có bể lắng cát và phải tính toán thế nào để cho các hạt cát và các hạt vô
cơ cần giữ lại sẽ lắng xuống còn các chất lơ lửng hữu cơ khác trôi đi
- Bể điều hòa: Bể điều hòa được dùng để duy trì dòng thải và nồng độ các chất ô nhiễm vào công trình, làm cho công trình làm việc ổn định, khắc phục những sự cố vận hành do dao động về nồng độ và lưu lượng của quá trình XLNT gây ra và nâng cao hiệu suất của quá trình xử lý sinh học Bể điều hòa có thể được phân theo chức năng thành 3 loại như: điều hòa lưu lượng; điều hòa nồng độ và điều hòa cả lưu lượng và nồng độ
- Bể tách dầu mỡ: Các công trình này thường được ứng dụng khi XLNT công nghiệp Nhằm loại bỏ các tạp chất có khối lượng riêng nhỏ hơn nước Các chất này
sẽ bị bịt kín lỗ hổng giữa các vật liệu lọc trong bể sinh học và chúng cũng phá hủy cấu trúc bùn hoạt tính trong bể Aeroten, gây khó khăn trong quá trình lên men cặn
- Bể lắng: Bể lắng tách các chất không tan ở dạng lơ lửng trong nước thải theo nguyên tắc trọng lực Các bể lắng có thể bố trí nối tiếp nhau Quá trình lắng tốt có thể loại bỏ đến 90 - 95 % lượng cặn có trong nước thải Vì vậy, đây là quá trình quan trọng trong quá trình XLNT, thường bố trí xử lý ban đầu hay sau xử lý sinh học Để
Trang 15tăng cường quá trình lắng có thể thêm vào chất đông tụ sinh học Tùy điều kiện, có thể áp dụng các loại bể lắng khác nhau: lắng ngang; lắng đứng; lắng li tâm…
- Bể lọc: Nhằm tách các chất ở trạng thái lơ lửng kích thước nhỏ bằng cách cho nước thải đi qua lớp vật liệu lọc Các loại bể lọc thường được áp dụng như: Lọc qua vách lọc; lọc với vật liệu lọc dạng hạt; lọc chậm; lọc nhanh; lọc áp lực
1.2.2 Phương pháp xử lý hóa lý
Trong dây chuyền công nghệ xử lý, công đoạn xử lý hóa lý thường được áp dụng sau công đoạn xử lý cơ học Phương pháp hóa lý được sử dụng để loại khỏi nước thải các hạt lơ lửng phân tán, các chất hữu cơ và vô cơ hòa tan, có nhiều ưu điểm như:
- Loại được các hợp chất hữu cơ không bị oxy hóa sinh học;
- Không cần theo dõi các hoạt động của VSV;
- Có thể thu hồi các chất khác nhau;
- Hiệu quả xử lý cao và ổn định hơn
Trong xử lý NTSH, phương pháp đông tụ và keo tụ được sử dụng để làm trong
và khử màu nước thải bằng cách dùng các chất keo tụ (phèn), các chất trợ keo tụ để liên kết các chất rắn ở dạng lơ lửng và dạng keo có trong nước thải thành những bông có kích thước lớn hơn
1.2.3 Phương pháp xử lý sinh học
Công trình xử lý sinh học thường được đặt sau khi nước thải đã được xử lý sơ
bộ qua các công trình cơ học, hóa học, hóa lý
Công trình xử lý trong điều kiện tự nhiên
- Cánh đồng tưới, cánh đồng lọc: Việc XLNT bằng cánh đồng tưới, cánh đồng lọc dựa trên khả năng giữ các cặn nước ở trên mặt đất, nước thấm qua đất như đi qua lọc Nhờ có oxy trong lỗ hổng và mao quản của lớp đất, các VSV hiếu khí hoạt động phân hủy các chất hữu cơ nhiễm bẩn, càng xuống sâu lượng oxy càng ít và quá trình oxy hóa các chất hữu cơ giảm dần Quá trình oxy hóa nước thải chỉ xảy ra
ở lớp nước mặt sâu 1,5m
Trang 16Cánh đồng tưới và cánh đồng lọc là những mảnh đất được san phẳng hay tạo dốc không đáng kể và được ngăn cách tạo thành các ô bằng các bờ đất
- Hồ sinh học: Đây là phương pháp xử lý đơn giản nhất và đã được áp dụng từ xưa Phương pháp này cũng không yêu cầu kỹ thuật cao, vốn đầu tư ít, chi phí hoạt động thấp, quản lý đơn giản và hiệu quả cũng khá cao Quy trình được tóm tắt như sau:
Nước thải → loại bỏ rác, cát, sỏi → Các ao hồ ổn định → Nước đã xử lý + Hồ hiếu khí: gồm 2 loại: Hồ làm thoáng tự nhiên và hồ làm thoáng nhân tạo + Hồ kị khí: Ao kị khí là loại ao sâu, ít hoặc không có điều kiện hiếu khí + Hồ tùy nghi: Là sự kết hợp hai quá trình song song: phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ hòa tan có đều ở trong nước và phân hủy kị khí (chủ yếu là CH4) cặn lắng ở vùng lắng
Ao hồ tùy nghi được chia làm ba vùng: Lớp trên là vùng hiếu khí, vùng giữa là vùng kị khi tùy tiện và vùng phía đáy sâu là vùng kị khí Chiều sâu của
hồ khoảng 1 - 1,5 m
Các công trình xử lý hiếu khí nhân tạo:
Xử lý sinh học hiếu khí trong điều kiện nhân tạo có thể kể đến hai quá trình cơ bản: Quá trình xử lý sinh trưởng lơ lủng và xử lý sinh trưởng bám dính
Các công trình tương thích của quá trình xử lý sinh học hiếu khí như: Aeroten bùn hoạt tính (VSV lơ lửng), bể thổi khí sinh học tiếp xúc (VSV bám dính), bể lọc sinh học, tháp lọc sinh học, bể sinh học tiếp xúc quay
Công trình xử lý sinh học hiếu khí: Quá trình XLNT sử dụng bùn hoạt tính dựa vào sự hoạt động sống của si sinh vật hiếu khí Bùn hoạt tính là các bông cặn có mầu nâu sẫm chứa các chất hữu cơ hấp thụ từ nước thải và là nơi cư trú để phát triển của
vô số vi khuẩn và VSV khác Các VSV đồng hóa các chất hữu cơ có trong nước thải thành các chất dinh dưỡng cung cấp cho sự sống Trong quá trình phát triển VSV sử dụng các chất để sinh sản và giải phóng năng lượng nên sinh khối của chúng tăng lên nhanh Như vậy các chất hữu cơ có trong nước thải được chuyển hóa thành các chất
vô cơ như H2O, CO2 không độc hại cho môi trường
Trang 17Quá trình sinh học có thể diễn ra tóm tắt như sau:
Chất hữu cơ + VSV + oxy = NH3 + H2O + Năng lượng + Tế Bào mới
Hay có thể viết:
Chất thải + Bùn hoạt tính + Không khí = Sản phẩm cuối + Bùn hoạt tính dư + Bể Aeroten: Bể Aeroten là công trình bê tông cốt thép hoặc bằng sắt thép, hình khối chữ nhật hoặc hình tròn Nước thải chảy qua suốt chiều dài bể và được sục khí, khuấy đảo nhằm tăng cường oxy hoà tan trong nước, thúc đẩy quá trình phân huỷ chất hữu cơ của VSV hiếu khí
+ Bể lọc sinh học: Là công trình được thiết kế nhằm mục đích phân hủy các chất hữu cơ có trong nước thải nhờ quá trình oxy hóa diễn ra trên bề mặt vật liệu tiếp xúc Trong bể chứa đầy vật liệu tiếp xúc, là giá thể cho VSV sống bám Có 2 dạng:
+ Bể lọc sinh học nhỏ giọt: Là bể lọc sinh học có lớp vật liệu lọc không ngập nước Giá trị BOD của nước thải sau khi làm sạch đạt tới 10 ÷ 15mg/L Với lưu lượng nước thải không quá 1000 m3/ngày
+ Bể lọc sinh học cao tải: Lớp vật liệu lọc đặt ngập trong nước Tải trọng nước thải tới10 ÷ 30m3
/m2ngđ tức là gấp 10 ÷ 30 lần ở bể lọc sinh học nhỏ giọt
- Đĩa quay sinh học RBC (Rotating biological contactors)
RBC gồm một loại đĩa tròn xếp liền nhau bằng polystyren hay PVC Những đĩa này được nhúng chìm trong nước thải và quay từ từ Trong khi vận hành, sinh vật tăng trưởng sẽ bám dính vào bề mặt đĩa và hình thành một lớp màng nhày trên toàn bộ bề mặt ướt của đĩa
Đĩa quay làm cho sinh khối luôn tiếp xúc với chất hữu cơ trong nước thải và không khí để hấp thụ oxy, đồng thời tạo sự trao đổi oxy và duy trì sinh khối trong điều kiện hiếu khí
- Bể sinh học theo mẻ SBR (Sequence Batch Reactor)
SBR là một bể dạng của bể Aeroten Khi xây dựng bể SBR nước thải chỉ cần
đi qua song chắn rác, bể lắng cát và tách dầu mỡ nếu cần, rồi nạp thẳng vào bể Ưu điểm là khử được các hợp chất Nitơ, phốtpho khi vận hành đúng quy trình hiếu khí, thiếu khí và yếm khí
Trang 18Bể SBR hoạt động theo 5 pha: Pha làm đầy (fill); pha phản ứng, thổi khí (React); pha lắng (settle); pha rút nước (draw) và pha chờ
Các công trình xử lý sinh học kị khí:
Phân hủy kị khí (Anaerobic Descomposotion) là quá trình phân hủy chất hữu
cơ thành các chất khí (CH4 và CO2) trong điều kiện không có oxy Việc chuyển hóa các axit hữu cơ thành khí mêtan sản sinh ra ít năng lượng Năng lượng hữu cơ chuyển hóa thành khí vào khoảng 80 - 90 %
Hiệu quả xử lý phụ thuộc vào nhiệt độ nước thải, pH, nồng độ MLSS Nhiệt
độ thích hợp cho phản ứng sinh khí là từ 32 - 35oC
Ưu điểm nổi bật của quá trình xử lý kị khí là lượng bùn sinh ra rất thấp, vì thế chi phí cho việc xử lý bùn thấp hợn nhiều so với các quá trình xử lý hiếu khí
Trong quá trình lên men kị khí, thường có 4 nhóm VSV phân hủy vật chất hữu
cơ nối tiếp nhau:
- Thủy phân: Các VSV thủy phân (Hydrolytic) phân hủy các chất hữu cơ dạng polyme như các polysaccharide và protein thành các các phức chất đợn giản hoặc chất hòa tan như amino axit, axit béo Kết quả của sự bẻ gãy mạch cacbon chưa làm giảm COD
- Axit hóa: Ở giai đoạn này, vi khuẩn lên men chuyển hóa các chất hòa tan thành chất đơn giản như axit beo dễ bay hơi, alcohols các axit lactic, methanol,
CO2, H2, NH3, H2S và sinh khối mới, sự hình thành các axit có thể làm PH giảm xuống 4.0
- Axetic hóa (acetogenesis): Vi khuẩn axetic chuyển hóa các sản phẩm của giai đoạn axit hóa thành axetate, H2, CO2 và sinh khối mới
- Metan hóa (methanogenesis): Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình phân hủy kị khí Axit acxtic, H2, CO2, axit formic và methanol chuyển hóa thành mêtan,
CO2 và sinh khối
Bể UASB (Upflow anaerobic Sludge Blanket): Nước thải được đưa trực tiếp vào phía dưới đáy bể và được phân phối đồng đều, sau đó chảy ngược lên xuyên qua lớp bùn sinh học dạng hạt nhỏ (bông bùn) và chất hữu cơ bị phân hủy
Trang 19Các bọt khí mêtan và NH3, H2S nổi lên trên và được thu bằng các chụp thu khí
để dẫn ra khỏi bể Nước thải tiếp theo đó chuyển đến vùng lắng của bể phân tách 2 pha lỏng và rắn Sau đó ra khỏi bể, bùn hoạt tính thì hoàn lưu lại vùng lớp bông bùn Sự tạo thành bùn hạt và duy trì được nó rất quan trọng khi vận hành UASB Thường cho thêm vào bể 150 mg/L Ca2+ để đẩy mạnh sự tạo thành hạt bùn và 5 - 10 mg/L Fe2+ để giảm bớt sự tạo thành các sợi bùn nhở Để duy trì lớp bông bùn ở trạng thái lơ lửng, tốc độ dòng chảy thường lấy khoảng 0,6 - 0,9 m/h
Hiện nay, nước thải tại các cơ sở gia giữ phần lớn đều chưa được xử lý đã thải
ra nguồn tiếp nhận gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sức khỏe con người Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật phù hợp để XLNT sinh hoạt tại các CSGG là việc làm cần thiết nhằm loại bỏ các tác động tiêu cực đó
1.3 Tổng quan về nước thải sinh hoạt từ các CSGG thuộc ngành Công an
Nước thải phát sinh từ các CSGG thuộc ngành Công an có tính đặc thù không cao, dòng thải này mang đầy đủ đặc tính như NTSH từ các cơ sở bình thường, tuy
có sự khác biệt về nồng độ và thành phần nhưng không quá lớn
NTSH trong khu vực các CSGG có từ rất nhiều nguồn khác nhau Các nguồn thải chủ yếu bao gồm:
- Nước thải từ hoạt động sinh hoạt hàng ngày (tắm giặt .);
- Nước thải từ hệ thống nhà ăn;
- Nước thải từ các khu vực bể phốt, các công trình vệ sinh
Đối với loại nước thải từ khu vực nhà tắm, giặt là có chứa nhiều thành phần của xà phòng, bột giặt, chất tẩy rửa Đây là các hợp chất gây tác động xấu đến môi trường, chất lượng nước và hoạt động của VSV
Qua các số liệu điều tra cho thấy: 100% các TG (Trại giam), TTG (Trại tạm giữ), TGD (Trại giáo dưỡng) đều có nhiều nguồn thải khác nhau thải vào nguồn nước thải chung và hầu hết các nguồn nước thải đều được thu hồi theo một hệ thống cống chung (ngoại trừ nước mưa chảy tràn có hệ thống rãnh thu gom riêng hoặc chảy tràn trên mặt đất) Hệ thống cống thu gom nước thải tại các TG, TTG, CSGD, TGD thường không thải ra môi trường ngoài tại một điểm mà có nhiều điểm xả thải khác nhau xung quan tường rào đơn vị Đây là phương thức thu gom nước thải theo kiểu “cổ điển” chưa tính tới các yếu môi trường
Trang 20Ngoại trừ các TG, TTG, CSGD, TGD mới được xây dựng, cải tạo, nâng cấp
có hệ thống cơ sở hạ tầng thu gom nước thải tương đối đảm bảo Hầu hết các cơ sở xây dựng từ lâu đều không có hệ thống thu gom đảm bảo
Nhìn chung, các TG, TTG, CSGD, TGD có sự khác biệt về sự đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, XLNT sinh hoạt Đối với các TTG, NTG có tới 47,6% xây dựng hệ thu gom thải nước thải từ khu vực phòng tắm, giặt đổ chung vào bể phốt (theo thiết kế cũ như sơ đồ thu gom hình 1.2); và có 38,1% tách riêng nguồn nước tắm giặt không cho vào bể phốt (như sơ đồ thu gom hình 1.1) Ở hệ thống TG, các con số tương ứng là 30,8% và 69,2% Việc thu gom nước thải từ các nguồn khác nhau đưa vào bể phốt là rất nguy hiểm bởi việc này có thể gây ra hiện tượng “chết
bể phốt” Khi hiện tượng “chết bể phốt” xảy ra thì tất cả các hệ thống bể phốt công trình phụ không còn khả năng hoạt động Gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Qua thực tế báo cáo của các TG, TTG, TGD, có thể nhận thấy các vấn đề sau: + Hệ thống cống thoát nước thải tại các khu vực CBCS và khu vực phạm nhân, học viên của các TG, TTG, TGD hầu hết đã và đang có biểu hiện xuống cấp Tại một số đơn vị, thống cống thải bị nứt, vỡ, ứ tắc, không có lắp đậy… không đảm bảo việc thoát nước, phần lớn lượng nước thải bị ngấm xuống đất gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm khu vực đơn vị đóng quân; đồng thời gây ô nhiễm môi trường không khí
+ Ngoại trừ một số TG, TTG, TGD được đầu tư xây dựng hệ thống XLNT mới Hầu hết nước thải của các đơn vị đổ trực tiếp vào các điểm nhận nước thải chung của khu vực dân cư lân cận hoặc đổ ra sông hồ mà không thông qua bất kỳ một biện pháp xử lý nào
+ Hệ thống thu nhận nước thải tại các TG, TTG, CSGD, TGD là những hệ thống thu nhận tổng hợp (bao gồm nhiều nguồn thải khác nhau, trong đó có nguồn từ khu vực y tế) Do vậy, rất dễ trở thành nguồn dịch bệnh, nguồn gây ô nhiễm nước,… cho các khu vực khác Vì vậy, cần có biện pháp xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường
Trang 21Hình 1.1 Dạng dẫn thải trực tiếp nước thải vào hệ thống cống thải chung
Hình 1.2 Dạng dẫn thải trực tiếp nước thải vào hệ thống cống thải chung
trong đó nước tắm giặt đổ chung vào khu vực bể phốt
Khu văn
phòng
Khu bếp ăn
Khu nhà cán bộ
Khu khác
Khu y
tế
Khu vệ sinh công cộng
Khu nhà tắm Khu nhà vệ sinh
Bể phốt
Khu vực khác
Trang 22Vấn đề XLNT là vấn đề bức xúc thứ hai về môi trường trong hệ thống giam giữ trên toàn quốc (sau vấn đề khí thải) Hầu hết các CSGG (tỷ lệ 94 %) trong cả nước đều không có hệ thống XLNT đạt tiêu chuẩn, cho đến thời điểm hiện tại chỉ có một số cơ sở trọng điểm được đầu tư xử lý hạng mục nước thải NTSH và nước thải sản xuất (bao gồm chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản) không qua xử lý đều
đổ thẳng ra nguồn tiếp nhận như ao, hồ, sông, khe suối, đầm, mương, ruộng (80%), cống rãnh đô thị (16 %), tự ngấm xuống đất (4 %) Nước thải từ khu nhà giam, từ khu chăn nuôi thường không được xử lý, không phân luồng chảy tự do đổ vào các nguồn tiếp nhận bên ngoài Trại giam, gây ô nhiễm môi trường, phát tán các mầm bệnh Các trại chưa có hệ thống và biện pháp XLNT phù hợp Đặc biệt nước thải không được xử lý từ hệ thống tự hoại của các buồng giam còn chảy tràn ra nguồn tiếp nhận do thường xuyên bị quá tải Tại một số cơ sở còn có hiện tượng sử dụng nước thải chưa qua xử lý vào mục đích chăn nuôi, trồng trọt gây mối nguy hiểm
từ chuồng lợn)
Trang 23Nước thải từ các CSGG cũng có đặc trưng riêng so với NTSH thông thường Nước thải của các CSGG mang nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm khá cao do tỉ lệ mắc bệnh xã hội, bệnh truyền nhiễm cao tiềm ẩn trong đa số phạm nhân và đi liền với đó
là phạm vi sinh hoạt nhỏ hẹp dễ lây bệnh Ở khu dân cư số lượng người mang mầm bệnh thường khoảng 1 - 2 % dân số, ở các CSGG tỉ lệ này gấp 10 - 20 lần Sau khi vào hệ thống nước thải ra ngoài Trại, nếu không được xử lý thì những mầm bệnh này lan tỏa khắp nơi, xâm nhập vào các loại thủy sinh vật, nhất là rau trồng thủy canh và trở lại với con người Việc tiếp xúc nhiều với nguồn nước tiếp nhận tăng nguy cơ mắc bệnh cho khu dân cư mà nguồn này đi qua Các bệnh có thể truyền nhiễm qua nguồn nước này là bệnh tả, thương hàn, lỵ, bệnh do Leptospira, lao, do amip, bệnh do virus đường tiêu hóa, giun sán… Tuy nhiên số lượng vi sinh gây bệnh trong nước thải thường thấp hơn nhiều so với loại không gây bệnh, hơn nữa các phạm nhân bị giam giữ được theo dõi và quản lý nghiêm ngặt nên khi xảy ra vấn đề sức khỏe, phát hiện mắc bệnh dễ lây nhiễm thì đơn vị giam giữ ngay lập tức
có biện pháp chữa trị và cách li ngay lập tức, điều này làm giảm nguy cơ mầm bệnh
đi vào nước thải khá nhiều
Hình thức xử lý hiện tại đang được các trại áp dụng rất đơn giản (theo báo cáo
cơ sở hạ tầng thường niên của các đơn vị hậu cần cơ sở):
- Qua bể phốt đối với nước thải trong khu vệ sinh: 100 % số trại giam;
- Tách nước tắm giặt, vệ sinh buồng giam khỏi hệ thống hầm tự hoại và bán tự hoại: 37,2 % số trại;
- Dùng biện pháp xử lý ao hồ sinh học tự nhiên: 13 % số trại được khảo sát (2/15 trại)
Do mật độ người trong các trại tạm giam rất cao (trung bình 1 - 1,5 m2/người) nên nước thải có mức độ ô nhiễm cao: chỉ số BOD và vi sinh rất cao
Nước thải do lao động sản xuất của các trại tạm giam chủ yếu là nước thải từ chuồng trại chăn nuôi gia súc gia cầm, nhưng do diện tích chất hẹp, lượng nước cấp
và nguồn cấp còn thấp nên thành phần ô nhiễm cũng cao Chúng cũng không được
Trang 24xử lý (100 % số trại) mà đổ chung vào hệ thống thải Không phân luồng dòng thải như nước tắm giặt khỏi nước vệ sinh hầm cầu chiếm tỷ lệ 46 %
NTSH trại tạm giam có thành phần với các giá trị điển hình trung bình như sau: COD = 500 mgO2/L; BOD5 = 250 mgO2/L; Chất rắn lơ lửng=220mg/L; Phốtpho = 8 mg/L; và N-hữu cơ = 40 mg/L; pH = 6,8 Các giá trị về ô nhiễm có liên quan đến chất hữu cơ đều rất cao
Tình trạng không có hệ thống xử lý và nước thải chủ yếu được đưa thẳng vào
hệ thống thải của thành phố hoặc thải trực tiếp ra môi trường xung quanh không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh gây nên ô nhiễm nặng nề cho môi trường xung quanh Một số trại đã bị dân khu vực xung quanh khiếu kiện về tình trạng ô nhiễm do nước thải gây ra (tỷ lệ bị khiếu kiện chiếm tỷ lệ 6,5 % số trại được khảo sát)
1.4 Tổng quan về phân tích, đánh giá công nghệ môi trường
1.4.1 Tổng quan chung về đánh giá công nghệ môi trường
Hiện nay có 2 mô hình phổ được các nước tiên tiến trên Thế giới phát triển và
áp dụng để đánh giá công nghệ môi trường gồm mô hình EnTA (Environmental Technology Assessment) và ETV (Environmental Technology Verification)
Mô hình đánh giá công nghệ môi trường EnTA do chương trình môi trường Liên hợp quốc UNEP xây dựng và phát triển, được khuyến khích sử dụng tại các nước đang phát triển Mô hình này tập trung chủ yếu vào việc đánh giá lợi ích, hiệu quả môi trường của các công nghệ sản xuất hoặc công nghệ thân thiện với môi trường hơn là việc đánh giá các công nghệ môi trường
Mô hình đánh giá công nghệ môi trường ETV được sử dụng tại nhiều quốc gia phát triển (Anh, Mỹ, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản…) Mô hình này lần đầu tiên được Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (USEPA) phát triển vào năm 1995, được chia làm nhiều loại khác nhau như: Quy trình đánh giá các công nghệ quan trắc môi trường, công nghệ xử lý các chất thải rắn, nước thải, ô nhiễm không khí, cũng như quy trình đánh giá công nghệ phòng ngừa ô nhiễm môi trường
Thực tế cho thấy, mô hình ETV là mô hình tốt để đánh giá công nghệ môi trường nhằm cung cấp cho người sử dụng công nghệ, các nhà chính sách và các cơ
Trang 25quan hữu quan một cách tiếp cận để phân tích hiệu quả và lựa chọn công nghệ phù hợp nhất và tốt nhất trong việc bảo vệ môi trường
Sử dụng phương pháp để đánh giá công nghệ môi trường đem lại lợi ích to lớn cho Chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng như trong Bảng 1.4
Bảng 1.4 Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường
- Giảm ảnh hưởng xấu
đến sức khỏe công nhân
- Giảm phí y tế do tai nạn nghề nghiệp và ô nhiễm;
- Tránh chi phí làm sạch môi trường;
- Khả năng quy hoạch và quản lý môi trường tốt hơn;
- Duy trì hiệu quả kinh tế đang có trong việc sử dụng tài nguyên địa phương
- Chất lượng cuộc sống cao hơn;
- Hạn chế rủi ro, tai nạn nghề nghiệp;
- Giảm rủi ro ảnh hưởng sức khỏe do ô nhiễm công nghiệp;
- Duy trì các giá trị văn hóa, xã hội;
- Bảo đảm vệ sinh môi trường của cộng đồng
1.4.2 Hiện trạng đánh giá công nghệ môi trường trên Thế giới và ở Việt Nam
Trên Thế giới
Hiện nay trên Thế giới, quy trình thẩm định công nghệ môi trường ít được sử dụng rộng rãi do thị trường công nghệ môi trường được phát triển theo hướng kinh
tế thị trường nên người dùng sẽ cố gắng tìm hiểu và lựa chọn các công nghệ tốt nhất
và phù hợp nhất dựa trên các nhận xét mang tính chủ quan Bên cạnh đó, các nhà phát triển công nghệ môi trường thuộc các công ty hoặc nhà sản xuât luôn có xu hướng đưa ra các công nghệ tiên tiến hơn nữa nhằm cạnh tranh trên thị trường Vậy nên, thay vì thẩm định công nghệ môi trường, các nước trên Thế giới có
xu hướng đánh giá công nghệ môi trường Đánh giá công nghệ môi trường ở các nước trên Thế giới được sử dụng không mang tính chất bắt buộc đối với các nhà sản
Trang 26xuất công nghệ hoặc người sử dụng, việc đánh giá mang tính chất tự nguyện nhằm thúc đẩy việc lựa chọn và ứng dụng các công nghệ tốt nhất, phù hợp nhất với yêu cầu thực tiễn
Với mô hình đánh giá công nghệ môi trường ETV, Hoa Kỳ bắt đầu từ năm
1995, Hàn Quốc bắt đầu từ năm 1997, Canada năm 1997,… Hàng năm ở các nước này đã thực hiện chương trình đánh giá công nghệ môi trường với hàng trăm công nghệ xử lý chất thải được đánh giá, từ đó lựa chọn được công nghệ phù hợp góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, phát triển thị trường
Ở Việt Nam
Từ những năm 2005, Cục Bảo vệ môi trường thực hiện nhiệm vụ “Điều tra, đánh giá, bình chọn các mô hình xử lý chất thải làng nghề, bãi rác và một số ngành công nghiệp”, trong đó có sản phẩm “Dự thảo quy trình đánh giá công nghệ môi trường” Đây là bản dự thảo được xây dựng trên cơ sở tham khảo từ các quy trình của Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ cùng với cơ sở luật pháp và thực tiễn Việt Nam; Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ “Hoàn thiện quy trình xét chọn, đánh giá
và thẩm định công nghệ môi trường”, Cục Bảo vệ môi trường đã bước đầu đưa ra tiêu chí và phương pháp đánh giá công nghệ môi trường
Đến năm 2011, Tổng cục môi trường đã xây dựng tài liệu “Hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ XLNT và giới thiệu một số công nghệ XLNT đối với ngành chế biến thủy sản, dệt may, giấy và bột giấy”, trong tài liệu này đã đưa ra hướng dẫn cụ thể quy trình đánh giá sự phù hợp của công nghệ XLNT, theo đó, Tổng cục Môi trường đã tổng hợp và đề xuất các nhóm tiêu chí, thang điểm và cách cho điểm đối với các tiêu chí cụ thể khi đánh giá công nghệ XLNT như sau:
Nhóm các tiêu chí về kỹ thuật đóng vai trò quan trọng nhất, hơn các tiêu chí còn lại và được lượng hóa với số điểm là A/100 điểm;
Nhóm các tiêu chí về kinh tế đóng vai trò quan trọng thứ hai và được lượng hóa với số điểm là B/100 điểm;
Nhóm các tiêu chí về môi trường đóng vai trò quan trọng thứ ba và được lượng hóa với số điểm là C/100 điểm;
Trang 27Nhóm các tiêu chí về xã hội đóng vai trò quan trọng ít nhất và được lượng hóa với số điểm là D/100 điểm
Tổng giá trị: A + B + C + D = 100 điểm Trong 04 nhóm tiêu chí, các chỉ tiêu
cụ thể đối với mỗi nhóm tiêu chí có giá trị là Ai; Bj; Cp; Dq Tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng địa phương, Hội đồng đánh giá công nghệ có thể điều chỉnh các giá trị Ai; Bj; Cp; Dq cho phù hợp Trong đó:
n
A =∑Ai i=1
n
B = ∑Bj J=1
n
C = ∑Cp P=1
n D=∑Dq q=1 Việc đánh giá (cho điểm) công nghệ XLNT theo mỗi tiêu chí và chỉ tiêu (tối
đa hoặc trong thang điểm dao động) tùy thuộc vào các đặc điểm, thông số của hồ sơ thuyết minh công nghệ, khảo sát hiện trường và đánh giá kết quả vận hành thực tế tại hiện trường của hệ thống xử lý đang hoạt động
Bảng 1.5 Hệ thống các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải (Theo Tổng cục môi trường-Sổ tay tài liệu kỹ thuật)
TT Tiêu chí Phân loại Điểm tối
đa
khoảng dao động
1 Mức độ tuân thủ các quy định về xả thải (QCVN) A1 15
Cả 3 lần lấy mẫu, tất cả các chỉ tiêu đều đạt quy
1/3 lần lấy mẫu, có xác xuất ít nhất một chỉ tiêu
1/3 lần lấy mẫu, có xác xuất ít nhất hai chỉ tiêu
Cả 3 lần lấy mẫu, có xác suất ít nhất một chỉ tiêu
2 Hiệu quả của công nghệ
Hiệu quả xử lý đạt trên 80% (đối với ít nhất 5 chỉ
tiêu chính được lựa chọn phụ thuộc vào đặc tính
Trang 28Hiệu quả xử lý đạt 60-80% (đối với ít nhất 5 chỉ
tiêu chính được lựa chọn phụ thuộc vào đặc tính
3 Tuổi thọ, độ bền của công trình, thiết bị A 3 5
4 Tỷ lệ nội địa hóa của hệ thống máy móc, thiết bị A4 5
Toàn bộ thiết bị, linh kiện được sản
50% thiết bị, linh kiện được sản xuất
Toàn bộ thiết bị, linh kiện do nước
5 Khả năng thay thế linh kiện, thiết bị A5 5
Thiết bị, linh kiện có sẵn tại địa
Thiết bị, linh kiện không có sẵn tại
Thiết bị, linh kiện không có ở Việt
6
Khả năng thích ứng khi tăng nồng độ hoặc lưu
Hiệu quả xử lý không (hoặc ít) bị ảnh hưởng khi
nồng độ hoặc lưu lượng
Hệ thống chỉ có khả năng xử lý đúng
7
Thời gian xây dựng hệ thống (từ xây dựng đến
Thời gian xây dựng, lắp đặt và vận
Trang 29Thời gian xây dựng, lắp đặt và vận hành thử ở mức
độ cao (tốn nhiều thời gian)
Dao động từ 0-1điểm
8 Mức độ hiện đại, tự động hóa của công nghệ A8 3
Hệ thống công nghệ có mức tự động hóa trung bình Dao động từ
1-2 điểm
0-1 điểm
9 Khả năng mở rộng, cải tiến modul của công nghệ A9 2
Có khả năng lắp ghép, cải tiến modul
Không hoặc ít có khả năng lắp ghép
và cải tiến, mở rộng modul công nghệ
Dao động
từ 0-1 điểm
10
Thời gian tập huấn cho cán bộ vận hành hệ
thống xử lý nước thải cho
đến khi cán bộ vận hành thành thạo A10 3
từ 0-2 điểm
11 Chi phí xây dựng và lắp đặt thiết bị (tính theo
Trang 30Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa ở mức
Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa ở mức độ trung bình Dao động từ
3-6 điểm Chi phí bảo dưỡng, sửa chữa ở mức
độ cao
Dao động
từ 1-3 điểm
III Tiêu chí môi trường C 17
14 Diện tích không gian sử dụng của hệ thống C1 4
Hiệu quả sử dụng đất, không gian của
Hiệu quả sử dụng đất, không gian của
hệ thống công nghệ ở mức độ chưa hợp lý
Dao động từ 1-3 điểm
15 Nhu cầu sử dụng nguyên liệu và năng lượng C 2 4
Mức độ sử dụng hóa chất, năng lượng ở mức thấp
Mức độ sử dụng hóa chất, năng lượng ở mức trung
16 Khả năng tái sử dụng chất thải thứ cấp C 3 3
Có thu hồi, tái sử dụng nước thải, khí
Không hoặc ít có khả năng thu hồi,
tái sử dụng nước thải, khí thải cho mục đích sử
dụng khác
Dao động từ 0-2 điểm
Ít hoặc không có khả năng xử lý chất thải thứ cấp 0-2 điểm
18
Mức độ rủi ro đối với môi trường và giải pháp
phòng ngừa, khắc phục khi xảy ra sự cố kỹ thuật C5 3
Trang 3120 Khả năng thích ứng với các điều kiện vùng, miền D2 4
Sử dụng tốt trong các điều kiện vùng, miền khác
Chỉ sử dụng tốt trong điều kiện vùng, miền nhất
định
Dao động từ 0-3 điểm
21 Nguồn nhân lực quản lý và vận hành HTXLNT D3 3
Nhân lực quản lý và vận hành hệ thống gồm kỹ sư
Nhân lực quản lý và vận hành hệ
thống gồm kỹ sư kiêm nghiệm và công nhân
Dao động từ 1-2 điểm
Nhân lực quản lý và vận hành hệ thống chỉ có công
Mục đích của việc đánh giá sự phù hợp của công nghệ XLNT là lựa chọn được các công nghệ khuyến khích được áp dụng trong điều kiện Việt Nam Vì vậy, điều kiện bắt buộc để áp dụng là chỉ tiêu về “mức độ tuân thủ quy chuẩn Việt Nam”
về xả thải vào nguồn tiếp nhận, thuộc tiêu chí kỹ thuật, phải có số điểm ít nhất là 10 điểm ( ≥10) Việc phân loại, xác định sự phù hợp của các công nghệ XLNT (công
Trang 32nghệ khuyến khích áp dụng, có thể áp dụng hoặc không nên áp dụng) được áp dụng theo các điều kiện được trình bày trong Bảng 2.3
Bảng 1.6 Điều kiện áp dụng đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý Điều kiện bắt buộc Tiêu chí ≥ 10
Tổng điểm
Tổng điểm ≤ 50 Không nên áp dụng
50 < Tổng điểm < 70 Có thể áp dụng Tổng điểm ≥ 70 Khuyến khích áp dụng
1.5 Tổng quan điều kiện tự nhiên các khu vực thuộc phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng
Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng đóng quân tại xã Hòa Sơn, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, Huyện Hoà Vang nằm bao bọc quanh phía Tây khu vực nội thành của thành phố Đà Nẵng, có tọa độ từ 15055' đến 16013' độ vĩ Bắc và 107049' đến 108013' độ kinh Đông
+ Phía Bắc giáp: các huyện Nam Đông, A Lưới và Phú Lộc của tỉnh Thừa Thiên Huế;
+ Phía Nam giáp: Thị xã Điện Bàn, huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam;
+ Phía Đông giáp: Quận Cẩm Lệ, quận Liên Chiểu của thành phố Đà Nẵng + Phía Tây giáp: Huyện Đông Giang của tỉnh Quảng Nam;
Huyện Hòa Vang là huyện nông nghiệp của thành phố Đà Nẵng, diện tích đất tự nhiên là 73.488 ha (chiếm 74,8% diện tích của thành phố Đà Nẵng), Trong đó đất nông nghiệp 65.316 ha, đất phi nông nghiệp 7.271 ha và đất chưa sử dụng 901,7 ha Toàn huyện có 11 xã với 119 thôn, trong đó có 3 xã đồng bằng, 4 xã trung du, 4 xã miền núi [Số liệu năm 2014] Dân số 124.844 người, mật độ dân số 172 người/km2, trên địa bàn huyện có 03 thôn với gần 1.000 đồng bào dân tộc Cơtu (thôn Tà Lang), Giàn Bí (xã Hòa Bắc), thôn Phú Túc (xã Hòa Phú) và 01 thôn người Hoa sinh sống (thôn Trung Nghĩa, xã Hòa Ninh)
Khu vực Hòa Vang mang đầy đủ các đặc điểm khí hậu, địa hình chung của
thành phố Đà Nẵng như sau (Nguồn vi.wikipedia.org):
Trang 33Khí hậu: Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt
độ cao và ít biến động Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 28 - 300C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18 - 230C Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m, nhiệt độ trung bình khoảng 200C
Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11 trung bình từ 85,67 - 87,67 %; thấp nhất vào các tháng 6, 7 trung bình từ 76,67 - 77,33 % Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11 trung bình từ 550 - 1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23 - 40 mm/tháng
Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6 trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12 trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng
Địa hình: Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng vừa có núi, vùng núi cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500m, độ dốc lớn (> 400), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành phố
Hệ thống sông ngòi ngắn và dốc, bắt nguồn từ phía Tây, Tây bắc và tỉnh Quảng Nam
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn,
là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố
Trang 341.5.2 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên
Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên đóng quân tại phường NoongBua, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên
Phường NoongBua có diện tích 3,24 km2
, dân số khoảng 5000 người, đạt đến mật độ dân số 1543 người/km2 Khu vực của Trại tạm giam NoongBua mang các
đặc điểm khí hậu, địa hình Điện Biên như sau (Nguồn vi.wikipedia.org):
Địa hình: Điện Biên có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi dốc, hiểm trở và chia cắt mạnh.được cấu tạo bởi những dãy núi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với độ cao biến đổi từ 200 m đến hơn 1800 m Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông Ở phía Bắc có các điểm cao 1085 m, 1162
m và 1856 m (thuộc huyện Mường Nhé), cao nhất là đỉnh Pu Đen Đinh (1886 m) Ở phía Tây có các điểm cao 1127 m, 1649 m, 1860 m và dãy điểm cao Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo Xen lẫn với các dãy núi cao là những thung lũng, sông suối nhỏ hẹp và dốc phân bổ khắp nơi trong cả tỉnh Trong đó, cánh đồng Mường Thanh được tạo thành từ thung lũng Mường Thanh rộng hơn 150 km², là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh Điện Biên và cả khu vực Tây Bắc
Khí hậu: Điện Biên có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa đông tương đối lạnh và ít mưa; mùa hạ nóng, mưa nhiều với các đặc tính diễn biến thất thường; chịu ảnh hưởng của gió tây khô và nóng Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo dạng địa hình và theo mùa
Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21°C đến 23°C, nhiệt độ trung bình thấp nhất thường vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau (từ 14°C đến 18°C) Các tháng có nhiệt
độ trung bình cao nhất từ tháng 4 đến tháng 9 (25°C) chỉ xảy ra các khu vực có độ cao thấp hơn 500m Lượng mưa hàng năm trung bình từ 1500 mm đến 2500 mm, thường tập trung theo mùa, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau Độ
ẩm trung bình hàng năm từ 76 đến 84% Điện Biên có nhiều nắng, khoảng từ 1820 đến 2035 giờ/năm và từ 115 đến 215 giờ/tháng Các tháng có giờ nắng thấp là tháng
6 và tháng 7; các tháng có giờ nắng cao thường là các tháng 3, 4, 8 và tháng 9 Nhiệt độ thấp kỷ lục ở Điện Biên là - 4,2°C vào ngày 25 tháng
1 năm 2016 (trạm Pha Đin)
Trang 351.5.3 Điều kiện tự nhiên khu vực Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế đóng quân tại phường An Tây, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Khu vực của Trại tạm giam mang các
đặc điểm khí hậu, địa hình Thành phố Huế như sau (Nguồn vi.wikipedia.org):
Khí hậu: Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với Bắc Bộ và Nam Bộ,
vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các vùng và khu vực trong toàn tỉnh Huế có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuộc Phân loại khí hậu Köppen Mùa khô từ tháng Ba đến tháng Tám, với nhiệt độ khá cao từ 35 đến 40°C Mùa mưa từ tháng Tám đến tháng Giêng, với một mùa lũ từ tháng Mười, trở đi Nhiệt độ trung bình mùa mưa là 20°C, đôi khi thấp nhất là 9°C Mùa xuân kéo dài từ tháng Giêng đến cuối tháng Hai Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta
- Chế độ nhiệt: thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt
độ trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C - 25°C
Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C - 29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C
Mùa lạnh: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C - 22°C
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30 % lượng mưa cả năm Từ đó nâng độ ẩm trung bình của khu vực trong năm lên đến 85 –
- Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn
- Gió bão: Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính:
Gió mùa Tây Nam: Bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài
Trang 36Gió mùa Đông Bắc: Bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt
Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10
Địa hình: Phần lớn núi rừng nằm ở phía tây Những ngọn núi đáng kể là: núi Động Ngai cao 1.774m, Động Truồi cao 1.154m, Co A Nong cao 1.228m, Bol Droui cao 1.438m, Tro Linh cao 1.207m, Hói cao 1.166m (nằm giữa ranh giới tỉnh Quảng Nam), Cóc Bai cao 787m, Bạch Mã cao 1.444m, Mang cao 1.708 m, Động Chúc Mao 514m, Động A Tây 919m
Sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu Những sông chính là Ô Lâu, Rào Trang, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch, An Cựu, Nước Ngọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Sông Truồi, Đặc biệt có hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn nhất Đông Nam Á Và hai cửa biển quan trọng
là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền
Trang 37CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nước thải và hệ thống công nghệ XLNT đang vận hành tại Trại tạm giam thuộc Công an thành phố Đà Nẵng và Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Điện Biên;
- Nước thải và hiện trạng XLNT tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh Thừa Thiên Huế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập và tổng hợp số liệu, tài liệu thứ cấp
Kế thừa các kết quả khảo sát, nghiên cứu khoa học đã được công bố có liên quan đến khu vực nghiên cứu Các thông tin liên quan đến lượng nước thải phát sinh, lượng nước thải thực tế được thu gom, xử lý và các thông tin về công tác quản
lý hiện nay Đây là phương pháp thông dụng và thường xuyên được sử dụng khi cần
có thông tin về vấn đề nghiên cứu Tài liệu, số liệu được thu thập từ các cơ quan, ban ngành liên quan và từ thư viện, internet, …
2.2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Thu thập các dữ liệu về hiện trạng môi trường nước bên trong và xung quanh các cơ sở nghiên cứu tại: phường Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, phường NoongBua, thành phố Điện Biên và phường An Tây, thành phố Huế Việc khảo sát thực tế tại địa bàn nghiên cứu sẽ đánh giá hiện trạng môi trường nước các cơ sở này Phương pháp này nhằm kiểm chứng và so sánh lại mức độ chính xác của các tài liệu, số liệu, thông tin đã thu thập được
2.2.3 Phương pháp lấy mẫu, bảo quản và phân tích mẫu
Căn cứ theo sự ổn định tương đối của dòng thải, các mẫu sử dụng trong luận văn này đều là mẫu tổ hợp theo thời gian, lấy tại các thời điểm lưu lượng nước thải
ổn định như giờ trưa, chiều và tối Các tiêu chuẩn sử dụng trong lấy mẫu và bảo quản, phân tích mẫu như sau:
- TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) – Chất lượng nước – Phần 1: Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu;
Trang 38- Các mẫu nước được lấy và bảo quản theo TCVN 6663-3:2016 (ISO 5667-3: 2003) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu;
- TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10: 1992) - Chất lượng nước - Lấy mẫu Hướng dẫn lấy mẫu nước thải
Nước thải sau khi lấy mẫu được phân tích tại Phòng thí nghiệm hóa – lý và môi trường thuộc Viện kỹ thuật Hóa học, Sinh học và Tài liệu nghiệp vụ, Tổng cục
IV, Bộ Công an theo phương pháp tiêu chuẩn tương ứng được đưa ra trong Bảng 2.1 như sau
Bảng 2.1 Một số các phương pháp phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất
lượng môi trường nước
Trang 39Các tài liệu, số liệu và kết quả được tổng hợp theo các nội dung phù hợp của luận văn để có báo cáo hoàn chỉnh
2.2.5 Phương pháp tính toán
Trên cơ sở giải pháp công nghệ đề xuất, sẽ tính toán những thiết bị cần bổ sung, cải tiến hay thay thế Việc tính toán sẽ được áp dụng theo các công thức, quy chuẩn đã có trong các sách và những tài liệu hướng dẫn liên quan
2.2.6 Phương pháp phân tích đánh giá công nghệ
Để đánh hiệu quả của các công nghệ xử lý đang được áp dụng, có thể dùng phương pháp cho điểm theo từng nhóm tiêu chí Nghiên cứu tổng quan tài liệu cho thấy có nhiều điểm tương tự giữa các tiêu chí đưa ra từ các tác giả khác nhau để đánh giá tính khả thi và ổn định của công nghệ XLNT ở các vùng khác nhau Dựa vào điều kiện thực tế của Việt Nam 04 nhóm tiêu chí và 21 chỉ tiêu được sử dụng, lượng hóa để đánh giá theo hướng dẫn của Tổng cục môi trường trong sổ tay “Tài liệu kỹ thuật hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ XLNT và giới thiệu một số công nghệ XLNT đối với ngành Chế biến thủy sản, Dệt may, Giấy và bột
giấy” Việc hướng dẫn cụ thể như sau (Theo Tài liệu kỹ thuật Hướng dẫn đánh giá
sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải và giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải đối với ngành Chế biến thủy sản, Dệt may, Giấy và bột giấy, Hà Nội) :
Công nghệ phù hợp là công nghệ có thể đáp ứng các quy chuẩn/tiêu chuẩn về
xả thải và thích nghi của công nghệ đó đối với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội Công nghệ phù hợp có thể là công nghệ hiện đại hay đơn giản Như vậy, một công nghệ phù hợp trong bối cảnh phát triển bền vững là khi công nghệ này có chi phí thấp nhất (chi phí đầu tư và vận hành), khả thi về mặt kỹ thuật và pháp lý, đảm bảo
Trang 40hiệu quả xử lý ô nhiễm và được cộng đồng chấp nhận (Mara, 1996; Sarmento, 2001; Ujang & Buckley, 2002)
Việc chọn lựa công nghệ XLNT phù hợp được thực hiện dựa trên việc xem xét, đánh giá rất nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau Vấn đề được quan tâm hàng đầu trong việc lựa chọn công nghệ là bản chất ứng dụng công nghệ chẳng hạn công nghệ xử lý/ tái chế/ tái sử dụng,… tiếp theo đó các yếu tố ảnh hưởng bao gồm hiệu quả, chi phí, các yếu tố xã hội và thể chế cũng được quan tâm trong việc lựa chọn công nghệ xử lý thích hợp (Singhirunnusorn & Stenstrom, 2009)
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra những quan điểm khác nhau đối với đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý chất thải Theo Alaerts và cộng sự (1990), một hệ thống xử lý chất thải là khả thi nếu nó có hiệu quả về kinh tế, kỹ thuật, đáng tin cậy và có thể quản lý dễ dàng Dựa trên những thuật ngữ chung như trên, một vài tiêu chí mang tính khả thi được xác định như: (a) khả thi về môi trường; (b) đáng tin cậy; có thể quản lý về tổ chức và kỹ thuật;(d) nguồn chi phí và tài chính; và (e) có thể ứng dụng theo hướng tái sử dụng Mỗi tiêu chí được chia ra thành các chỉ tiêu khác nhau, các chỉ tiêu này cần được xem xét trong việc đánh giá tính ổn định của hệ thống Boshier (1993) nghiên cứu ba trường hợp ở New Zealand trong đó cộng đồng phải quyết định phương án công nghệ thích hơp để xử lý và thải bỏ bùn cống rãnh, ông kết luận rằng những tiêu chí hữu ích nhất để đánh giá các phương án công nghệ khác nhau là: (a) sự tham gia và cam kết của cộng đồng; (b) sự sẵn có của cơ sở hạ tầng kỹ thuật như có sẵn bãi đỗ để thải bỏ; (c) các khía cạnh văn hoá
và môi trường địa phương ; (d) các hiểm họa, rủi ro về môi trường; (e) chi phí; (f) các khía cạnh về kỹ thuật Trong các trường hợp nghiên cứu này, các yếu tố về điều kiện văn hoá môi trường địa phương đóng vai trò quyết định trong việc chọn phương pháp xử lý Dummade (2002) đề xuất nhiều chỉ thị để đánh giá tính ổn định của công nghệ ngoại nhập cho các nước đang phát triển và phân loại chúng thành sơ cấp và thứ cấp Khả năng thích ứng của một công nghệ với môi trường và xã hội được xem xét như chỉ thị sơ cấp, chỉ thị thứ cấp là một nhóm gồm bốn loại như sau: (a) ổn định về kỹ thuật ; (b) ổn định về kinh tế; (c) ổn định về môi trường và (d) ổn định về chính trị - xã hội Bằng cách nhận dạng và xác định các chỉ thị ổn định tại