Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác các dạng tài nguyên vùng cửa sông ngày càng đẩy mạnh nhưng không được đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG 3
1.1.1 Các khái niệm về cửa sông 3
1.1.2 Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam 4
1.1.3 Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt Nam 5
1.1.4 Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông – ven biển Việt Nam 6
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM 10
1.3 THỰC TRẠNG KHAI THÁC, VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM 15
1.3.1 Thực trạng khai thác 15
1.3.2 Khó khăn và thách thức 17
1.4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN 18
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TÀI LIỆU 18
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 19
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp 20
Trang 42.3.2 Phương pháp thu mẫu thực địa 20
2.3.3 Phương pháp định loại trong phòng thí nghiệm 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 31
3.2 ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ TẠI VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN 33
3.2.1 Tính đa dạng của khu hệ cá qua các bậc phân loại 33
3.2.2 Dạng sống và các nhóm sinh thái 44
3.2.3 Các loài cá quý hiếm tại khu vực nghiên cứu 45
3.2.4 Cá kinh tế 45
3.3 THỰC TRẠNG NGHỀ CÁ VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN 46
3.3.1 Khai thác thủy sản 46
3.3.2 Nuôi trồng thủy sản 51
3.3.3 Cơ sở dịch vụ và chế biến thủy sản 52
3.3.4 Thách thức đối với nguồn lợi cá vùng cửa Hội, Nghệ An 53
3.4 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP SỬ DỤNG HỢP LÝ VÀ CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN 55
3.4.1 Sử dụng hợp lý nguồn lợi cá 55
3.4.2 Các biện pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi cá 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
KẾT LUẬN 58
KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 1 MỘT SỐ HÌNH ẢNH THỰC ĐỊA - 1 -
PHỤ LỤC 2 HÌNH ẢNH CÁC LOÀI CÁ NẰM TRONG SÁCH ĐỎ 2007 - 2 -
PHỤ LỤC 3 HÌNH ẢNH MỘT SỐ LOÀI CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI 3
Trang 5-NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations
(Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Trữ lƣợng và khả năng khai thác hải sản ở vùng biển Nghệ An 31
Bảng 2 Danh sách các loài cá phân bố tại khu vực cửa Hội 33
Bảng 3 Tính đa dạng về bậc họ, loài của 9 bộ cá ở khu vực cửa Hội, Nghệ An 40
Bảng 4 Tỷ lệ các loài trong các họ cá tại khu vực nghiên cứu 41
Bảng 5 Danh sách các loài cá tại khu vực nghiên cứu ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 cần đƣợc bảo vệ 45
Bảng 6 Số lƣợng và công suất tàu thuyền qua một số năm của TX Cửa Lò 46
Bảng 7 Cơ cấu của các tàu cá của TX Cửa Lò tính tới tháng 12/2012 49
Bảng 8 Sản lƣợng và năng suất đánh bắt hải sản của TX Cửa Lò giai đoạn 2010 – 2013 50
Bảng 9 Diện tích, sản lƣợng NTTS của TX Cửa Lò 52
Trang 7TX Cửa Lò giai đoạn 2010 – 2013 50
Trang 8MỞ ĐẦU
Việt Nam có bờ biển dài 3260 km với hơn 100 cửa sông lớn nhỏ đổ ra biển
đã tạo nên vùng nước cửa sông rộng lớn, xuất hiện nhiều hệ sinh thái và sinh cảnh
đặc trưng Chính điều đó đã tạo nên ĐDSH cao cho vùng cửa sông – ven biển và
sự phong phú về thành phần loài, mở ra tiềm năng khai thác to lớn Một trong những nguồn lợi chiếm tỉ trọng lớn của vùng là sự đa dạng các loài cá Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác các dạng tài nguyên vùng cửa sông ngày càng đẩy mạnh nhưng không được đặt trong một quy hoạch tổng thể, dẫn tới những hậu quả sinh thái nghiêm trọng như hủy hoại nơi sống đặc trưng của nhiều loài, gây sự suy giảm tính ĐDSH, giảm sút nguồn lợi của các đối tượng khai thác có giá trị trong vùng cửa sông, đặc biệt là nguồn lợi cá Tình hình đó đặt ra cho ngành thủy sản nhiều thách thức để vừa có thể khai thác hợp lý, đồng thời phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản
Sông Lam (sông Cả) là con sông lớn nhất khu vực miền Trung chảy qua Nghệ An, Hà Tĩnh với chiều dài là 361 km, có diện tích lưu vực là 17.730 km2 Cửa Hội là cửa sông chính của sông Lam đổ ra Biển Đông, tại ranh giới tự nhiên của 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Địa danh cửa Hội là tên gọi chung của các phường Nghi Hải, Nghi Hòa và xã Nghi Xuân - nằm ở cực Nam của thị xã Cửa Lò Do là cửa sông lớn của tỉnh Nghệ An, nên vùng biển khu vực cửa Hội được đánh giá cao về nguồn lợi thủy sản cũng như điều kiện để phát triển nghề cá Nguồn lợi thủy, hải sản đã và đem lại những lợi ích to lớn phục vụ trực tiếp cho cuộc sống và phát triển kinh tế trong vùng Trước đây sản lượng khai thác thủy, hải sản tại khu vực cửa Hội khá cao, nhiều loài có giá trị kinh tế Trong những năm gần đây, do nhu cầu thực phẩm từ sức ép dân số, nhu cầu phát triển nhằm thỏa mãn tiêu dùng dẫn tới việc khai khác quá mức nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ngày càng gia tăng, chưa dựa trên cơ sở khoa học, không theo quy hoạch lâu dài, cùng với ô nhiễm môi trường đã làm suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật, phá hoại môi trường sống của nhiều loài thủy sinh vật, trong đó có cá Vấn đề này đặt ra thách thức đối với ngành thủy sản
Trang 9tỉnh Nghệ An, cần có những biện pháp để khai thác hợp lý nguồn thủy sản nói chung và cá nói riêng ở vùng cửa Hội Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai thác, sử dụng hợp lý
nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An”, nhằm mục đích:
1 Xác định được thành phần các loài cá ở khu vực nghiên cứu
2 Bước đầu tìm hiểu về thực trạng nghề cá trong vùng
3 Đề xuất các giải pháp nhằm khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi cá ở vùng cửa Hội, Nghệ An
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG
1.1.1 Các khái niệm về cửa sông
Từ cửa sông (estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm từ aestus là thủy triều, còn estuary là từ chỉ một dạng của lục địa, trong đó thủy triều đóng vai trò quan trọng trong đời sống và sự phát triển tiến hóa của vùng Bởi vậy, trong các từ điển người ta giải thích “cửa sông là cửa các con sông lớn có thủy triều” (từ điển Oxford) hoặc “một vùng gần bờ được khống chế bởi nước biển khi triều cao, một vùng biển được tạo thành bởi cửa một con sông” (Larouse) [24]
Theo quan điểm của các nhà địa mạo thì cửa sông là cửa của con sông mà ở
đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc là một thung lũng sông bị chìm ngập do mực nước biển dâng lên, thường có dạng hình phễu Những định nghĩa dựa trên các quan điểm riêng về địa mạo, địa chất, khí hậu… thường loại
bỏ nhiều nguyên tắc và các khuynh hướng thực dụng trong nghiên cứu khoa học ở các nước và các khu vực khác nhau trên thế giới [24]
Theo quan điểm động lực, D.W Pritchard (1967) cho rằng “Cửa sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong đó, nước biển hòa trộn có mức độ với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa” Tuy nhiên, theo định nghĩa này, các hệ cửa sông mù (blind estuary) và các cửa sông quá mặn (hyperhaline) bị loại trừ Do đó, J.H Day (1981) đã bổ sung và đề xuất một định nghĩa có nội dung rộng hơn: “Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong
đó độ muối biển đổi do sự hòa trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa” [22, 24]
Như vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở
đó luôn xảy ra hai quá trình trái ngược nhau là bồi tụ và bào mòn Hai quá trình này xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thủy triều, hải lưu) và các quá trình địa chất
Trang 11Vùng cửa sông không chỉ là nơi nước ngọt và nước mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất của nước, từ ngọt sang mặn Chính
vì vậy vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thủy văn sông sang chế độ thủy văn biển
1.1.2 Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam
Vùng cửa sông Việt Nam trải ra dọc bờ biển từ 8030’ đến 21030’ vĩ độ Bắc
và quanh các đảo, tạo nên vùng nước lợ rộng lớn với hàng loạt các hệ thống sông lớn nhỏ Hai hệ thống sông lớn nhất nước ta là hệ thống sông Hồng – Thái Bình và Cửu Long – Đồng Nai Các hệ thống sông của nước ta phần lớn đổ ra biển Đông theo hướng Tây Bắc, Đông Nam với mật độ khoảng 15 – 20km/cửa sông, trừ một số sông ở vùng Đông Bắc như Bằng Giang – Kỳ Cùng, là phụ lưu của sông Tây Giang (Trung Quốc) và các sông ở phía Tây Trường Sơn đổ vào sông Mê Kông Trong mạng lưới này, 90% là sông nhỏ, chỉ có 9 hệ thống sông lớn với diện tích lưu vực trên 10.000km2 như hệ thống sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai, sông Cửu Long 76% diện tích lãnh thổ nước ta thuộc các hệ thống sông này [24]
Các hệ thống sông miền Bắc hoạt động theo mùa, liên quan với chế độ mưa của toàn lưu vực Mùa mưa của các sông ở Bắc Bộ kéo dài từ tháng 6 – 10, muộn hơn đối với các sông ở phía Nam Ở thời kỳ này, lượng dòng chảy chiếm 75 – 90% tổng lượng nước và 90% tổng lượng bùn cát cả năm, làm cho vùng cửa sông bị ngọt hóa và mở rộng ra biển hàng chục cây số Ngược lại, vào mùa kiệt trong những tháng còn lại, lượng dòng chảy thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp Thủy triều còn đưa nước biển xâm nhập sâu vào lục địa theo các triền sông
Các hệ thống sông miền Trung đều ngắn và dốc ở phía thượng lưu, còn ở hạ lưu chảy trên dải đồng bằng hẹp, khá bằng phẳng Mùa lũ của các sông thường kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12 với lượng dòng chảy tập trung trong 3 tháng chiếm 50 – 70% tổng lượng nước cả năm Mùa kiệt bắt đầu mỗi nơi một khác: từ Hà Tĩnh đến bắc Thừa Thiên - Huế là các tháng 2, 3, 4 và 7, 8; còn từ nam Thừa Thiên – Huế đến Bình Định vào tháng 6, 7 Lượng dòng chảy lúc này chỉ chiếm 1 – 2% lượng
Trang 12dòng chảy năm Bởi vậy, vào mùa kiệt, ở vùng cửa sông và hạ lưu sông thuộc duyên hải miền Trung, nước thường bị mặn hóa Nhiều đoạn thấp của hạ lưu các sông ít nước, các thung lũng sông khô cạn, trên nhiều đoạn nước chỉ tồn tại ở các dòng chảy gốc [24]
Ở Nam Bộ, động lực chính để tạo nên vùng nước lợ và mở rộng châu thổ ra biển là hệ thống sông Cửu Long Vào lãnh thổ nước ta, sông chảy theo hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu rồi dồn nước ra biển đông qua 9 cửa Sông có lượng dòng chảy lớn, 550.109 m3 nước và từ 75 đến 100 triệu tấn bùn cát mỗi năm Mùa lũ bắt đầu từ tháng 7 và kéo dài đến tháng 11 Đỉnh lũ xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 với lượng dòng chảy chiếm 25 – 27% tổng lượng nước cả năm Ba tháng
có dòng chảy lớn nhất (60 – 65% tổng lượng nước) làm cho toàn vùng biển ven bờ
bị ngọt hóa Trong các tháng kiệt, lưu lượng sông rất thấp, khoảng 1700m3/s đã thu hẹp vùng cửa sông vào sát bờ, nước mặn theo thủy triều tràn vào các cửa sông rộng, xâm nhập rất sâu vào đất liền, nhất là nửa cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 4 Tháng chịu ảnh hưởng mặn ít nhất là tháng 10 Do đó, trong mùa khô, xấp xỉ 1,7 đến 2 triệu ha – chiếm 50% diện tích đất đai châu thổ sông Cửu Long bị mặn hóa do
sự xâm nhập mặn từ nhẹ tới nặng [24]
1.1.3 Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông – ven biển Việt Nam
Vùng cửa sông – ven biển là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhưng giàu có
về tài nguyên thiên nhiên, là bãi đẻ của nhiều loài động vật, là nơi ở vào giai đoạn sớm của nhiều giáp xác và cá biển Ở vùng ven biển đã xác định được khoảng 94 loài thực vật ngập mặn, 346 loài san hô, 794 loài cá biển, 639 loài rong và cỏ biển,
4971 loài động vật đáy… [22, 24]
Vùng cửa sông – ven biển là nơi có điều kiện sống đặc trưng tạo nên nhiều đặc sản như tôm, cua, sò, rong câu… Nhiều loài là mặt hàng có giá trị kinh tế, làm thực phẩm, làm cảnh… được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Trong
số đó cá, giáp xác, thân mềm và rong biển là những đối tượng có sản lượng lớn và đang được khai thác Cá ở vùng biển nông chiếm tới 80 – 90% tổng sản lượng cá
Trang 13khai thác được Riêng tôm, năm 1995 sản lượng là 19.000 – 24.000 tấn, cua ghẹ chiếm trên 3% tổng sản lượng hải sản khai thác [24]
1.1.4 Lịch sử nghiên cứu hệ sinh thái cửa sông – ven biển Việt Nam
Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
Những nghiên cứu trong giai đoạn này đều do các tác giả nước ngoài, được tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận về các lĩnh vực khoa học cơ bản như địa chất, hải dương, khí tượng – thủy văn, các quá trình động lực biển, nhất là sự trao đổi nước giữa biển Đông với Thái Bình Dương Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng được coi trọng nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa [11]
Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc được giải phóng, các hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển dần sang các nhà khoa học trong nước Nhiều công trình nghiên cứu lớn được ra đời như: chương trình Thuận Hải- Minh Hải, các đề tài thuộc chương trình 52.02, các chương trình Biển và các chương trình nghiên cứu Khoa học cơ bản qua các giai đoạn như 48.06, 48B, KT-
03, KHCN-06,…
Viện Nghiên cứu biển Hải Phòng vào những năm chiến tranh chống Mỹ (1972) đã tiến hành điều tra thành phần các loài thực vật nổi và động vật nổi ở vùng của sông thuộc hệ thống sông Hồng: cửa Ba Lạt, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy (Trưng Ngọc An và Hàn Ngọc Lương, 1980, Nguyễn Văn Khôi và Dương Thị Thơm, 1980, Nguyễn Văn Chung và nnk., 1973), nghiên cứu về thành phần các loài cá ở ven biển Quảng Ninh (Nguyễn Nhật Thi,1971), cá ở biển Nam Hà (Hồ Sỹ Bình, 1974) Sau năm 1975, các đề tài nghiên cứu độc lập hay đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu cấp nhà nước khác do Phân viện Viện Hải dương Hải Phòng hay Viện Tài nguyên và Môi trường biển hiện nay chủ trì cũng được tiến hành trên các địa bàn khác như đầm Cái Tráp (Trương Ngọc An và nnk., 1984), đầm phá Thừa Thiên - Huế (Chương trình KT-03) [11, 15]
Trang 14Các nghiên cứu của Viện Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng, Viện Hải dương học Nha Trang và các cơ sở khoa học khác trong nước về đa dạng sinh học và các lĩnh vực liên quan đến các quá trình tương tác sông - biển như đặc điểm địa mạo trầm tích (Nguyễn Đức Cự, 1985), hình thái phân bố trầm tích và đặc điểm bồi tụ bãi bồi ven biển huyện Kim Sơn (Trần Đình Lân và ct, 1991), đặc điểm cơ bản của các bồn tích tụ hiện đại tiêu biểu ở dải ven bờ tây vịnh Bắc
bộ (Trần Đức Thạnh, 1991), hiện trạng và nguyên nhân bồi xói dải ven bờ Việt Nam (Nguyễn Thanh Ngà - Chương trình KT-03) nghiên cứu quy luật và dự đoán
xu thế bồi tụ-xói lở vùng ven biển và cửa sông Việt Nam (Lê Phước Trình - Chương trình KHCN-06), các quá trình động lực cửa sông, bờ biển và hệ đầm phá (Nguyễn Văn Điệp, 1986-1990), địa mạo bờ biển Việt Nam (Lê Xuân Hồng
&Lê Thị Kim Thoa, 2007) [11]
Những vấn đề liên quan đến hoạt động của con người như khai thác các dạng tài nguyên (quai đê lấn biển, khai thác và nuôi trồng thủy sản, nạo vét luồng lạch phát triển giao thông, du lịch sinh thái biển), nhất là gây ô nhiễm môi trường vùng cửa sông ven biển được nhiều nhà khoa học quan tâm như hoạt động của đề tài thuộc các chương trình Thuận Hải-Minh Hải, KT-03, KHCN-07, 48-6: Ô nhiễm môi trường do sông thải ra (Phạm Văn Ninh, 1991-1995-Chương trình KT-03), Dynamics of the landscape and pollution of environment of coastal wetland of Hai Phong-Quang Ninh caused by human activities (Vu Trung Tang, 2000) thuộc chương trình KHCN-06 do Đặng Trung Thuân chủ trì (1997-1998); khảo sát và đánh giá các dạng tài nguyên sinh học nhằm tạo cơ sở khoa học phụ vụ cho khai thác, duy trì và phát triển tài nguyên (Huỳnh Quang Năng, Vũ Tự Lập & Vũ Trung Tạng - Chương trình Thuận Hải-Minh Hải); Huỳnh Quang Năng, Nguyễn Tác An, Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Đức Cự - Chương trình 48-06; Nguyễn Văn Điệp - Chương trình 48B; Đặng Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Phụng, Nguyễn Chu Hồi; Nguyễn Tác An - Chương trình KHCN-06; Nguyễn Văn Tiến, 1999, 2002; Hồ Ngọc Đại, 1998, 1999)… [11]
Trang 15Sau khi chuyển vào Nha Trang Viện Nghiên cứu biển nay là Viện Hải dương học, ngoài việc tham gia vào các chương trình Nhà nước, còn tiến hành nhiều đề tài độc lập khác, tập trung chính vào các thủy vực ven bờ như đầm Ô Loan (Bùi Văn Dương, Nguyễn Hữu Sửu, 1981; Nguyễn Văn Chung và Huỳnh Quang Năng, 1980); đầm Nha Phu Khánh Hòa (Nguyễn Ngọc Lâm và nnk.,2006); vịnh Bình Cang-Nha Trang (Nguyễn Văn Chung và nnk,1978); Văn Phong và Cam Ranh Khánh Hòa (Thái Ngọc Chiến và nnk.,2006), các rạn san hô ven bờ Nam Việt Nam (Võ Sỹ Tuấn và nnk., 1996)…
Trạm cá biển Hải Phòng hay Viện Nghiên cứu Hải sản hiện nay, ngoài sự tham gia vào các chương trình khảo sát lớn cấp nhà nước, trong những năm sau này còn tiến hành nhiều đề tài cấp Bộ có liên quan chặt chẽ với việc đánh giá nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ nhằm tạo cơ sở cho các quy hoạch khai thác, bảo tồn nguồn lợi và bảo vệ môi trường cũng như cho việc thiết lập các khu bảo tồn biển như nghiên cứu về động vật thân mềm (Nguyễn Quang Hùng, 2005), cá rạn san
hô biển Cát Bà-Hải Phòng (Lại Duy Phương, 2005), hiện trạng hệ sinh thái san hô
và tiềm năng bảo tồn biển quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh (Đỗ Văn Khương và nnk., 2005), rong biển thuộc vùng biển Cát Bà-Cô Tô (Đỗ Văn Khương và nnk., 2005); điều kiện môi trường và nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ tỉnh Thanh Hóa (Chu Tiến Vĩnh và nnk, 2001) Nguyên nhân gây tử vong cao cho trứng cá cá con ở một
số vùng ven biển Việt Nam (Nguyễn Khắc Bát, 2006), trứng cá cá con, tôm con ở vùng nước ven bờ đông và tây bán đảo Cà Mau (Nguyễn Quang Huy, 2004-2006), đánh gía nguồn lợi và sự phát triển của nghề cá nổi ven biển miền Trung và Nam bộ (Nguyễn Long và nnk., 2005) [11]
Các trường Đại học là những đơn vị rất tích cực triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về khu hệ động vật, thực vật (thực vật nổi, thực vật đáy, động vật nổi, động vật đáy, cá và các nhóm động vật có xương sống khác ), về nguồn lợi thủy sản cũng như các điều kiện môi trường cửa sông, đầm phá thuộc dải ven biển
từ bắc đến nam nhằm đề xuất cơ sở khoa học cho việc sử dụng tổng hợp tài nguyên cho phát triển bền vững Nghiên cứu đầu tiên về các loài cá nước lợ cửa sông (sông
Trang 16Ninh Cơ, Nam Định) có thể tìm thấy trong công trình của Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960), cá sông Bạch Đằng (Mai Đình Yên và Trần Định, 1969) Từ đầu những năm 1972, các đề tài khảo sát nghiên cứu về các loài cá cũng như thủy sinh vật và nguồn lợi hải sản cửa sông ven biển được triển khai bởi nhiều tác giả, song tập trung chủ yếu vào các cán bộ khoa học trường Đại học Tổng hơp Hà Nội (Vũ Trung Tạng, 1974-1976, 1977-1980, 1980-1985, 1996-2000, 2006-2008, cùng các công bố vào các năm 1977, 1999a, 1999b, 2005; Vũ Trung Tạng và nnk., 1978,
1981, 1988, 2007, 2008, 2008, 2009; Nguyễn Xuân Huấn, 1998-1999,
2004-2005, 2006-2008, 1998-1999) [11, 15]
Nghiên cứu về thảm thực vật ngập mặn và các nhóm động vật sống trong rừng hoặc các bãi triều lân cận có thể tìm thấy trong công trình của các cán bộ khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, trước hết là Trung tâm Nghiên cứu Hệ sinh thái Rừng ngập mặn như Phan Nguyên Hồng (1984), Phan Nguyên Hồng và Hoàng Thị Sản, (1993), Phan Nguyên Hồng và nnk (1999)., Nguyễn Hoàng Trí (1988, 2004), Ngô Văn Nhượng và Nguyễn Ngọc Khắc (2004), Ngo Van Nhuong and Kejti Wada (2004) [11]
Đối với khu vực cửa sông ven biển miền Trung có thể gặp các công trình của Đại học Tổng hợp Huế trước đây hay Đại học Huế hiện nay (Hoàng Đức Đạt và Võ Văn Phú, 1977; Phạm văn Miên và Nguyễn Mộng, 1982; Nguyễn Thị Phương Liên và nnk., 1981; Tôn Thất Pháp, 1993; Võ Văn Phú, 1995, 2001, 2004, 2003 [11, 15]
Trường Đại học Thủy sản Nha Trang hay Đại học Nha Trang hiện nay thường triển khai các nghiên cứu của mình trong các đầm phá Nam Trung Bộ như đầm Thị Nại (Nguyễn Chính, Ngô Anh Tuấn, 1982; Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982), đầm Nha Phu, Phú Khánh (Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982)…[11]
Nghiên cứu về đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển và đồng bằng Nam bộ có thể tìm thấy trong các công trình của Viện Nuôi trồng Thủy sản II cũng như các trường Đại học TP Hồ Chí Minh, Đại học Nông Lâm TP
Hồ Chí minh, đại học Cần Thơ, trong đó có các nghiên cứu về “Nguồn lợi động
Trang 17vật Hai vỏ (Bivalvia) ở vùng ven biển thị xã Bạc Liêu” (Dương Trí Dũng và Nguyễn Văn Thường, 2001), “Thực vật nổi (Phytoplankton) hạ lưu sông Cửu Long năm 1976-1979” (Trần Trường Lưu, 1979), về thủy sinh vùng cửa sông ven biển Tây thuộc bán đảo Cà Mau phục vụ yêu cầu phát triển thủy sản (Lương Văn Thanh
và Nguyễn Văn Khôi, 2002), “Điều tra nghiên cứu sử dụng hợp lí hệ sinh thái vùng cửa sông ven biển thuộc hệ thống sông Cửu Long để bảo vệ nguồn lợi và phát triển nuôi trồng thủy sản” (Trần Thanh Xuân và nnk.,1998) [11]
Các nghiên cứu về địa chất địa mạo thuộc các cửa sông và dải bờ biển Việt Nam được nhiều tác giả quan tâm, có thể gặp trong ấn phẩm của Lê Xuân Hồng &
Lê Thị Kim Thoa, 2007
1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI CÁ CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM
Theo Vũ Trung Tạng (2009), khu hệ cá của các cửa sông riêng biệt không đa dạng so với những vùng biển kế cận của chúng, dao động từ 70 đến 230 loài Khu hệ
cá toàn cửa sông dọc bờ biển nước ta là 615 loài, 120 họ, thuộc 29 bộ Trong đó có 5
bộ cá sụn (Chondrichthyes) với 11 họ và 26 loài, còn lại là đại diện của các nhóm cá xương, trong đó có trên 50 loài chưa xác định được tên khoa học, còn để ở dạng sp
Bộ cá lớn nhất trong khu vực là cá Vược (Perciformes), gồm 53 họ và 339 loài chiếm 44,17% số lượng họ và 55,12% số lượng loài Theo số lượng họ, bộ đứng sau đó lần lượt là Anguilliformes, Scorpaeniformes, Pleuronectiformes, nhưng giàu loài nhất sau
bộ cá Vược là Clupeiformes, Pleuronectiformes, Anguilliformes, Tetraodontiformes, Cypriniformes, Siluriformes, Scorpaeniformes Các bộ chỉ có 1 họ và 1 loài không nhiều, gồm bộ Lamniformes, Albuliformes, Gonorhynchiformes, Osteoglossiformes, Cyprinodontiformes, Beryciformes, Lophiformes, Zeiformes và Gasterosteiformes Những họ giàu loài nhất, từ 47 đến 19 loài theo thứ tự từ cao tới thấp như sau: Gobiidae (47 loài), Carangidae, Sciaenidae, Serranidae, Cyprinidae, Tetraodontidae, Cynoglossidae, Clupeidae và Engraulidae (19 loài) Những họ có 10 loài trở lên đóng góp 326 loài, chiếm gần 52% tổng số loài Trong thành phần khu hệ cá có khoảng 42
họ chỉ có 1 loài, chiếm 35% tổng số họ và 6,8% tổng số loài [24]
Trang 18Trong thành phần các loài cá dù có mặt một số đại diện cá nước ngọt hoặc biển ấm ôn đới, song khu hệ cá cửa sông nước ta vẫn là khu hệ cá biển nhiệt đới, bao gồm những loài thuộc biển kế cận, chịu được sự biến đổi nhanh chóng của độ muối ở những mức độ khác nhau và nằm trong thành phần các loài động vật thuộc tổng vùng nhiệt đới Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Những loài cá sống và xâm nhập vào vùng cửa sông đã trải qua quá trình thích nghi tiến hóa trong điều kiện môi trường rất biến động theo không gian và thời gian, nhất là sự biến đổi nhanh của độ muối [1, 24]
Dựa trên mối quan hệ với độ muối, khu hệ cá cửa sông có thể được chia thành bốn nhóm sinh thái chính sau đây [2,24]:
- Nhóm cá nước ngọt: gồm những loài có thể chịu được độ muối trên dưới 10 ‰ Những đại diện của nhóm này là một số loài thuộc họ Bagridae, Siluridae, Clariidae, Belontiidae, Adrianichthidae, Aplocheilidae… Chúng thường đông đúc vào thời kỳ mùa lũ hoặc khi nước ròng tại phần đầu vủa vùng cửa sông
- Nhóm cá biển: khá đa dạng, gồm cả những loài rộng muối và hẹp muối, trong chúng một số loài gặp ở độ muối 5‰ , còn một số đông loài ở độ muối 18 - 25‰ Không ít loài cá khơi điển hình thuộc các họ Carcharhinidae, Pristidae, Dasyatidae, Scombridae, Soleidae, Bothidae, Cynoglossidae… theo thủy triêu xâm nhập sâu vào các thủy vực nước ngọt để kiếm ăn Nhìn chung, nhóm này đa dạng về số lượng loài
và đông về cá thể, thường gặp ở cuối các cửa sông, nơi nước có độ muối cao và ổn định, đặc biệt vào thời kỳ mùa khô, khi lượng nước sông giảm Thực tế, từ vùng chuyển tiếp này ra khối nước ven bờ là nơi giàu có thức ăn, trở thành bãi kiếm mồi
và sinh sản của nhiều đàn động vật biển, trong đó kể cả cá
- Nhóm cá cửa sông chính thức: gồm những loài nước lợ ven biển thích ứng với nhịp điệu biến đổi nhanh của độ muối vùng cửa sông Cá cửa sông thuộc nhiều nhóm phân loại khác nhau, từ những đại diện của họ cá tiến hóa thấp như Albulidae, tới những họ cá bậc cao như Gobiidae, Bothidae, Cynoglossidae, Soleidae… Đại bộ phận các loài này là cá cỡ nhỏ, sống đáy Nhiều loài sống ổn định trong vùng, nhiều loài tiến hành di cư biển – sông, hoặc di cư sông – biển; một số loài coi vùng cửa
Trang 19sông là nơi sống bắt buộc trong những giai đoạn nhất định của đời sống, còn khi sinh sản lại rời khỏi cửa sông ra biển (Mugil, Chanos) hay vào nước ngọt như cá
Mòi cờ (Clupanodon thrissa), cá Cháy (Tenualosa reevesii) Phần lớn các loài cá
biển cũng như các nhóm động vật không xương sống khác sử dụng vùng cửa sông làm bãi đẻ và nuôi dưỡng con non; khi lớn lên chúng rời khỏi vùng cửa sông về nơi
cư trú thường xuyên của dạng trưởng thành
- Nhóm cá di cư có chu kỳ năm: gồm các loài cá nước ngọt như cá Chình (Anguilla
japonica, A marmorata, A malagumora, A bicolor bicolor) sống ở sông suối miền
Trung, đến kỳ sinh sản có tập tính di cư sông – biển để đẻ trứng ở vùng nước xa bờ Một số loài cá cửa sông như cá Mòi cờ, cá Cháy di cư ngược dòng vào vùng trung
hạ lưu hệ thống sông Hồng để sinh sản
Nếu xét sự phân bố theo chiều thẳng đứng, ta có thể chia cá ra làm hai nhóm chính là cá nổi và cá đáy
Cá nổi là nhóm bao gồm các loài cá sống ở tầng mặt và tầng giữa với các đại
diện thuộc các họ Carcharhinidae, Sphyraenidae, Clupeidae, Engraulidae, Chirocentridae, Atherinidae, Stromateidae, Carangidae…
Đặc điểm phân bố của nhóm cá này ở biển Việt Nam được khái quát như sau:
- Trong vịnh Bắc Bộ, cá nổi phân bố quanh năm Vào tháng 3 hàng năm các cá thể trưởng thành thường vào gần bờ để đẻ, trước tiên là ở vùng phía Nam vịnh, đến tháng 5 – 6 là ở khắp vịnh
- Vùng biển miền Trung do thềm lục địa hẹp, đường cùng độ sâu 100m đi sát bờ nên các đàn cá nổi thường tập trung rất gần bờ, trong các vịnh nhỏ như Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết Hơn nữa, vùng ngoài khơi ở Nam Trung Bộ xuất hiện hiện tượng nước trồi trong thời kỳ gió mùa Tây Nam hoạt động tạo nên sự phát triển mạnh của sinh vật nổi, lôi kéo các đàn cá, làm tăng sản lượng đánh bắt
- Vùng biển Đông Nam Bộ hình thành các khu vực tập trung cá ổn định trong các thời kỳ khác nhau của năm, nhất là ở vùng gần bờ từ Phan Thiết đến Vũng Tàu, vùng cửa sông Cửu Long, vùng biển gần Côn Đảo và vùng biển Cù Lao Thu
Trang 20Cá đáy gồm các loài cá sống ở tầng đáy hoặc tầng gần đáy Ở Việt Nam cá
đáy rất đa dạng và phong phú về loài, có giá trị kinh tế cao Các loài đánh bắt được chủ yếu có chiều dài khoảng 100 - 200mm, là đối tượng khai thác chủ yếu của nghề lưới kéo đáy như các họ cá Hồng (Lutjanidae), Phèn (Mullidae), Lượng (Nemipteridae), Sạo (Haemulidae), Mối (Synodontidae),… [2,14]
Các bãi cá đáy được khai thác chủ yếu ở vùng biển Việt Nam gồm: bãi cá Bạch Long Vĩ, bãi cá giữa vịnh Bắc Bộ, bãi cá Hòn Mê – Hòn Mát, bãi cá Hòn Gió – Thuận An, bãi cá phía Đông Bắc Đà Nẵng, bãi cá Nam Cù Lao Thu, bãi cá Côn Sơn, bãi cá ven bờ Tây Nam Bộ và bãi cá Tây Nam Phú Quốc [13]
Cá ở vùng thềm lục địa nước ta có những đặc điểm di cư và phân bố rất đặc trưng: hiện tượng di cư thẳng đứng theo chu kỳ ngày đêm ảnh hưởng đến thời điểm
và năng suất đánh bắt, theo đó, cá ở tầng đáy phân bố tập trung vào lúc bình minh
và ban ngày, giảm xuống vào lúc hoàng hôn và thấp nhất vào ban đêm Cá nổi lại tập trung và cho sản lượng khai thác cao vào ban đêm, đặc biệt là những đêm không trăng và vào thời kỳ nước kém Những loài có hiện tượng di cư ngày đêm là cá Nục, Trích, Chỉ vàng, Tráo, Bạc má, Mối, Liệt, Mú xám… Trong mối quan hệ với tuần trăng, cá tầng đáy cho sản lượng cao vào thời kỳ có trăng, nhất là những ngày trước khi trăng tròn Ngoài ra, các mối quan hệ của cá với nhiệt độ nước, dòng chảy, … cũng ảnh hưởng tới sự di cư của cá từ bờ ra xa và ngược lại [2, 14]
Cá cửa sông không thật đa dạng, song sự phát triển nghề cá dựa vào 2 nhóm chủ yếu là cá cửa sông chính thức và cá biển xâm nhập Cá cửa sông chính thức phần lớn có kích thước nhỏ đến trung bình, chỉ có giá trị kinh tế địa phương nhưng
ổn định, tạo ra sản lượng thường xuyên cho khai thác Cá biển xâm nhập thường xuất hiện trong những điều kiện xác định của vùng cửa sông để kiếm ăn hay sinh sản, gồm những loài có giá trị kinh tế cao cho nghề cá Những họ có nhiều loài đóng vai trò quan trọng trong nghề cá cửa sông là Megalopidae, Clupeidae, Engraulidae, Synodontidae, Ariidae, Mugilidae, Polynemidae, Hemirhamphidae, Centropomidae, Serranidae, Teraponidae, Apogonidae, Carangidae, Leiognathidae, Nemipteridae, Lutjanidae, Gerridae, Drepanidae, Haemulidae, Sciaenidae, Signanidae, Gobiidae,
Trang 21Paralichthyidae, Bothidae, Cynoglossidae,… Phần lớn các loài cá thuộc những họ trên là những loài thường xuyên có mặt trong vùng, một số ít xuất hiện có chu kỳ khi chúng xâm nhập vào vùng cửa sông để kiếm ăn hoặc để sinh sản Chúng có thể thuộc những loài cá biển khơi, cá rạn san hô hoặc ở đáy sâu xâm nhập vào để dinh dưỡng, đẻ trứng, tức là sử dụng vùng cửa sông cho một giai đoạn nhất định trong chu kỳ sống của mình vào những thời gian xác định như các đại diện thuộc Sphyraenidae, Choetodontidae, Pomacentridae, Labridae, Stromatoidae, Echeneidae, Scombridae, Meniddae, Monodactylidae, Ephippidae…Những đại diện của cá nước ngọt thích nghi với độ muối thấp chỉ sử dụng phần đầu của vùng cửa sông như một nơi kiếm ăn [24]
Nhiều loài cá cửa sông có giá trị kinh tế cao như cá Song vây cao
(Epinephelus maculatus), Song gió (Epinephelus awoara), Chim bạc (Monodactylus argenteus), Chim gai (Psenopsis anomala) Một số loài cá có liên quan tới rừng ngập mặn – “cá rừng ngập mặn” như một số đại diện của họ cá Đối (Mugilidae), họ cá Bống đen (Eleotridae), cá Chẽm (Lates calcarifer), Ngát (Plotosus anguillaris); một số khác có đời sống gắn liền với thảm cỏ biển - “cá
thảm cỏ biển” - như cá Đục bạc (Sillago sihama), Móm gai dài (Gerres filamentosus), Bướm cờ hai vạch (Heniochus acuminatus), các loài cá Đìa
(Siganus), [14]
Nhìn chung, một trong những tính chất của khu hệ cá Việt Nam là đa số các loài cá sống phân tán, ít kết đàn và nếu có sự kết đàn thì đàn cá cũng không lớn, độ tập trung không cao tại một ngư trường hẹp và cũng kém ổn định, dẫn đến các đàn
cá có kích thước nhỏ (khoảng 100 m2) chiếm khoảng 80%, các đàn cỡ vừa (1000
m2) chiếm 15%, còn các đàn cá lớn (10.000 m2) và rất lớn (trên 10.000 m2) chỉ chiếm khoảng 1% Do vậy, trong thành phần khai thác, các loài cá có tầm quan trọng kinh tế cũng chiếm tỷ lệ không cao, khoảng 10 - 20% [24]
Có thể khái quát những đặc điểm quan trọng của các loài hải sản nói chung
và cá nói riêng ở vùng biển Việt Nam như sau [2, 24]:
Trang 22- Số loài nhiều, số lượng cá thể cùng loài ít Do đó, nếu tập trung khai thác với cường độ cao trong một thời gian sẽ làm năng suất đánh bắt giảm sút đáng kể
- Gồm nhiều nhóm cá sinh thái: cá vùng khơi, cá thềm lục địa, cá cửa sông, cá nổi,
cá đáy, cá RSH
- Trừ các loài cá nổi đại dương như cá Thu, Ngừ, Chuồn, di cư xa, hầu hết các loài
có giá trị kinh tế đều là những đàn cá địa phương, ít di cư, chủ yếu tập trung sống ở các vùng nước có độ sâu dưới 200 m, nhất là các khu vực chịu ảnh hưởng của các con sông lớn, các vụng, vịnh ven biển Sự phân bố của các đàn cá có sự biến động theo mùa khí hậu: mùa đông có xu thế ra xa bờ và phân bố với mật độ dày ở vùng vĩ
độ thấp; mùa hè di chuyển vào gần bờ
- Nhiều loài cá nói chung hay cá kinh tế nói riêng có mùa đẻ nhiều đợt, kéo dài Bãi
đẻ chủ yếu ở các vùng nước nông ven bờ
Với những đặc điểm trên thì việc phục hồi đàn sẽ nhanh nhưng hiện tại các hoạt động khai thác và các hoạt động kinh tế khác đã và đang làm suy giảm nguồn lợi, ảnh hưởng tới môi trường sinh sống của các loài cá, kéo theo việc giảm năng suất và sản lượng đánh bắt
1.3 THỰC TRẠNG KHAI THÁC, VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM
1.3.1 Thực trạng khai thác
Nghề khai thác ở nước ta rất đa dạng phong phú với quy mô cũng như tên gọi Hiện tại, cả nước có trên 40 nghề khai thác thủy sản tập trung tại 5 nhóm nghề chính (lưới kéo, lưới rê, lưới vây, câu và lồng bẫy cố định) Tính đến hết năm 2007,
cả nước có 95.609 tàu hoạt động nghề cá, trong đó tàu khai thác hải sản là 83.250 chiếc, tàu làm công tác dịch vụ hậu cần nghề cá và kiểm ngư là 2.199 chiếc, với tổng công suất máy đạt trên 5,4 triệu CV Mặc dù phát triển nhanh chóng nhưng nghề khai thác hải sản nước ta vẫn còn mang nặng tính chất của nghề cá quy mô nhỏ Các tàu công suất máy nhỏ hơn 90 CV chiếm tới 84% tổng số tàu, 88% tổng số lao động hoạt động chủ yếu ở ven bờ Hầu hết các tàu đánh cá đều được đóng bằng
Trang 23gỗ, các máy tàu được sử dụng phần lớn là máy cũ hoặc dùng các máy ôtô vận tải hạng nặng đã cũ để lắp đặt Kết quả điều tra các tàu khai thác hải sản xa bờ cho thấy, số tàu lắp máy cũ chiếm tới 88,58% tổng số tàu khai thác xa bờ, trang thiết bị khai thác chưa đầy đủ nên khai thác kém hiệu quả Mặc dù nước ta có tới 700 cơ sở đóng tàu có khả năng đóng mới 4.000 chiếc/năm và sửa chữa 8.000 chiếc/năm nhưng lại rất thiếu những nhà máy đóng tàu hiện đại để đóng tàu cá bằng vật liệu kim loại hoặc các loại vật liệu mới Chưa kể, hầu hết các ngư cụ vẫn đang phải nhập khẩu do các cơ sở sản xuất trong nước không đáp ứng được về số lượng cũng như chất lượng [2, 13]
Cũng theo kết quả các chuyến điều tra từ năm 2000 đến 2005, tổng trữ lượng hải sản Việt Nam ước tính khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 2,8 tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng; trữ lượng cá đáy khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng; khả năng khai thác hải sản ở biển Việt Nam khoảng 1,8
- 2,2 triệu tấn, trong đó khoảng 1,7 triệu tấn ở ngoài khơi [13]
Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thì lượng hải sản đánh bắt đã tăng lên rất nhiều lần nhưng hiệu suất đánh bắt lại giảm rõ rệt Đây chính là yếu tố cho thấy nguồn hải sản trong vùng đặc quyền kinh tế của nước ta đang bị suy giảm Nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng này
là do quá trình đánh bắt gần bờ và kỹ thuật đánh bắt mang tính huỷ diệt cao vì sử dụng thuốc nổ hoặc các loại lưới đánh bắt có cỡ mắt nhỏ Kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy các hoạt động khai thác tài nguyên biển và đới bờ, tăng sức ép lên nguồn tài nguyên và môi trường biển, từ đó phát sinh mâu thuẫn giữa khai thác tài nguyên biển và đới bờ với bảo vệ môi trường Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường thì nguyên nhân quan trọng nhất chính là sự hiểu biết về bản chất tự nhiên cũng như những giá trị tài nguyên của con người còn hạn chế [2]
Như vậy, từ tỷ lệ cá khai thác của các vùng nước, từ cơ cấu ngư cụ và tàu thuyền, có thể nhận thấy, nghề cá nước ta là nghề cá nhỏ, nghề cá nhân dân; phương tiện khai thác còn mang tính truyền thống, rất lạc hậu Do đó khai thác tập trung chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển, chưa vươn tới được các vùng nước sâu, xa bờ
Trang 241.3.2 Khó khăn và thách thức
Một khó khăn là hạn chế về trình độ nhân lực làm cản trở cho quá trình chuyển đổi của ngành thuỷ sản Với trình độ học vấn thấp, ngư dân gặp khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật khai thác xa bờ Hệ quả tất yếu là
dù sản lượng khai thác hải sản liên tục tăng nhưng chất lượng sản phẩm khai thác được thường có kích thước nhỏ, có chất lượng thấp, tỷ lệ cá tạp cao Trong khi đó,
hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá vừa nhỏ bé, vừa manh mún khi cả nước chỉ
có 75 cảng cá, bến cá, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ ngành khai thác Mạng lưới chợ cá còn ở trạng thái đang phát triển, chưa có hình tức bán đấu giá tại chợ Việc mua bán, tiêu thụ cá ở các chợ cá phần lớn do các tư thương đảm nhiệm, nên hiện tượng “Trúng mùa rớt giá vẫn còn xảy ra’’ [13]
Sự mất cân đối giữa năng lực khai thác và khả năng hiện có của nguồn lợi vùng ven bờ ngày càng tăng, dẫn đến nguồn lợi ven bờ bị giảm dần, hiệu quả kinh
tế của hoạt động khai thác vùng biển ven bờ ngày càng thấp Trong khi đó, giá nhiên liệu và những chi phí đầu vào cho khai thác tăng không ngừng, đang gây ra những khó khăn lớn cho ngành khai thác hải sản Hiệu quả kinh tế của các hoạt động khai thác đang giảm dần nên các tàu cá buộc phải tận thu sản phẩm, từ đó dẫn đến giảm sút nguồn lợi thuỷ sản nghiêm trọng hơn Trong khi chúng ta chưa mở rộng được ngư trường xa bờ và công nghệ đánh bắt còn lạc hậu, thì đội tàu có công suất nhỏ lại phát triển nhiều, dẫn đến ngư trường ven bờ ngày càng bị thu hẹp Cả nước hiện có khoảng 95.609 chiếc tàu thuyền khai thác hải sản, nhưng lượng tàu có công suất lớn hơn 90 CV chỉ có khoảng 15 nghìn chiếc Số còn lại là tàu nhỏ tập trung vào khai thác bằng lưới rê, câu, mành, vây, chụp quanh quẩn ở ven bờ [13]
Tàu thuyền đóng mới tăng nhanh, nhưng chủ yếu là tàu nhỏ, không thể đánh bắt xa bờ và dài ngày trên biển nên ngư dân tập trung khai thác ven bờ Điều này dẫn đến cạn kiệt nguồn hải sản ven bờ Mặt khác, do cạn kiệt nguồn lợi thủy sản nên xuất hiện ngày càng nhiều hình thức đánh bắt hủy diệt nguồn lợi như xung điện, đánh mìn, giã cào [24]
Trang 251.4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VÙNG CỬA HỘI, NGHỆ AN
Cho tới nay có rất ít công trình nghiên cứu tách riêng cho thành phần loài cá vùng cửa Hội, chỉ mới có công trình của Nguyễn Thái Tự (1983) nghiên cứu khu hệ
cá lưu vực sông Lam Công trình đã xác định được 157 loài thuộc 52 họ và nằm trong 17 bộ (theo hệ thống phân loại của Lindberg) [29] Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chủ yếu tập trung thành phần loài cá nước ngọt Do vậy, để có số liệu về thành phần loài cá làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp bảo vệ, phục hồi số lượng của các loài và khai thác hợp lý nguồn lợi cá, cần có sự điều tra, đánh giá sự đa dạng của khu hệ cá ở vùng cửa sông này.
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, TÀI LIỆU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu là vùng cửa Hội, Nghệ An (Hình 1)
Nguồn: Google map 2014 Hình 1 Ảnh vệ tinh vùng cửa Hội, Nghệ An
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài cá thuộc vùng cửa Hội, Nghệ An cũng như thực trạng nghề cá tại khu vực này
2.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tiến thành 2 đợt thực địa để điều tra, khảo sát, thu thập mẫu vật
và các tài liệu liên quan:
- Đợt 1 từ ngày 20 – 26/8/2013
- Đợt 2 từ ngày 19 – 25/5/2014;
Trang 27Các mẫu cá được xử lý để chụp ảnh và được cố định bằng foocmon 8% hoặc cồn 700, sau đó được đem về phân tích tại phòng thí nghiệm Sinh thái học và Tài nguyên sinh vật, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sự sống, trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, ĐHQG Hà Nội – 334 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội trong thời gian từ tháng 9/2013 đến tháng 6/2014
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào tài liệu Hướng dẫn nghiên cứu cá
cá Prardin, 1973 [21]
2.3.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp
Sử dụng các tài liệu liên quan tới vùng nghiên cứu để tìm hiểu về điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội và những tư liệu có liên quan về nguồn lợi cá và thực trạng nghề cá của vùng cửa Hội, Nghệ An
2.3.2 Phương pháp thu mẫu thực địa
a Nguyên tắc thu mẫu
Vì thời gian thu mẫu ngắn, nên chúng tôi chủ yếu thu mua mẫu cá từ các thuyền đánh bắt cá ở khu vực nghiên cứu và tại bến cá Nghi Hải, các chợ cá xung quanh cửa Hội như chợ cá Mai Trang, chợ cá Đông Trang, các điểm bán cá trong ngày Thu mẫu tất cả các loài bắt gặp, đặc biệt thu số lượng nhiều với những loài
lạ, cỡ nhỏ hoặc khó phân biệt về hình thái Các mẫu cá trong vùng được kiểm tra kỹ càng về địa điểm, thời gian và loại nghề để chắc chắn chúng được khai thác ở vùng cửa Hội
b Cách thu mẫu, ghi nhãn mẫu, xử lý và bảo quản mẫu
Mẫu cá được chụp ảnh và đánh số tại thực địa
Dùng bút chì và giấy can ghi địa điểm thu mẫu, thời gian thu mẫu và đánh số tương ứng với ảnh chụp trước khi đưa mẫu cá vào lưu trữ trong thùng mẫu
Mẫu thu được bảo quản trong dung dich foocmon 8% hoặc cồn 700
Trang 28c Điều tra, phỏng vấn
Điều tra kỹ lưỡng qua người dân bằng cách mô tả chi tiết có kèm theo ảnh chụp hoặc hình vẽ riêng của từng loài cá Dựa vào những hiểu biết và kinh nghiệm của các ngư dân để xác định sự có mặt của một số loài cá không thu mẫu được, cũng như các thông tin về mùa sinh sản, giá trị kinh tế và kích thước cá khi bắt được, các loài đánh bắt được nhiều hoặc ít, công cụ đánh bắt, tần suất xuất hiện của các loài cá ở các mùa khác nhau trong năm
2.3.3 Phương pháp định loại trong phòng thí nghiệm
a Hệ thống và phương pháp phân loại
Các mẫu được tiến hành định loại bằng phương pháp phân tích, so sánh hình thái Một số ít loài có kích thước lớn, dễ nhận biết thì không thu mẫu mà được xác
định trực tiếp ngay tại thực địa
Tài liệu chính được sử dụng trong định loại là: “FAO species identification guide for fishery purposes – The living marine resources of Western Central Pacific Vol 3, 4, 5, 6” của FAO và “Fishes of Japan – with pictorial keys to the species, English edition – vol I, II” của Tetsuji Nakabo (2002); “Fishes of the Cambodian Mekong, FAO, Rome” của Rainboth (1996); “Ngư loại phân loại học” của Vương
Dĩ Khang, 1962 (Nguyễn Bá Mão dịch) cùng một số tài liệu khác [12, 31, 32, 33, 34] Ngoài ra, phần mềm FISHBASE 2004 [36] và trang web http://fishbase.org [37] cũng được sử dụng để tham khảo khi xác định các nhóm sinh thái và kiểm tra lại các loài cá đã định loại
Tài liệu "Catalog of Fishes - Vol 1, 2, 3" của Eschmeyer W N và phiên bản điện tử cập nhật 2013 được sử dụng để kiểm tra, khẳng định tên Latinh (tên khoa học) và sắp xếp hệ thống [35, 38, 39] Tên tiếng Việt (tên phổ thông) được xác định chủ yếu theo các quyển “Danh lục cá biển Việt Nam - Tập I, II, III, IV và V” của Nguyễn Hữu Phụng (Chủ biên), “Ngư loại phân loại học” của Vương Dĩ Khang (1962) và một số tài liệu khác [12, 16, 17, 18, 19, 20, 28]
Trang 29b Một số dấu hiệu dùng trong phân loại
Các đặc điểm hình thái được dùng khi định loại (hình 2, 3, 4):
+ Các số đếm khác: Số lượng râu, số lược mang ở cung I, số tia màng mang, số lượng lỗ mang lộ ra bên ngoài
Nhìn chung các dấu hiệu số đếm cũng có phạm vi biến đổi nhưng ổn định hơn dấu hiệu tỷ lệ số đo Có rất nhiều dấu hiệu đếm được dùng để giám định phân loại
cá khá tốt Nhiều dấu hiệu có tính ổn định cao như vây hậu môn có 3 gai cứng ở phần lớn các loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes)
Chỉ tiêu đo: Chiều dài thân, đầu và mõm, khoảng cách trước vây lưng, giữa hai ổ mắt, đường kính mắt, chiều dài cuống đuôi, chiều cao thân lớn nhất và nhỏ nhất, tính tỷ lệ giữa các số đo
Số đếm các vây và vẩy theo kí hiệu:
- D: Kí hiệu vây lưng, viết tắt của chữ Doral Fin
- A: Kí hiệu vây hậu môn, viết tắt của chữ Anal fin
- P: Kí hiệu vây ngực, viết tắt của Pectoral fin
- V: Kí hiệu vây bụng, viết tắt của Ventral fin
- C: Kí hiệu vây đuôi, viết tắt của Caudal fin
- L1 = x 𝑢
v y Trong đó:
- L1: Kí hiệu số đếm vẩy đường bên, viết tắt của chữ Lateral Line
- x là số lượng vẩy đường bên nhỏ nhất
- y là số lượng vẩy đường bên lớn nhất
- u là số lượng hàng vẩy trên đường bên
Trang 30- v là số lượng hàng vẩy dưới đường bên
Đối với cá có hai vây lưng
- D1 là kí hiệu vây lưng thứ nhất
- D2 là kí hiệu vây lưng thứ hai
Kí hiệu các chỉ tiêu đo như sau:
- L0: Chiều dài mình bỏ vây đuôi
- L: Chiều dài toàn thân cá
- Lc: Chiều dài Smith, từ mõm đến chẻ vây đuôi
- H: Chiều cao lớn nhất của thân
- h: Chiều cao nhỏ nhất của thân
- hD: Chiều cao vây lưng
- hA: Chiều cao vây hậu môn
- hP: Chiều cao vây ngực
- hV: Chiều cao vây bụng
- lD: Chiều dài gốc vây lưng
- lA: Chiều dài gốc vây hậu môn
- a: Chiều dài đầu
- b: Chiều dài mõm
- c: Đường kính mắt
- e: Chiều dài cuống đuôi
Các số đo và đếm được xác định trên nhiều cá thể của cùng một loài Sử dụng các dụng cụ: thước đo độ dài, compa, kim, mũi mác, dao mổ, panh, etyket, ghim mẫu…khi định loại mẫu cá
Trang 31
Hình 2 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định
loại cá Vây tia (cá Xương) [33]
Trang 32Hình 3 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và
các kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) [33]
Trang 33Hình 4 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) [33]
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Cửa Hội là cửa sông lớn nhất của Nghệ An, Hà Tĩnh Bờ phía trái sông thuộc địa phận tỉnh Nghệ An, còn bờ phía phải thuộc địa phận Hà Tĩnh Cửa Hội là tên gọi chung của các phường Nghi Hải, Nghi Hòa và xã Nghi Xuân - nằm ở cực Nam của thị xã Cửa Lò Diện tích tự nhiên của vùng là 1564,42 ha (trong đó phường Nghi Hải là 522,66 ha, Nghi Hòa là 418,84 ha và xã Nghi Xuân là 622,92 ha)
Vùng cửa Hội nằm trong khoảng 18045’06’’ đến 18046’03’’ vĩ độ Bắc,
105043’31’’ đến 105044’46’’ kinh độ Đông
Phía Bắc giáp Nghi Hương, thị xã Cửa Lò
Phía Nam giáp sông Lam và tỉnh Hà Tĩnh
Phía Đông giáp biển Đông
Phía Tây giáp huyện Nghi Lộc
3.1.1.2 Khí hậu [4]
Cửa Hội nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình là 23 - 240C, sự chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao Nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 6, tháng 7) là 330C, nhiệt độ cao tuyệt đối là 42,7 0C; nhiệt độ trung bình các tháng lạnh nhất (tháng 12 đến tháng 2 năm sau) là 190C Số giờ nắng trung bình/năm là 1.500 - 1.700 giờ Tổng tích ôn là 3.5000C - 4.0000C
Chế độ mưa: lượng mưa bình quân hàng năm dao động từ 1.200 -
2.000mm/năm, phân bố cao dần từ Bắc vào Nam và từ Tây sang Đông và chia thành hai mùa rõ rệt:
Trang 35- Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ chiếm từ 15 - 20% lượng mưa cả năm, tháng khô hạn nhất là tháng 1 và 2 lượng mưa chỉ đạt từ 7 - 60mm/tháng
- Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa tập trung chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm, tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9 có lượng mưa từ 220 - 540mm/tháng Mùa này thường kèm theo áp thấp nhiệt đới và bão
Độ ẩm không khí: trị số độ ẩm trung bình hàng năm dao động từ 80 - 90%
Độ ẩm không khí cũng có sự chênh lệch giữa các vùng và theo mùa Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới 18 - 19%
Chế độ gió: vùng cửa Hội chịu ảnh hưởng của hai mùa gió chủ yếu là: gió
mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam
- Gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện vào mùa Đông từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, bình quân mỗi năm có khoảng 30 đợt gió mùa Đông Bắc, mang theo không khí lạnh, khô làm nhiệt độ giảm từ 5 – 100C so với nhiệt độ trung bình năm
- Gió phơn Tây Nam là một loại thời tiết đặc trưng cho mùa hạ của vùng Bắc Trung
Bộ Loại gió này thường xuất hiện ở Nghệ An vào tháng 5 đến tháng 8 hàng năm Gió Tây Nam gây ra khí hậu khô, nóng và hạn hán, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt đời sống của nhân dân trong khu vực nghiên cứu
Bên cạnh những yếu tố chủ yếu như nhiệt độ, lượng mưa, gió, độ ẩm không khí, cửa Hội còn là khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới Trung bình mỗi năm có 2 – 3 cơn bão, mùa bão thường vào tháng 8 – 10 Bão về kèm theo mưa lớn cùng với sự tàn phá của sức gió, gây ra lũ lụt và nhiều thiệt hại lớn
3.1.1.3 Thủy, hải văn
Thủy triều: chế độ thủy triều ở vùng cửa Hội là chế độ bán nhật triều không
đều Hằng tháng có gần nửa số ngày có 2 lần nước lớn, 2 lần nước ròng trong ngày, các ngày này thường xảy ra thời kỳ nước triều kém Triều dâng nhanh, thời gian dâng không quá 10 giờ, tốc độ nước dâng 0,2 – 0,25m/giờ Thời gian triều rút kéo
Trang 36dài khoảng 14 giờ Mức triều cao nhất là 0,5m, thấp nhất là 1,9m Biên độ thủy triều cao nhất là 2,3 đến 2,4m, triều lên mạnh nhất vào tháng 10, 11, 12 [8]
Sóng biển: chủ yếu theo hướng Bắc và Đông, khi vào gần bờ thì chuyển
hướng sang Đông và Đông Bắc Khi thủy triều lên nếu gặp bão, sóng dâng rất cao (sóng thần), đã có lúc sóng dâng tới 12 m
Chế độ dòng chảy: mang tính chất mùa rõ rệt Dòng chảy phụ thuộc chủ yếu
vào lượng mưa từ thượng nguồn đổ về Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 – 10, lũ lớn nhất thường vào tháng 8 – 9 Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 tới tháng 4 năm sau Vào mùa lũ, lượng dòng chảy chiếm 60 – 75% lượng dòng chảy năm Mùa khô chiếm 25 – 40 % lượng nước dòng chảy; tháng 2 và 3 có lượng dòng chảy nhỏ nhất, chỉ từ 7 – 10%
Nhiệt độ nước và một số chỉ tiêu thủy lý, thủy hóa [8]:
- Nhiệt độ nước: nhiệt độ trung bình của nước mặt trong vùng cửa Hội dao động
trong khoảng 23,30C đến 28,90C Vào mùa khô, nhiệt độ trung bình (dao động 23,30C – 25,50C) thấp hơn mùa mưa (dao động từ 27,90C – 28,90C)
- Hàm lượng oxy hòa tan (DO): hàm lượng trung bình của oxy hòa tan trong vùng
cửa Hội dao động từ 5,0 đến 6,6 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép đối với thủy sinh vật và nuôi trồng thủy sản Vào mùa khô, hàm lượng DO trung bình của nước
dao động từ 5,8 – 6,6 mg/l và luôn cao hơn mùa mưa (dao động từ 5,0 – 5,5 mg/l)
- Độ muối: độ muối vùng cửa Hội chịu sự chi phối bởi mối tương tác giữa khối
nước ngọt (sông Lam) và khối nước mặn (vịnh Bắc Bộ) Mùa mưa, khối nước ngọt xâm lấn vùng cửa sông làm độ muối giảm, chỉ dao động từ 0,5‰ – 0,8‰ Mùa khô, khối nước mặn lấn áp khối nước ngọt làm độ muối tăng lên, dao động từ 0,7‰ – 15,5‰
3.1.1.4 Địa chất
Địa hình vùng cửa Hội có đặc trưng địa hình núi thấp và đồi, đồng bằng chiếm khoảng 13% diện tích Độ cao bình quân của toàn lưu vực khoảng 290m, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Đông Nam và từ Tây Nam đến Đông Bắc
Trang 373.1.1.5 Nguồn lợi sinh vật cửa sông – ven biển
Hiện nay chưa có tài liệu thống kê về nguồn lợi thủy sản riêng cho vùng cửa Hội, mới chỉ có số liệu tổng hợp chung cho vùng cửa sông – ven biển của cả tỉnh Nghệ An [10]:
a Sinh vật phù du
Về thực vật nổi (Phytoplankton) ở 6 cửa sông ven biển thuộc Nghệ An đã xác định được 55 loài, thuộc 5 ngành: tảo Silic (Bacillariophyta), tảo Lục (Chlorophyta), tảo Lam (Cyanophyta), tảo Giáp (Pyrophyta) và Mắt (Eulenophyta) Ngành tào Silic có số loài chiếm ưu thế tuyệt đối với hơn 80% tổng số thực vật nổi
đã được phát hiện
Động vật nổi (Zooplankton) đã xác định được 48 loài, chủ yếu thuộc nhóm động vật giáp xác chân mái chèo, nhóm này quyết định mật độ số lượng động vật phù du Khối lượng động vật nổi ở biển Nghệ An lớn nhất vào mùa hè, các mùa khác có biển đổi nhưng không đáng kể
b Rong biển
Ở vùng cửa sông, ven biển, bãi triều và vùng nước lợ của Nghệ An đã phát hiện
và xác định được 55 loài, thuộc 27 giống của 4 ngành rong gồm: Lam, Lục, Nâu và
rong Đỏ
c Nhuyễn Thể
- Nhóm Ốc: có giá trị kinh tế ở vùng biển Nghệ An như ốc Hương, ốc Tù và, ốc Bù giác, ốc Lông, ốc Gai Trong đó, ốc Hương là loài kinh tế nhất và có phạm vi phân
bố rộng, phân bố chủ yếu ở vùng biển Diễn Châu
- Nhóm 2 mảnh vỏ: gồm các loài giá trị kinh tế như: Hàu, Vẹm, Sò Lông, Ngao, Điệp
- Nhóm Mực: Mực phân bố rộng trên khắp vùng biển Nghệ An, gồm: mực Ống 10 loài, mực Nang 10 loài Trữ lượng Mực ước tính 3.000 tấn, khả năng khai thác 1.500 tấn/năm,
nhưng chỉ có một số nhóm loài đạt sản lượng cao: mực cơm, mực ống và mực nang… Mực phân bố ở vùng độ sâu trên 40 mét chiếm tới 63%