1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học NGUYỄN MAI PHONG

87 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Đánh Giá Công Nghệ Hệ Thống Xử Lý Nước Thải Một Số Bệnh Viện Tuyến Huyện Tại Tỉnh Nghệ An Và Đề Xuất Phương Án Nâng Cao Hiệu Quả
Tác giả Nguyễn Mai Phong
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Thị Hà, TS. Nguyễn Thanh Hà
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Nguyễn Mai Phong KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN TẠI TỈNH NGHỆ AN VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN NÂNG CAO HIỆ

Trang 1

Nguyễn Mai Phong

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN TẠI TỈNH NGHỆ AN

VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN NÂNG CAO HIỆU QUẢ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Nguyễn Mai Phong

KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CÔNG NGHỆ

HỆ THỐNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN TẠI TỈNH NGHỆ AN

VÀ ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN NÂNG CAO HIỆU QUẢ

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Hà

TS Nguyễn Thanh Hà

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này Tôi

đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng tận tình của gia đình, bạn bè, thầy cô và các cơ

sở đào tạo

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Hà, là giáo viên hướng dẫn chính và TS Nguyễn Thanh Hà cán bộ đồng hướng dẫn, đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Môi trường – Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung và Bộ môn Công nghệ Môi trường nói riêng đã giảng dạy và trang bị cho tôi những kiến thức quý giá trong suốt khóa học

Trong quá trình nghiên cứu của mình, tôi đã nhận được nhiều sự hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi, hợp tác của cán bộ, nhân viên các cơ sở bệnh viện, bệnh viện

Đa khoa huyện Nghi Lộc, bệnh viện Đa Khoa huyện Yên Thành, bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò

Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè về sự chia sẻ, động viên, khuyến khích trong suốt quá trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Tác giả

Nguyễn Mai Phong

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về nước thải bệnh viện 3

1.1.1 Nguồn gốc phát sinh và thành phần nước thải bệnh viện 3

1.1.2 Đặc điểm ô nhiễm nước thải bệnh viện 6

1.2 Tổng quan về công nghệ xử lý nước thải bệnh viện 13

1.2.1 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện trên Thế giới 13

1.2.2 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện đang được áp dụng tại Việt Nam 15

1.3 Đánh giá công nghệ áp dụng trong xử lý nước thải 30

1.3.1 Tổng quan chung về đánh giá công nghệ môi trường 30

1.3.2 Hiện trạng đánh giá công nghệ môi trường trên Thế giới và Việt Nam 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng nước thải tại bệnh viện tuyến huyện Nghệ An 41

3.2 Kết quả điều tra khảo sát hiện trạng hệ thống xử lý nước thải tại bệnh viện huyện Nghệ An 43

3.2.1 Hiện trạng hệ thống xử lý nước thải bệnh viện 43

3.2.2 Công nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện tại bệnh viện thị xã Cửa Lò 49

3.3 Kết quả đánh giá công nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 52

Trang 5

3.3.1 Các tiêu chí về kỹ thuật 52

3.3.2 Các tiêu chí về kinh tế 55

3.3.3 Các tiêu chí về môi trường 60

3.3.4 Các tiêu chí về xã hội 62

3.3.5 Lượng hóa các tiêu chí đánh giá 63

3.4 Một số đề xuất giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý bệnh viện 65

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 74

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DO

ĐL

Oxi hòa tan Định lượng KPH

HTXLNT

Không phát hiện

Hệ thống xử lý nước thải MBR Hệ phản ứng sinh học kết hợp lọc màng

VSV USEPA

Vi sinh vật

Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn nước cấp và lượng nước thải bệnh viện 5

Bảng 1.2 Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện 8

Bảng 1.3 QCVN 28:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế 12

Bảng 1.4 Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối với khu dân cư xung quanh 17

Bảng 1.5 Tổng hợp các ưu, nhược điểm của công nghệ xử lý nước thải bệnh viện 28 Bảng 1.6 Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường 31

Bảng 1.7 Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải 36

Bảng 3.1 Thông tin chung về bệnh viện 43

Bảng 3.2 Thông tin chung về đặc điểm hệ thống xử lý nước thải bệnh viện 49

Bảng 3.3 Kết quả phân tích các chỉ tiêu nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 53

Bảng 3.4 Tổng năng lượng tiêu thụ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 56

Bảng 3.5 Chi phí sử dụng hóa chất của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 57

Bảng 3.6 Chi phí nhân công vận hành hệ thống xử lý nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 57

Bảng 3.7 Tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của hệ thống xử lý nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò 58

Bảng 3.8 Kết quả đánh giá các ô nhiễm thứ cấp của hệ thống xử lý nước thải 61

Bảng 3.9 Lượng hóa tính phù hợp của hệ thống xử lý nước thải 63

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ xử lý bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên 18

Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ cụm thiết bị hợp khối CN-2000 21

Hình 1.3 Thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (Hệ thống Johkaso) 24

Hình 1.4 Các bước xử lý nước thải của DEWATS 26

Hình.3.1 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa huyện Nghi Lộc 44

Hình.3.2 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa huyện Yên Thành 47

Hình.3.3 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò 50

Hình 3.2 Thông số ô nhiễm nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

Hệ thống các bệnh viện, cơ sở y tế ở Việt Nam đang từng bước góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân Bên cạnh những mặt tích cực mà các cơ sở y tế đem lại quá trình hoạt động của các cơ sở này cũng đang làm tăng nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Số lượng bệnh viện tăng đồng nghĩa với việc thải vào môi trường một lượng lớn các chất thải y tế nguy hại, đặc biệt là nước thải bệnh viện là một trong những vấn đề đang được rất quan tâm hiện nay Nước thải bệnh viện phát sinh từ nhiều nguồn khác nhau trong quá trình hoạt động của bệnh viện như: máu, dịch cơ thể, giặt quần áo bệnh nhân, khăn lau, chăn màn cho các giường bệnh, súc rửa các vật dụng y khoa, xét nghiệm, giải phẫu, sản nhi, vệ sinh, lau chùi làm sạch phòng bệnh… Đặc điểm của các loại nước thải này

là chứa nhiều tạp chất, chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và đặc biệt là vi trùng gây bệnh Loại nước thải này nhất thiết phải được xử lý và khử trùng trước khi thải vào môi trường

Hiện trên địa bàn toàn tỉnh Nghệ An (năm 2012), có tổng 6651 giường bệnh, đạt 20,6 giường bệnh/vạn dân, gồm 29 Bệnh viện công lập (12 Bệnh viện tuyến tỉnh, 17 Bệnh viện tuyến huyện, 4925 giường bệnh) Theo kế hoạch năm 2015 toàn tỉnh đạt 25 giường bệnh/vạn dân, năm 2020 đạt 30 giường/vạn dân [3] Hiện có 03/12 bệnh viện tuyến tỉnhvà 02/17 bệnh viện tuyến tỉnh có hệ thống xử lý nước thải

Như vậy, có thể thấy một thực tế là vấn đề xử lý nước thải tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Nghệ An đang rất cấp bách, hầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, một số bệnh viện được đầu tư hệ thống xử lý chất thải ở các bệnh viện, song vấn đề lựa chọn công nghệ chưa phù hợp, nhiều công nghệ chưa đảm bảo tiêu chuẩn môi trường, nay đã xuống cấp, cần được sửa chữa, nâng cấp cho phù hợp với quy mô phát triển Bên cạnh đó, lượng bệnh nhân và số giường bệnh ngày một gia tăng do tốc độ tăng dân số, dẫn đến lượng nước thải tăng theo vượt quá công suất thiết kế của hệ thống xử lý, các quy trình quản lý, chế độ vận hành, bảo dưỡng chưa

Trang 10

được thực hiện đúng kỹ thuật Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nước thải sau khi xử lý

Từ những bất cập trên, để góp phần bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cư, sức khỏe của nhân viên y tế, hạn chế tới mức thấp nhất các tác động tiêu cực đến chất lượng môi trường và đưa ra các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả xử lý chất thải bệnh viện nói chung, nước thải bệnh viện nói riêng, trong luận văn này

thực hiện đề tài: “Khảo sát đánh giá công nghệ hệ thống xử lý nước thải một số

bệnh viện tuyến huyện tại tỉnh Nghệ An và đề xuất phương án nâng cao hiệu quả”

Với mục tiêu nghiên cứu chính:

- Khảo sát thực địa ba bệnh viện tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Nghệ An để điều tra hiện trạng nước thải và hoạt động của hệ thống xử lý nước thải làm cơ sở đánh giá công nghệ

- Đánh giá công nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa

- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý cho hệ thống xử lý nước thải ba bệnh viện

Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:

- Tổng quan tài liệu về nước thải bệnh viện, các phương pháp xử lý, đánh giá công nghệ môi trường

- Điều tra khảo sát hiện trạng nước thải và hệ thống xử lý nước thải 3 bệnh viện tuyến huyện tỉnh Nghệ An

- Nghiên cứu đánh giá công nghệ xử lý nước thải bệnh viện tại bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò

- Đề xuất giải pháp tăng hiệu quả xử lý cho hệ thống xử lý nước thải bệnh viện

Đa khoa thị xã Cửa Lò và các bệnh viện tuyến huyện tại tỉnh Nghệ An

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về nước thải bệnh viện

1.1.1 Nguồn gốc phát sinh và thành phần nước thải bệnh viện

Theo Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế:

Nước thải y tế là hỗn hợp các chất ô nhiễm trong pha lỏng phát sinh từ các hoạt động của các cơ sở y tế Trong nước thải y tế có chất ô nhiễm nguồn gốc sinh hoạt và từ các hoạt động các cơ sở y tế; vì vậy các thành phần trong đó có thể là các chất ô nhiễm thông thường như: chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ dễ oxy hóa sinh hóa (đặc trưng bởi BOD5), các chất dinh dưỡng nitơ, phốtpho và các thành phần nguy hại như vi khuẩn gây bệnh, hóa chất độc hại,…[2]

Nước thải bệnh viện được hình thành trong tất cả các hoạt động của bệnh viện Nhìn chung nước thải bệnh viện phát sinh từ những nguồn chính sau [2] :

1 Nước thải hình thành tại các khu vệ sinh chứa phân và nước tiểu Trong nước thải loại này chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh nguồn gốc từ phân và có hàm lượng hữu

cơ, nitơ, chất rắn lơ lửng Các loại nước thải này thường gây lắng cặn tại đầu cống

xả, làm nguồn nước mặt thiếu hụt oxi, gây mùi hôi và màu nước đen tại vùng tiếp nhận nước thải Hiện nay, tại các bệnh viện loại nước thải này thường được lắng sơ

bộ trong các bể tự hoại trước khi thu gom cùng với các loại nước thải khác

2 Nước thải sinh hoạt từ các bồn tắm, chậu rửa, xưởng giặt, khu bếp,… của bệnh viện Loại nước thải này có thành phần phức tạp và chủ yếu chứa các chất rắn

lơ lửng, các chất tẩy rửa và các loại vi trùng gây bệnh khác nhau Ngoại trừ từ nước thải từ nhà bếp, các chất hữu cơ trong loại nước thải này thường khó phân hủy sinh học Trong loại nước thải này còn chứa nhiều cát, các chất vô cơ và các chất bẩn khác từ quá trình tẩy rửa quần áo, ga, chăn màn,… của bệnh viện

3 Nước thải y tế nguy hại từ các hoạt động khám và điều trị như:

Trang 12

- Nước thải có nguồn gốc từ các ca phẫu thuật, từ quá trình xét nghiệm, hoạt động khám chữa bệnh (giải phẫu bệnh, huyết học, truyền máu, lau rửa sau các ca

mổ, khoa lây) chứa các dịch sinh học, vi trùng gây bệnh, chất thải nguy hại

- Nước thải từ phòng chiếu chụp X quang, kho dược liệu và hóa chất chứa các hóa chất (trong đó có các hóa chất độc hại), kim loại nặng, dung môi hữu cơ, hóa chất xét nghiệm, các hợp chất vô cơ, chất phóng xạ, dược phẩm quá hạn sử dụng

Ngoài các loại nước thải nêu trên còn có nước chảy tràn bề mặt (chủ yếu là nước mưa) được thu gom vào các mương rãnh hoặc cống ngầm sau đó dẫn ra hệ thống thoát nước mưa bên ngoài

Việc xác định đúng lưu lượng nước thải của bệnh viện trong một ngày để tính toán hệ thống thoát nước và lựa chọn sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Theo tiêu chuẩn thoát nước bằng với tiêu chuẩn cấp nước, do vậy lượng nước

mà bệnh viện dùng trong một ngày sẽ chính là lượng nước thải trong một ngày Theo nhiều tiêu chuẩn quốc gia của các nước thì lượng nước cấp tính trên một giường đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng thông thường là 200 – 250 l/ngày, còn đối với các bệnh viện và nhà an dưỡng đặc biệt là 500 l/ngày Tuy nhiên, thực

tế lượng nước sử dụng lớn hơn nhiều tiêu chuẩn trên

Qua khảo sát ở nhiều bệnh viện thông thường ở Nga, Séc, Xlôvakia, Bungari tiêu chuẩn nước là 500 l/ngày Theo Metcalf & Eddy (1984) thì tiêu chuẩn thải của bệnh viện là 473 – 908 l/ngày cho 1giường bệnh, trị số tiêu biểu là 625 l/ngày [35]

Ở Việt Nam theo nghiên cứu của nhiều tác giả, lưu lượng nước thải của bệnh viện, được xác định như trong bảng 1.1 dưới đây:

Trang 13

Bảng 1.1 Tiêu chuẩn nước cấp và lượng nước thải bệnh viện STT Quy mô bệnh viện

(giường bệnh viện)

Tiêu chuẩn nước cấp (l/giường.ngày)

/ngày

Theo nghiên cứu của Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị và khu công nghiệp (2002), Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường (2005), Hội môi trường xây dựng (2008),… lượng nước thải tính cho một giường bệnh trong một ngày được chọn như sau:

- Điều trị, chữa bệnh, lau sàn nhà: 250 lít/ngày

- Tắm rửa của bệnh nhân: 100 lít/ngày

- Chuẩn bị thức ăn: 25 lít/ngày

- Giặt chăn màn: 50 lít/ngày

- Nước sinh hoạt của bác sĩ và nhân viên: 25 lít/ngày

- Các nhu cầu khác: 50 lít/ngày Nước thải bệnh viện là một nguồn thải gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, ảnh hưởng đến con người vì khả năng lan rộng trong môi trường, mức độ nhiễm khuẩn cao, khả năng tồn tại lâu và nhân lên của vi khuẩn gây bệnh trong điều kiện giàu chất hữu cơ ở nước thải và bề mặt Nước thải bệnh viện có thể mang các

Trang 14

mầm bệnh: tả, thương hàn, lỵ amip, leptosspyros, bệnh vàng da nhiễm trùng, viêm gan siêu vi trùng, giun sán, nấm mốc, bại liệt…

1.1.2 Đặc điểm ô nhiễm nước thải bệnh viện

Một số nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về thành phần nước thải bệnh viện cho thấy, theo cả dạng ô nhiễm và cả theo nồng độ thì nước thải bệnh viện có thành phần và tính chất gần giống nước thải sinh hoạt đô thị, tuy nhiên có chứa một

số thành phần ô nhiễm đặc trưng Theo nhiều nghiên cứu, trong nước thải bệnh viện còn chứa dư lượng chế phẩm thuốc, các chất khử trùng, chất tẩy rửa các đồng vị phóng xạ được sử dụng trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh…Sự có mặt của các thành phần này gây ảnh hưởng bất lợi cho quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học và cản trở các qúa trình sinh hoá khác diễn ra trong nước dẫn đến việc giảm hiệu quả làm sạch nước thải trên các công trình xử lý Khi theo dõi việc giảm hiệu quả xử lý nước thải bệnh viện bằng biophin nhỏ giọt hiệu quả xử lý

bị giảm khi trong nước thải chứa chất kháng sinh streptomixin ở nồng độ 0,7 – 1 g/l Thực tế trong những trường hợp khác nồng độ streptomixin có thể đến 12 g/l hiệu quả xử lý thực tế bằng không [12] Như vậy hiệu quả xử lý nước thải giảm đáng kể theo các chỉ tiêu hoá học, đặc biệt là các chỉ tiêu vi khuẩn

Việc sử dụng rộng rãi các chất tẩy rửa ở xưởng giặt là của bệnh viện cũng tạo nguy cơ thực tế làm xấu đi mức độ hoạt động của công trình xử lý Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng chất hoạt động bề mặt trong nước thải làm giảm đi khả năng tạo huyền phù trong bể lắng và đa số vi khuẩn tụ tập lại trong bọt Những chất tẩy rửa riêng biệt ảnh hưởng đến quá trình làm sạch sinh học nước thải: chất tẩy rửa anion tăng lượng bùn hoạt tính, cation lại làm giảm đi [12]

Lượng chất ô nhiễm từ một giường bệnh trong ngày lớn hơn so với lượng chất

ô nhiễm từ một người của khu dân cư thải vào hệ thống thoát nước là do việc hoà vào dòng thải không chỉ chất thải từ người bệnh mà còn của bộ phận phục vụ, chất thải của quá trình điều trị, dư lượng thuốc còn lại, máu, các phần cơ quan cơ thể người, hoạt động của nhà giặt, nhà xác

Trang 15

Những nghiên cứu cho thấy nồng độ chất ô nhiễm phụ thuộc cả vào nguồn nước sử dụng từ hệ thống đường ống cấp nước do nhà máy cung cấp hay từ hệ thống giếng khoan cục bộ Trong trường hợp thứ hai hiển nhiên là nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải lớn hơn

Tuy rằng lượng chất ô nhiễm trên một giường bệnh lớn hơn lượng chất ô nhiễm trên một đầu người khu dân cư, nhưng nồng độ chất ô nhiễm trong một lít nước thải bệnh viện lại nhỏ hơn nồng độ chất bẩn trong một lít nước thải sinh hoạt

Đó là do tiêu chuẩn nước cấp thực tế sử dụng trên một giường bệnh (500 l/ngày) lớn hơn nhiều so với tiêu chuẩn nước cấp cho sinh hoạt trên một đầu người (ví dụ 100 hay tối đa 300 l/ngày) Ở một công trình nghiên cứu nồng độ nước thải một bệnh viện ở Kheroxon thì với lượng nước cấp 600 – 700 l/ngày trên một giường bệnh quan sát được nồng độ chất lơ lửng: 108,7 – 121,2 mg/l, nồng độ nitơ (amoni) và độ oxy hóa tương ứng là): 5,0 – 6,8 mg/l và 33,4 – 48,3 mg/l [12]

Như vậy nước thải bệnh viện khác nước thải sinh hoạt bởi lượng chất ô nhiễm tính trên một giường bệnh lớn hơn 2 – 3 lần lượng chất ô nhiễm tính trên một đầu người Ở cùng một tiêu chuẩn sử dụng nước thì nước thải bệnh viện đặc hơn nước thải sinh hoạt, đồng nghĩa là nồng độ chất ô nhiễm cao hơn nhiều

Để lựa chọn đúng sơ đồ nguyên tắc của các hệ thống xử lý nước thải bệnh viện cũng cần quan tâm tới các số liệu về sự dao động nồng độ nước thải trong ngày Nước thải bệnh viện khác với nước thải sinh hoạt bởi sự dao động đánh kể của nồng

độ gây nên bởi tính không đồng đều của nước thải bệnh viện trong một ngày Nghiên cứu thành phần nước thải một số bệnh viện ở XanhPecbua (Nga) cho thấy nồng độ dao động trong các giới hạn sau COD 102 – 141 mg/l; SS 180- 343mg/l; amoni (N) 23-63,1mg/l; chỉ số coli 55x107 MPN/100 ml Hay những số liệu ở các nước Sec và Xlôvakia cho thấy sự dao động của thành phần nước thải bệnh viện COD 106-350 mg/l, BOD5 147-582 mg/l, các chất lơ lửng 575-978 mg/l [12]

Qua các số liệu trên thấy tính không đều của nồng độ nước thải bệnh viện trong một ngày dao động là khoảng khá rộng Điều đó làm nảy sinh yêu cầu cao đối

Trang 16

với quá trình xử lý nước thải bệnh viện khi thiết kế và xây dựng các công trình xử

lý nước thải

Trong báo cáo đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải bệnh viện về hóa lý

và hiệu quả xử lý nước thải tại các bệnh viện của Trần Quang Toàn và cộng sự (2005), nước thải bệnh viện các thông số ô nhiễm như sau: BOD 137mg/l; COD 190,1mg/l; DO 1,56mg/l; tổng nitơ 18,14mg/l [19]

Qua khảo sát thực tế nhiều bệnh viện trong nhiều năm, tác giả Nguyễn Xuân Nguyên đưa ra thành phần ô nhiễm nước thải thường ở trong mức sau [11]:

Bảng 1.2 Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện

TT Chỉ tiêu Đơn vị Giá trị

thấp nhất

Giá trị cao nhất

Giá trị trung bình

Thông thường giá trị BOD5 được sử dụng để đánh giá độ nhiễm bẩn chất hữu

cơ có trong nước thải Sự có mặt của các chất hữu cơ là nguyên nhân chính gây ra

sự giảm lượng oxy hòa tan trong nước, ảnh hưởng tới đời sống động, thực vật thủy sinh

Trang 17

Ngoài ra, nước thải bệnh viện vốn được liệt vào danh mục chất thải đặc biệt nguy hại bởi ngoài các loại vi trùng từ máu, dịch đờm, phân của người bệnh, vi khuẩn, vi rút, động vật nguyên sinh gây bệnh, trứng giun đặc biệt nhiều nếu bệnh viện có khoa truyền nhiễm Còn nguy hiểm hơn về phương diện dịch tễ là nước thải của những bệnh viện truyền nhiễm, lao và các cơ sở lây nhiễm khác Tương tự, đối với các bệnh viện điều trị hoặc có khoa điều trị ung thư, trong nước thải có chứa các chất phóng xạ, các loại hóa chất điều trị ung thư và các sản phẩm chuyển hóa phát sinh trong quá trình chẩn đoán điều trị Sau khi hòa vào hệ thống nước thải sinh hoạt, những mầm bệnh này lan tỏa khắp nơi, xâm nhập vào các loại thủy sản, vật nuôi, cây trồng, nhất là rau thủy canh và trở lại với con người Việc tiếp xúc gần với nguồn ô nhiễm còn làm tăng nguy cơ ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác cho cộng đồng dân cư

Điểm đặc thù của thành phần nước thải bệnh viện khác với nước thải sinh hoạt khu dân cư là có thể gây ra sự lan truyền rất mạnh của các vi khuẩn gây bệnh

Về phương diện này đặc biệt nguy hiểm là những bệnh viện truyền nhiễm và bệnh viện lao hay những khoa lây của các bệnh viện đa khoa

Ở khu dân cư số lượng những người mang mầm bệnh thường khoảng 1 – 2% dân số Ở bệnh viện con số này tăng lên 10 - 20 lần, thậm chí ở bệnh viện truyền nhiễm có đến 90 - 100% bệnh nhân mang mầm bệnh Vì thế sẽ rất nguy hiểm nếu nước thải bệnh viện không được xử lý triệt để mầm bệnh trước khi thải vào hệ thống thoát nước công cộng

Nước thải nhiễm các vi khuẩn gây bệnh có thể dẫn đến dịch bệnh cho người

và động vật qua nguồn nước, qua các loại rau được tưới bằng nước thải Các bệnh

truyền nhiễm này là bệnh tả, thương hàn, phó thương hàn, lỵ, bệnh do Leptospira,

lao, do amip, bệnh do virut đường tiêu hoá, giun sán

Lai và Tsai nghiên cứu nước thải của 48 bệnh viện ở Đài Loan cho kết quả:

14,6% Shigella spp và 33,3% Salmonella spp [32]

Nước thải bệnh viện luôn có nguy cơ tiềm tàng: tất cả các vi khuẩn gây bệnh

có thể tìm thâý trong nước thải: vi khuẩn tả (Vibrio cholerae), lỵ (Shigella), thương

Trang 18

hàn (Salmonella) E.coli, Pseudomonas, Streptococcus, Staphylococcus đặc biệt các chủng này thường là kháng với nhiều loại kháng sinh [14]

Số lượng vi sinh gây bệnh trong nước thải thường thấp hơn nhiều so với loại không gây bệnh Để phát hiện các loài vi sinh gây bệnh trong nước thải rất phức tạp

và tốn nhiều thời gian Do đó không thể xét nghiệm tất cả các mẫu nước để kiểm tra

có hay không có tất cả các vi sinh gây bệnh được Vì vậy cần phải chọn kỹ thuật đơn giản nhưng vẫn phát hiện được sự ô nhiễm của nước Điều này dẫn tới việc sử dụng các chỉ điểm vi sinh để xác định sự ô nhiễm [34]

Về mức độ nhiễm khuẩn của nước thải ngoài việc tìm những vi khuẩn gây bệnh còn có thể đánh giá theo những vi khuẩn chỉ thị: chuẩn coli, chỉ số coli hay số

vi khuẩn Khi xác định các chỉ tiêu vi khuẩn của nước thải bệnh viện Botkin ở Xanh Petecbua, Liên bang Nga người ta thấy rằng ở lượng nước sử dụng từ 700 l/giường bệnh/ngày trở lên số vi khuẩn nằm trong khoảng 50.000 – 100.000, còn chuẩn coli dao động từ 3x10-5 đến 10-6 MPN/100 ml Theo số liệu của các nhà nghiên cứu ở nước thải bệnh viện Meshicop ở Xanh Petecbua chuẩn trực khuẩn côli dao động trong khoảng 10-4 đến 10-6 Đối với một số bệnh viện ở Kiep thuộc nước Cộng hòa Ukraina số vi khuẩn từ 10 ngàn đến 1 triệu, còn coliform 10-5 đến 10-6 MPN/100 ml

Từ các số liệu trên có thể thấy rằng không có sự khác nhau đáng kể về số lượng vi khuẩn nói chung trong nước thải bệnh viện và nước thải khu dân cư Sở dĩ như vậy

là vì nước thải bệnh viện đã được pha loãng đáng kể do tiêu dùng nước rất cao của bệnh viện [11]

Nhiều nhà nghiên cứu ô nhiễm môi trường bởi trứng giun sán là do xử lý không đúng cách và còn do sử dụng nước không sạch trong sinh hoạt hoặc cả nước trồng trọt Tại một trạm xử lý ở Matcova cho thấy lượng trứng giun trong nước thải chưa xử lý từ 4 đến 27,4 trong 1 lít, ở Kiep lượng đó là 1 đến 9 trong 1 lit Những giá trị đó đặc trưng cho những thành phố lớn, còn các thành phố vừa và nhỏ số liệu

đó phải là 30 – 40 trong 1lít nước thải Đối với nước thải bệnh viện thì còn thiếu những khảo sát cơ bản, tuy nhiên nếu theo tiêu chuẩn sử dụng nước từ 500l/giường bệnh/ngày trở lên thì số trứng sán là 10 – 15 trong 1 lít nước thải

Trang 19

Nước thải cũng như các loại chất thải khác của các cơ sở y tế được quản lý theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy chế này quy định về hoạt động quản

lý chất thải y tế, quyền và trách nhiệm của các tổ chức, các nhân trong việc thực hiện quản lý chất y tế, được áp dụng đối với các cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, cơ sở nghiên cứu y dược, y tế dự phòng, đào tạo cán bộ y tế, sản xuất, kinh doanh dược phẩm, vắc-xin, sinh phẩm y tế (gọi chung là các cơ sở y tế)

và các tổ chức, cá nhân tham gia xử lý và tiêu hủy chất thải y tế ngoài việc thực hiện Quy chế này phải thực hiện các quy định hiện hành của Nhà nước về quản lý chất thải Nước thải các cơ sở y tế phải đáp ứng quy định của QCVN 28:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

Trang 20

Bảng 1.3 QCVN 28:2010/BTNMT:

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

7 Nitrat(NO

, tính

TCVN 6180:1996 (ISO 7890 -3:1988)

Mức A: Nước thải bệnh viện đối với ác thủy vực với mục đích cấp nước sinh hoạt

Mức B: Nước thải bệnh viện với nơi chỉ định, hệ thống thoát nước thành phố

MPN/100mL ( Most Probable Number per 100 milinliters): Số có xác suất cao nhất trong 100mL

Trang 21

Bệnh viện phải thường xuyên lấy mẫu và phân tích nước thải theo các tần suất và vị trí lấy mẫu cam kết trong báo cáo đánh giá tác động hoặc đề án bảo vệ môi trường Kết quả phải được thông báo thường xuyên cho các cơ quan quản lý môi trường địa phương

1.2 Tổng quan về công nghệ xử lý nước thải bệnh viện

1.2.1 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện trên Thế giới

Xử lý nước thải các khoa, bộ môn của bệnh viện truyền nhiễm có lưu lượng

25 m3/ngày, bộ môn Vệ sinh học công cộng Trường Đại học Y Kiep sáng chế ra tổ hợp công trình xử lý cục bộ với bể tự hoại – khử trùng cặn gồm bể tự hoại – khử trùng cặn, thiết bị clo hóa và bể tiếp xúc Nước thải đi qua các ngăn được giải phóng khỏi các chất lơ lửng Các chất lơ lửng rơi xuống thành cặn, nước thải được làm trong từ bể tự hoại – khử trùng cặn đi vào thiết bị clo hóa và được khử trùng, sau đó

đi vào hệ thoát nước Sau xử lý chất lơ lửng giảm 80%, BOD-50%, chỉ số coli – 68,6%, trứng giun 100% Với các bệnh viện chuyên khoa truyền nhiễm có lưu lượng nước thải 100 - 150 m3

/ngày có thể áp dụng công trình xử lý cục bộ với bể tự hoại hai bậc gồm song chắn rác, thiết bị thu cát, bể tự hoại hai bậc, thiết bị clo hóa

cơ cấu trộn và bể tiếp xúc

Công trình xử lý với aeroten sục khí liên tục bằng thiết bị thổi khí cơ học, bể lắng thứ cấp, thiết bị clo và bể tiếp xúc đã được áp dụng trong xử lý nước thải bệnh viện Điển hình là trạm xử lý cục bộ kiểu Rapid Bloc của Phần Lan, nước thải sau

bể tự hoại được xử lý sinh học trong bể aeroten và khử trùng trước khi xả ra bên ngoài Công suất thiết bị 500-800 m3/ngày

Xử lý nước thải bệnh viện Lao với lưu lượng nước thải đến 500 m3/ngày được áp dụng xử lý theo tổ hợp công trình xử lý với bể tự hoại/bể lắng hai bậc và lọc sinh học nhỏ giọt Theo đó, tổ hợp bao gồm lưới chắn rác, thiết bị thu cát, bể tự hoại/bể lắng hai bậc, thiết bị định lượng, lọc sinh học nhỏ giọt, bể lắng thứ cấp, thiết

bị clo hóa và bể tiếp xúc

Rezaee M.M Aryan và các cộng sự, (2005) đã thực hiện nghiên cứu áp dụng

xử lý nước thải bệnh viện sử dụng một bể phản ứng sinh học màng cố định tích hợp

Trang 22

kỵ – hiếu khí Nghiên cứu hệ thống này hoạt động trong 90 ngày Kết quả cho thấy

hệ thống có hiệu quả loại bỏ 95,1% nhu cầu oxy hóa học (COD) từ nước thải bệnh viện với COD giảm từ 700 mg/l xuống còn 34 mg/l Bên cạnh đó cũng loại bỏ đáng

kể các vi khuẩn gây bệnh Những lợi thế của hệ thống xử lý nghiên cứu đối này gồm hoạt động vận hành và bảo trì đơn giản, loại bỏ hiệu quả COD và vi khuẩn, và tiêu thụ năng lượng thấp [23]

Xianghua Wen, (2004) thực hiện xử lý nước thải bệnh viện bằng bể phản ứng sinh học bằng màng ngập nước Hiệu suất khử COD, NH4-N, và độ đục là 80,

93 và 83% tương ứng với chất lượng nước thải trung bình của COD <25 mg/l, NH4

-N <1,5 mg/l và độ đục <3 -NTU Escherichia coli bị loại bỏ hơn 98% -Nước thải không có màu và không mùi Áp suất qua màng tăng từ từ trong quá trình hoạt động

6 tháng Không cần hoạt động làm sạch màng và bùn không phát sinh trong thời gian hoạt động 6 tháng [31]

Nghiên cứu của Qiaoling Liu và cộng sự (2010) áp dụng công nghệ lọc màng MBR xử lý nước thải bệnh viện ở Trung Quốc cho kết quả: công nghệ lọc màng MBR hiệu quả hơn trong việc loại bỏ vi sinh vật bệnh lý so với các hệ thống xử lý nước thải hiện có Bên cạnh đó, MBR còn tiết kiệm hiệu quả trong tiêu thụ chất khử trùng (clo thêm vào có thể giảm đến 1,0 mg/l), rút ngắn thời gian phản ứng (khoảng 1,5 phút, 2,5-5% của quá trình xử lý nước thải thông thường) [37]

Trong một nghiên cứu khác, Ajay Kumar Gautam, (2007), nghiên cứu sơ

bộ các lựa chọn xử lý hóa lý cho nước thải bệnh viện, được thực hiện tại bệnh viện đại học y Christian, Vellore, Tamil Nadu Nước thải đã được kiểm tra cho các thông số thông thường và làm thí nghiệm đông tụ Các nước thải thô và lắng

đã được đông tụ bằng FeCl3, lọc và khử trùng Xử lý hóa lý được xem là một lựa chọn hấp dẫn đối với việc xử lý chi phí hiệu quả nước thải bệnh viện [24]

Puangrat Kajitvichyanukul (2006) nghiên cứu đánh giá khả năng phân hủy sinh học và mức độ oxy hóa nước thải bệnh viện bằng cách sử dụng quá trình photo – Fenton như là phương pháp tiền xử lý nhằm mục đích nâng cao khả năng phân

Trang 23

huỷ sinh học tổng thể của nó và xác định mức độ của quá trình oxy hóa tăng lên Nhu cầu oxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD5), tổng cacbon hữu cơ (TOC) và độc tính đối với vi khuẩn biển gram âm phát quang sinh học của các loài

V fischeri đã được lựa chọn làm các thông số môi trường tổng hợp để theo dõi hiệu

suất của quá trình này Việc nâng cao khả năng phân huỷ sinh học, đánh giá thông qua tỷ lệ BOD5/COD, tăng từ 0,3 đến 0,52 và mức độ oxy hóa tăng từ -1,14 đến 1,58 ở điều kiện tối ưu: tỷ lệ hàm lượng COD:H2O2:Fe (II) là 1:4:0,1 và độ pH là 3 Kết quả thu được từ tỷ lệ phần trăm loại bỏ gần như hoàn toàn COD, BOD5, và TOC chỉ ra rằng quá trình photo-Fenton có thể là một phương pháp tiền xử lý phù hợp trong việc làm giảm độc tính của các chất gây ô nhiễm và tăng cường khả năng phân huỷ sinh học của nước thải bệnh viện được xử lý trong một hệ thống kết hợp sinh học - quang hóa [36]

1.2.2 Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện đang được áp dụng tại Việt Nam

Hiện nay, có rất nhiều các phương pháp được áp dụng tại Việt Nam để xử lý nước thải Tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi loại nước thải mà ta có thể áp dụng một loại phương pháp cho phù hợp Với các công trình xử lý nước thải tại bệnh viện, người ta thường phải bố trí nhiều phương pháp trên một hệ thống xử lý với nhiều thiết bị kỹ thuật khác nhau mới mong hệ thống xử lý có hiệu quả và đạt hiệu suất xử

lý cao Đối với việc xử lý nước thải y tế do đặc thù gần giống với nước thải sinh hoạt nên việc bố trí các kỹ thuật và thiết bị trong các hệ thống xử lý nước thải y tế khác tương đồng với các hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt thông thường Các bước tiến hành xử lý cũng bao gồm các bước như: Tiền xử lý, xử lý sơ cấp, xử lý cấp hai

và sau xử lý

 Giai đoạn tiền xử lý: Đối với các bệnh viện, khâu tiền xử lý gắn liền với hệ thống thoát nước, thu gom nước thải đi kèm với bệnh viện ngay từ khi bệnh viện được thiết kế xây dựng Trong khâu tiền xử lý phải kể tới sự hoạt động của hệ thống tách dầu mỡ, trung hòa axit trong các phòng thí nghiệm của bệnh viện, hệ thống bể phốt và mạng thu gom nước thải Khâu tiền xử lý rất quan trọng đối với một hệ

Trang 24

thống xử lý nước thải hoàn chỉnh Nếu như hoạt động tốt nó sẽ góp phần vào việc giảm tải và tăng cường hiệu quả xử lý cho các công đoạn tiếp theo

 Xử lý sơ cấp: Xử lý sơ cấp nhằm loại bỏ các tạp chất dạng lơ lửng nếu như thiết kế đủ tiêu chuẩn Qua công đoạn xử lý sơ cấp, hàm lượng COD, BOD của nước thải y tế giảm đáng kể Phương pháp sử dụng bao gồm phương pháp vật lý, lắng lọc… Thiết bị kỹ thuật phục vụ cho công đoạn này thông thường như: Song chắn rác, bể điều hòa, bể lắng cấp một

 Xử lý cấp hai: Các kỹ thuật ứng dụng trong xử lý cấp 2 đối với nước thải bệnh viện chủ yếu là các kỹ thuật sử dụng phương pháp sinh học nhằm giảm thiểu tới mức tối đa các chỉ tiêu BOD, COD, tổng nitơ, tổng phốtpho của nước thải bệnh viện Các kỹ thuật xử lý cấp 2 thường được sử dụng trong các công trình xử lý nước thải bệnh viện tại Việt Nam bao gồm: Bể lọc sinh học, bể aeroten, mương oxi hóa, bãi lọc trồng cây (bãi lọc sinh học ngập nước), sử dụng hệ thống thiết bị hợp khối đúc sẵn

 Giai đoạn sau xử lý: Nước thải sau khi được xử lý đạt các tiêu chuẩn hóa lý tiếp tục được đưa sang công đoạn khử trùng Ngoài ra trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học thường phát sinh một lượng bùn sinh khối, lượng bùn này nhiều hay ít phụ thuộc vào thành phần đầu vào và lưu lượng nước thải, bùn sinh khối phát sinh cũng có biện pháp xử lý ở công đoạn này Các kỹ thuật khử trùng nước thải y tế thường được áp dụng như khử trùng bằng tia cực tìm; khử trùng bằng clo hoặc hợp chất clo (clorua vôi, natri hypoclorid điều chế bằng điện phân); khử trùng bằng ôzôn (sản xuất tại chỗ)

Hệ thống xử lý nước thải phải được bố trí phù hợp với quy hoạch phát triển của bệnh viện và các cơ sở y tế, trong đó phải có một khoảng cách nhất định đến khu dân cư hoặc công trình để đảm bảo an toàn vệ sinh Khoảng cách vệ sinh môi trường tối thiểu của trạm xử lý ước thải đối với khu dân cư xung quanh và công trình bệnh viện được quy định trong bảng 1.4 dưới đây:

Trang 25

Bảng 1.4 Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối

với khu dân cư xung quanh

(m)

C Xử lý sinh học không có sân phơi bùn, có máy làm khô bùn,

>= 10m Đối với loại trạm bơm nước thải sử dụng máy bơm thả chìm đặt trong giếng ga kín thì phải cần khoảng cách an toàn vệ sinh môi trường, nhưng phải có ống thông hơi xả mùi hôi (xả ở cao độ >3m) [8] Khi không đủ diện tích để đảm bảo khoảng cách tối thiểu trên thì phải có các giải pháp công nghệ phù hợp hoặc xây dựng, lắp đặt hợp khối các công trình và thiết bị xử lý nước thải hoặc có biện pháp thu và xử lý mùi và phải được cơ quan quản lý môi trường địa phương chấp nhận

Khu vực trạm xử lý nước thải phải có biện pháp cách ly như trồng cây ngăn cách, xây tường bao quanh hoặc xây công trình chìm để hạn chế phát tán mùi khó chịu ra môi trường xung quanh

Nước thải bệnh viện và cơ sở y tế dẫn ra bên ngoài bằng cống kín, vật liệu không thấm nước Để điều kiện pha loãng với nước nguồn tiếp nhận được tốt, nước thải phải xả ngập và có áp lực [8]

Trang 26

Giới thiệu một số mô hình công nghệ xử lý nước thải bệnh viện được áp dụng tại Việt Nam:

A Xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên

Hình 1.1 Sơ đồ xử lý bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên

Bơm ĐL

Trang 27

Nước thải bệnh viện được thu gom từ hệ thống cống thoát, qua song chắn rác nhằm cản những vật lớn như bơm tiêm, chai lọ, gạc… có khả năng làm tắc nghẽn đường ống và hỏng bơm Nước từ ngăn thu được bơm tới bể điều hòa và xử lý sơ

bộ, nhằm điều hòa chất bẩn và lưu lượng nước thải đồng thời tại đây thực hiện xử lý

sơ bộ các vi sinh vật có sẵn trong nước thải ôxy hóa một phần hợp chất hữu cơ thành chất ổn định bông cặn dễ lắng, đồng thời khử một phần COD, BOD

Tiếp đó, nước thải được bơm tới bể lọc sinh học nhỏ giọt Lọc sinh học nhỏ giọt là loại bể lọc sinh học với vật liệu tiếp xúc không ngập nước Để đến được lớp vật liệu lọc, nước thải chia thành các dòng hoặc các hạt nhỏ chảy thành lớp mỏng qua khe hở của vật liệu, đồng thời tiếp xúc với màng sinh học ở trên bề mặt vật liệu

và được làm do vi sinh vật của màng phân hủy hiếu khí và kỵ khí các chất hữu cơ trong nước Các chất hữu cơ phân hủy hiếu khí sinh ra CO2 và nước, phân hủy kỵ khí sinh ra CH4 và CO2 làm tróc màng ra khỏi vật liệu mang, bị nước cuốn theo Trên mặt giá mang là vật liệu lọc hình thành lớp mang mới Hiện tượng này được lặp đi lặp lại nhiều lần Kết quả là BOD của nước thải được vi sinh vật sử dụng làm chất dinh dưỡng và bị phân hủy kỵ khí cũng như hiếu khí

Nước thải ra khỏi bể lọc sinh học được bơm lên bể lắng thứ cấp, phần bùn lắng xuống đáy được đưa đến bể nén bùn, phần nước trong dẫn đến bể khử trùng để tiêu diệt vi sinh vật Nước sau khi xử lý thải ra hệ thống cống hoặc ao hồ

Một số bệnh viện đang được áp dụng công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt như bệnh viện A Thái Nguyên, bệnh viện C Thái Nguyên, bệnh viện Đa Khoa Quỳnh Phụ Thái Bình Kết quả đo, phân tích mẫu nước thải bệnh viện ở đầu vào, đầu ra cả

3 bệnh viện, sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép Công nghệ xử lý đạt mức an toàn trong trường hợp có sự thay đổi về lưu lượng

B Xử lý nước thải bệnh viện bằng bùn hoạt tính trong bể Aeroten

Nước thải từ các bể phốt, khu vệ sinh ở các khoa, phòng, buồng bệnh được thu gom qua hệ thống cống thu đến bể điều hòa có lắp đặt thiết bị song chắn rác nhằm loại bỏ các tạp vật có kích thước lớn như bơm tiêm, mảnh thủy tinh vỡ, bông

Trang 28

gạc, đồ vải… để đảm bảo cho máy móc, thiết bị và các công trình phía sau hoạt động có hiệu quả

Bể điều hòa làm nhiệm vụ điều hòa lưu lượng và nồng độ chất bẩn trong nước thải Tại đây, nước thải được khuấy trộn và làm thoáng sơ bộ nhờ hệ thống sục khí, sau đó được bơm lên bể lắng đợt 1 (bể lắng sơ cấp) Các bông cặn bẩn, chất rắn

có khả năng lắng sẽ lắng xuống đáy và được đưa đến bể thu bùn

Nước phần trên đi đến bể aeroten, tại bể này hàm lượng bùn hoạt tính được duy trì lơ lửng để ôxy hóa các chất bẩn, hợp chất hữu cơ thành những chất ổn định tạo bông cặn dễ lắng Môi trường hiếu khí trong bể đạt được nhờ sử dụng hệ thống sục khí nhằm duy trì hỗn hợp lỏng trong thiết bị luôn ở chế độ khuấy trộn hoàn toàn với không khí Sau một thời gian lưu, hỗn hợp sinh khối được đưa sang bể lắng đợt

2 (bể lắng thứ cấp)

Tại bể lắng đợt 2, bùn được lắng xuống tách ra khỏi nước đã xử lý và một phần bùn lắng tuần hoàn trở lại bể aeroten để duy trì nồng độ bùn hoạt tính trong bể Phần nước sạch sau khi được lắng tại bể lắng đợt 2 qua bể khử trùng với dung dịch clo được bơm định lượng bơm vào Nước thải sau khi xử lý được xả ra môi tròng Phần bùn tạo ra từ bể lắng đợt 1, bể lắng đợt 2 được xả định kỳ nhờ áp lực thủy tĩnh, bùn được tháo xuống bể nén bùn Tại bể nén, bùn được giảm thể tích và tự phân hủy, diệt trừ các vi sinh gây bệnh Bùn đã được nén giảm thể tích theo ống dẫn đến bể chứa bùn và theo định kỳ đem chôn tại bãi chôn lấp

Đa số các trạm xử lý thuộc nhóm công nghệ này được xây dựng ở nước ta sau năm 1990, nhìn chung dây chuyền công nghệ đáp ứng đủ các yếu tố để có thể

xử lý tốt nguồn nước thải bệnh viện tại qui mô thiết kê Dung tích bể trong các hệ thống được thiết kế tương đối lớn đảm bảo đủ thời gian lưu của nước thải trong các

bể cũng như đảm bảo thời gian cho hoạt động của hệ vi sinh vật trong phương pháp

xử lý sinh học Gần đây do một số nhược điểm như do xục khí trong các bể aeroten

hở nên có một lượng lớn bọt tạo ra gây ô nhiễm môi trường xung quanh, các thiết bị hoạt động dễ gây ồn và bốc mùi hôi ra môi trường do đó công nghệ ngày ít được xây dựng ở thành phố

Trang 29

Một số bệnh viện sử dụng mô hình kiểu bể aeroten: như bệnh viện đa khoa Quỳnh Lập cơ sở II – Nghệ An (2009), bệnh viện đa khoa huyện Thạch Thất – Hà Nội (2010), bệnh viện đa khoa Ba Vì – Hà Nội (2003), bệnh viện đa khoa huyện Thanh Oai – Hà Nội (2010), bệnh viện đa khoa huyện Đan Phượng – Hà Nội (2003)

C Xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học nhiều bậc trong các ngăn liên tiếp tại thiết bị hợp khối chế tạo trong nước

Hình 1.2 Sơ đồ công nghệ cụm thiết bị hợp khối CN-2000

Trang 30

Việc thu gom và vận chuyển nước thải các khoa, phòng, buồng bệnh được tập trung vào các bể phốt của các khoa, phòng và thông qua mạng lưới thoát nước đến bể hợp khối gồm: ngăn thu nước thải có lắp đặt lưới chắn rác, ngăn điều hòa, ngăn lắng sơ bộ, bể aeroten và ngăn thu bùn

Ngăn điều hòa làm nhiệm vụ điều hòa lưu lượng và nồng độ chất bẩn trong nước thải, đồng thời tại đây nước thải được khuấy trộn và làm thoáng sơ bộ nhờ hệ thống sục khí

Phần nước thải sau khi lắng sơ bộ và phần nước gạn trong từ bể nén bùn được chảy sang bể aeroten gồm 2 ngăn, tại bể hàm lượng bùn hoạt tính được duy trì

lơ lửng oxy hóa các chất bẩn, hợp chất hữu cơ thành những chất ổn định tạo ra bông cặn dễ lắng Tại đây thực hiện quá trình khử chất hữu cơ và nitơ Môi trường hiếu khí trong bể đạt được do sử dụng hệ thống sục khí nhằm duy trì hỗn hợp lỏng trong thiết bị luôn ở chế độ khuấy trộn hoàn toàn

Tiếp theo nước được bơm lên thiết bị hợp khối dạng tháp, thiết bị xử lý có đệm vi sinh được chế tạo từ vật liệu nhựa (hoặc vật liệu hữu cơ khác) có thông số:

+ Lọc vi sinh dòng xuôi có lớp đệm vi sinh ngập nước

Thời gian lưu của nước thải trong thiết bị hợp khối là 2 – 2,5 giờ Khi nước thải tưới qua lớp vật liệu lọc bằng các phần tử rắn xốp, các vi khuẩn sẽ được hấp phụ, sinh sống và phát triển trên bề mặt đó Vi khuẩn dính bám vào vật rắn nhờ chất galatin do chúng tiết ra và có thể di chuyển dễ dàng trong lớp chất nhầy này Đầu tiên vi khuẩn phát triển tập trung ở một khu vực sau đó phát triển lan dần phủ kín bề mặt vật liệu lọc Các chất dinh dưỡng như muối khoáng, hợp chất hữu cơ và ôxy có trong nước thải khuyếch tán qua màng sinh vật và có thể vào tận lớp Xenlulose đã tích lũy phía trong cùng Sau một thời gian, màng sinh vật được hình thành và chia thành 2 lớp: Lớp ngoài cùng là lớp hiếu khí, được ôxy khuyếch tán xâm nhập, lớp

Trang 31

trong là lớp thiếu khí ôxy (anoxic) Thành phần sinh vật chủ yếu của màng sinh vật

là vi khuẩn, ngoài ra còn có các động vật nguyên sinh, nấm, xạ khuẩn… Sau một thời gian hoạt động màng sinh vật dày lên, các chất khí tích tụ phía trong tăng lên

và màng bị rách ra khỏi vật liệu lọc Hàm lượng cặn lơ lửng trong nước tăng lên Sự hình thành các lớp màng sinh vật mới lại tiếp diễn

Sau đó nước thải cùng bùn hoạt hóa chuyển qua bể lắng đợt 2 (lắng lamen)

để tách khỏi bùn hoạt hóa và cặn hữu cơ khác Tại bể lắng lamen có xếp đệm làm tăng bề mặt tiếp xúc, tăng khả năng tiếp xúc Bể này có đường cấp hóa chất keo tụ nhằm tạo bông keo tụ nâng cao hiệu suất lắng

Trước khi nước thải được xả ra nguồn tiếp nhận được khử trùng bằng dung dịch NaOCl hoặc Ca(OCl)2, nồng độ 3 – 5 mg Cl2/m3 nước thải

Phần bùn, cặn lắng ở ngăn lắng và từng ngăn xử lý sinh học được máy bơm hồi lưu một phần bùn hoạt hóa trở lại thiết bị sinh học để đảm bảo được nồng độ xử

lý còn phần bùn dư được bơm về bể nén bùn

Đây là mô hình công nghệ của một số nước tiên tiến trên thế giới được áp dụng vào Việt Nam những năm gần đây Một số bệnh viện như bệnh viện Ung bướu

Hà Nội và bệnh viện Bắc Thăng Long đang áp dụng công nghệ này Nhìn chung với

mô hình công nghệ và cách bố trí thiết bị thì đây có thể nói là mô hình chuẩn có khả năng xử lý tốt nước thải bệnh viện Tuy nhiên, cần có những tính toán để khắc phục các nhược điểm, hạn chế bới các công đoạn vận hành cũng như hạn chế bớt hóa chất sử dụng để giảm chi phí xử lý thì hệ thống sẽ có thể hoạt động và mang lại hiệu quả cao

D Xử lý nước thải bệnh viện theo phương pháp lọc sinh học nhiều bậc trong các ngăn liên tiếp tại thiết bị hợp khối nhập khẩu nước ngoài

Thời gian gần đây khi đầu tư xây dựng mới hệ thống xử lý nước thải bệnh viện ta thường chú ý và lựa chọn một mô hình xử lý nước thải được chế tạo hợp khối nhập khẩu từ Nhật Bản đó là thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (yếm khí/ anaeroic – thiếu khí/anoxic – hiếu khí/ oxic) hay còn gọi là hệ thống Johkaso

Trang 32

Hình 1.3 Thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (Hệ thống Johkaso)

Nước thải từ hệ thống cống thu gom chung của bệnh viện được dẫn vào bể điều hòa có đặt song chắn rác inox kích thước khe hở 5 – 10mm để tách rác và các vật thể lớn có trong nước thải Thời gian nước lưu trong bể điều hòa trung bình từ 3 – 4h Nước thải sau đó được bơm lên thiết bị Johkaso hoạt động theo nguyên tắc AAO

Ngăn yếm khí dòng ngược với vi sinh lơ lửng được kết hợp với khối đệm giá thể bằng PVC chuyên dụng tạo nên màng vi sinh vật kị khí, làm tăng mật độ vi sinh vật lên đến khoảng 20.000 vi sinh vật/m3 nước thải, đảm bảo hiệu quả xử lý theo COD và thành phần lên 75 – 80%

Trong ngăn thiếu khí diễn ra quá trình khử nitrat khi một phần hỗn hợp bùn

và nước thải nitrat được bơm ngược từ ngăn hiếu khí về Trong ngăn này chủ yếu diễn ra quá trình hô hấp thiếu khí và kết quả cuối cùng là giải phóng N2 bay lên và một phần COD (BOD) được xử lý

Trong ngăn hiếu khí, không khí được cấp bởi máy thổi khí, tạo điều kiện để diên ra quá rình oxy hóa sinh hóa hiếu khí các chất hữu cơ và quá trình nitrat hóa diễn ra Kết quả là BOD trong nước thải giảm rõ rệt và amoni chuyển thành nitrat

Như vậy trong 3 ngăn AAO sẽ xử lý được các chất ô nhiễm chủ yếu là hữu

cơ (theo BOD và COD), tổng nitơ và tổng phốtpho

Trang 33

Sau khi qua các bậc xử lý nói trên, hỗn hợp nước thải và bùn được qua ngăn lắng thứ cấp để tách phần lớn lượng bùn hoạt tính nhằm hồi lưu về ngăn anoxic và ngăn oxic Phần bùn dư được đưa về bể chứa bùn

Nước thải sau ngăn lắng thứ cấp được đưa vào ngăn khử trùng Nước thải bệnh viện xử lý trong bể Johkaso có thể được khử trùng bằng hai cách:

- Khử trùng bằng hệ phản ứng sinh học kết hợp lọc màng MBR (Membrane Biological Reactor) Bằng màng MBR có thể loại được 98% vi khuẩn

có trong nước thải Hầu hết vi khuẩn e.coli được giữ lại trên màng lọc Ngoài chức năng khử trùng, trên bề mặt MBR còn tập trung bùn hoạt tính mật độ cao để tiếp tục

xử lý triệt để nước thải Màng MBR được rửa ngược bằng thủy lực theo chương trình tự động lập sẵn

- Khử trùng bằng NaOCl hoặc Ca(OCl)2 dạng viên rắn Khi nước thải sau xử lý đi qua với vận tốc nhất định sẽ làm hòa tan hóa chất khử trùng vào nước Phương pháp này giảm đáng kể thiết bị cũng như chi phí chuẩn bị và định lượng hóa chất khử trùng theo phương pháp truyền thống

Bể Johkaso có kích thước không lớn, gọn, chiều cao từ 2,0 đến 2,5m nên dễ thi công lắp đặt trong hố móng nông Bể được chôn dưới đất nên có thể tận dụng diện tích cho các mục đích khác Hệ thống hợp khối theo công nghệ AAO của Nhật Bản mới được triển khai trên một số bệnh viện tại Việt Nam nên chưa có một nghiên cứu đánh giá một cách cụ thể về hiệu quả xử lý và hiệu quả hoạt động của hệ thống Tuy nhiên, xét trên nguyên lý xử lý, cách bố trí thiết bị và vận hành thì đây là một mô hình công nghệ hiện đại có khả năng tích hợp và giải quyết các vấn đề trong việc xử lý triệt để nước thải bệnh viện như: cách chỉ tiêu hữu cơ, chỉ tiêu vi sinh…

Một số bệnh viện đang áp dụng công nghệ này như: bệnh viện Đa khoa Đức Thọ - Hà Tĩnh Tại thời điểm này, chi phí vận hành tuy khá rẻ khoảng 2000 – 2500 VND/m3 nước thải, nhưng do chi phí đầu tư khá cao do phải nhập khẩu thiết bị từ nước ngoài cũng là trở ngại Với chi phí đầu tư quá cao hệ thống này cũng khó áp dụng một cách rộng rãi Chi phí bảo dưỡng cũng tương đối cao trong điều kiện Việt Nam hiện nay cũng vẫn cần nghiên cứu cải tiến hoặc sử dụng thêm thiết bị trong

Trang 34

nước chế tạo hợp khối để giảm giá thành Trong quá trình bàn giao hệ thống đưa vào sử dụng cũng khó khăn cho cả bên cung cấp công nghệ và đơn vị chủ đầu tư do quá trình là tự động, người vận hành không thuần thục rất dễ hỏng thiết bị, khi hỏng thiết bị rất khó trong quá trình thay thế bảo dưỡng

E Công nghệ xử lý nước thải DEWATS

DEWATS, hệ thống xử lý nước thải phân tán, là một giải pháp mới cho xử lý nước thải hữu cơ với quy mô dưới 1000 m3/ngày đêm, với ưu điểm là hiệu quả xử

lý cao, hoạt động tin cậy, lâu dài, thích ứng với sự dao động về lưu lượng, không cần tiêu thụ điện năng nếu khu vực xử lý có độ dốc thích hợp, công nghệ xử lý thân thiện với môi trường, xử lý nước thải nhờ các vi sinh vật có trong nước thải hoặc nhờ quá trình tự nhiên mà không sử dụng đến hoá chất và đặc biệt là yêu cầu vận hành và bảo dưỡng đơn giản và chi phí rất thấp

- Xử lý sơ bộ bậc một: Quá trình lắng loại bỏ các cặn lơ lửng có khả năng

lắng được, giảm tải cho các công trình xử lý phía sau

Trang 35

- Xử lý bậc hai: Quá trình xử lý nhờ các vi sinh vật kị khí để loại bỏ các chất

rắn lơ lửng và hoà tan trong nước thải Giai đoạn này có hai công nghệ được áp dụng là bể phản ứng kị khí Baffle Reactor (BF) có các vách ngăn và bể lắng kị khí Anarobic Filter (AF) Bể phản ứng kị khí với các vách ngăn giúp cho nước thải chuyển động lên xuống Dưới đáy mỗi ngăn, bùn hoạt tính được giữ lại và duy trì, dòng nước thải vào liên tục được tiếp xúc và đảo trộn với lớp bùn hoạt tính có mật

độ vi sinh vật kị khí cao, nhờ đó mà quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong nước thải được diễn ra mạnh mẽ giúp làm sạch nước thải hiệu quả hơn các bể tự hoại thông thường

Bể lọc kị khí với vật liệu lọc có vai trò là giá đỡ cho các vi sinh vật phát triển, tạo thành các màng vi sinh vật Các chất ô nhiễm hoà tan trong nước thải được

xử lý hiệu quả hơn khi đi qua các lỗ rỗng của vât liệu lọc và tiếp xúc với các màng

vi sinh vật

Toàn bộ phần kị khí nằm dưới đất, không gian phía trên có thể sử dụng làm sân chơi, bãi để xe Điều này rất thích hợp với các khu vực thiếu diện tích xây dựng

- Xử lý bậc ba: Quá trình xử lý hiếu khí Công nghệ áp dụng chủ yếu của

bước này là bãi lọc ngầm trồng cây dòng chảy ngang Ngoài quá trình lắng và lọc tiếp tục xảy ra trong bãi lọc thì hệ thực vật trồng trong bãi lọc góp phần đáng kể trong xử lý nước thải nhờ khả năng cung cấp ô xy qua bộ rễ của cây xuống bãi lọc tạo điều kiện hiếu khí cho các vi sinh vật lớp trên cùng của bãi lọc Bộ rễ của thực vật cũng là môi trường sống thích hợp cho các vi sinh vật có khả năng tiêu thụ các chất dinh dưỡng có trong nước thải, tăng hiệu quả xử lý của bãi lọc Ngoài ra thực vật trong bãi lọc hấp thụ các chất dinh dưỡng như nitơ và phốtpho Nước sau bãi lọc trồng cây thường không còn mùi hôi thối như đầu ra của các công trình xử lý kị khí Sau một thời gian vận hành hệ thực vật trong bãi lọc sẽ tạo nên một khuôn viên đẹp cho toàn bộ hệ thống xử lý

- Khử trùng: hồ chỉ thị với chiều sâu lớp nước nông được thiết kế để loại bỏ

các vi khuẩn gây bệnh nhờ bức xạ mặt trời xuyên qua lớp nước trong hồ Tuy nhiên,

Trang 36

đối với nước thải có lượng vi sinh vật gây bệnh cao thì việc sử dụng hoá chất khử trùng là điều cần thiết

Hiệu quả xử lý:

DEWATS được thiết kế theo yêu cầu của khách hàng, dựa trên nồng độ chất

ô nhiễm dòng vào và yêu cầu chất lượng dòng chảy ra sau xử lý Hiệu quả xử lý của DEWATS có thể đạt được tiêu chuẩn xả thải cho phép

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm mà hệ thống DEWATS mang lại, hệ thống xử lý nước thải này vẫn tồn tại một số nhược điểm như sau:

- Thiết kế xây dựng các công trình xử lý của DEWATS phải phù hợp với điều kiện của địa phương và khu đất để xây hệ thống này phải có chất lượng tốt, không bị sụt lún

- Yêu cầu diện tích mặt bằng lớn

- Chỉ áp dụng để xử lý nước thải hữu cơ, không xử lý được nước thải vô cơ như nước thải chế biến kim loại, nước thải có chứa hóa chất,…

Hiện nay, hệ thống DEWATS đã được áp dụng xử lý nước thải tại: Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Bệnh viện Đa khoa Kim Bảng, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam

Mỗi loại công nghệ và công trình xử lý nước thải đều có ưu, nhược điểm riêng Tổng hợp các ưu, nhược điểm được nêu dưới bảng 1.5 dưới đây:

Bảng 1.5 Tổng hợp các ưu, nhược điểm của công nghệ xử lý nước thải bệnh viện

STT Tên công nghệ Ưu điểm Nhược điểm

- Về mặt cấu tạo, lọc sinh học dạng tháp có bề mặt tiếp xúc pha lớn khi vật liệu lọc có bề mặt riêng và độ rỗng lớn đảm bảo diện tích mặt bằng nhỏ hơn so với bể Aeroten

- Hiệu quả xử lý nitơ hạn chế, chỉ phù hợp với các đối tượng chất thải lỏng y tế có mức ô nhiễm hữu cơ không cao

- Quá trình xử lý đòi hỏi chất thải lỏng y tế tại đầu vào của

bể lọc phải ổn định qua bể điều hòa

- Có thể gây mùi nếu vận hành không đúng và các công trình không kín

Trang 37

- Vận hành và bảo dưỡng đơn giản, chi phí xử lý thấp

2 Bể Aeroten

truyền thống

- Hiệu quả xử lý hữu cơ (BOD,COD)

và chuyển hóa amoni thành nitrat cao

- Kết cấu công trình đơn giản

- Diện tích xây dựng không lớn

- Cung cấp không khí cưỡng bức nên tiêu hao điện năng và

do đó chi phí xử lý cao

- Phải hồi lưu một phần từ bể lắng về bể aeroten để duy trì nồng độ bùn hoạt tính trong bể nên dễ xảy ra hiện tượng bùn khó lắng, hiệu quả xử lý không ổn định

- Quá trình cấp khí sinh ra tiếng ồn

- Không gây mùi do lắp đặt chìm và kín

- Hiệu quả xử lý đạt hiệu suất cao

- Có thể di dời để lắp đặt nơi khác

- Chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với các công nghệ khác

- Đòi hỏi trình độ vận hành cao

- Nếu là bể chế tạo ngoài nước thì chi phí bảo dưỡng, sửa chữa thay thế lớn

4

Hệ thống xử lý

sinh học trong

điều kiện tự nhiên (Dewats)

- Hiệu quả xử lý nước thải trong bãi lọc ngập nước theo BOD có thể tới 90%, theo N có thể tới 60%, không cần khử trùng nước thải nếu thời gian lưu nước thải trong hệ thống trên 10 ngày

- Đầu tư xây dựng tương đối thấp

- Hạn chế tối đa việc sử dụng thiết bị tiêu thụ điện, chi phí vận hành cũng như bảo dưỡng nhỏ hơn so với các công nghệ khác

- Yêu cầu diện tích đất lớn

- Quá trình xử lý nước thải khó kiểm soát và phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết

- Nước thải có thể ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đất

và nước ngầm

- Phải thường xuyên thu hoặc sinh khối cây trồng

Trang 38

1.3 Đánh giá công nghệ áp dụng trong xử lý nước thải

1.3.1 Tổng quan chung về đánh giá công nghệ môi trường

Hiện nay có 2 mô hình được các nước trên thế giới phát triển và áp dụng là đánh giá công nghệ môi trường theo mô hình Environmental Technology Assessment và Environmental Technology Verification

Mô hình đánh giá công nghệ môi trường Environmental Technology Assessment do chương trình môi trường Liên hợp quốc xây dựng và phát triển, được khuyến khích sử dụng tại các nước đang phát triển Mô hình này tập trung chủ yếu vào việc đánh giá lợi ích, hiệu quả môi trường của các công nghệ sản xuất hoặc công nghệ thân thiện với môi trường hơn là việc đánh giá các công nghệ môi trường

Mô hình đánh giá công nghệ môi trường Environmental Technology Verification: được sử dụng tại nhiều quốc gia phát triển (Anh, Hoa Kỳ, Canada, Hàn Quốc, Nhật Bản…) Mô hình này lần đầu tiên được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ phát triển vào năm 1995 Mô hình đánh giá công nghệ môi trường Environmental Technology Verification được chia theo nhiều loại khác nhau như: Quy trình đánh giá các công nghệ quan trắc môi trường, công nghệ xử lý các chất thải rắn, nước thải, ô nhiễm không khí, cũng như quy trình đánh giá công nghệ phòng ngừa ô nhiễm môi trường

Thực tế cho thấy, mô hình Environmental Technology Verification là

mô hình tốt để đánh giá công nghệ môi trường nhằm cung cấp cho người sử dụng công nghệ, các nhà chính sách và các cơ quan hữu quan một cách tiếp cận để phân tích hiệu quả và lựa chọn công nghệ phù hợp nhất và tốt nhất trong việc bảo vệ môi trường

Trang 39

Bảng 1.6 Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường

- Giảm chi phí bảo dưỡng

và cải thiện kết quả môi

trường sau cùng

- Giảm ảnh hưởng xấu tới

sức khỏe công nhân

- Giảm phí y tế do tai nạn nghề nghiệp và ô nhiễm

- Tránh được chi phí làm sạch môi trường

- Khả năng quy hoạch và quản lý môi trường tốt hơn

- Duy trì hiệu quả kinh tế đang có trong việc sử dụng tài nguyên địa phương

- Chất lượng cuộc sống cao hơn

- Hạn chế rủi ro, tai nạn nghề nghiệp

- Rủi ro sức khỏe thấp hơn do ô nhiễm công nghiệp

- Duy trì các giá trị văn hóa, xã hội

- Bảo đảm bảo vệ môi trường của cộng đồng

Nguồn: [40]

1.3.2 Hiện trạng đánh giá công nghệ môi trường trên Thế giới và Việt Nam

Trên Thế giới Trên thế giới quy trình thẩm định công nghệ môi trường ít được sử dụng rộng rãi do thị trường công nghệ môi trường được phát triển theo hướng kinh tế thị trường nên người sử dụng sẽ cố gắng tìm hiểu và lựa chọn các công nghệ tốt nhất và phù hợp nhất Do đó các nhà phát triển công nghệ môi trường thuộc các công ty hoặc nhà sản xuất sẽ phải cố gắng tìm ra các công nghệ tiên tiến nhằm cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển thị trường công nghệ môi trường

Trang 40

Vậy nên, thay vì thẩm định công nghệ môi trường, các nước trên thế giới có

xu hướng đánh giá công nghệ môi trường Đánh giá công nghệ môi trường ở các nước trên thế giới được sử dụng không mang tính chất bắt buộc đối với các nhà sản xuất công nghệ hoặc người sử dụng không mang tính chất bắt buộc đối với các nhà sản xuất công nghệ hoặc người sử dụng công nghệ, việc đánh giá công nghệ môi trường mang tính chất tự nguyện nhằm thúc đẩy việc ứng dụng các công nghệ môi tốt nhất, phù hợp nhất trong thực tế

Với mô hình đánh giá công nghệ môi trường Environmental Technology Verification, Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1995, Hàn Quốc bắt đầu từ 1997, Canada bắt đầu từ 1997…Hàng năm ở các nước này đã thực hiện chương trình đánh giá công nghệ môi trường với hàng trăm công nghệ xử lý chất thải được đánh giá, công nghệ môi trường phù hợp góp phần thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ, phát triển thị trường [40]

Cụ thể, trung tâm khoa học môi trường Trung Quốc đã tiến hành đánh giá công nghệ sản xuất sạch hơn cho ngành công nghiệp rượu cồn Trung Quốc Kết quả: Sau khi nghiên cứu và tiến hành thử nghiệm, chất lượng rượu cồn được tăng lên, giảm ô nhiễm, tiết kiệm năng lượng…Sự ra đời của công nghệ này góp phần phát triển bền vững ngành công nghiệp rượu cồn Trung Quốc

Ở Việt Nam Năm 2005, Cục Bảo vệ môi trường thực hiện nhiệm vụ: “Điều tra, đánh giá, bình chọn các mô hình xử lý chất thải làng nghề, bãi rác và một số ngành công nghiệp”, trong đó có sản phẩm “Dự thảo quy trình đánh giá công nghệ môi trường” Đây là bản dự thảo được xây dựng trên cơ sở tham khảo từ các quy trình của Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ cùng với cơ sở luật pháp và thực tiễn Việt Nam Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ “Hoàn thiện quy trình xét chọn, đánh giá và thẩm định công nghệ môi trường”, Cục Bảo vệ môi trường đã bước đầu đưa ra tiêu chí và phương pháp đánh giá công nghệ môi trường Loại hình công nghệ được đề xuất đánh giá là công nghệ môi trường phù hợp

Năm 2011, Tổng cục Môi trường đã xây dựng tài liệu kỹ thuật “Hướng dẫn

Ngày đăng: 13/07/2022, 16:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Y tế (1999), Quy chế quản lý chất thải y tế. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1999
4. Từ Hải Bằng (2007), Các công nghệ và thiết bị xử lý nước thải bệnh viện, Học viện Quân y, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các công nghệ và thiết bị xử lý nước thải bệnh viện
Tác giả: Từ Hải Bằng
Năm: 2007
5. Ngô Kim Chi (2010), “Nghiên cứu khảo sát hiện trạng nước thải bệnh viện, công nghệ và đề xuất cải thiện”, Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khảo sát hiện trạng nước thải bệnh viện, công nghệ và đề xuất cải thiện
Tác giả: Ngô Kim Chi
Nhà XB: Viện hóa học các hợp chất thiên nhiên
Năm: 2010
6. Trần Đức Hạ (1998), “Xử lý nước thải và phế thải rắn bệnh viện”, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, trường Đại học Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nước thải và phế thải rắn bệnh viện
Tác giả: Trần Đức Hạ
Nhà XB: Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
Năm: 1998
7. Trần Đức Hạ (2003), Công nghệ và công trình xử lý nước thải quy mô nhỏ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ và công trình xử lý nước thải quy mô nhỏ
Tác giả: Trần Đức Hạ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
8. Trần Đức Hạ (2008). Báo cáo đề tài NCKH Bộ xây dựng. Xây dựng TCVN: Trạm xử lý nước thải bệnh viện – Các yêu cầu kỹ thuật để thiết kế và quản lý vận hành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đề tài NCKH Bộ xây dựng. Xây dựng TCVN: Trạm xử lý nước thải bệnh viện – Các yêu cầu kỹ thuật để thiết kế và quản lý vận hành
Tác giả: Trần Đức Hạ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
9. Lý Ngọc Kính, Dương Huy Liệu, Nguyễn Văn Đoàn (2012), Một số nhận xét hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của viện Công nghệ môi trường. Hội khoa học học kinh tế y tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của viện Công nghệ môi trường
Tác giả: Lý Ngọc Kính, Dương Huy Liệu, Nguyễn Văn Đoàn
Nhà XB: Hội khoa học học kinh tế y tế Việt Nam
Năm: 2012
10. Trần Hiếu Nhuệ (1990), Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, NXB Xây Dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học
Tác giả: Trần Hiếu Nhuệ
Nhà XB: NXB Xây Dựng
Năm: 1990
11. Nguyễn Xuân Nguyên (2003), Nước thải và công nghệ xử lý nước thải, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước thải và công nghệ xử lý nước thải
Tác giả: Nguyễn Xuân Nguyên
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2003
12. Nguyễn Xuân Nguyên, Phạm Hồng Hải (2004), Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện, nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xử lý nước thải bệnh viện
Tác giả: Nguyễn Xuân Nguyên, Phạm Hồng Hải
Nhà XB: nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2004
13. Lương Đức Phẩm (2009), Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học, nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ xử lý nước thải bằng biện pháp sinh học
Tác giả: Lương Đức Phẩm
Nhà XB: nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
14. Bùi Thanh Tâm (1993), Vệ sinh bệnh viện – Giáo trình vệ sinh môi trường, Trường cán bộ Quản lý y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh bệnh viện – Giáo trình vệ sinh môi trường
Tác giả: Bùi Thanh Tâm
Nhà XB: Trường cán bộ Quản lý y tế
Năm: 1993
15. Nguyễn Tùng Phong, Vũ Hải Nam, Tô Việt Thắng, Đặng Thị Kim Anh (2011), công nghệ DEWATS, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: công nghệ DEWATS
Tác giả: Nguyễn Tùng Phong, Vũ Hải Nam, Tô Việt Thắng, Đặng Thị Kim Anh
Nhà XB: Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Năm: 2011
19. Trần Quang Toàn, Lê Thái Hà (2005), ”Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải bệnh viện về hóa lý và hiệu quả xử lý nước thải trong các bệnh viện”, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải bệnh viện về hóa lý và hiệu quả xử lý nước thải trong các bệnh viện
Tác giả: Trần Quang Toàn, Lê Thái Hà
Nhà XB: Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường
Năm: 2005
20. Lý Ngọc Kính, Dương Huy Liệu, Nguyễn Văn Đoàn (2012), Một số nhận xét hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của viện Công nghệ môi trường. Hội khoa học học kinh tế y tế Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét hệ thống xử lý nước thải bệnh viện theo công nghệ lọc sinh học nhỏ giọt cải tiến của viện Công nghệ môi trường
Tác giả: Lý Ngọc Kính, Dương Huy Liệu, Nguyễn Văn Đoàn
Nhà XB: Hội khoa học học kinh tế y tế Việt Nam
Năm: 2012
21. Tổng cục môi trường (2011), tài liệu kỹ thuật Hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải và giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải đối với ngành Chế biến thuỷ sản, Dệt may, Giấy và bột giấy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tài liệu kỹ thuật Hướng dẫn đánh giá sự phù hợp của công nghệ xử lý nước thải và giới thiệu một số công nghệ xử lý nước thải đối với ngành Chế biến thuỷ sản, Dệt may, Giấy và bột giấy
Tác giả: Tổng cục môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
22. Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường (2013), Kết quả quan trắc môi trường tại bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả quan trắc môi trường tại bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò
Tác giả: Trung tâm quan trắc và kỹ thuật môi trường
Năm: 2013
23. A.Rezaee, M.Ansari, A.Khavanin, A.Sabzali and M.M. Aryan (2005), “Hospital Wastewater Treatment Using an Integrated AnaerobicAerobic Fixed Film Bioreactor”, Process Biochemistry, Volume 39, Issue 11, 30 July 2004, p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hospital Wastewater Treatment Using an Integrated AnaerobicAerobic Fixed Film Bioreactor
Tác giả: A. Rezaee, M. Ansari, A. Khavanin, A. Sabzali, M. M. Aryan
Nhà XB: Process Biochemistry
Năm: 2005
24. Ajay Kumar Gautam, Sunil Kumar, P.C. Sabumon (2007), “Preliminary study of physico-chemical treatment options for hospital wastewate”, Journal of Environmental Management, Volume 83, Issue 3, May 2007,p. 298–306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Preliminary study of physico-chemical treatment options for hospital wastewater
Tác giả: Ajay Kumar Gautam, Sunil Kumar, P.C. Sabumon
Nhà XB: Journal of Environmental Management
Năm: 2007
25. Bonde, G.J (1977), "Bacterial indication of water polution", in Advances in Aquatic Microbiology" (eds.M.R. Droop and H.W. Jannasch), Academic Press, London, p. 273 – 364 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacterial indication of water polution
Tác giả: G.J Bonde
Nhà XB: Academic Press
Năm: 1977

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tiêu chuẩn nước cấp và lượng nước thải bệnh viện - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.1. Tiêu chuẩn nước cấp và lượng nước thải bệnh viện (Trang 13)
Bảng 1.2. Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.2. Các thông số ô nhiễm trong nước thải bệnh viện (Trang 16)
Bảng 1.3. QCVN 28:2010/BTNMT: - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.3. QCVN 28:2010/BTNMT: (Trang 20)
Bảng 1.4. Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.4. Khoảng cách tối thiểu của công trình xử lý nước thải bệnh viện đối (Trang 25)
Hình 1.1. Sơ đồ xử lý bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Hình 1.1. Sơ đồ xử lý bằng phương pháp lọc sinh học nhỏ giọt cấp khí tự nhiên (Trang 26)
Hình 1.2. Sơ đồ công nghệ cụm thiết bị hợp khối CN-2000 - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Hình 1.2. Sơ đồ công nghệ cụm thiết bị hợp khối CN-2000 (Trang 29)
Hình 1.3. Thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (Hệ thống Johkaso) - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Hình 1.3. Thiết bị hợp khối theo công nghệ AAO (Hệ thống Johkaso) (Trang 32)
Hình 1.4. Các bước xử lý nước thải của DEWATS - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Hình 1.4. Các bước xử lý nước thải của DEWATS (Trang 34)
Bảng 1.6. Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.6. Lợi ích từ việc đánh giá công nghệ môi trường (Trang 39)
Bảng 1.7. Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá sự phù hợp của công - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 1.7. Các tiêu chí đánh giá và thang điểm đánh giá sự phù hợp của công (Trang 44)
Bảng 3.1. Thông tin chung về bệnh viện - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 3.1. Thông tin chung về bệnh viện (Trang 51)
Hình.3.1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa huyện Nghi Lộc - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
nh.3.1. Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa huyện Nghi Lộc (Trang 52)
Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò  được chỉ ra ở hình 3.3 dưới đây: - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Sơ đồ c ông nghệ hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò được chỉ ra ở hình 3.3 dưới đây: (Trang 57)
Bảng 3.3. Kết quả phân tích các chỉ tiêu nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Bảng 3.3. Kết quả phân tích các chỉ tiêu nước thải bệnh viện thị xã Cửa Lò (Trang 61)
Hình 3.2. Thông số ô nhiễm nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò - LUẬN văn THẠC sỹ KHOA học                                             NGUYỄN MAI PHONG
Hình 3.2. Thông số ô nhiễm nước thải bệnh viện Đa khoa thị xã Cửa Lò (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm