Một trong những hướng nghiên cứu đó là sử dụng các vật liệu quang xúc tác để chuyển hóa năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học trong việc xử lý các chất ô nhiễm môi trường
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Đào Ngọc Nhiệm PGS TS Đỗ Quang Trung
Hà Nội – Năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi lời cảm ơn TS.Đào Ngọc Nhiệm,
Trưởng phòng Vật liệu vô cơ, Viện Khoa học Vật liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam; PGS TS Đỗ Quang Trung, Trưởng bộ môn Hóa môi
trường, Đại học Khoa học Tự nhiên đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bản luận văn này
Em xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong khoa Hóa học
đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập cao học tại Đại học Khoa học Tự nhiên
Em xin trân trọng cảm ơn NCS Nguyễn Thị Hà Chi, cùng các anh, chị, em
Phòng Vật liệu Vô cơ, Viện Khoa học Vật liệu – Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã nhiệt tình hỗ trợ em trong quá trình tiến hành thực nghiệm của luận văn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn tạo mọi điều kiện, động viên, giúp đỡ em trong quá trình học tập
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Học viên
Trần Thị Phương
Trang 5DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Giới thiệu chung về ô nhiễm hữu cơ trong môi trường nước 3
1.1.1 Một số phương pháp xử lý hợp chất hữu cơ trong nước thải 4
1.1.2 Ứng dụng xúc tác quang xử lý Methyl da cam (MO) trong môi trường nước 6
1.1.3 Ứng dụng xúc tác quang xử lý Xanh methylen (MB) trong môi trường nước 8
1.2 Vật liệu quang xúc tác 9
1.2.1 Khái niệm phản ứng xúc tác quang 9
1.2.2 Vùng hóa trị – vùng dẫn, năng lượng vùng cấm 10
1.2.3 Cơ chế phản ứng quang xúc tác dị thể 11
1.3 Vật liệu xúc tác quang BiNbO4 12
1.3.1 Vật liệu BiNbO4 12
1.3.2 Các phương pháp chế tạo vật liệu BiNbO4 13
Chương 2 THỰC NGHIỆM 17
2.1 Hóa chất, thiết bị 17
2.1.1 Hóa chất 17
2.1.2 Dụng cụ và thiết bị 17
2.2 Tổng hợp vật liệu 17
2.2.1 Quy trình tổng hợp vật liệu bằng phương pháp đối cháy gelPVA 17
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc, hình thái và kích thước vậtliệu 18
2.3 Nghiên cứu hoạt tính quang xúc tác phân hủy chất hữu cơ của vật liệu BNO 22
2.3.1 Lập đường chuẩn xanh metylen 22
2.3.2 Lập đường chuẩn metyl da cam 24
2.3.3 Phương pháp đánh giá khả năng quang xúc tác của vật liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 30
Trang 63.1.1 Kết quả phân tích nhiệt của mẫu gel BNO 30
3.1.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến sự hình thành pha của vậtliệu BNO 31
3.1.3 Cấu trúc, hình thái, kích thước tinh thể BiNbO4 33
3.2 Khảo sát khả năng quang xúc tác phân hủy xanh metylen và metyl da cam của vật liệu BiNbO4 35
3.2.1 Khảo sát khả năng hấp phụ của vật liệu 35
3.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến khả năng quang xúc tác của vật liệu 36
3.2.3 Ảnh hưởng của thời gian phản ứng tới khả năng quang xúc tác của vật liệu BNO 37
3.2.4 Ảnh hưởng của lượng vật liệu đến khả năng quang xúc tác 38
3.2.5 Ảnh hưởng của H2O2 đến khả năng quang xúc tác của vật liệu 39
3.2.6 Khả năng tái sử dụng của vật liệu BNO 40
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 47
Trang 7Hình 1.1 Công thức cấu tạo của hợp chất methyl da cam 7
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của hợp chất xanh methylen 8
Hình 1.3.Vùng năng lượng của chất cách điện, bán dẫn, chất dẫn điện 10
Hình 1.4 Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn 11
Hình 1.5: Cấu trúc tinh thể của vật liệu BiNbO 4 12
Hình 2.1 Quá trình tổng hợp vật liệu BNO bằng phương pháp đốt cháy gel PVA 18 Hình 2.2 Phổ hấp phụ UV-Vis của dung dịch xanh metylen 10ppm 23
Hình 2.3 Đồ thị đường chuẩn xanh metylen 23
Hình 2.4 Phổ hấp thụ phân tử UV-Vis của dung dịch metyl da cam 24
Hình 2.5 Đồ thị đường chuẩn metyl da cam 25
Hình 2.6 Hệ thiết bị quang xúc tác 26
Hình 3.1 Giản đồ phân tích nhiệt của mẫu gel BNO 30
Hình 3.2 Giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu được nung ở các nhiệt độ khác nhau 32
Hình 3.3 Ảnh SEM của hệ vật liệu BNO khi nung ở nhiệt độ khác nhau… 33
Hình 3.4 Ảnh TEM của vật liệu BNO550 35
Hình 3.5 Hiệu suất hấp phụ dung dịch MB, MO của vật liệu BNO750 36
Hình 3.6 Ảnh hưởng của nhiệt độ nung đến khả năng xử lý của vật liệu 36
Hình 3.7 Ảnh hưởng của thời gian tới khả năng xử lý metyl da cam của vật liệu BNO750 38
Hình 3.8 Ảnh hưởng của lượng vật liệu đến khả năng quang xúc tác 38
Hình 3.9 Hiệu suất phân hủy phẩm màu bằng H 2 O 2 theo thời gian 39
Hình 3.10 Khả năng tái sử dụng của vật liệu BNO750 40
Trang 8STT Viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
2 BOD Biological oxygen demand Nhu cầu oxy sinh hóa
6 DTA Differential thermal analysis Phân tích nhiệt vi sai
7 TG/DTG Thermogravimetry/Derivative thermogravimetry
Nhiệt khối lượng/ đạo hàm đường cong nhiệt khối lượng
12 SEM Scanning Electron Microscopy Kính hiển vi điện tử quét
13 TEM Transmission Electron Microscopy Kính hiển vi điện tử truyền qua
14 UV-Vis Ultra violet - visible Tử ngoại – khả kiến
Trang 9MỞ ĐẦU
Trong thế giới hiện đại, ô nhiễm môi trường đang là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu Cùng với sự gia tăng các hoạt động công nghiệp là sự sản sinh ra các chất thải độc hại có tác động tiêu cực trực tiếp đến sức khỏe con người
và hệ sinh thái Các quá trình của công nghệ dệt, nhuộm, sản xuất dược phẩm, sơn, giấy…đã tạo ra các nguồn ô nhiễm chứa các hợp chất hữu cơ độc hại.Trong đó, việc nghiên cứu xử lý tính độc và ô nhiễm màu trong nước của các loại thuốc nhuộm, chất màu đang được đặc biệt quan tâm.Những hợp chất này không dễ dàng bị phân hủy Cho đến nay, một số phương pháp đã được kết hợp để xử lý hiệu quả nước thải chứa chất màu, với một trong các mục tiêu chính là khử màu Trong đó, những phương pháp thân thiện với môi trường, không có chất thải rắn đang ngày càng được chú trọng và mang đến những kết quả triển vọng
Một trong những hướng nghiên cứu đó là sử dụng các vật liệu quang xúc tác
để chuyển hóa năng lượng ánh sáng mặt trời thành năng lượng hóa học trong việc
xử lý các chất ô nhiễm môi trường
Trước đây, vật liệu quang xúc tác chủ yếu được nghiên cứu là TiO2 với các
ưu điểm như rẻ tiền, ít độc hại, độ bền quang hóa cao, [25, 33] Tuy nhiên, vật liệu này có các nhược điểm cần khắc phục như hoạt tính quang xúc tác của TiO2 là thấp trong vùng ánh sáng nhìn thấy do độ rộng vùng cấm lớn (năng lương vùng cấm Eg xấp xỉ 3,2 eV tương đương với bước sóng hấp thụ trong khoảng λ ≤ 400 nm) và khó thu hồi để tái sử dụng [15,20] Hầu hết các nghiên cứu về vật liệu quang xúc tác phân hủy hợp chất hữu cơ độc hại dưới các bức xạ vùng tử ngoại, trong khi năng lượng tử ngoại chỉ chiếm lượng nhỏ khoảng 8% tổng năng lượng bức xạ mặt trời Một phần lớn năng lượng mặt trời chưa được sử dụng (chiếm khoảng 48% trong tổng năng lượng) đó là năng lượng của các bức xạ trong vùng ánh sáng khả kiến Vì vậy, cần thiết phải nghiên cứu và phát triển các vật liệu xúc tác có hoạt tính quang xúc tác trong vùng ánh sáng khả kiến để tận dụng được nguồn năng lượng từ ánh sáng mặt trời
Trang 10Các hướng nghiên cứu liên quan đến vật liệu quang xúc tác đang được các nhà nghiên cứu quan tâm là doping TiO2 bằng các nguyên tố kim loại hoặc phi kim
để giảm năng lượng vùng cấm hoặc tìm kiếm các loại vật liệu mới Trong đó, BiNbO4 là một trong những vật liệu hệ ABO4 đang được quan tâm nghiên cứu do tính chất đặc biệt, là hoạt tính xúc tác quang cao với năng lượng vùng cấm khoảng
từ 2,5 eV đến 2,8 eV [37], hứa hẹn sẽ có nhiều tính chất thú vị như khả năng bền hóa học [12] và khả năng xúc tác dị thể [11, 19, 32, 34] Đặc biệt hơn, khi sử dụng BiNbO4 cho phép phân hủy các chất ô nhiễm hữu cơ độc hại trong nước dưới ánh sáng trong vùng khả kiến [14, 29]; hiệu suất quang xúc tác lớn hơn rất nhiều so với TiO2
Từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần nhỏ cho sự phát triển
ngành vật liệu mới, chúng tôi tiến hành nghiên cứu để tài: “Nghiên cứu tổng hợp,
và đặc trưng cấu trúc vật liệu nano BiNbO 4 để xử lý một số chất hữu cơ ô nhiễm trong môi trường nước”
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Giới thiệu chung về ô nhiễm hữu cơ trong môi trường nước
Trong những năm gần đây, các ngành công nghiệp nhẹ ở Việt Nam như: công nghệ dệt nhuộm, da giầy, in, chế biến nông sản…ngày càng phát triển song song với tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Nhưng do quy mô các công ty, xí nghiệp và các làng nghề không lớn nên khả năng xử lý nước thải chưa được chú trọng Nguồn thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa hoàn toàn từ các khu công nghiệp này được thải trực tiếp ra ngoài gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường nước Các nguồn thải ra môi trường nước một lượng các hợp chất hữu
cơ lớn, khó phân hủy làm ảnh hưởng đến chất lượng nước, gây ngộ độc cho các loài thủy sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước phục vụ cho các hoạt động trong sản xuất và sinh hoạt của con người
Chỉ riêng với ngành công nghiệp dệt nhuộm, nước thải ra môi trường chứa các hợp chất tạo màu hữu cơ trong quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường nghiệm trọng Hơn nữa, ngành công nghiệp dệt nhuộm trong nước hầu hết dưới dạng làng nghề thủ công và công ty có quy mô nhỏ, nước thải ra thường không được xử lý hoặc chỉ được xử lý một phần và được thải trực tiếp ra sông hồ, gây ô nhiễm nguồn nước Các nguồn thải này đều có các chỉ số pH, DO, BOD, COD,…rất cao vượt quá tiêu chuẩn cho phép được thải ra môi trường sinh thái.[3, 6]
Như vậy, nước thải công nghiệp nói chung và nước thải ngành dệt nhuộm nói riêng để đạt tiêu chuẩn cho phép thải ra môi trường sinh thái cần tuân thủ nghiêm ngặt khâu xử lý các hóa chất gây ô nhiễm môi trường có mặt trong nước thải sau khi sản xuất hoặc chế biến các sản phẩm công nghiệp
Hiện nay, việc xử lý các chất hữu cơ độc hại trong đó có xanh metylen, metyl da cam (là các phẩm màu được sử dụng phổ biến trong công nghiệp) trong môi trường nước là vấn đề cấp thiết và được quan tâm hàng đầu bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước
Trang 121.1.1 Một số phương pháp xử lý hợp chất hữu cơ trong nước thải [7]
Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất và nguồn gốc của nước thải mà nước thải được phân thành nhiều loại và có các cách xử lý phù hợp.Nước thải dệt nhuộm có đặc điểm là chứa tổng hàm lượng chất rắn hòa tan, chất rắn lơ lửng, độ màu, BOD
và COD cao Một số phương pháp xử lý nước thải dệt nhuộm có thể kể đến như: phương pháp hấp phụ, phương pháp keo tụ, phương pháp oxi hóa, siêu âm, plasma nguội…
a) Phương pháp hấp phụ
Phương pháp hấp phụ có khả năng xử lý các chất khó phân hủy sinh học hoặc các chất hữu cơ khó phân hủy Trong công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm, thường dùng chúng để khử màu nước thải chứa thuốc nhuộm hòa tan và thuốc nhuộm hoạt tính Cơ sở của quá trình là sự hấp phụ chất tan lên bề mặt chất rắn (chất hấp phụ), sau đó giải hấp để tái sinh chất hấp phụ.Các chất hấp phụ thườn được sử dụng là than hoạt tính, than nâu, đất sét, magie cacbonat Trong số đó, than hoạt tính cho kết quả hấp phụ hiệu quả nhất do có bề mặt riêng lớn 400 – 1500
m2/g Nhu cầu lượng than hoạt tính để xử lý chất thải màu là khác nhau, trong đó có
sự tổn thất do quá trình hoạt hóa nhiệt cho than Phương pháp này có nhiều ưu điểm nhưng không kinh tế nên không được sử dụng rộng rãi
b) Phương pháp keo tụ
Phương pháp keo tụ là phương pháp thông dụng để xử lý nước thải dệt nhuộm Người ta thường dùng các loại phèn nhôm hoặc phèn sắt, hay dùng cả hai loại phèn này với canxi hydroxit Ca(OH)2 với mục đích khử màu và một phần COD trong nước thải
Khi hòa tan phèn vào trong nước tạo thành các hydroxit dạng bông xốp, các chất màu và các chất hữu cơ khó phân hủy bị hấp phụ vào các bông và lắng xuống tạo bùn Để tăng quá trình keo tụ, tạo bông thường bổ sung chất trợ keo như polime hữu cơ
Trang 13Bên cạnh phương pháp keo tụ hóa học, phương pháp keo tụ điện hóa đã được ứng dụng để khử màu ở quy mô công nghiệp.Nguyên lý của phương pháp này là trong thiết bị keo tụ có các điện cực, giữa các điện cực có dòng điện một chiều để làm tăng quá trình kết bám tạo bông cặn dễ lắng Điều kiện làm việc tối ưu của hệ thống này là cường độ dòng điện 1800 mA, điện thể 8 V, pH = 5,5 – 6,5
c) Phương pháp oxi hóa
Phương pháp oxi hóa thường được dùng để xử lý các hợp chất hữu cơ trong nước thải dệt nhuộm Do các hợp chất hữu cơ trong nước thải có cấu trúc phức tạp nên phải dùng các chất có tính oxi hóa mạnh để phá vỡ các phân tử thuốc nhuộm thành các phần tử nhỏ hơn, có cấu tạo đơn giản hơn Các chất oxi hóa được dùng phổ biến hiện nay là Ozon, Clo, H2O2…
Ozon là chất oxi hóa mạnh, được dùng để phá hủy các hợp chất hữu cơ, đặc biệt là các hợp chất màu azo có mặt trong nước thải dệt nhuộm Ưu điểm của nó là
dễ tan trong nước, tốc độ phản ứng nhanh, xử lý triệt để, không tạo bùn cặn, cải thiện phân giải vi sinh, giảm chỉ số COD của nước Ozon có thể sử dụng đơn lẻ hay kết hợp với hyđroperoxit, tia tử ngoại, siêu âm, hấp phụ than hoạt tính để phá hủy nhiều thuốc nhuộm azo như: N-rot-green, N-orange và indigo rabinol
Hydroperoxit cũng là một chất oxi hóa mạnh, có khả năng oxi hóa nhiều hợp chất hữu cơ và vô cơ.Tuy nhiên, nếu phản ứng oxi hóa chỉ bằng H2O2 thì không đủ hiệu quả để oxi hóa các chất có nồng độ lớn.Sự kết hợp giữa H2O2 và FeSO4 tạo nên hiệu ứng Fenton, cho phép khoáng hóa rất nhiều hợp chất hữu cơ và nhiều loại thuốc nhuộm khác nhau (hoạt tính, trực tiếp, bazơ, axit và phân tán), làm giảm chỉ
số COD của nước
Các chất chứa clo hoạt tính (NaOCl, Cl2,…) có thể xử lý nhiều thuốc nhuộm khác nhau tương đối hiệu quả, tuy nhiên nó cũng có những hạn chế nhất định Một
số nghiên cứu chỉ ra rằng, việc xử lý các chất màu họ azo có thể được oxi hóa bởi NaOCl, nhưng sau khi phá hủy các hợp chất hữu cơ, các halogen dễ dàng hình thành các trihalogenmetan và gây ô nhiễm môi trường thứ cấp
Trang 14d) Phương pháp siêu âm [16]
Một số sóng siêu âm được sử dụng cho phép sản sinh các vi bọt rỗng trong dung dịch lỏng Các bọt rỗng này được tạo thành trong chu kì khan hiếm không khí của sóng truyền âm
Tần số siêu âm được sử dụng trong khoảng từ 20 đến 500 MHz Sự phân hủy chất ô nhiễm hữu cơ một mặt xảy ra theo cơ chế gốc tự do, mặt khác xảy ra do sự đốt trong các bọt rỗng (≈ 3000ºC) Hiệu quả xử lý phụ thuộc vào các tính chất vật lý
và hóa học của các chất ô nhiễm hữu cơ.Một trong những khó khăn của phương pháp siêu âm là hiệu quả phân hủy thấp.Tuy nhiên, các nghiên cứu đã cho thấy bức
xạ siêu âm cho phép tăng hiệu quả của quá trình quang xúc tác.So sánh quá trình quang xúc tác, siêu âm và quang xúc tác kết hợp siêu âm thực hiện bởi Meazawa và cộng sự đối với phân hủy axit da cam đã chỉ ra rằng quá trình kết hợp cho kết quả tốt hơn cả [23]
e) Plasma nguội
Gần đây, phương pháp mới phóng tia lửa điện hồ quang “Glidarc” đã chứng minh được hiệu quả phân hủy các chất ô nhiễm trong dung dịch cũng như trong pha khí, thực tế, tia lửa điện hồ quang là quá trình phóng điện sinh ra trong trường điện tích có mật độ cao được hình thành giữa 2 hoặc 3 điện cực khác nhau và trượt dưới phương pháp khí plasma Quá trình phóng điện này được gọi là hồ quang nguội, kéo theo hình thành các ion dương, ion âm, điển tử và chất hoạt hóa khác Các chất trong plasma phụ thuộc vào trạng thái tự nhiên của khí plasma.Trong trường hợp khí ẩm, các chất này được sinh ra từ N2, O2, và H2O.Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
có sự có mặt của N2 và oxit nitơ, các gốc NO·, OH·, HO2 trong khí plasma ẩm
1.1.2 Ứng dụng xúc tác quang xử lý Methyl da cam (MO) trong môi trường nước
Metyl da cam (MO) là một chất bột tinh thể màu da cam, không tan trong dung môi hữu cơ, khó tan trong nước nguội, nhưng dễ tan trong nước nóng Công thức phân tử của metyl da cam là C14H14N3NaO3S và cấu trúc hóa học như Hình
Trang 151.4, khối lượng phân tử 327,34 đvc, khối lượng riêng 1,28g/cm3 Hợp chất methyl
da cam là hợp chất màu azo (chứa nhóm mang màu –N=N-) , thuộc loại thuốc nhuộm axit, có tính độc mạnh và có tính chất lưỡng tính với hằng số axit Ka = 4.10-
4 Trong môi trường kiềm và trung tính, metyl da cam có màu vàng và chuyển dần sang màu đỏ khi pH của môi trường thay đổi tới môi trường axit, với khoảng pH chuyển màu từ 3,1 đến 4,4 Do có cấu tạo mạch cacbon khá phức tạp và cồng kềnh, liên kết –N=N- và vòng benzen khá bền vững nên methyl da cam rất khó bị phân hủy
Hình 1.1 Công thức cấu tạo của hợp chất methyl da cam
Metyl da cam thường được sử dụng để nhuộm trực tiếp các loại sợi động vật, các loại sợi có chứa nhóm bazơ như len, tơ tằm, sợi tổng hợp polyamit trong môi trường axit, ngoài ra cũng có thể nhuộm xơ sợi xenlulozơ với sự có mặt của urê Do
có khả năng chuyển màu từ đỏ sang vàng khi pH của dung dịch thay đổi nên metyl
da cam còn được sử dụng làm chất chỉ thị trong Hóa phân tích
Trong môi trường nước, chỉ một lượng nhỏ metyl da cam đã có thể cảm giác
về màu sắc.Lượng metyl da cam trong nước càng lớn màu càng đậm Màu đậm của nước thải cản trở sự hấp thụ oxy và ánh sáng mặt trời gây tác hại cho sự hô hấp, sinh trưởng của các loài thủy sinh, làm tác động xấu đến khả năng phân giải vi sinh vật đối với các chất hữu cơ trong nước thải Việc loại bỏ lượng dư metyl da cam khỏi môi trường nước là rất cần thiết
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp quang xúc tác để phân hủy metyl da cam Trong đó, đa số các nghiên cứu được tiến hành trong vùng ánh sáng
tử ngoại với vật liệu là TiO2 Một số kết quả cho thấy, sử dụng TiO2 xúc tác quang trong vùng tia UV cho hiệu suất xử lý đạt 76%, sau 120 phút phản ứng [36]; hay
Trang 16biến tính TiO2 bằng cách hấp phụ một số kim loại như Fe, Co, Mn, Cu lên bề mặt oxit này để tăng khả năng phân hủy, đạt hiệu suất 98% sau thời gian chiếu sáng tia
UV 180 phút [35] Như vậy, ta có thể thấy rằng, quang xúc tác là phương pháp rất tiềm năng giúp xử lý metyl da cam đạt hiệu suất cao Ở đề tài này, chúng tôi lựa chọn metyl da cam làm đối tượng nghiên cứu khả năng quang xúc tác của vật liệu BNO với hi vọng rút ngắn thời gian phản ứng, tận dụng được ánh sáng trong vùng khả kiến do năng lượng vùng cấm của vật liệu BiNbO4 thấp hơn TiO2
1.1.3 Ứng dụng xúc tác quang xử lý Xanh methylen (MB) trong môi trường nước
Xanh Methylen (MB) là một chất màu thuộc họ thiozin, công thức hóa học là C16H18N3SCl và có công thức cấu tạo như Hình 1.5, khối lượng phân tử 319,85 g/mol Đây là một hợp chất có màu xanh đậm, có màu lam khi hòa tan trong nước
và ổn định ở nhiệt độ phòng Dạng dung dịch 1% có pH từ 3 – 4,5 Khi phân hủy sẽ sinh ra khí độc như: Cl2, NO, CO, SO2, CO2, H2S Xanh methylen nguyên chất 100% dạng bột hoặc tinh thể
Hình 1.2 Công thức cấu tạo của hợp chất xanh methylen
Trong Hóa phân tích, xanh metylen được sử dụng như một chất chỉ thị với thể oxi hóa khử tiêu chuẩn là 0,01V để phân tích một số nguyên tố theo phương pháp động học Trong công nghiệp, xanh methylen được ứng dụng rộng rãi trong các ngành như : ngành nhuộm vải, nilon, da, gỗ; sản xuất mực in do khả năng bám màu tốt; trong xây dựng để kiểm nghiệm đánh giá chất lượng bê tông và vữa; trong
y học được sử dụng để chữa một số bệnh ngoài da, các bệnh về nấm, vi khuẩn và kí sinh trùng
Trang 17Trong môi trường nước, xanh metylen bị hấp thu vào vật chất lơ lửng, bùn đáy ao và không có khả năng bay hơi ra khỏi bề mặt nước Nếu thải vào trong không khí, xanh metylen sẽ tổn tại cả dạng hơi và bụi lơ lửng Dạng hơi sẽ bị phân hủy do phản ứng quang phân với các gốc oxi hóa Mặc dù không phải là hóa chất gây độc cao, nhưng xanh methylen có thể gây tổn thương tạm thời da, mắt trên con người và động vật khi tiếp xúc trực tiếp.Nó có thể gây khó thở trong thời gian ngắn khi hít phải và đối với hệ tiêu hóa nếu nuốt phải xanh methylen gây ra các triệu chứng nóng ruột, buồn nôn, chóng mặt
Do những tính chất đặc thù của xanh methylen nên nó thường được chọn làm đối tượng trong những nghiên cứu về vấn đề phân hủy hợp chất hữu cơ theo hướng quang xúc tác Một số nghiên cứu trước đó có thể kể đến như việc sử dụng vật liệu quang xúc tác TiO2, ZnO để xử lý xanh metylen.Kết quả thực nghiệm của một số đề tài này cũng cho kết quả xử lý chất màu tương đối tốt Với ZnO, sau thời gian chiếu sáng bằng tia UV 90 phút, có thêm xúc tác H2O2, hiệu quả xử lý đạt tới 99,99% [24] Rusmidal Ali và Ooi Boon Seiw đã nghiên cứu kết hợp hai oxit TiO2 và ZnO với tỉ lệ thích hợp cũng cho thấy hiệu suất phân hủy MB rất cao, đạt 96,97% [28] và chỉ ra sự phụ thuộc của hiệu suất xử lý vào bước sóng ánh sáng và sự có mặt của các ion kim loại như Cu2+, Pb2+ Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn đang dừng lại
ở việc sử dụng nguồn sáng là tia tử ngoại mà chưa tận dụng nguồn năng lượng giàu
có nhất trong năng lượng mặt trời là ánh sáng vùng khả kiến Ở đề tài này, chúng tôi lựa chọn xanh metylen là đối tượng tiếp theo để nghiên cứu khả năng quang xúc tác của BiNbO4 với ánh sáng nhìn thấy
1.2 Vật liệu quang xúc tác
1.2.1 Khái niệm phản ứng xúc tác quang
Trong hóa học, khái niệm phản ứng xúc tác quang dùng để nói đến những phản ứng xảy ra dưới tác dụng đồng thời của chất xúc tác và ánh sáng Nói cách khác, ánh sáng chính là nhân tố kích hoạt chất xúc tác, giúp cho phản ứng xảy ra
Khi có sự kích thích của ánh sáng, trong chất bán dẫn sẽ tạo ra cặp electron –
Trang 18lỗtrống quang sinh ở vùng dẫn và vùng hóa trị Những cặp electron – lỗ trống này
sẽ di chuyển ra bề mặt để thực hiện phản ứng oxi hóa- khử Xúc tác quang là một trong những quá trình oxi hóa – khử nhờ tác nhân ánh sáng Bằng cách như vậy, chất xúc tác quang làm tăng tốc độ phản ứng quang hóa, cụ thể là tạo ra một loạt quy trình giống như phản ứng oxy hoá - khử và các phân tử ở dạng chuyển tiếp có khả năng oxy hoá - khử mạnh khi được chiếu bằng ánh sáng thích hợp [5]
1.2.2 Vùng hóa trị – vùng dẫn, năng lượng vùng cấm
Theo lí thuyết vùng, cấu trúc của vật chất gồm có một vùng gồm những obitan phân tử được xếp đủ electron, gọi là vùng hóa trị (Valance band – VB) và một vùng gồm những obitan phân tử còn trống electron, gọi là vùng dẫn (Conduction band – CB) Hai vùng này được chia cách nhau bởi một khoảng cách năng lượng gọi là vùng cấm, năng lượng vùng cấm Eg (band gap energy) chính là độ chênh lệch năng lượng giữa hai vùng hóa trị và vùng dẫn [5]
Hình 1.3 Vùng năng lượng của chất cách điện, bán dẫn, chất dẫn điện [18]
Sự khác nhau giữa vật liệu dẫn, không dẫn và bán dẫn chính là sự khác nhau
về giá trị năng lượng vùng cấm Eg Vật liệu bán dẫn là vật liệu có tính chất trung gian giữa vật liệu dẫn và vật liệu không dẫn Khi được kích thích đủ lớn bởi năng lượng (lớn hơn năng lượng vùng cấm Eg), các electron trong vùng hóa trị (VB) của vật liệu bán dẫn có thể vượt qua vùng cấm nhảy lên vùng dẫn (CB), trở thành chất dẫn có điều kiện Nói chung, những chất có Eg lớn hơn 3,5 eV là chất không dẫn, ngược lại những chất có Eg thấp hơn 3,5 eV là chất bán dẫn Những chất bán dẫn đều có thể làm chất xúc tác quang [5]
Chất dẫn điện Chất bán dẫn
Chất không dẫn
Trang 191.2.3 Cơ chế phản ứng quang xúc tác dị thể
Quá trình xúc tác quang dị thể có thể được tiến hành ở pha khí hoặc pha lỏng Dưới tác dụng của ánh sáng, cơ chế xúc tác quang trên chất bán dẫn gồm các quá trình sau:
Hình 1.4 Cơ chế xúc tác quang của chất bán dẫn
- Quá trình vật liệu bán dẫn hấp thụ năng lượng ánh sáng mặt trời tạo thành cặp electron–lỗ trống quang sinh
C (chất bán dẫn) + hν → hVB + eCB
- Quá trình di chuyển cặp electron – lỗ trống quang sinh lên bề mặt chất bán dẫn
- Quá trình tái kết hợp electron – lỗ trống quang sinh bên trong (vùng hóa trị - vùng dẫn) và trên bề mặt chất bán dẫn
- Quá trình tạo các gốc tự do bởi electron và lỗ trống quang sinh Các electron–lỗ trống quang sinh có khả năng phản ứng cao hơn so với các tác nhân oxi hóa - khử
đã biết trong hóa học
- Các electron–lỗ trống quang sinh chuyển đến bề mặt và tương tác với một số chất
bị hấp thụ như nước và oxy, tạo ra những gốc tự do trên bề mặt chất bán dẫn theo cơ chế:
hVB + H2O → HO + H+
eCB + O2h O2
Các gốc tự do HO, O2đóng vai trò quan trọng trong cơ chế quang phân hủy các hợp chất hữu cơ khi tiếp xúc với chúng
Trang 20Gốc HOlà một tác nhân oxi hóa rất mạnh, không chọn lọc và có khả năng oxi hóa hầu hết các hợp chất hữu cơ Quá trình phân hủy một số hợp chất hữu cơ gây ô nhiễm diễn ra như sau:
Hình 1.5 Cấu trúc tinh thể của vật liệu BiNbO 4
a) α-BiNbO4; b) β- BiNbO4 Các vật liệu dạng oxit phức hợp có cấu trúc ABO4 được phân loại vào cùng một họ Các chất này gồm hai nguyên tố A và B (không nhất thiết phải khác nhau) liên kết với oxi như KMnO4, CaMoO4, GdAsO4, ZrSiO4 và TiTiO4… Hai nguyên tố
A và B được nhóm lại thành cặp theo số oxi hóa của 2 nguyên tố như cặp I – VII, II – VI, III – V, IV – IV trong hợp chất Các vật liệu hệ ABO4 có cấu trúc tinh thể tồn
Trang 21tại ở nhiều dạng như scheelite (CaWO4), wolfra-mite (FeWO4), monazit (CePO4), zircon (ZrSiO4), rutile (TiO2), barit (BaSO4) [17] Các oxit phức hợp họ ABO4 còn tồn tại ở các hệ tinh thể khác nhau như hệ đơn tà, trực thoi hay tứ phương tùy thuộc vào nhiệt độ và áp suất tổng hợp vật liệu [17, 30, 38].Ở hệ vật liệu BiNbO4, sự chuyển hóa một chiều (dạng bột) từ dạng α sang dạng β ở nhiệt độ 1020oC [26, 27, 31]
Các oxit phức hợp ABO4 chứa các nguyên tố nhóm đất hiếm nhẹ (La, Ce, Nd) và các nguyên tố chuyển tiếp nhóm VB (V, Ta, Nb) là các vật liệu tiên tiến, thường được ứng dụng trong công nghiệp bởi các tính chất vật lý như khả năng phát quang, tính chất điện, từ và đặc biệt với hoạt tính xúc tác cao trong phản ứng khử hydro, phản ứng quang xúc tác phân hủy các hợp chất hữu cơ Trong nghiên cứu này, nguyên tố chuyển tiếp Nb được sử dụng để chế tạo vật liệu
Các vật liệu họ ABO4 thường được tổng hợp chủ yếu bằng phương pháp gốm truyền thống, phương pháp nuôi đơn tinh thể, phương pháp thủy nhiệt đi từ các tiền chất là các oxit kim loại có độ tinh khiết cao, được phối trộn ở nhiệt độ cao với áp suất lớn và thời gian chế tạo vật liệu dài Trong đề tài này, tôi tiến hành tổng hợp vật liệu BiNbO4 bằng phương pháp đốt cháy gel polyme để đơn giản hóa điều kiện tổng hợp mẫu mà vẫn thu được vật liệu ở dạng tinh thể có kích cỡ nanomet
1.3.2 Các phương pháp chế tạo vật liệu BiNbO 4
a) Phương pháp pha rắn truyền thống
Phương pháp pha rắn là phương pháp phổ biến để tổng hợp vật liệu Đặc điểm chung của phản ứng pha rắn là rất ít xảy ra ở nhiệt độ thường, xảy ra ở nhiệt
độ cao Điểm bắt đầu phản ứng tại những vị trí khuyết tật, sai lệch trên bề mặt Tốc
độ phản ứng tỉ lệ với bề mặt tiếp xúc chung của các ion Tùy thuộc vào độ linh động của các ion và khả năng tạo dung dịch rắn của các chất mà tạo thành mạng lưới tinh thể
Ưu điểm của phương pháp là thiết bị đơn giản, dễ thực hiện nhưng lại có nhiều khuyết điểm như tiền chất phải thật tinh khiết, thời gian phản ứng dài, nhiệt
Trang 22độ phản ứng cao, sản phẩm thu được còn tồn tại nhiều thành phần pha không mong muốn và kích thước hạt không đồng đều
Vật liệu BiNbO4 được tổng hợp bằng phương pháp này đi từ tiền chất là các oxit Bi2O3 và Nb2O5 Tuy nhiên, để thu được vật liệu BNO đơn pha kích thước nanomet là rất khó Trên thực tế, bằng phản ứng pha rắn truyền thống, điều này rất khó đạt được và phụ thuộc vào điều kiện chế tạo, độ tinh khiết của các chất đầu vào, khả năng dễ bay hơi của Bi2O3 ở nhiệt độ cao cũng khiến quá trình phản ứng gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, sau quá trình phản ứng cũng thường thu được các pha không mong muốn khác như Bi5Nb3O15 hoặc Bi3NbO7
b) Phương pháp nuôi đơn tinh thể
Phương pháp nuôi đơn tinh thể là một phương pháp chủ yếu được sử dụng để chế tạo các loại hợp chất có cấu trúc đơn tinh thể, có độ tinh khiết cao.Một trong những yếu tố quan trọng nhất là nguyên liệu ban đầu cho việc nuôi đơn tinh thể phải thuộc loại rất tinh khiết (siêu sạch), sự có mặt của chất bẩn ảnh hưởng rất lớn đến
độ hoàn chỉnh của tinh thể để từ đó ảnh hưởng đến các tính chất vật lí của sản phẩm.Bởi vậy, không những chất ban đầu dùng để nuôi tinh thể phải siêu sạch mà các dụng cụ đựng, phòng làm việc, khí quyển trong thiết bị nuôi đơn tinh thể cũng phải bảo đảm rất sạch Quá trình kết tinh là quá trình tỏa nhiệt, do đó để đảm bảo điều kiện cân bằng cho sự phát triển tinh thể thật hoàn chỉnh phải có những bộ phận thu hồi lượng nhiệt tỏa ra khi kết tinh
Quá trình nuôi đơn tinh thể rất phức tạp do yêu cầu nhiều thông tin và kiến thức liên quan đến quá trình kết tinh như: kiểu mạng lưới, các thông số mạng, các dung môi có thể hòa tan được tinh thể đó, các giản đồ pha ở các áp suất khác nhau của chất nghiên cứu và các chất có thể làm dung môi, các thông số hóa lí như nhiệt
độ nóng chảy, hiệu ứng nhiệt nóng chảy, nhiệt độ sôi, nhiệt độ thăng hoa, các điểm chuyển pha, hệ số giãn nở nhiệt, độ tan ở nhiệt độ khác nhau trong các dung môi khác nhau…
Tùy thuộc vào loại vật liệu mà có nhiều cách tổng hợp đơn tinh thể Có thể phân thành 3 nhóm phương pháp nuôi đơn tinh thể: kết tinh từ dung dịch nước hoặc
Trang 23dung dịch với dung môi không phải là nước; kết tinh từ pha lỏng nguyên chất của chất đó; kết tinh từ pha hơi
Vật liệu BiNbO4 đã được tổng hợp bằng phương pháp nuôi đơn tinh thể, BiNbO4 được kết tinh từ hỗn hợp BiOF nóng chảy và NbO6ở nhiệt độ dưới 900ºC.Tinh thể tạo ra không màu, có dạng hình thang và cách điện [29]
α-c) Phương pháp thủy nhiệt
Phương pháp thủy nhiệt là phương pháp dùng nước dưới áp suất cao và nhiệt
độ cao hơn điểm sôi bình thường Lúc đó, nước thực hiện hai chức năng thứ nhất vì
ở trạng thái hơi nên nước đóng vai trò là môi trường truyền áp suất, thứ hai nó đóng vai trò như một dung môi có thể hoà tan một phần chất phản ứng dưới áp suất cao
Do đó phản ứng được thực hiện trong pha lỏng hoặc có sự tham gia một phần của pha lỏng hoặc pha hơi
Thông thường áp suất pha khí ở điểm tới hạn chưa đủ để thực hiện quá trình này Vì vậy người ta thường chọn áp suất cao hơn áp suất hơi cân bằng của nước để tăng hiệu quả của quá trình điều chế Nhiệt độ, áp suất hơi nước và thời gian phản ứng là các nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả của phương pháp thủy nhiệt Ngoài
ra người ta cũng có thể sử dụng các dung môi phân cực như NH3, dung dịch nước chứa
HF, các axit, bazơ khác để điều chỉnh pH hoặc các dung môi không phân cực để mở rộng khả năng ứng dụng của phương pháp tổng hợp này Tuy nhiên, cách làm này có một nhược điểm là dễ làm cho nồi phản ứng bị nhiễm độc và ăn mòn Vì vậy đối với mỗi loại tiền chất, người ta thường đặt sẵn các thông số vật lý, hóa học trong suốt quá trình điều chế Điều này tương đối phức tạp do các thông số này bị ảnh hưởng lẫn nhau
và sự ảnh hưởng qua lại này vẫn chưa được giải quyết một cách thoả đáng
Thủy nhiệt là một trong những phương pháp tốt để điều chế vật liệu nano BiNbO4 tinh khiết Phương pháp này có một số ưu điểm so với các phương pháp khác như nhiệt độ tương đối thấp, không gây hại môi trường vì phản ứng được tiến hành trong một hệ kín.Nhưng, phương pháp này cũng gặp nhiều khó khăn bởi hiệu suất phản ứng không cao, và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện nhiệt độ, áp suất môi
Trang 24trường phản ứng và kích cỡ vật liệu khoảng vài trăm nanomet đến cỡ vài micromet.[9, 32]
d) Phương pháp tổng hợp đốt cháy gel polyme
Tổng hợp đốt cháy (CS – Combusion synthesis) trở thành một trong những kỹ thuật quan trọng trong điều chế các vật liệu gốm mới (về cấu trúc và chức năng), composit, vật liệu nano
Trong số các phương pháp hóa học, tổng hợp đốt cháy có thể tạo ra tinh thể bột nano oxit và oxit phức hợp ở nhiệt độ thấp hơn trong một thời gian ngắn và có thể đạt ngay đến sản phẩm cuối cùng mà không phải xử lý nhiệt thêm nên hạn chế được sự tạo pha trung gian và tiết kiệm được năng lượng
Quá trình tổng hợp đốt cháy xảy ra phản ứng oxi hóa khử tỏa nhiệt mạnh giữa hợp phần chứa kim loại và hợp phần không kim loại, phản ứng trao đổi giữa các hợp chất hoạt tính hoặc phản ứng chứa hợp chất hay hỗn hợp oxi hóa khử…Những đăc tính này làm cho tổng hợp đốt cháy thành một phương pháp hấp dẫn cho sản xuất các vật liệu mới với chi phí thấp so với các phương pháp truyền thống Một số
ưu điểm khác của phương pháp tổng hợp đốt cháy là: thiết bị công nghệ tương đối đơn giản, sản phẩm có độ tinh khiết cao, kích thước hạt tương đối đồng đều
Trong phương pháp đốt cháy gel polime, để ngăn ngừa sự tách pha cũng như
sự đồng nhất cao cho sản phẩm, phương pháp hóa học ướt thường sử dụng các tác nhân tạo gel Một số polime hữu cơ được sử dụng ngoài vai trò tác nhân tạo gel còn
là nguồn nhiên liệu như polivinyl ancol, polietylen glycol, polyacrylic axit Trong phương pháp này, dung dịch tiền chất gồm dung dịch các muối kim loại (thường là muối nitrat) được trộn với polime hòa tan trong nước tạo thành hỗn hợp nhớt Làm bay hơi nước hoàn toàn hỗn hợp này thu được khối xốp nhẹ và đem nung ở nhiệt độ khoảng 300ºC - 1050ºC, sản phẩm thu được là các oxit phức hợp mịn.[1]
Trong nghiên cứu này, tác nhân tạo gel được lựa chọn là poli vinyl ancol ở dạng hạt, dung dịch muối tiền chất là muối nitrat của Bitmut và muối oxalat của Niobium
Trang 25Chương 2 THỰC NGHIỆM 2.1 Hóa chất, thiết bị
2.1.1 Hóa chất
- Dung dịch Bi(NO3)30,5M: Cân 24,74 g tinh thể Bi(NO3)3.5H2O (Merck, P
≥ 98%) hòa tan trong 100 ml nước có nhỏ vài giọt dung dịch H2SO4 96%
- Dung dịch (NH4)3NbO(C2O4)3 0,1 M (PA): được pha sẵn tại phòng thí nghiệm Vật liệu Vô cơ, Viện Khoa học Vật liệu
- Máy khuấy từ gia nhiệt IRE (Ý),
2.2.1 Quy trình tổng hợp vật liệu bằng phương pháp đối cháy gelPVA
Vật liệu BiNbO4 (BNO) được tổng hợp theo quy trình sau: (sơ đồ Hình 2.1) Cho PVA vào trong nước khuấy đều trên máy khuấy từ ở nhiệt độ 80°C đến khi tan hết, sau đó thêm từ từ các dung dịch Bi(NO3)3 và (NH4)3NbO(C2O4)3 với tỉ
lệ mol kim loại/PVA là 1/1/3, hệ có pH = 1 Sau 2 giờ hệ gel đồng nhất màu trắng ngả vàng giữa Bi3+, Nb5+ với PVA được hình thành Gel được sấy trong 4 giờ ở
Trang 26120°C và đem nung ở các nhiệt độ 350°C, 550°C, 750°C, 850°C và 950°C trong 2 giờ Chúng tôi nghiên cứu ảnh hưởng của của nhiệt độ nung mẫu đến sự hình thành pha của vật liệu BNO Sản phảm sau quá trình tổng hợp được mang đi xác định thành phần cấu trúc, kích thước hạt,
Hình 2.1 Quá trình tổng hợp vật liệu BNO bằng phương pháp đốt cháy gel PVA
2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cấu trúc, hình thái và kích thước vậtliệu
a) Phương pháp nhiễu xa tia X (XRD) [4]
Kỹ thuật nhiễu xạ tia X cung cấp một số thông tin chủ yếu đối với vật liệu nghiên cứu như: sự tồn tại các pha định tính, định lượng, hằng số mạng tinh thể, kích thước mạng tinh thể, sự kéo căng micro, sự kéo căng trong giới hạn mạng tinh thể do khuyết tật trong mạng tinh thể gây ra Thêm vào đó, sử dụng kĩ thuật Fourier phân tích hình dạng của pic thu được sự phân bố kích thước của các vi tinh thể Sự
PVA (Hòa tan trong nước ở nhiệt độ 80ºC)
Nung 2h
ở các nhiệt độ 350ºC, 550ºC, 750ºC, 850ºC, 950ºC
BiNbO4 Kích thước nanomet
Trang 27tồn tại pha định tính, định lượng được nhận dạng chủ yếu vào vị trí, cường độ, diện tích thu được từ nhiễu xạ nghiêng
Hằng số mạng của tinh thể: trên cơ sở các giá trị d thu được từ giản đồ nhiễu
xạ tia X, ta tính được hằng số mạng tinh thể thông qua biểu thức:
Hệ lập phương: 2 2
a
d = (h +k +l )Trong đó: h, k, l là chỉ số Miller của họ mặt mạng,
λ (Ǻ): độ dài bước sóng tia X khi dùng anot Cu:K 0,9
B (radian): bề rộng tại một nửa chiều cao của pic gây ra bởi kích
thước hạt tinh thể θB: góc Bragg
Giản đồ nhiễu xạ tia X của vật liệu BNO được ghi trên máy D8 ADVANCE – Bruker, bức xạ CuKα vớibước sóng λ 1,5406 Å tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
b) Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM) [13]
Phương pháp sử dụng kính hiển vi điện tử quét (SEM – Scanning Electronic Microscopy) được sử dụng để xác định hình dạng và cấu trúc bề mặt của vật liệu
Ưu điểm của phương pháp này là có thể thu được những bức ảnh ba chiều chất lượng cao và không đòi hỏi phức tạp trong khâu chuẩn bị mẫu Tuy nhiên, phương pháp SEM có độ phóng đại nhỏ hơn phương pháp TEM Phương pháp SEM đặc biệt hữu dụng, bởi nó cho độ phóng đại có thể thay đổi từ 10 đến 10.000 lần với
Trang 28hình ảnh rõ nét, hiển thị hai chiều phù hợp cho việc phân tích hình dạng và cấu trúc
bề mặt
Nguyên tắc: Một chùm tia điện tử đi qua các thấu kính điện từ tiêu tụ thành
một điểm rất nhỏ chiếu lên bề mặt mẫu nghiên cứu Khi các điện tử của chùm tia tới
va chạm với các nguyên tử ở bề mặt vật rắn thì có nhiều hiệu ứng xảy ra.Từ điểm ở
bề mặt mẫu mà chùm điện tử chiếu đến, có nhiều loại hạt, loại tia được phát ra gọi chung là các loại tín hiệu Mỗi loại tín hiệu phản ánh một đặc điểm của mẫu tại thời điểm được điện tử chiếu đến (số lượng điện tử thứ cấp phát ra phụ thuộc độ lồi lõm
ở bề mặt mẫu, số điện tử tán xạ ngược phát ra phụ thuộc nguyên tử số Z, bước sóng tia X phát ra phụ thuộc nguyên tử ở mẫu là nguyên tố nào…) Cho chùm điện tử quét lên mẫu, và quét một cách đồng bộ một tia điện tử trên một màn hình Thu và khuếch đại một loại tín hiệu nào đó từ mẫu phát ra để làm thay đổi cường độ sáng của tia điện tử quét trên màn hình, ta thu được ảnh Nếu thu tín hiệu ở mẫu là điện
tử thứ cấp ta có kiểu ảnh điện tử thứ cấp, độ sáng tối trên ảnh cho biết độ lồi lõm trên bề mặt mẫu Với các mẫu dẫn điện, chúng ta có thể thu trực tiếp điện tử thứ cấp của mẫu phát ra, còn với các mẫu không dẫn điện chúng ta phải tạo trên bề mặt mẫu một lớp kim loại (thường là vàng hoặc platin)
Trong phương pháp kính hiển vi điện tử quét, các thấu kính dùng để tập trung chùm điện tử thành điểm nhỏ chiếu lên mẫu chứ không dùng để phóng đại Cho tia điện tử quét trên mẫu với biên độ nhỏ d (cỡ micromet) còn tia điện tử quét trên màn hình với biên độ lớn D (tuỳ theo kích thước màn hình), ảnh có độ phóng đại D/d Ảnh được phóng đại theo phương pháp này thì mẫu không cần phải cắt lát mỏng và phẳng, cho phép quan sát được mẫu kể cả khi bề mặt mấp mô
Độ phóng đại của kính hiển vi điện tử quét thông thường từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn lần, năng suất phân giải phụ thuộc vào đường kính của chùm tia chiếu hội tụ trên mẫu Với sóng điện tử thông thường (dây sợi đốt hình chữ V), năng suất phân giải là 10 nm đối với ảnh bề mặt bằng cách thu điện tử thứ cấp, do
đó có thể qua sát thấy hình dạng và kích thước của các hạt vật liệu lớn hơn 20 nm
Trang 29Ảnh vi cấu trúc và hình thái học của vật liệu được chụp bằng kính hiển vi điện tử quét SEM trên máy S-4800 Hitachi (Nhật Bản) tại Viện Khoa học vật liệu
c) Phương pháp hiển vi điện tử truyền qua (TEM)
Phương pháp dựa trên việc sử dụng chùm tia điện tử để tạo ảnh mẫu nghiên cứu Chùm tia được tạo ra từ catot qua hai “tụ quang”, điện tử sẽ được hội tụ lên mẫu nghiên cứu Một số chùm tia điện tử đập vào mẫu, một số chùm tia điện tử truyền qua Các điện tử truyền qua này được đi qua điện thế gia tốc rồi vào phần thu
và biến đổi thành tín hiệu ánh sáng, tín hiệu được khuếch đại, đưa vào lưới điều khiển tạo độ sáng trên màn ảnh Phương pháp TEM được sử dụng trong việc nghiên cứu đặc trưng bề mặt và cấu trúc vật liệu, đặc biệt cho biết nhiều chi tiết nano trong
mẫu nghiên cứu: hình dạng, kích thước, biên giới hạt,
Ảnh TEM của mẫu vật liệu được chụp trên máy Jeol – JEM 1010 – Japan, tại Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương
d) Phương pháp phân tích nhiệt
Từ giản đồ nhiệt với các đường DTA, DTG, TG thu được từ bộ phận xử lý thông tin, ta giải thích được các quá trình hóa lí xảy ra khi tiến hành nung mẫu có chứa từ một đến nhiều cấu tử Đó là quá trình chuyển hóa thù hình (qua DTA), các quá trình phân hủy chất, các quá trình phản ứng diễn ra giữa chất nghiên cứu và khí quyển trong lò nung Các thông tin thu được xảy ra từ giản đồ nhiệt không những cho phép xác định thành phần định tính và định lượng của các pha có sẵn trong mẫu, mà còn cho phép tiền hành tính toán các giá trị nhiệt động và động lực học của quá trình xảy ra khi nâng nhiệt
Ứng dụng của phương pháp phân tích nhiệt là rất rộng lớn: nghiên cứu và sản xuất polime, các vật liệu silicat (xi măng, gốm, sứ, thủy tinh, vật liệu chịu lửa)
và tính chất đặc trưng của các vật liệu mới (gốm kĩ thuật, gốm bán dẫn, siêu dẫn, vật liệu từ, quang học,…), thăm dò địa chất khoáng sản, ngành luyện kim, sản xuất thuốc y dược… Do đó, phương pháp phân tích nhiệt đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống và sản xuất của con người
Trang 30Các giản đồ TGA, DTA được ghi trên máy Setaram (Pháp) tại phòng Vật liệu Vô cơ, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
e) Phương pháp phổ UV-Vis [8]
Phương pháp phổ UV-Vis gắn liền với các bước chuyển điện tích của các electron từ trạng thái cơ bản lên trạng thái kích thích (n →σ*, n →π*, π→π*) khi hấp phụ năng lượng ánh sáng Năng lượng hấp phụ của phân tử ứng với mỗi bước sóng ánh sáng được xác định bởi công thức ∆E = hc/λ Đường cong biểu diễn độ hấp thụ quang vào bước sóng hay số sóng trong vùng tử ngoại – khả kiến gọi là phổ hấp thụ
tử ngoại – khả kiến hay phổ hấp phụ UV-Vis (Ultravis – Visible) Phổ hấp thụ tử ngoại – khả kiến đượng dùng nhiều trong nghiên cứu cấu trúc của phức chất, chất hữu cơ và được sử dụng trong phân tích định đượng bằng phương pháp trắc quang
Phổ hấp thụ tử ngoại – khả kiến được ghi trên máy UV-1800 (Shimadzu, Nhật Bản) trong vùng 190 nm – 1100 nm tại phòng Vật liệu Vô cơ, Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2.3 Nghiên cứu hoạt tính quang xúc tác phân hủy chất hữu cơ của vật liệu BNO
2.3.1 Lập đường chuẩn xanh metylen
Để xác định nồng độ xanh metylen trong dung dịch sau khi phân hủy, tôi dựng đường chuẩn xanh metylen trong khoảng nồng độ từ 0 ppm – 10 ppm (Các dung dịch làm việc được pha từ dung dịch xanh metylen 1000 ppm) bằng phương pháp trắc quang so màu trên máy UV-Vis Phổ hấp thụ UV-Vis của dung dịch xanh metylen có nồng độ 10 ppm được đưa ra ở Hình 2.2
Từ phổ hấp thụ của dung dịch xanh metylen trên hình 2.2 cho thấy dung dịch xanh metylen có cực đại hấp thụ ở bước sóng λmax = 664 nm Nồng độ MB được xác định tại bước sóng này
Trang 31Hình 2.2 Phổ hấp phụ UV-Vis của dung dịch xanh metylen 10ppm
Để xác định sự phụ thuộc của độ hấp thụ quang vào nồng độ dung dịch xanh metylen, tôi tiến hành đo quang các dung dịch xanh metylen có nồng độ lần lượt là
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 ppm và thu được đồ thị đường chuẩn như hình 2.3
Hình 2.3 Đồ thị đường chuẩn xanh metylen
Nồng độ dung dịch xanh metylen C (ppm)