ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA LỊCH SỬ HỌC PHẦN CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Đà Nẵng, tháng 1 năm 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG 5 CHƯƠNG 1 ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA VÙNG VĂN HÓA BẮC BỘ VÀ VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ 5 1 1 Những điểm tương đồng 5 1 2 Những điểm dị biệt 6 CHƯƠNG 2 ĐỜN CA TÀI TỬ Ở NAM BỘ 14 2 1 Khái quát chung 14 2 1 1 Khái niệm đờn ca tài tử 15 2 1 2 Lịch sử hình thành 15 2 1 3 Đặc điểm 16 2 1 4 Trình diễn 18 2 1 5 Một số bài đờn ca tài tử h.
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2M C L C Ụ Ụ
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA VÙNG VĂN HÓA BẮC BỘ VÀ VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ 5
1.1 Những điểm tương đồng 5
1.2 Những điểm dị biệt 6
CHƯƠNG 2: ĐỜN CA TÀI TỬ Ở NAM BỘ 14
2.1 Khái quát chung 14
2.1.1 Khái niệm đờn ca tài tử 15
2.1.2 Lịch sử hình thành 15
2.1.3 Đặc điểm 16
2.1.4 Trình diễn 18
2.1.5 Một số bài đờn ca tài tử hay 19
2.1.6 Giá trị nổi bật 20
2.1.7 Vai trò và ý nghĩa 20
2.2 Thực trạng 22
2.3 Giải pháp 23
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 4sử, lại trải qua sự đứt gãy Bắc Bộ và Nam Bộ đều là những vùng văn hóa có những đặc điểm giống nhau đồng thời lại ẩn chứa nét riêng.
Vùng văn hoá Bắc Bộ có hình một tam giác bao gồm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình và sông Mã với cư dân Việt sống quần tụ thành làng xã Đây là vùng đất đai phù trú, bởi bậy nó từng là cái nôi của văn hoá Đông Sơn thời thượng cổ, văn hóa Đại Việt thời trung cổ… với những thành tựu rất phong phú về mọi mặt Nó cũng
là cội nguồn của văn hoá Việt ở nam Trung Bộ và Nam Bộ sau này
Vùng văn hoá Nam Bộ nằm trong lưu vực sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long,với khí hậu hai mùa (khô - mưa), với mênh mông sông nước và kênh rạch Các cư dân Việt, Chăm, Hoa tới khai phá và nhanh chóng hoà nhập với thiên nhiên và cuộc sống của
cư dân bản địa (Khmer, Ma, Xtiêng, Chơro, Mnong) Nhà ở có khuynh hướng trải dài venkênh, ven lộ, bữa ăn giàu thuỷ sản, tính cách con người ưa phóng khoáng, tín ngưỡng tôn giáo rất đa dạng, sớm tiếp cận và đi đầu trong quá trình giao lưu hội nhập với văn hoá phương Tây
Và những điều trên mới là vài nét phác thảo những đặc trưng văn hóa giữa văn hóa Bắc Bộ và Nam Bộ
Trang 5Ngoài ra khi đến với Nam Bộ, ngoài những cảnh quan thơ mộng, không khí yên bình
và đặc sản là những vườn cây trái trĩu quả Còn một điều đặc biệt mà bạn không thể bỏ qua đó chính là Đờn ca tài tử - dòng nhạc dân gian, cổ xưa của Việt Nam được UNESCOghi danh là di sản văn hóa phi vật thể Đây là loại hình rất phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT GIỮA VÙNG VĂN HÓA BẮC
BỘ VÀ VÙNG VĂN HÓA NAM BỘ
Vùng văn hóa là một không gian văn hóa nhất định, được tạo thành bởi các đơn vị dân
cư trên một phạm vi địa lý của một hay nhiều tộc người, sáng tạo ra một hệ thống các dạng thức văn hóa mang đậm sắc thái tâm lý cộng đồng, thể hiện trong môi trường xã hộinhân văn thông qua các hình thức ứng xử của con người với tự nhiên, xã hội và ứng xử với nhau trên một tiến trình lịch sử phát triển lâu dài Trong đó vùng văn hóa Bắc Bộ và Nam Bộ có những nét giống nhau nhưng đồng thời cũng có những nét khác biệt
1.1 Những điểm tương đồng
Ẩm thực: Bắc Bộ và Nam Bộ có cơ cấu ăn hình thành từ ngàn xưa và cho đến tận bây
giờ vẫn phù hợp với khoa học hiện đại là cơm với rau là chính Cơm với rau chính là sản phẩm nền nông nghiệp lúa nước, là sản phẩm lao động của con người Đồng thời cả hai vùng, các nguồn nguyên liệu đều lấy từ tự nhiên, nguồn thuỷ sản từ sông biển, từ những nguyên liệu chính sức lực của người nông dân tạo ra Cả hai vùng đều góp phần mang lại
sự phong phú, đa dạng cho văn hóa ẩm thực Việt Nam
Trang phục: Trang phục của hai vùng đều là những loại vải kết hợp với họa tiết, màu sắc
tạo nên nét đặc trưng riêng của mỗi vùng đồng thời đó còn là những bộ trang phục phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng
Nhà cửa: Việt Nam với tài nguyên rừng vô cùng phong phú vậy nên từ xa xưa ông cha ta
đã sử dụng nguồn nguyên liệu quý giá ấy để xây dựng nhà cửa Nhà gỗ Nam Bộ và Bắc
Bộ các hoạ tiết được chạm khắc lên gỗ vô cùng tỉ mỉ và tinh xảo khẳng định được sự công phu của người thợ tạo nên Đồng thời họ luôn phải ngăm gỗ qua hàng chục năm trước khi xây dựng nhà
Trang 6Làng xã: Làng có vị trí đặc biệt đối với lịch sử đất nước nói chung và đối với mỗi người
dân Việt Nam nói riêng Làng là cơ sở, nền tảng của văn hóa, văn minh Việt Đó là một đơn vị kinh tế xã hội độc lập nhưng không tách rời môi trường trồng lúa nước ở vùng nhiệt đới gió mùa Làng xã Bắc Bộ và Nam Bộ vốn chứa đựng những nét văn hóa độc đáo, đa dạng nhưng vẫn nằm trong thể thống nhất là văn hóa Việt Nam
Tín ngưỡng:
o Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một phong tục lâu đời của người Việt Đại đa số các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà, ít nhất là có treo di ảnh một cách trang trọng, nhưng không phải là một tôn giáo mà là do lòng thành kính của ngườiViệt đối với cha mẹ, ông bà Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục Việt Nam
o Tín ngưỡng phồn thực: Khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở của con người và tạo vật, lấy các biểu tượng sinh thực khí và hành vi giao phối làm đối tượng
o Tín ngưỡng thờ Mẫu:Khởi nguồn của tín ngưỡng ngày xuất phát từ sự biết ơn đốivới người phụ nữ, người mẹ trong nhận thức thuở khai sơ của con người
Lễ hội: Sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng Biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Đồng thời đó còn là sinh hoạt văn hóa,tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống
Nghệ thuật diễn xướng: Diễn xướng dân gian là một loại hình nghệ thuật gắn liền với cuộc sông sinh hoạt của người dân Việt Nam Ở mỗi vùng miền lại có những làn điệu diễn xướng dân gian đặc trưng riêng biệt mang đặc trưng văn hóa của vùng miền đó Mỗilàn điệu lại có những đặc điểm riêng, những kỹ thuật riêng nhưng tựu chung lại thì đó đều là những nét tinh túy của văn hóa dân gian Việt Nam
1.2 Những điểm dị biệt
BẮC BỘ NAM BỘ
Vốn là cái nôi của nền văn minh Việt Nam, ẩm thực miền Bắc được sàng lọc kỹ lưỡng từ bao đời với vị
Nhắc đến ẩm thực miền Nam là không quên nhắc đến hương vị ngọt béo của đường và nước cốt dừa Với
Trang 7Ẩm thực
thanh đạm, nhẹ nhàng, có vịchua nhẹ của quả sấu Các món ăn có sự tương hỗ, đa dạng trong cách trang trí, thanh tao, tinh tế trong hương vị Phở là một món
ăn truyền thống đặc trưng cho văn hóa Bắc Bộ, nước dùng phở trong, ngọt bởi xương bò và được sử dụng
sá sung khô để tạo mùi vị đặc biệt Bát phở của người miền Bắc thường chỉ ăn kèm với tương ớt và vài quả
ớt cùng các loại rau húng đểtạo nên hương vị đặc biệt nhất Các món ăn đặc sắc của người miền Bắc phải kểđến như: phở, bún ốc, bún đậu, bún chả, bánh đúc, búnthang, giò chả, bánh khúc, bánh giò, bánh gai, bánh cuốn,…
vị trí thuận lợi, thiên nhiên mang đến trao tặng những sản vật giàu đẹp, và những con người hào sảng, phóng khoáng góp phần làm màu sắc bức tranh ẩm thực nơi đây được khắc hoạ một cáchsinh động, mang những nét chấm phá độc đáo và riêng biệt Cá lóc nướng trui, thịt kho nước dừa, canh chua cá bông lao, cá kho tộ, lẩu mắm, là những nguyên liệu bình dị đơn sơ, đậm chất dân dã của miền Tây sông nước mà lại tạo nên một phong thái riêng của
ẩm thực nơi đây Miền Namkhông thích trung hoà, vị nào phải ra vị đó, và phải đạt cực điểm
Được may bằng bốn khổ vải hẹp với thắt lưng quanh bụng, phần dưới thắt lưng gồm nhiều tà áo với đầy đủ màu sắc phấp phới, áo tứ thân được xem là trang phụctruyền thống của người phụ
Trang 8
Trang phục
thanh tao, kín đáo bởi thiết
kế hở phần ngực, được che bằng chiếc yếm lụa có màu trắng hay ngà tự nhiên, phíadưới là váy hoặc quần đen, hình ảnh áo tứ thân đi kèm
là chiếc nón quai thao thường được các liền anh, liền chị miền Bắc mặc trongcác lễ hội truyền thống
Những người phụ nữ miền Bắc mặc áo tứ thân theo kiểu mớ ba, mớ bảy, tức là cùng một lúc mặc ba hoặc bảy cái áo lồng vào nhau, mỗi cái một màu Áo tứ thân, nón quai thao, câu hát quan họ là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp vẫn được giữ gìn từ bao đời nay
nắng gió là những sản phẩmđược ưu ái đến mức dư thừa, nên chít eo, xẻ tà thấp thôi để thoải mái trong cáchvận động, di chuyển mà không làm mất đi vẻ dịu dàng, e ấp của người con gái miền sông nước Là mộttrang phục tạo sự thoải mái, tiện lợi cho việc đồng án, thường đặc trưng bởi nhữngmàu tối như màu đen, màu nâu, bằng lá bàng, vỏ cây
đà, cây cóc hoặc trái dưa nưa tạo sự sạch sẽ và dễ giặtgiũ Chiếc áo bà ba được thiết kế xẻ ở hai bên hông, gần vạt áo có thêm hai túi tokhá tiện lợi cho việc đựng những vật dụng nhỏ Ngày nay, chiếc áo bà ba được cách điệu dần với những gam màu sặc sỡ, những khung bậc trầm bổng của màu sắc dần làm chiếc áo
bà ba quen việc đồng áng năm xưa ngày càng yểu điệu, thanh tao hòa nhịp cùng nhịp điệu của đời sốnghiện đại và của bạn bè năm châu
Nhà người Bắc Bộ có nhiều kiểu, nhiều dạng khác
Vùng đất Nam Bộ là vùng đất trũng có hơn phân nửa
Trang 9Nhà cửa
nhau thể hiện ở kết cấu bộ khung nhà, chủ yếu là ở các kiểu vì kèo, ở bình đồ, ở tổ chức mặt bằng sinh hoạt
Song kiểu nhà ba gian hai chái với vì kèo suốt - giá chiêng - sáu hàng cột là tiêubiểu hơn cả
Mặt bằng sinh hoạt gian giữa đặt bàn thờ tổ tiên, phản gỗ dành cho chủ nhà
và bàn ghế tiếp khách Hai gian bên của gian giữa kê giường tủ giành cho các thành viên nam trong nhà
Hai gian chái có vách ngăn với ba gian giữa dành cho sinh hoạt của các thành viênnữ
Chọn hướng nhà, chọn đất
là một trong những bước quan trọng cho việc xây nhàcủa người Bắc Bộ Đây là biện pháp quan trọng để ứng phó với môi trường tự nhiên Hướng nhà tiêu biểu
ở Bắc Bộ là hướng Nam
Sau nữa là truyền thống coi trọng bên trái (phía Đông) với chiếc đòn nóc có đầu gốc ở phía Đông, bếp ở phía đông, Trong kiến trúcnhà ở Bắc Bộ, nguyên tắc
diện tích ven biển là vùng đất lợ, điều kiện môi trườngrất thích hợp cho các loại cây sú, vẹt, đước, bần, tram,dừa nước… sinh sống Người dân ở đây đã tận dụng các sản vật tự nhiên này làm vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình Nam Bộ có ít bão tố, nhiềukênh rạch, con người phải dồn sự chăm chút cho ghe xuồng nên nhà cửa khá tạm
bợ Một ít cây làm cột, làm kèo, một ít lá dừa nước vừa lợp mái, bừa thưng vách là
đã có một ngôi nhà ấm cúng
Nhà ở của người Nam Bộ
có ba loại chính: nhà đất cấtdọc theo ven lộ, nhà sàn cất dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước Nhà nổitrên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán
sỉ và lẻ trên sông
Người Khmer trước đây đều đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã
Trang 10coi trọng số lẻ cũng được tôn trọng, thể hiện qua số gian, số cổng, số toà đều là
số lẻ Đây là do quan niệm của người xưa: lẻ là số dương, dành cho người sống
chuyển thành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới Nhà ở của họ ngày nay
về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhàcủa người Việt và người Hoa Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới thi dùng
lá dừa chằm để lợp
Làng xã
- Làng Bắc Bộ có lịch sử tồn tại lâu đời Cách ngày nay khoảng 4000 năm, trên đất Bắc đã diễn ra quá trình tan rã của công xã thị tộc vàthay vào đó là công xã nôngthôn Đây chính là quá trìnhhình thành làng
- Được hình thành theo 3 cách: Thứ nhất, tan rã từ xã hội nguyên thủy; thứ hai hình thành từ việc định cư của một dòng họ, thứ ba là
do vai trò của nhà nước Râtnhiều làng Bắc Bộ có nguồngốc từ thời nguyên thủy
- Làng ở Nam Bộ mới chỉ khoảng ba trăm tuổi, được tạo lập từ khi người Việt tới khai phá trong quá trình Nam tiến, mở rộng biên cương, xác lập chủ quyền
- Ở Nam Bộ, không có sự hiện diện của các làng tan rã
từ xã hội nguyên thủy mà làng chủ yếu hình thành theo 2 hướng: Một là do dân
tự khai phá; hai là do sự hỗ trợ của chính quyền
Trang 11- Làng Bắc Bộ thường bố trítheo ba hình thái: lối co cụm, từng khối, hoặc dọc theo ven sông hay ở men theo hai bờ sông trong đó tổchức theo lối co cụm là phổ biến.
- Có cả tổ chức quan phương và cả tổ chức phi quan phương Các tổ chức quan phương do Nhà nước đặt lên các làng, theo nhữngquy định chung và có sự thống nhất của toàn bộ vùngđồng bắng Bắc Bộ theo tổ chức và nhiệm vụ quản lý
- Đối với làng Nam Bộ có các hình thái cư trú ven sông rạch, hình thái cư trú dọc kênh đào, hình thái cư trú tập trung nhưng lại cư trú trên diện rộng
- Ở các làng Việt Nam Bộ, các tổ chức phi quan phương không có điều kiện phát triển, nếu có cũng thể hiện rất yếu ớt
Tín ngưỡng
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Mâm ngũ quả thường thấy
5 loại quả có 5 màu sắc khác nhau: chuối xanh, bưởivàng, hồng đỏ, lê trắng, quýt da cam tượng trưng cho mong ước: Phú – Quý –Thọ - Khang – Ninh
- Tín ngưỡng thờ Mẫu Bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần có nguồn gốc xa xưa từthời tiền sử, tới thời phong kiến một số Nữ thần đã được cung đình hoá và lịch
sử hoá để thành các Mẫu thần tương ứng thời kỷ từ
- Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Người Nam Bộ có quan niệm mâm ngũ quả là “ cầu vừa đủ xài” nên mâm ngũ quả thường có mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, mận ( hay quả sung)
- Tín ngưỡng thờ Mẫu
So với ở Bắc Bộ, tục thờ
Nữ thần và Mẫu thần có sự phân biệt nhất định với biểuhiện rõ rệt là thông qua tên gọi và xuất thân của các vị thần thì ở Nam Bộ sự phân biệt giữa hình thức thờ Nữ
Trang 12thế kỷ XV trở về trước
- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
+ Xuất hiện đầu tiên tại miền Bắc do ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa truyền sang từ thời Đường vào khoảng năm 833
+ Đình thường nằm ở vị trí trung tâm làng theo quan điểm “tụ thủy”
thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn
- Tín ngưỡng thờ Thành Hoàng
+ Được hình thành là do những cư dân người Việt ở miền Bắc di cư vào phương Nam khai khẩn đất đai nên thời gian xuất hiện muộn hơn so với miền Bắc
+ Do địa hình tương đối bằng phẳng, ít đồi núi, hệ thống kênh rạch chằng chịt nên đình thường được xây cất trên những khu đất cao ráo
Lễ hội
- Lễ hội Chùa Hương
Tổ chức từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch.Hội chùa Hương trước hết được xem như hành trình trở về cõi Phật, tìm kiếm sự linh thiêng nhiệm màu trong những quần thể kiến trúc chùa - hang động -núi rừng
- Hội Lim Được tổ chức từ ngày 12 đến 14 tháng Giêng hàng năm Trong ngày lễ, có nhiều nghi lễ và trò chơi dân gian như đấu võ, đấu vật, đấu cờ, đu tiên, thi dệt
- Lễ hội Đền Bà Đen Thường kéo dài từ đầu đếnhết tháng Giêng Điểm ấn tượng nhất là văn hóa mộ đạo, không đặt nặng vấn đề cúng tiền Đồng thời du khách còn thể ngắm mây vờn quanh chân và tận hưởng phong cảnh hùng vĩ của Núi Bà
- Lễ hội Vía Bà Khai hội từ ngày 17 tháng Giêng hàng năm Ngoài phần tế lễ, dâng hương, còn
có phần trình diễn đội lân, đội rồng trực khai phần xướng hát lễ cùng các màn
Trang 13cửi, nấu cơm biểu diễn võ thuật, các trò
chơi dân gian chạy việt dã, đập ấm, đẩy gậy, kéo co, nhảy bao bố, thi đấu bóng chuyền và xem hát tuồng
Nghệ thuật diễn xướng
Dân ca Quan họ được hìnhthành và phát triển ở vùng văn hóa Kinh Bắc xưa, đặc biệt là khu vực ranh giới haitỉnh Bắc Giang và Bắc Ninhngày nay
Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm Các bài quan
họ được giới thiệu mới chỉ
là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá Kho băng ghi âmhàng nghìn bài quan họ cổ
do các nghệ nhân ở các làngquan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh
Cải lương là một loại hình kịch hát hình thành trên cơ
sở dòng nhạc Đờn ca tài tử
và dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long
Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũngvít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ,….hay còn giữ mang hơi hướng theo kiểu hát bội,
do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội Sau này, các vở về đề tài xã hội mới như Tội của ai, Khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường, thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch Dàn nhạc cải lương có một vai trò đặc biệt trong tuồng