1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

27 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 257,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA LỊCH SỬ TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ CHỦ ĐỀ PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG HIỆN NAY Đà Nẵng, tháng 06 năm 2022 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 4 NỘI DUNG 6 CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CÁC LÀNG BIỂN ĐÀ NẴNG 6 1 Điều kiện tự nhiên 6 2 Lịch sử hình thành và phát triển 6 3 Điều kiện kinh tế xã hội 7 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG 8 2 1Văn hóa sinh kế 8 2 2 Văn hóa tổ chức cộng đồng 10 2 3 Văn hóa sinh hoạt 12 2 4 Văn.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA LỊCH SỬ

*******

TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ CUỐI KỲ

CHỦ ĐỀ:

PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG

VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA VĂN HÓA BIỂN

ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Đà Nẵng, tháng 06 năm 2022

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC MỞ ĐẦU 4

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÁC LÀNG BIỂN ĐÀ NẴNG 6

1 Điều kiện tự nhiên 6

2 Lịch sử hình thành và phát triển 6

3 Điều kiện kinh tế - xã hội 7

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG 8

2.1Văn hóa sinh kế 8

2.2 Văn hóa tổ chức cộng đồng 10

2.3 Văn hóa sinh hoạt 12

2.4 Văn hóa tâm linh 14

2.5 Văn hóa nghệ thuật 18

2.6 Văn hóa sinh thái 20

CHƯƠNG 3: BIẾN ĐỔI TRONG VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 21

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

Trang 3

Như vậy văn hóa biển không phải là những cái lớn lao nào đó mà là những điều bình dịthể hiện ngay trong lối sống, phong tục tập quán làng biển đó để tạo nên nét riêng biệtđộc đáo với những làng biển khác Trong các tỉnh thành có biển ở Việt Nam, Đà Nẵngđược biết đến là một trong những thành phố biển năng động của miền Trung cũng nhưcủa cả nước Văn hóa biển nơi đây được thể hiện đậm nét trong đời sống của cư dân, tạonên một diện mạo đặc trưng cho văn hóa thành phố Mặt khác, văn hóa biển của cư dânven biển Đà Nẵng còn là kết quả của quá trình giao lưu văn hóa với các tộc người đặcbiệt là tộc người Chăm Với đặc điểm lịch sử quan trọng đó, có thể khẳng định, văn hóabiển Đà Nẵng chính là một trong những cái gốc của văn hóa biển phương Nam trong quátrình Nam tiến của dân tộc

Hiện nay, ngư dân Đà Nẵng sống tập trung trên những cồn cát chạy dài ven biển nhưNam Ô, Thanh Khê, Tân Thái,… Họ đã để lại những dấu ấn về văn hóa khá độc đáo củamình trong lao động sản xuất cũng như trong sinh hoạt, tín ngưỡng, góp phần làm phongphú thêm kho tàng di sản văn hóa vật thể cũng như phi vật thể trên địa bàn thành phố ĐàNẵng Chính vì lẽ đó, em xin đi vào tìm hiểu đề tài “Phân tích đặc điểm của văn hóa biển

Đà Nẵng và những biến đổi của văn hóa biển Đà Nẵng hiện nay dựa trên kết quả khảo sát

ở năm làng biển: Thanh Khê, Nam Ô, Nại Hiên Đông, Tân Thái, Nam Thọ”

Trang 4

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CÁC LÀNG BIỂN ĐÀ NẴNG

1 Điều kiện tự nhiên

Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc trung ương, nằm trong vùng Duyên hải NamTrung Bộ Việt Nam, là thành phố trung tâm và lớn nhất khu vực miền Trung - TâyNguyên Đà Nẵng nằm ven Biển Đông, có diện tích tự nhiên 1.255,53 km2 (trong đóphần đất liền là 950,53 km2, phần huyện đảo Hoàng Sa là 305 km2) Phía bắc giáp tỉnhThừa Thiên Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp Biển Đông Thành phố có 06 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu,Cẩm Lệ và 02 huyện: Hòa Vang và huyện đảo Hoàng Sa Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng

92 km, có vịnh nước sâu với cảng biển Tiên Sa, có vùng lãnh hải thềm lục địa với độ sâu

200 m, tạo thành vành đai nước nông rộng lớn thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợpbiển và giao lưu với nước ngoài Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp như: Non Nước, Mỹ Khê,Thanh Khê, Nam Ô, Làng Vân với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, có giá trị lớncho phát triển du lịch và nghỉ dưỡng Các làng biển Đà Nẵng nằm ở Trung bộ Việt Nam,thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết ở dây là sự chuyển tiếp đan xen giữakhí hậu miền Bắc và miền Nam

2 Lịch sử hình thành và phát triển

Theo các nhà nghiên cứu thì nghề làm biển của ngư dân Đà Nẵng đã được hình thành

từ lâu đời, từ khi người Việt từ vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh trên bước đường Nam tiến vàođây lập nghiệp, họ lập nên những làng mạc và sống chủ yếu bằng nghề nông truyềnthống, một số sống bằng nghề đánh bắt thủy sản trên những khúc sông vắng, ở những cồnbãi xa, dần dần họ tách ra và hình thành nên những xóm ở ven sông, ven biển Sau đó,những lớp người mới hoặc dân ngụ cư, dân nghèo di cư đến ngày càng đông, hợp với lớpngười đi trước và trở thành những cư dân sống bằng nghề đi biển

Có thể nói, từ những đợt di cư đầu tiên của người Việt đến vùng đất mới, họ đã gặp gỡngười Chăm, một dân tộc vốn có truyền thống hành nghề đi biển để rồi trong quá trìnhchung sống, giữa họ có sự tiếp biến và giao lưu văn hóa lẫn nhau Dần dần, những di dânngười Việt ở các làng ven biển đã học hỏi kinh nghiệm làm biển của người Chăm, lâudần họ tích góp được những kinh nghiệm làm nghề cho riêng mình Từ đó hình thành nên

Trang 5

các làng biển cổ truyền với đặc trưng văn hóa đặc sắc, mang đậm nét văn hóa biển truyềnthống của dân tộc Việt Nam nói chung, cũng như của các làng văn hóa biển Đà Nẵng nóiriêng.

3 Điều kiện kinh tế - xã hội

Kinh tế đóng vai trò cốt lõi, không thể thiếu trong đời sống của cư dân ven biển ĐàNẵng Sự phát triển của kinh tế quyết định đến đời sống vật chất và tinh thần của ngườidân Vì có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi nên khai thác, đánh bắt thủy sản làhoạt động kinh tế chính của người dân nơi đây Đồng thời, nơi đây còn phát triển nôngnghiệp trồng lúa nước, khoai, sắn, làm thủ công nghiệp và buôn bán Cuộc sống cư dân

có nhiều đổi thay theo từng thời kỳ phát triển của thành phố Theo đó, xã hội cũng được

ổn định, đời sống nhân dân được chăm lo, trật tự an ninh được giữ vững Người dân đượccải thiện cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần

Tình hình chung của ngư dân làng biển đi đánh bắt với những dụng cụ được coi là gắnvới họ từ rất lâu đời, những cử chỉ hành động vừa làm ruộng vừa đánh bắt thủy sản luônluôn tồn tại suốt quá trình hình thành và phát triển của ngư dân làng biển Vậy nên, côngviệc này gặp không ít những khó khăn do nguồn tài nguyên ven bờ giảm dần; nghề cá nổitiếp tục mất mùa; giá thu mua các sản phẩm thủy sản thấp; thị trường tiêu thụ các sảnphẩm khô có xu hướng giảm Nhưng về sau các loại kinh tế mới ra đời bù đắp lại nhữngthiệt hại trước đó để tạo ra sản phẩm mới thúc đẩy và được thị trường tiêu thụ rộng rãi;quá trình đô thị hóa đã nhanh chóng tạo những thuận lợi cho kinh tế phát triển phù hợpvới xu thế chung theo điều kiện hiện nay, góp phần tăng mức sống vật chất và tính thầncho ngư dân nơi đây

Trang 6

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA BIỂN ĐÀ NẴNG

2.1 Văn hóa sinh kế

Văn hóa sinh kế là nơi thể hiện rõ nhất phương thức sản xuất, cách thức mưu sinh của

cư dân vùng biển đảo, phản ánh đời sống kinh tế của họ Những kiến thức,hiểu biết, giátrị trong văn hóa sinh kế thường được biểu hiện tập trung trong kỹ năng chế tạo công cụphục vụ nghề biển, trong kỹ thuật đánh bắt cá và các loại hải sản; trong kinh nghiệmđóng tàu, thuyền bè phục vụ ngư nghiệp và vận chuyển, đi lại; trong việc nuôi trồng vàkhai thác thủy, hải sản; trong việc chế biến các sản phẩm thu được từ biển và đại dương;trong các kỹ năng thích ứng với môi trường biển…Lăn lộn với biển cả từ đời này qua đờikhác, người ngư dân vùng biển đảo Đà Nẵng đã truyền cho nhau những kinh nghiệm quý

để nhận biết về các luồng cá ngư trường, sử dụng ngư cụ; các phương thức đánh bắt cá,tôm; về thời gian, mùa vụ đánh bắt sao cho hiệu quả,…

Theo ông Ngô Văn Ôn làng Nam Thọ: “Đánh bắt này theo mùa Ví dụ như mùa đôngthì họ làm nghề khác, còn mùa hè thì họ làm nghề khác Mùa hè là họ làm những nghềnhư đèn, đuốc, tùy theo môi trường Cao điểm của dân làng chài là làm quanh năm, chứkhông có chia theo tháng mấy, cứ bao giờ êm là làm, động thì lên, bão thì cất”

Ông Lê Văn Ngọc làng Thanh Khê: “Quăng lưới, kéo lưới, phân loại cá là những côngviệc cơ bản của nghề chài lưới dân Thanh Khê nơi đây Đàn ông, những người trụ cộttrong gia đình sẽ ra khơi đánh cá còn phụ nữ sẽ ở lại trên bờ để bán cá”

Thứ hai là nghề làm nước mắm Cùng với đánh bắt thì nghề làm mắm rất phát triểntrong hầu hết các làng biển Đà Nẵng và gần như đã trở thành một thương hiệu như làngnghề nước mắm Nam Ô, nước mắm Nam Thọ, Cũng từ nguyên liệu chính là cá và ruốc,

Trang 7

những ngư dân đã tạo nên các loại mắm thơm ngon như mắm nêm, mắm ruốc, mắm cánục, mắm cá cơm – những loại nước chấm không thể thiếu trong bữa ăn của người dânmiền Trung.

Thứ ba là nghề may vá lưới, hầu hết những làng nghề làm ngư nghiệp ở Đà Nẵng nhưThọ Quang, Mân Thái,… đều có nghề may lưới Sau những chuyến đi biển,những ngườidân làng chài thường may vá lại lưới của gia đình mình bị rách hoặc may vá thuê chonhững gia đình khác Có khi lưới được may trước nhà hoặc dàn trải trên bãi biển để may.Nói chung, đây không phải là một nghề giống như những làng nghề khác, nhưng phầnnào đáp ứng được nhu cầu về phương tiện đánh bắt của ngư dân

Thứ tư là thợ lặn ban đêm Nghề mới phát sinh thời gian gần đây tầm 3 – 4 năm ở một

số làng biển như làng biển Nam Ô Một đội gồm 3, 4 người có sức khỏe tốt, biết bơi.Đánh bắt vào ban đêm khi biển đã yên tĩnh, mặc đồ lặn và dùng cung tên để đánh bắt Cóthể đánh bắt cá, mực, tôm hùm,…Sử dụng thúng nhôm hoặc thuyền để đi đánh bắt

Thứ năm là đóng thúng nhôm Có hai loại thúng là thúng làm bằng gỗ và làm bằngnhôm So với thúng làm bằng gỗ thì thúng nhôm hiệu quả hơn, đi được xa hơn Vì vậy,một số làng biển đã phát triển nghề làm thúng nhôm như tại làng biển Nam Ô Thúngnhôm làm theo đơn đặt hàng của ngư dân, làm trong vòng nửa tháng, chạy bằng động cơmáy với nguyên liệu là dầu

 Phương tiện lao động

Thuyền là phương tiện lao động chủ yếu của cư dân nơi đây, đặc biệt là thuyền thúng

và thuyền ghe Ngoài là công cụ phục vụ đánh bắt, chúng còn được sử dụng như mộtdạng thuyền cứu sinh trong những trường hợp khẩn cấp trên biển, là phương tiện vậnchuyển hiệu quả hàng hóa nhẹ và người

Thuyền thúng còn là biểu tượng cho sự độc lập và sáng tạo của người ngư dân Ngưdân hiện đại thường phải làm việc trên các tàu đánh cá lớn ngoài khơi và họ phải xa giađình hàng tháng trời Việc sở hữu một chiếc thuyền thúng có thể cho phép họ hoạt độngđộc lập và có thể tự kiếm sống Trong nhiều trường hợp, một phần nhờ vào thuyền thúng,

mà nghề câu cá đã trở thành công việc của gia đình và được truyền qua các thế hệ tươnglai Đó là minh chứng cho sức sống mãnh liệt của văn hóa làng biển, văn hóa sử dụng

Trang 8

thuyền thúng, chiếc thuyền tuy đơn sơ nhưng uyển chuyển thích nghi, gắn bó và tồn tạicùng người ngư dân bám biển suốt mấy đời người.

Và khi nhắc đến thuyền bè thì phải nhắc đến tục vẽ mắt thuyền Ngư dân ở đây chobiết họ luôn tin mắt thuyền tượng trưng cho đôi mắt của “thuồng luồng” – một loài thủyquái có nhiều quyền năng trên sông nước, tạo thành vỏ bọc hoàn hảo giúp thuyền tránhđược xung đột với thủy quái khác Tùy theo người chủ thuyền mà hình dạng đôi mắtcũng khác nhau

Ông Lê Văn Ngọc làng biển Thanh Khê: “Trước khi vẽ mắt thuyền sẽ cúng khai nhãnnhằm làm cho mắt sáng sủa, lanh lợi, ghe thuyền đi đúng hướng và được thực hiện vàongày lành tháng tốt, hợp cung mạng với chủ thuyền”

 Cách thức khai thác

Nghề đi biển gồm hai hình thức chính là đi khơi và đi lộng Đi lộng là hình thức đánhbắt gần bờ, thời gian thường bắt đầu từ 5 giờ sáng đến 9-10 giờ trưa, hoặc đến sáng ngàyhôm sau về, ngư cụ thường dùng là lưới, câu Sản phẩm đánh bắt được chủ yếu là các loài

cá, tôm, cua, ốc, mực nhỏ Loại hình đi khơi thường dành cho các phương tiện đánh bắtlớn, hiện đại Đi khơi chủ yếu là đi tập thể từ 12 đến 14 đối với cá ngừ và câu mực từ 20-

30 người, thời gian thấp nhất là nửa tháng, có khi cả tháng, sản phẩm đánh bắt đượcthường là các loại cá, tôm, mực lớn… Việc đi khơi phụ thuộc nhiều vào thời tiết nên thờigian thường diễn ra ít hơn Bên cạnh đó, ngư dân Đà Nẵng có một số loại hình đánh bắthải sản trên biển như lưới kéo, lưới vây, lưới rê, lưới chuồn, câu mực,

Trang 9

sớm ở Hóa Châu Ông Phan Công Thiên, sinh năm 1318 (đời vua Trần Minh Tông) làphò mã vua Trần (lấy công chúa Trần Ngọc Lãng) là tiền hiền thành lập làng Đà Sơn.

Đi cùng với ông Phan Công Thiên trong thời gian này còn có các tộc họ: Nguyễn,Kiều, Đỗ Đây được xem là 4 tộc họ tiền hiền của làng Ban đầu các tộc họ tiền hiền nàycộng cư với người Chăm bản địa khai khẩn vùng đất dưới chân núi Phước Tường (đấtlàng Đà Sơn ngày nay) Từ đây, diện tích của làng không ngừng được mở rộng, bao gồmmột vùng rộng lớn từ sát sông Cu Đê vào đến Cẩm Lệ ngày nay thuộc động Trà Ngâm,

xứ Trà Na trước kia

Sau những bước chân đầu tiên của ông Phan Công Thiên vào khai phá làng Đà Sơnnhững năm nửa đầu thế kỷ XIV, đến nửa sau thế kỷ XV, nhất là sau cuộc Nam chinh củavua Lê Thánh Tông, nhiều dòng họ từ phía Bắc đã di cư vào phương Nam để làm ăn sinhsống Và mảnh đất Đà Nẵng đã được nhiều dòng họ chọn làm điểm dừng chân Nhiềudòng họ đến đây thời kỳ này được tôn làm tiền hiền của các làng

Dưới thời các chúa Nguyễn, những cư dân từ phía bắc tiếp tục theo những đoàn lưudân vào Nam Nhiều dòng họ đã dừng chân lập làng tại Đà Nẵng, quần tụ hình thànhnhững làng ấp trù phú Điển hình như năm 1605, ông Nguyễn Huyền lập nên làng Hòa

Mỹ (quận Liên Chiểu); năm 1621, ông Hồ Văn Oai cùng gia đình dừng chân lập làngThanh Khê (quận Thanh Khê); năm 1643, ông Văn Đức lập nên làng Trung Nghĩa (quậnLiên Chiểu)

Ông Nguyễn Minh Nam làng Thanh Khê: “Ở đây nhiều họ phổ biến lắm, họ Hồ là tiềnhiền ở đây và phổ biến nữa là họ Nguyễn, Lê, Trần”

 Làng xã

Ngày xưa có hương ước là lệ làng được văn bản hóa, quy định chặt chẽ về cơ cấu tổchức; yêu cầu công khai, minh bạch về bầu bán, bãi miễn các chức vị trong làng; phân bổthuế, phân chia ruộng đất công; về tuần phòng; về lễ nghi, tín ngưỡng; về lệ hôn thú, tangma; về tương trợ, cứu tế; về khai sinh, khai tử, học hành và xử phạt vi phạm… Có thể nóimọi quan hệ trong làng xã đều được quy định trong hương ước Hương ước do chính dânlàng soạn thảo, nên rất phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của địa phương; hằng nămhương ước đều được tuyên đọc một lần tại đình làng, để ai cũng nhớ, cũng thuộc vànhững điều khoản không còn phù hợp cũng thường được sửa đổi Đặc điểm của làng xã

Trang 10

là tự trị, tự quản Nhà nước chỉ can thiệp vào làng xã trong việc thu thuế, bắt lính; xử lýnhững vụ án hình sự, hay những vụ tranh chấp dân sự làng không hòa giải được; canthiệp khi có dịch bệnh lớn…còn lại thuộc quyền tự trị, tự quản của các làng xã

Ngày nay làng xã đã thay đổi, không còn bao bọc khép kín trong lũy tre làng mà là mộtđơn vị dân cư mở, mỗi xã là một đơn vị hành chính cấp nhỏ nhất trong hệ thống hànhchính bốn cấp hiện nay Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội hiện nay, bên cạnh nhữngthành tựu to lớn là những mặt tiêu cực tác động đến cư dân làng chài rất khốc liệt Như làviệc phát triển kinh tế đã làm thay đổi lối sống của họ làm cho họ không còn đi biểnnhiều như xưa thay vào đó là hoạt động ở lĩnh vực xã hội khác Phương thức đánh bắtkhoa học trong thời kì hiện đại, dùng máy móc thay cho sức người, phát triển các ngànhnghề đánh bắt trong thời kì hiện đại

Việc hình thành các làng chài, vạn chài gắn với việc lựa chọn những vùng đất ven biển

có vị trí thuận tiện, an toàn cho ngư dân trong đời sống, sinh hoạt của ngư dân cũng như

ở gần những vùng biển có nguồn lợi hải sản dồi dào Do đây là vùng đất của lưu dẫn đến

từ các vùng miền khác nhau trong quá trình di dân lập nghiệp nên ở mỗi vùng biển, làngchài, vạn chài của Đà Nẵng có những phương thức kiếm sống khác nhau, các phong tụctập quán và văn hóa khác nhau Từ các làng chài ven biển trong đất liền cho đến các vùnghải đảo hiện nay còn bảo lưu các ngôi đình, lăng, miếu thờ cá voi

2.3 Văn hóa sinh hoạt

Trong đời sống sinh hoạt gắn với môi trường biển đảo, cư dân Đà Nẵng đã sáng tạo ranhiều giá trị quý giá Đó là những thói quen, hành vi, ứng xử, cung cách sinh hoạt thểhiện trong chuyện ăn, mặc, ở, đi lại…thích ứng với môi trường biển đảo

 Nhà ở

Ngư dân vùng biển Đà Nẵng có kiến trúc nhà cửa khác nhau tùy theo địa bàn Đối vớicác làng ven biển ngày xưa, người ngư dân biết thích ứng để xây dựng nhàkhông cao,nhưng vững chãi để chống chọi với gió bão Theo ông Trần Công Vinh, dân làng chàiThanh Khê: “Ngày xưa, họ làm nhà đơn giản hơn bây giờ nhiều Nhà thường cất trênnhững bãi cát rộng ven biển bởi vì xưa thì họ cũng sống trên biển nên đối với họ, mái nhà

là nơi để chui ra chui vô mỗi khi đánh bắt trở về vậy Và xưa thì chưa có dự báo thời tiết

Trang 11

nên họ thường làm nhà thấp để tránh bão Nhưng bây giờ thì khác nhiều rồi, chừ họ cóđiều kiện nên nhà bây giờ họ đổ xi măng, làm cao tầng Gần biển các khách sạn cũngxuất hiện lên nhiều hơn”.

Ngoài ra, bão lũ đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế - xã hội nói chung của ngưdân, gây nhiều thiệt hại về của cải vật chất và tính mạng của ngư dân Cho tới tận ngàynay, khi về các làng biển chúng ta vẫn thường gặp những ngày giỗ chung của ngư dân,những người đã cùng mất do một cơn bão nào đó Theo ôngTrần Công Vinh làng ThanhKhê: “Khi đi biển, nếu gặp một xác người chết trôi, thì ông đem vớt vào bờ, thông báocho chính quyền địa phương, người dân quanh đây Nếu không có ai nhận xác thì họ sẽđược đưa vào nhà thờ Tập Linh hoặc miếu Thuyền để cúng giỗ” Cách thức ứng xử trênbiển của ngư dân đã tạo nên những mối quan hệ rộng lớn giữa những người cùng hộicùng thuyền hoặc đơn giản chỉ là người bạn thuyền trên biển cả

 Ăn

Nếu như cơ cấu bữa ăn truyền thống của người Việt Nam là “cơm, rau, cá, thịt” thì cơcấu này càng được thể hiện rõ hơn ở cư dân vùng ven biển Đà Nẵng Với những hải sảnphong phú đánh bắt được, người dân nơi đây đã tạo nên nhiều món ăn khác nhau, trong

đó cá là loại nguyên liệu được sử dụng để chế biến nhiều nhất Theo như bà Hoa làngchài Nam Ô: “Ở đây họ ít ăn thịt lắm con, họ chủ yếu ăn cá, nhiều loại cá lắm như cácơm, cá rọc, cá trích , còn rau thì mình tự trồng để ăn” Về đặc sản của cư dân ven biểnthường là gỏi cá, trong đó đặc biệt là gỏi cá Nam Ô Cũng theo bà Hoa “ Đặc sản ở đâythì có gỏi cá, dùng cá trích để làm gỏi là chủ yếu” Còn theo ông Trần Công Vinh làngbiển Thanh Khê: “Ở đây họ thường ăn gỏi cá trích hoặc gỏi cá khô Họ cũng thường làmchả cá thu” Từ đó có thể thấy, “tính biển” nổi trội hơn cả trong cơ cấu bữa ăn hằng ngàycủa cư dân Đà Nẵng

 Hôn nhân

Ngày xưa, dân làng chài Đà Nẵng đã trải qua những tập tục cưới hỏi mà bất kỳ ai cũngphải tuân thủ, nhất là dưới thời phong kiến Có thể nói thời đó tập tục dựng vợ gả chồngđược thực hiện rất nghiêm khắc con cái hầu như phải tuyệt đối nghe theo lời cha mẹ, cha

mẹ đặt đâu thì con phải ngồi đấy

Trang 12

Ngày nay với nền văn minh hiện đại thì tục dựng vợ gả chồng có phần dễ dãi hơntrước Cha mẹ không còn quyết định chuyện hôn nhân của con cái mà chính con cái phải

tự đưa ra quyết định trong việc lựa chọn tìm hiểu và kết duyên với người sẽ sống đời ởkiếp với mình Các nghi lễ vì thế mà cũng đơn giản hơn Theo như bác Lê Thị MinhKhanh, làng Nam Thọ: “Hôn lễ thì cũng truyền thống như trước giờ ở Đà Nẵng mình rứa

đó Lễ thì có 3 lễ là lễ thăm nhà tới lễ hỏi, rồi lễ cưới, còn như ở xa họ dồn 2 lễ lại cướiluôn chứ không có lễ hỏi” Thay vì phải tuân thủ rất nhiều nghi lễ trước khi cưới như: Lễchạm ngõ, lễ xin dâu, lễ ăn hỏi, lễ đính hôn, lễ vấn danh, lễ nạp tài và sau khi cưới lại có

lễ lại mặt thì bây giờ chỉ còn lại 3 lễ chính là lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới

 Sinh đẻ

Mỗi làng đều có những kiêng kị trong việc sinh đẻ khác nhau, nhưng đa phần nó cũngkhá giống với người dân đất liền Trong thời kỳ thai nghén, người đàn bà phải kiêng kỵnhiều thứ Đối với sinh đẻ, khi chưa có bệnh viện, chưa có người biết phẫu thuật, thìngười phụ nữ đều sinh nở tại nhà, do các bà đỡ có kinh nghiệm đỡ đẻ

Trong tháng đầu hay là giai đoạn "ở cữ", để "tránh cho đứa trẻ ốm đau, người ta kiêngngười lạ, người "nặng vía" tới thăm Thăm, mừng đầu tiên là ông bà, cô bác trong nhà vìcho rằng người có cùng dòng máu và mồ hôi giống cha mẹ đứa trẻ thì đứa trẻ dễ quenhơn Nếu chẳng may đứa trẻ bị nóng sốt, khó ở, gia đình thường "đuổi vía" hay "đốt vía"bằng lửa, hoặc bằng túm cây lá có gai như lá dứa dại, cành gai tầm soọng Khi đứa trẻtròn một tháng, cha mẹ thường làm lễ đầy tháng để báo cáo với tổ tiên, gia đình nào cóđiều kiện thì mời những người thân thiết tới chia vui Sau khi tròn một năm thì làm lễ thôinôi

Trang 13

Theo ông Cao Văn Minh làng biển Nại Hiên Đông cho biết: “Đi biển là không chongười có khăn trắng tới nhà và không được xuống dưới thuyền”.

2.4 Văn hóa tâm linh

Vì cư dân làng biển luôn phải đối mặt với nhiều bất trắc như bão, sóng dữ nên họ cómột tín ngưỡng dân gian sâu đậm hơn, mang nhiều dấu ấn nghề nghiệp hơn so với cư dân

xa biển

 Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

Đại đa số các gia đình đều có bàn thờ tổ tiên trong nhà, ít nhất là có treo di ảnh mộtcách trang trọng, xuất phát từ lòng thành kính đối với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ Đây là mộttín ngưỡng rất quan trọng và gần như không thể thiếu trong phong tục của làng biển ĐàNẵng

Trong cộng đồng ngư dân, tín ngưỡng thờ cúng Cá Ông thể hiện lòng tôn kính đối vớicác vị thần biển cả, qua đó, gởi gắm mong ước của người dân về một năm mưa thuận gióhòa, ra khơi bình an và mùa màng bội thu Đặt trong thời điểm hiện tại, sự phát triển củatín ngưỡng thờ cúng Cá Ông, mà đặc biệt là quy mô các lễ hội Cầu ngư, thể hiện rõ quyếttâm bám biển, phát triển nghề biển và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc của ngưdân thành phố

Lễ cúng cá Ông là một trong những lễ hội lớn nhất của ngư dân ven biển Đà Nẵng, lễcúng này không có ngày thống nhất chung, tùy theo từng làng nghề mà người ta có nhữngngày cúng riêng, có làng chọn ngày cá Ông đầu tiên lụy hoặc ngày nhận sắc của vuaphong Lễ cúng này được tổ chức và được xem như một hình thức của ngày giỗ Ông

 Tín ngưỡng Thờ Thành Hoàng và các vị tiền hiền

Ngày đăng: 18/06/2022, 21:28

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w