1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ: Phần 2

85 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn Hóa Đình Làng Vùng Châu Thổ Bắc Bộ: Phần 2
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 13,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 cuốn sách Văn hóa đình làng vùng châu thổ Bắc Bộ trình bày các nội dung 3 chương cuối bao gồm: Chạm khắc ở đình làng, về lễ hội gắn với đình làng. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

CHẠM KHẮC Ở ĐÌNH LÀNG

T rong kiến trú c cổ tru y ề n của người Việt, trư ớc đây, n h ữ n g

m ản g p h ù điêu th ư ờ n g chỉ được n h ìn n h ận với chức n à n g tra n g trí để làm đẹp là chính - đó là lối n h ìn dưới góc độ tiế p cậ n giản đơn, lấy giá trị tạo h ìn h đcm th u ầ n làm trọ n g Nhìn n h ậ n n h ữ n g

m ản g chạm th eo cách đó chỉ mới th ấy cái hình, cái "h iển " m à chư a th ấ y được nội d u n g chứ a đựng m an g tín h ''m ậ t" tro n g đó,

m an g giá trị cao hơn nhiều Có n g h ĩa là, giá trị có tín h biểu

tư ợ ng g ắ n với không gian tâ m linh mới là tin h th ầ n ch ủ y ế u của

n g h ệ th u ậ t tru y ền th ố n g Việt Người ta có th ể tìm th ấ y ở nơi đây

n h ữ n g ước vọng tru y ề n đời thuộc tư duy n ông n g h iệp , n h ữ n g

m ối q u an h ệ với cả vũ trụ v à cả th ế giới n h â n sin h củ a ô ng cha

ta, rồi n h ữ n g h o ạt cảnh luôn làm náo nức tâ m hồn n h â n th ế của

m ọi thời N hư vậy, ở đó người xưa đ ã hội đ ủ tài n ă n g đ ể "th ao diễn" dòng chảy của tâ m tư qu a h ìn h thứ c ch ạm chìm , nổi, bong kênh, lộng M ặt khác n gay từ rấ t sớm người V iệt đ ã ch ú ý tới

h ìn h th ứ c đồng hiện, không p hân chia ra n h giới cụ th ể cho m ộ t

m ản g chạm , để trê n đó (cùng m ộ t m ặ t gỗ) có n h iề u k h ô n g gian với các đ ề tài riêng, ch ú n g không có m ối liên h ệ trự c tiếp v ề nội

d u n g với n h au Chỉ cần q u an sát kỹ càng m ộ t chút, người x em đã

có kh ả n ă n g p h â n đ ịn h m ộ t cách rà n h rẽ các đề tài tro n g cái m ớ

116

Trang 2

"bòng bon g " ấy, Suy cho cùng có th ể gọi chính xác hơn, đây là

m ộ t dạng n g h ệ th u ậ t điêu khắc được diễn ra trê n không gian hai chiều và tin h th ầ n củ a nó vượt ra ngoài yếu tố chỉ đ ể đơn th u ầ n làm đẹp cho k iến trúc,

ỏ n h iề u ngồi đ ìn h của ngưòi Việt, ngoài h ìn h th ứ c n ghệ

th u ậ t n h ư kể tr ê n bao giờ cũng có hệ th ố n g đồ th ờ dưới hình

th ứ c ch ạ m trò n th u ộ c không gian 3 chiều, đó là tư ợ n g th ờ và nhữ ng đồ th ờ liên quan

T rong m ộ t kiến trú c m an g yếu tố tô n giáo tứx ngưỡng, thì

h ầu h ết h ìn h th ứ c đ iêu khắc và đồ thờ được coi n h ư linh h ồn của kiến trú c đó, nó đ ảm bảo m ộ t nhịp sống tâ m linh v à là m ối liên kết trự c tiế p giữ a đời th ư ờ n g với cõi siêu n h iên , giữ a con người với th ầ n th á n h

T rong h ệ th ố n g chạm đ á th ì đình làng không phổ biến các loại bia n h ư ở c h ù a v à đền, h ầu n h ư hiện n ay chư a tìm được m ột

tấ m bia nào tro n g tấ t cả các ngôi đình có n iên đại th ế kỷ XVII Theo tài liệu H án Nôm, có m ộ t số bia đ in h ở thời Mạc n h ư n g

th ư ờ n g nói về v ấ n đề khác, n h ư việc dựng cầu, làm chợ v.v m à

th ậ t sự k h ô n g đ ề cập đ ến ngôi đình làng, chỉ đ ế n khoảng nử a cuối th ế kỷ XVII th ì bia của đ ìn h m ới nói về vấn đề tu bổ

Có th ể th ấ y đó là bia của đình Thổ H à (Việt Yên, Bắc Giang), bia đ ìn h c ổ Mễ (Đáp c ầ u , Bắc Ninh), bia đ ìn h H ữu Bằng (Thạch T hất, H à Nội) Nhìn ch u n g từ th ế kỷ này trở về sau, bia

đ ìn h th ư ờ n g liên q u a n đ ến việc tu bổ, đóng góp củ a cư dân làng

xã, n h iề u khi cũ n g có cả bia h ậ u th ần , song chủ y ếu các bia hậu

th ầ n này chỉ n ả y nở vào giai đoạn kinh tế tư n h â n tro n g xã hội được p h á t triể n , có n g h ĩa là n iên đại của ch ú n g tậ p tru n g vào cuối th ế kỷ XVIII v à n h ấ t là từ th ế kỷ XIX về sau

về h ìn h th ứ c, các bia kể trê n thư ờ ng có khối trụ v uông có

m ũ hoặc bia b ẹt N hìn chu n g d áng của tấ m bia cũ n g không khác

117

Trang 3

"đền" được nảy sinh v à p h á t triể n m ạ n h dần, người d ân đ ế n lễ bái ở đ ìn h th ư ờ n g x u y ên hơn, n g ai và bài vị n h iều khi k hông đáp

ứ ng được yêu cầu của tín đồ, đó là điều kiện để m ộ t số đ ìn h nảy sinh tư ợ n g th ờ n h ân d ạng (đình thờ Lý T hường Kiệt ở Nam Đồng, Đ ống Đa, đình Lệ M ật ở q u ậ n Long Biên, Hà Nội là n h ữ n g

ví dụ cụ thể) Các tư ợ n g này ch ủ yếu chỉ có tín h c h ấ t tượng trư n g , gần gũi kiểu th ứ c của tư ợ n g Ngọc H oàng, Đức Ông tro n g chùa, song cơ b ản là n h ữ n g tư ợ ng dưới d ạn g q u a n v ăn

m an g giá trị n g h ệ th u ậ t ở m ức tru n g bình, chi tiế t ho a v ă n trê n

tư ợ ng được th ể hiện th eo dòng tru y ền th ố n g để nói lên uy lực của vị th ần

Ngoài tư ợ n g n h â n dạn g th ì phổ b iến h ơ n tro n g đ ìn h là các tượng linh v ậ t m à chủ yếu tậ p tru n g vào h ìn h tư ợ n g rồng, lân, bên cạn h đó là hạc v à rù a gắn với đồ thờ N ếu n h ư ở chùa, rồng

v à lân đã x u ấ t h iện từ th ế kỷ 11, th ì ở đ ìn h làng ch úng ra đời

m u ộ n tới xấp xỉ 5 th ế kỷ Vào th ế kỷ XVI người ta đ ã tim gặp được n h ữ n g tư ợ n g rồ n g gắn trê n các bộ p h ậ n kiến trú c m à ít gặp

h ìn h tư ợ n g này ở n h ữ n g vị trí riê n g b iệt n g o ài trời b ằn g c h ấ t liệu

đ á (hiện tư ợ n g này th ư ờ n g gặp ở đền) m à c h ủ yếu làm b ằn g ch ất liệu gốm có kích thước khá hơn

H ình tượng rồng

Có th ể n g h ĩ đ ến n h iề u rồ n g thời Mạc (thế kỷ XVI) b ằn g đ ấ t nung, đ iển h ìn h ở c h ù a Mui và đ ề n Và, n h ư n g ở kiến trú c đình

118

Trang 4

thì hầu n h ư vẫn r ấ t hiếm gặp ch úng ở trê n các góc m ái Chỉ tới

th ế kỷ XVII và XVIII đôi khi ch ú n g đã có m ặ t dưới d ạn g th à n h bậc tại trư ớc cửa đ ìn h và th ư ờ n g được bố trí đôi rồng n g u y ên con

ở g ian giữa và rồng m ây ở hai bên Thực sự ở trê n nóc đ ìn h hiện chỉ th ấy rồ n g được đắp b ằng vôi vữa với n iên đại vào cuối th ế kỷ XIX và đầu th ể kỷ XX m à thôi Rồng thư ờng được biểu h iện dưới

d ạn g m ột đ ầu không th â n n h ư n g có đuôi là cụm vân xoắn lớn, còn gọi là si vẫn T rong bố cục này chúng có dạn g của th u ỷ quái

M akara ho á th â n th à n h rồng, với m ũi sư tử , m an g nở, m iện g hé

ng ậm bờ nóc, đôi khi p h u n ra m ộ t dòng nước cuộn tì trê n bờ này,

rồ n g có sừ n g nai, tai th ú và th ô n g thư ờng sau m an g là 5 lọn tóc dưới d ạng đao đuôi n heo và b ằn g vào điều tra hồi cố ở n h iều địa phương, c h ú n g ta tạ m hiểu đó là biểu tượng của n h ữ n g tia chớp

to ả về n ăm p hư ơ ng tạo n ên m ư a n h u ầ n m u ô n cõi (Đông - T â y - Nam - Bắc và T ru n g phương), biểu hiện về m ộ t ước vọng cầu được m ùa Từ sau 5 cụm tóc này có m ột vân xoắn lớn vượt lên chạy ngược đ ến đ ỉn h đầu rồi lộn về phía sau và cuộn lại dưới

d a n g h ìn h bầu dục Thực ra h ìn h tượng n h ư nêu trê n đã từ n g gặp ở các kiến trú c khác có n iê n đại từ th ế kỷ XVI, n h ư n g trong

n h ữ n g đ ìn h của th ế kỷ này th ì chư a th ấy ch úng x u ấ t hiện

Cũng vào k h o ản g cuối th ế kỷ XIX và th ế kỷ XX trê n nhiều

bờ nóc củ a đình, đ ã gặp đôi rồ n g chầu m ặt trời hoặc m ặ t trăng

H iện tư ợ n g n êu trê n hầu n h ư khống có ò các ngôi đình trê n đ ất

Bắc từ n ử a đầu th ế kỷ XIX về trước Một số n h à nghiên cứu văn

h ó a n g h ệ th u ậ t n g ờ rằ n g đây là m ột h iện tư ợng b ắ t n g u ồ n từ

n g h ệ th u ậ t H uế ngược ra N hững con rồng trê n nóc đó thư ờng đơn giản, đ ều được đắp b ằng vôi vữa, n h iều khi gắn m ả n h sàn h

sứ, p h ần n h iề u c h ú n g trở n ê n lên h k h ên h với th â n h ìn h khá

m ản h m ai, đôi khi cũng được th ể h iện dưới d ạng hồi long hay được k ết hợp với đôi p h ư ợ n g ở phía sau v.v N hìn ch u n g n h ữ n g con rồng n ày chư a bao giờ đ ạ t được giá trị n g h ệ th u ậ t cao

119

Trang 5

N ếu n h ư ở chùa, đ ề n ch ú n g ta đ ã gặp n h iều lân b ằn g đá,

b ằn g gỗ đ ặ t ngồi bên cử a hay ch ầu bàn th ờ th ì ở đ ìn h n h ữ n g con lần đ ứ n g ch ân trê n m ặ t đ ấ t th ư ờ n g rấ t hiếm , có lẽ p h ải tới cuối

th ế kỷ XVII và đầu th ế kỷ XVIII ch úng mới được dè d ặ t x u ấ t h iện

ở n h ữ n g vị trí "cối cử a" của n g h i m ôn hoặc gian giữa củ a đ ìn h (đình Kim Liên, H à Nội, đình Đ ình Bảng, Bắc Ninh) N hữ ng con lân n ày được chạm dưới h ìn h th ứ c béo tố t để biểu h iện sức

m ạnh, m ặ t ch ú n g th ư ờ n g quay n h ìn vào giữa với m ắ t tròn, lồi,

m ũi sư tử, ră n g nhe, n h iề u chi tiế t khác thuộc th ế kỷ XVII, XVIII được chú ý n h iều là d ạn g đao m ác Lân th ư ờ n g tạc "trò n ", th ế

n ằm p hủ phục, th â n để trơn, trê n lưng khoét lỗ để làm cối đỡ trụ cửa T rong ý n g h ĩa tâ m linh, ngư ời xư a cũng m ong m u ố n th ô n g

q u a n h ữ n g con lân n à y với h ìn h thứ c n h ìn vào giữa đ ể n h ằm kiểm so át tâ m h ồn kẻ h à n h hư ơ ng có n g h ĩa ră n đe và nh ắc n h ở người ta khi tiếp cận với T h àn h hoàng làng th ì cần h ế t sức

n g h iêm chỉnh và th à n h kính Lân còn được th ể h iện tr ê n kiến trúc gỗ (như ở đ ìn h làng H ữu Bằng) và n h iều bộ p h ận trê n cao (đỉnh cột, trê n mái) T rên n g h i m ôn tứ trụ th ì hai cột giữ a bao giờ cũ n g lớn hơn hai cột b ên và tạo th à n h hệ th ố n g ba cửa Không gian giữa hai cột lón là của th ần , để đỉnh m ỗi cột đó

th ư ờ n g đ ặ t bốn con p hư ợ ng n h ìn về 4 hướng, lưng hội s á t lại

n h ư hội dòng sinh khí bốn p hư ơ ng để chảy qu a th â n cột m à trà n vào th ế g ian cho m u ô n loài sin h sôi Hai cột bên đ ã tạo ra hai cửa ra vào củ a th ế n h ân , khi vào tiế p cận T h án h cần p h ải g iữ cho

tâ m th a n h , lòng tĩn h với sự kinh cẩn từ tro n g tâm , điều đó cần phải được ch ứ n g giám , n ê n trê n đầu cột nhỏ này người ta đắp hoặc g ắn lân để kiểm soát N hữ ng con lân ở đầu cột n h ỏ đó

th ư ờ n g được đắp b ằn g vôi v ữ a th eo kiểu tru y ề n th ố n g , hoặc

n h iều khi chịu sự ản h hư ờng củ a h ìn h tư ợ ng sư tử hý cầu kiểu

T ru n g H oa H iếm có lân trê n đ ỉn h cột làm bằng đá, hay g ắ n đ ấ t

120

Trang 6

nung N goài Ý n g h ĩa kiểm so át tâm hồn kẻ h àn h hương, n h iều khi tro n g n h ậ n th ứ c người xưa, con ỉân còn biểu h iện cho sức

m ạn h tầ n g trên , cho trí tu ệ , n ê n người x ư a cũng đư a nó lên trê n m ái dưới d ạn g tượng tròn Vị trí của ch ú n g th ư ờ n g nằm ở

"khúc n g ư ỷ n h " tro n g th ế chạy xuống, n h in vào giửa sân, đó là nhữ ng co n xô/con náp Vào th ế kỷ XVII, chú n g ta đã gặp lân dưới dạng th â n hươu có ch ân khá cao, m ắ t quỷ, m iệng lang, sừ ng nai, tai thú, cổ rắn, vẩy cá chép Đôi khi cũng có vẩy kép Đ áng

q uan tâ m là điểm x u y ến trê n th â n chúng có n h ữ n g đao m ác và

v ân xoắn n h ư đã tạo n ê n sức linh của con v ậ t tầ n g trê n v à uy lực vô b iê n của nó Vào cuối th ế kỷ XIX và đ ầu th ế kỷ XX, n h ữ n g con lân trê n m ái th ư ờ n g chỉ được đắp bằng vôi vữa hoặc làm theo d ạn g gốm m en n h iều m àu th eo kiểu "Sư tử hý cầu", đôi khi

có d án g tu ỳ tiệ n n h ư lân ở trê n đỉnh của nghi m ôn tứ trụ

Phượng, hạc, rùa

H iện nay chư a tìm được n h ữ n g linh v ậ t này dưới dạng chạm trò n b ằnq đá m à chỉ tìm th ấy chúng dưới dạn g bằng gỗ m à thôi C ùng là loài chim thiếng, n h ư n g hiện nay chúng ta m ới chỉ

th ấy p hư ợ ng được tạc theo h ìn h thứ c khối trò n có n iên đại vào

th ế kỷ XVII, m à m ộ t điển h ìn h là đôi phượng ở đình Phú Gia, Phú T hượng, Tây Hồ, Hà Nội, đ ền T rần K hát Chân, T hanh Hóa,

đ ình Dục Tú, c ổ Loa, Hà Nội và m ột vài nơi khác X uất hiện chậm hơn vài chục n ăm là d ạn g hạc, chủ y ếu là hạc đứ ng trê n

rù a củ a kh á n h iều đ ìn h đền, n h ữ n g cặp linh v ậ t này th ư ờ n g khá lớn, cao từ lm 5 0 trở lên T rong n h ận th ứ c xư a th ì phượng

th ư ò n g được tạc đ ứ n g chân tr ê n đế kiểu khối h ìn h hộp chữ n h ậ t

có ch ạm nổi d ạng hồ sen, h ã n h ữ u cũng có phượng đứ ng trê n

lư ng rùa, riên g hạc th ì h ầu h ế t có chân đế là rùa T rong bố cục này cách th ể h iện giữ a hạc v à phượng cũng có n h iều n é t riêng, song ch ú n g đều m a n g tư cách tư ợ ng cho tầ n g trên , về nguyên tắc p hư ợ ng phải có m ỏ khoằm , th eo kiểu diều hâu, m ắ t giọt lệ,

121

Trang 7

tóc trĩ, cổ rắn, vẩy cá chép (nhiều khi có vẩy n họn đ ầu cũng n h ư

để tư ợ n g trư n g cho lông vũ) cánh cụp, đuôi công, ch ân được tạc vẩy đ ến khuỷu, ống chân cao, ngón chim ư ng (ba trư ớ c m ộ t sau),

m óng v u ố t nhọn Phượng th ư ờ n g được th ể h iện béo tố t hơ n hạc, đuôi dài v à th ư ờ n g điểm x u y ết n h ữ n g đao nhỏ ở trê n th â n , n h ư phượng tại đ ìn h Phú Gia có nhữ ng đao m ác khá đ iể n h ìn h m an g

n iên đại vào n h ữ n g n ăm 60, 70 của th ế kỷ XVII

H iện nay, n h iều người nhìn chạm trổ trê n di tích nói chung

n h ư m ộ t h ìn h th ứ c tra n g trí cho kiến trúc Do chỉ x u ấ t p h á t từ

n h ận th ứ c đó, n ên giá trị tâ m linh của các m ản g ch ạm p h ần nào

bị giảm hẳn N hưng từ lâu nhiều n h à n g h iên cứ u d ân tộc học nghệ th u ậ t đã n h ìn th ấ y cái động tro n g cái tĩn h , th ấ y được ý

ng h ĩa ẩn tà n g vẫn còn n íu kéo tâm h ồn n h ữ n g tín đồ khi tiếp cận, bởi th ự c tế các m ản g chạm đó n h iều khi đ ã có m ộ t giá trị biểu tư ợ n g sâu xa để duy trì n h ận thứ c và ước v ọ n g tru y ề n đời của tổ tiên

Các m ản g chạm này, về hình thứ c cũng đã p h ả n án h về m ột khía cạ n h nào đó của tâ m hồn dân tộc T rong "k h ô n g gian" của

m ản g chạm , th ư ờ n g người xưa ít khi d àn h ra n h ữ n g khoảng trống, n h ấ t là n h ữ n g khoảng trố n g có tín h tư tư ở n g M ột đặc điểm khác cũng tro n g không gian đó, có n g h ĩa tr ê n m ộ t giải ván

n ong hoặc lá gió, hay m ộ t khối chạm khắc nào đó th ư ờ n g ít khi

th ấy được th ể h iện chỉ m ộ t đề tài n g h ệ th u ậ t m à n h iề u khi lại

đ an x e n n h ữ n g đề tài khác nhau, không liên q u a n tới n h au

T rong tạo h ìn h dân tộc, bố cục đồng h iện chủ y ế u được phổ biến

m ạn h từ khoảng th ế kỷ XVI (thời Mạc) về sau, đó là giai đ oạn m à

n ghệ th u ậ t chạm khắc d ân dã h ìn h th à n h và p h á t triể n ở các di tích, n h ấ t là ở ngôi đình, cụ th ể là đình Tây Đ ằng M ột ví dụ cụ

th ể ở đ ìn h này, cùng trê n m ột m ản h gỗ nhỏ, đã th ấ y x u ấ t h iện cản h tra i gái "tìn h tự ", th ì s á t cạnh đó lại là m ản g ch ạ m m an g đề

122

Trang 8

tài "ngồi khóc cho m ăng m ọc" Tuy vậy, tín h đồng h iện trong chạm khắc có th ể chỉ đến đỉnh cao thuộc giai đoạn ''n g h ệ th u ậ t

đ ìn h làng" vào cuối th ế kỷ XVII Khoảng cuối th ế kỷ XIX, đầu th ế

kỷ XX, tín h đồng h iện p hẩn nào giảm để các m ản g chạm m ang tín h hoạt cản h liên th ô n g găn với các đề tà i có sự tích riêng, n h ư

đề tài về Đ inh T iên H oàng, Q uan Âm Thị Kính hay Tây du ký

Nhìn c h u n g th eo thời gian, các m ảng chạm được diễn ra có

sự thay đổi d ần về kỹ th u ật, n ếu n h ư ở thời Lý, thời Trần, thời Lê sơ kể cả ch ạm trê n đá hay trê n gỗ, th ư ờ n g được th ể h iện dưới

d ạn g chạm nổi, rấ t ít khi chạm chìm, vói h ìn h th ứ c tỉ mỉ, tra u chuốt, đặc kín (thời Lý) Sau đó, đôi khi trê n m ản g chạm cũng có

n h ữ n g k h oảng trố n g nhỏ (cuối thời T rần và Lê sơ), song các

m ản q trố n g này chủ yếu là không gian p h ù trợ cho n h ữ n g đề tài chính chứ k hông phải m an g tín h tư tưởng n h ư của người T rung Hoa, có khi lấy các đề tài chạm khắc (không m an g tín h trọng tâm ) để p h ả n án h m ộ t ý n iệm sâu xa Ở thời Mạc trở về sau, nhữ ng đư ờng chạm nhỏ chỉ được th ể h iện p hù trợ cho n h ữ n g

m ản g lớn, ch ẳn g h ạn n h ư chú n g là đường diềm hai bên sống

đ uôi con th ú Thời này h ìn h chạm được tậ p tru n g vào các n é t lớn hơn thời trước, đó là n h ữ n g hệ vân xoắn, n h ữ n g đao để làm

n ề n cho n h ữ n g đề tài chủ đạo, n h ằm m ục đích th iê n g hóa hoặc

để đạt m ộ t ý n g h ĩa sâu xa nào đó Với n h ữ n g ý th ứ c n h ư vậy, vói kỹ th u ậ t n g ày càng p h á t triể n và rộng khắp, cụ th ể là ngoài chạm nổi là cơ bản th ì h iện tư ợ n g chạm bong kênh, chạm lộng

đ ã được th ự c h iện với tay n g h ề khá điêu luyện, để lại cho chúng

ta n h ữ n g tác p h ẩm tư ơ ng đối hoàn chỉnh N hững ví dụ cụ th ể

n h ư chạm th ủ n g đ ã x u ấ t h iệ n từ thời Mạc, rồi n h ữ n g đao rồng

th e o kiểu b o n g k ên h ở trê n kiến trú c n h ư tại các đầu dư của bộ

vì, hay ch ạm lộng ở cửa v õ n g

C hạm khắc trê n bộ vì và n h ữ n g vị trí khác đã để lại m ột

n h ận thứ c rấ t sâu đậm tro n g Ý thứ c của n h ữ n g người được tiếp

123

Trang 9

cận, k h iến n h iề u khi tâ m tư người xem vượt ra ngoài n g h ệ th u ậ t đơn th u ầ n để tìm th ấy m ột số vấn đề thuộc lịch sử v à x ã hội đương thời g ắn với các m ảng chạm đó Nhìn ch u n g các m ảng chạm đ ã n â n g giá trị n g h ệ th u ậ t của ngôi đ ìn h lên rấ t cao.

3.2.1 Kỹ thuật chạm khắc

C hạm khắc trê n đ ìn h là m ột yêu cầu cần th iế t để trá n h đi

n h ữ n g n é t th ô cứng củ a cấu kiện, đồng thời cũ n g n h ằm phản

án h n h ữ n g ước vọng củ a con người tro n g n h iề u m ối q u an hệ

m an g tín h tâ m linh v à xã hội Suốt cả m ộ t thời gian dài, qu a

n h iề u th ế kỷ, dưới thời Lý, thời T rần và thời Lê sơ, ch úng ta chỉ còn tìm được rấ t ít đồ chạm trê n ch ất liệu gỗ, lác đác n h ư ở các

v án lá gió th u ộ c c ồ n Chè (Nam Định), ch ù a Thái Lạc (H ưng Yên)

và ch ù a Bối Khê (Hà Nội) Cả b a địa điểm này đ ều có n iên đại thời T rần, còn đồ gỗ nói chung của thời Lý v à thời Lê sơ h iệ n nay chư a tìm được Nhìn chung, trê n cả đồ gỗ và đồ đ á của ba thời kỳ này m ới chỉ gặp các p h ù điêu liên q u an đ ến kiến trúc, với kỹ

th u ậ t ch ạm nổi và p h ầ n nào chạm chìm Từ th ế kỷ XIV trở về sau đ ã tìm được n h iều h ìn h chạm khắc trê n các ngôi th áp , lăng

m ộ b ằn g đá Thực ra n g h ệ th u ậ t tạo h ìn h ở nước ta, về cơ bản, được nuôi dư ỡng chủ y ế u bởi kinh tế tậ p th ể, rấ t hiếm có n h ữ n g

n h à hảo tâ m giàu có v à trí tu ệ b iết nuôi dưỡng n h ữ n g tra n g khách tro n g n h à (hầu n h ư không có quý tộc ch a tru y ền con nối, dạn g người n h ư M ạnh T hường Quân) Vì th ế không có n h â n tố

"b iết chơi" hỗ trợ tích cực, đứng đ ằng sau "n g h ệ sĩ", khiến n ghệ

sĩ, m à th ự c sự là n h ữ n g ng h ệ n h ân xưa, không có đủ tâm v à lực

để sán g tạo ra n h ữ n g sản phẩm m ang giá trị điển h ìn h tỉ mi, tin h

tế, vi d iệu n h ư của T ru n g Hoa Nghệ n h â n V iệt thư ờ ng không

m ấy khi được ghi tê n vào sản phẩm của m ình Họ không đ ủ thời gian để tạo n ê n n h ữ n g tác phẩm cực kỳ đ iêu luyện, dù cho nghệ

th u ậ t tạo h ìn h Việt tr ê n kiến trúc p h ần n h iều có giá trị biểu

tư ợ ng v à ch ú n g là sản p h ẩm chung của cả cộng đồng, cá tín h của

124

Trang 10

n g h ệ n h â n th ư ờ n g chỉ được ẩn vào các giá trị kỹ th u ậ t chứ không phải n ằ m tro n g sự sán g tạo nghệ th u ậ t riê n g biệt Tình h ìn h như

n êu trê n cho th ấ y trê n đồ đá chỉ là sự nối tiếp kỹ th u ậ t chạm khắc cu a thời g ian trước, còn trê n đồ gỗ d ễ đục chạm hơn, n h ấ t

là ở đ ìn h làng, đ ã cho ph ép p h á t triể n ký th u ậ t chạm khắc từ nổi, chìm sa n g k ết hợp với bong kênh, th ậm chí cả chạm lộng

T uy n h iên về đề tài v ẫn chỉ n ằm trê n dòng chảy chung Có chăn g sự khác b iệ t th ư ờ n g x u ấ t p h á t bởi sự biến động (nhiều hơn) củ a lịch sử và x ã hội

sự ít b ề n vững, h ìn h thứ c của chú n g th ư ờ n g n g ắn và m ập Một trớ trê u củ a bộ k h u n g này là không tạo được sự th a n h th o át, n ê n

đã làm h ạ n chế giá trị n ghệ th u ậ t kiến trúc

Đổ giải q u y ế t "m âu th u ẫ n " này, tro n g kiến trúc, ngoài m ột

số ít được ch ạm khắc th ẳ n g vào các cấu kiện, th ì chủ y ếu các

m ả n g ch ạm khắc chỉ n ằm ở k ết cấu g h ép vào Đ en thời Mạc, chạm khắc trê n kiến trú c gỗ n h ấ t là ở ngôi đ ìn h tìm th ấ y được

n h iều hơn Tuy n h iên , về cơ bản, ch ú n g v ẫn chủ yếu n ằm trê n các bộ p h ậ n g ắ n vào kiến trú c là chính, thời này cũng đã th ấy

x u ấ t h iệ n n h iề u d ầ n h iện tư ợ ng đục th ẳ n g vào cấu kiện n h ư chạm tr ê n bẩy, v á n dong, trê n n h ữ n g con chèn, con chống, đấu

ba chạc Đ ồng thời đã tìm được khá n h iều đ ầu dư đội b ụ n g câu

đ ầu có chạm trổ Còn trê n n h ữ n g rường, cột, câu đầu vẫn hiếm

125

Trang 11

có dấu v ế t chạm khắc n ghệ th u ậ t, ngoài m ộ t vài v ân xoắn lơn ở các đ ầu rư ờ ng củ a vì nóc và cốn Tình trạ n g n h ư n ê u trên , về cơ bản, cũ n g vẫn th ấ y ở các th ế kỷ sau Song, từ n ử a cuối th ế kỷ XVII, ngoài n h ữ n g v ân xoắn lớn nổi khối ở các đ ầ u rường th ì

h ìn h tư ợ n g đao m ác cũng đ ã x u ấ t h iện ở p h ần đ ầ u câu đ ầ u của đình, dù cho th ự c sự chư a n h iề u lắm Đôi khi ở p h ầ n giữ a m ặt

b ên củ a câu đ ầu cũng đã th o á n g có h ìn h chạm , n h ư m ộ t bông cúc cách điệu m ã n khai, hay m ột đề tài nào đó, v ừ a đủ, để trá n h

đi sự khô cứng của cấu kiện.(1)

C àng về sau, vào th ế kỷ XVIII và XIX th ì p h ầ n đ ầu qu á giang củ a đ ìn h đã được chạm n h iều hơn, rộng hơ n và lan dần vào giữa, h àn g chữ ghi về n iên đại của đ ìn h hay m ộ t dòng chữ

m an g yếu tố ước vọng n h ư "Càn, N guyên, H anh, Lợi, Trinh" trở

n ên phổ biến hơn H ình th ứ c chữ ghi n iên đại khởi dự ng hoặc tu

bổ cũng tìm được ở dạ xà nóc về cơ bản từ giữa th ế kỷ XIX trở

về trước, ở m ặ t b ên th â n của câu đầu hoặc q u á g ian g hiếm có

h iện tư ợ n g chạm kín đặc m à chủ y ếu chỉ đ iểm x u y ế t ở hai đầu và tru n g tâ m (hãn h ữ u có m ột vài đ ư ờ ng chỉ soi ở m ép)

Cuối th ế kỷ XIX đầu th ế kỷ XX đôi khi cũ n g đ ã gặp được

h iện tư ợ n g chạm g ần kín m ặ t b ên của qu á giang, x à nách và m ặ t

b ên xà đai/xà lòng

H iện tư ợ ng n ê u trê n đây n h ư m ộ t dòng ch ảy chung của chạm khắc trê n kiến trú c Việt Song ở th ế kỷ XVII, tr ê n m ột số di tích, ý th ứ c ch ạm trổ ở m ặ t n g o ài của kiến trú c đ ã được q u an

tâ m đặc biệt, m à ch ủ yếu th u ộ c m ấy v ù n g vốn v ẫ n nổi tiến g về

n g h ề chạm n h ư tại N am Đ ịnh với cửa đ ề n Xám, đ ề n Trần K hát

C hân (T hanh Hóa)

(1> Trong một số trường hợp đặc biệt, như ở đình Hung Lộc (Nam Định), ? rường

vì nóc kê sát vào nhau, tạo thành một mặt phẳng đã đuợc chạm khắc lon đặc các hình tượng rồng.

126

<&®rse®Ể>

Trang 12

ch ạm khắc Trước h ết, chính từ chạm khắc của thời Mạc m à có

th ể n g h ĩ tới th ờ i Lê sơ n h ư m ộ t giai đ oạn bản lề chuyển đổi từ phong cách n g h ệ th u ậ t chịu n h iề u ản h hưởng của phư ơng Nam, với gốc Ân Độ, sang m ột phong cách chịu ản h hư ởng n h iều của phư ơ ng Bắc với gốc T rung Hoa Tuy n h iê n dưới th ế kỷ XV, thực

sự h iệ n nay m ới chỉ tìm th ấy n g h ệ th u ậ t chạm khắc p h ần nào

g ắn với n h ữ n g kiến trú c của triề u đ ìn h m à chư a th ấy m ở rộng ra

xã hội, ch ú n g chỉ đủ sức tạo sự san g tra n g cho tạo hình Trong

100 n ă m dưới thời Lê sơ, sự p h á t triể n của n g h ệ th u ậ t chạm khắc có bị h ạ n chế, nó xa lìa d ần với tru y ền th ố n g Lý v à Trần Song, thời n à y cũ n g không h o àn to àn dập khuôn m ỹ th u ậ t T rung Iloa, mà mặt nào tự nó cũng tạo điều kiện cho một dòng nghệ

th u ậ t có p h ầ n p h ả n á n h tâ m th ứ c g ắn với vũ trụ v à n h â n sinh của d â n tộc, c h ú n g b ắ t buộc p h ải V iệt hó a để phù hợp và tồ n tại

Ở th ờ i Mạc, n g h ệ th u ậ t ch ạ m khắc nổi b ậ t trê n kiến trú c với

ch ấ t liệu gỗ, h ìn h th ứ c này được diễn ra ở bộ vì nóc, cốn, lá gió, các đ ấu , con ch ồ n g kiểu cán h gà Kiến trú c đ ìn h ở thời n ày hầu

n h ư ch ư a có tư ờ n g bao v à h ệ th ố n g ván b ư n g ở ngưỡng, nên

n g h ệ th u ậ t ch ạ m khắc chỉ n h ậ n b iế t được g ắn với các bộ p hận chính (hiện tư ợ n g chạm th ẳ n g vào các kết cấu củ a kiến trú c vẫn

127

Trang 13

còn h ạ n chế) T rong n h ữ n g đ ìn h được xác n h ậ n vào n iê n đ ại

th ờ i M ạc có m ộ t số h ìn h tư ợ n g th ư ờ n g x u y ê n gặp, đó là rồng

C h ú n g đư ợc th ể h iệ n ở ván lá đ ề củ a vì nóc, ở các đ ầ u dư, đ ầu

đ ò n ta y kê tr ê n đ ấ u b a chạc làm nơi "ngồi" của các th iê n th ầ n , rồi ở các co n chồ n g kiểu cán h g à đầu cột quân , n h iề u khi cũ n g

g ặp c h ạ m nổi tr ê n v á n lá gió n h ư dưới d ạ n g cá ho á rồ n g ch ầu

m ặ t trờ i k iểu h o a cúc cách đ iệ u (như ở đ ìn h Lỗ H ạn h , Bắc

G iang), h a y đôi rồ n g cuộn th â n với n h a u ở cốn để n â n g m ộ t

ch iếc h o à n h phi đề "H oàng đế v ạ n tu ế" T ất cả n h ữ n g con rồ n g

tr ê n gỗ n à y đa p h ần đ ã Việt h ó a kh á m ạn h m ẽ, dù cho m ặ t nào

v ẫn có d á n g dấp rồ n g thời Minh So với thời Lê sơ th ì c h ú n g ấm

áp h ơ n với m ắ t to hơn, m õm n g ắ n lại, th â n m ập, đặc b iệt có

n h ữ n g đao m ản h , dài lượn sóng n h ẹ bay ra từ m ắt và khuỷu rồi

đè lê n th â n , chạy về phía sau

về n h ữ n g đề tài khác, n g o ài h ìn h tư ợ n g rồng, ch ú n g ta

cũng đã gặp được một số phượng chạm trên gỗ như ở đình Tây

Đ ằng Đó là đôi p h ư ợ n g m úa tr ê n n ề n củ a n h ữ n g cụm v â n xoắn dưcri d ạ n g dây leo H ình tượng n ày được lồng tro n g v án lá đ ề của

vì nóc Tại vị trí này, ở chùa Bối Khê có đôi phượng cũ n g đ ã tạc tro n g lá đề, song được diễn ra dưới d ạn g n g ậm hoa Người xư a

th ể h iệ n ch ú n g với n h ữ n g động tá c khá sin h động, con cao con

th ấ p , m ở rộ n g hai cánh, m à phối hợp giữ a h ai con tạo th à n h m ột

đ ư ờ n g v iề n n g h ệ th u ậ t viên m ãn Phượng đã vượt ra ngoài

k h u ô n khổ có tín h n g u y ê n tắc q uy p h ạm củ a các thời gian trư ố c

v à sau M ột con p h ư ợ n g khác đầy tín h c h ấ t dân gian đ ã được làm

ở vì nóc đ ìn h Thổ Hà, trê n m ặ t n g o ài v án lá đề và k hông m ộ t chi tiế t p h ù trợ Con p h ư ợ n g đ ứ n g c h ê n h v ên h , m ộ t m ình, tro n g tư

th ế m ú a Người ta có cảm giác đ ầ u phư ợ ng gần gũi với đ ầu quạ cách đ iệu , th â n nhỏ, trơn, ch ân th ấp , h ai cánh d an g rộ n g lưa

th ư a v à i chiếc lông, b a dải lông đuôi q u ặ t ngược bay lên trê n

T hự c sự h ìn h tư ợ n g rấ t đơn g iản n h ư n g bố cục lại khá c h u ẩ n

m ự c với n é t khái q u á t cao, đầy gợi cảm

128

Trang 14

T h â n trí tu ệ (ngườ i và lân), đìn h P h o n g C ố c , Q u á n g N in h , T K XVII

Trang 15

C h ạ m khắc rồng, đình A n c ố , T hái Bình, T K XVII

( T ư liệu: V M T )

T h ố i tiêu, đ ìn h H ư ơ n g C anh, Bình X u yên, V ĩn h P h ú c , T K X V II

( T ư liệu: V M T )

Trang 16

C h ạ m k h ắ c rồ n g , đình An c ổ , Thái Bình, T K XVII

( T ư liệu: V M T )

T rị tội, đình P h ư ơ n g C hâu, Ban nguồn sữa ngọt, đ ìn h V ĩn h T ư ờ n g ,

B a Vì, H à N ội, T K X V I I Vĩnh Phuc, TKL X V IĨ

( T ư liệu: V M T ) ( T ư liệu: V M T )

Trang 17

Đ ấ u thú, đình T â y Đ ầ n g , Ba Vì, H à N ộ i, T K X V I

( T ư liệu: V M T )

Ph ư ợ n g , trên bộ vì n óc, đ ìn h L ỗ H ạ n h , H iệp H òa, Bắc G ia n g , T K XVI

( T ư liệu: V M T )

Trang 18

L ân trên vì nóc , đình T h ô Hà, Việt Y ê n , Băc G ia n g , T K X V II

( T ư liệu: V M T )

B ản vẽ rồng, lân, đ ìn h Lồ H ạnh, H iệp Hòa, Bắc G iang, T K XVỈ

( T ư liệu: V M T )

Trang 19

P h ư ợ n g trê n sập thờ, đ ì n h P hú Gia,

T ừ L iê m , Hà N ộ i, T K X V II

( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

B ản rập p h ư ợ n g trêr bộ vì, đình T h ổ Hà, Bắc G iang T K X V I I

Trang 20

R ồng, trên cửa, đ ìn h Lỗ H ạnh, H iệ p Hòa, B ắ c G ia n g , T K XVI

(T ư liệu: V M T )

Lào N h â n v à b à Đ a n h , đình T â y Đ ằ n g , B a V ì, H à N ội, T K X V I

( T ư liệu: V M T )

Trang 21

M ối tình thần thánh, đ ìn h T â y Đ ằ n g , Ba Vì, H à N ộ i, T K X V I

( T ư liẹu: V M T )

C á c h u n g đầu, đ ìn h C a m Đ à, B a Vì, 1 ỉà N ộ i, T K X V I

( T ư liệu: V M T )

Trang 22

P h ư ợ n g , đình T rà c ổ , Q u a n g N inh, T K XV Ii

( T ư liệu: V M T )

Trang 23

T h ú vui đùa, đình T rù n g H ạ, G ia V iễn, N in h Bình, T K X V I 1

(T ư liệu: V M T )

Trang 25

B à n thờ, đình Phú G ia, T ừ Liêm , H à Nội, T K X V Iỉ

( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ăn hóa)

R ồ n g , sập thờ, đình P h ú G ia , T ừ Liêm , H à N ộ i, T K X V ĨĨ

( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

Trang 26

Bài vị, đình T h ố Khối,

Giía L âm , N ộ i, T K XVII

( T ư l iệu: T ạ p chí Di sản V ăn hóa)

Cửa v õ n g , đình D i ề m ,

Bắc Ninh, T K X V II ( T ư liệu: V M T )

Trang 27

Bài vị, đình T r ư ờ n g Lâm , L o n g Biên, Hà Nội, T K X IX

( T ư liệu: T ạ p chí Di sản V ă n hóa)

Trang 28

C ử a vòng, đ ìn h T r à c ổ , Q u ả n g Ninh, T K XVII

( T ư liệu: V M T )

R ồng trên y m ô n , đình K iền Bái, K iến T hụy, Hải P hòng, T K X V II

( T ư liệu: V M T )

Trang 29

C ử a võng, đì n h D iề m, Bắc Ninh, T K X V I I

( T ư liệu: V M T )

Trang 30

M ột h ìn h th ứ c dân gian khác lại được th ể h iện ở con

p h ư ợ n g củ a đ ìn h Lỗ H ạnh, con chim th iê n g này được bố cục th eo

d ạn g n h ìn nghiêng, m ỏ không khoằm , m ắ t giọt lệ, th â n trò n nổi

m ập, rấ t g ần gũi với con chim nước Đuôi là n h ữ n g cụ m vân xoắn được tỏ a ra k ết hợp với n h ữ n g vân xoắn khác tạo th à n h n ền

th iê n g liêng cho phượng Có th ể còn tìm thấy, đó đây, n h iề u con Dhượng khác nữa, n h ư n g suy cho cùng rõ ràn g ở th ờ i Mạc, qua

p hư ợ ng, m ộ t tin h th ầ n nghệ th u ậ t đã n h ư tự do p h ó n g khoáng

m u ố n vư ợ t ra ngoài khuôn khổ để hòa vào n h ữ n g "th ổ n thứ c" đời th ư ờ n g

C ùng với phượng là hạc, chúng được th ể h iệ n rấ t ít Lần

đ ầu tiê n đ ã tìm được trê n m ột bộ p h ận ván gió củ a đ ìn h Lỗ

H ạnh Hạc đ ứ n g n g hiêm chỉnh, phần nào có n é t q uy p h ạ m v à có

bố cục tư ơ n g đồng với n h ữ n g con hạc của thời sau, song h ầ u n h ư

ch ư a th ấ y h iện tư ợ n g đứ ng trê n rùa Thời này củ n g x u ấ t h iện

Đ ằng, lân được tạc trê n m ặ t n ền của đầu bẩy cù n g v á n dong

C húng h á m iệng n g ậm đế chiếc đấu đỡ hoàn h m ái g iọ t gianh

tạo m ộ n g n g o àm đỡ tà u m ái Chính hiện tư ợ n g n ày đ ã cho ch ú n g

ta h iể u m ộ t cách kh á chắc chắn rằn g ngôi đ ìn h Tây Đ ằng của thời Mạc h ầ u n h ư chư a có tà u m ái, có n g h ĩa là ch ư a có k ế t cấu góc m ái cong lệ th u ộ c vào tà u m ái (như p h ần kiến trú c đ ã đề cập tới), về h ìn h tư ợ n g lân n h ư đã b ắt đầu chịu ả n h h ư ở n g n h iề u hơn của p h ong cách T rung Hoa vói m ắ t quỉ, m iện g sói, cổ rắn, vẩy cá chép, chân m óng guốc chúng được làm ở đ ầ u bẩy n h ư

để b iểu tư ợ n g cho tần g trời cho tính th iê n g v à v ẫ n m a n g sức

129

Trang 31

m ạn h trí tu ệ của tầ n g trê n nhằm kiểm so át tâ m h ồn kẻ h à n h hương khi tới đình T rên lĩnh vực tạo hình, n h iều lân được tạc dưới d ạn g n h ìn th ẳ n g từ trê n xuống Các chi tiế t được th ể hiện

rõ rà n g để ta th ấ y ch ú n g gần gũi với d ạng "sư tử hí cầu " của

T rung Hoa M ột số con lân khác được th ể h iện có n h iều y ế u tố

d ân gian, n h ư đôi lân ngồi chầu m ặ t trời th eo kiểu chó ở trê n

đ ìn h Lỗ H ạnh Có th ể coi n h ư đây là m ột bố cục sớm n h ấ t củ a đề tài này Lân có th â n chắc lẳn, thon, cao, sự th iê n g hóa chỉ được

đ ặ t vào m ộ t vài chi tiế t kèm theo n h ư ở các biểu tư ợ n g v â n xoắn,

m ặ t trời H oặc lân ở đ ìn h Thổ H à lại được th ể h iện với th â ne • * • •dạn g đứng, đ ầu chim , có m ỏ, phải chăng đó là m ộ t sự phối hợp của tư d uy liên tư ở n g d ân dã ở đương thời - m ộ t dấu ấ n rơi rớ t từ

n g h ệ th u ậ t còn ả n h hư ởng từ phương N am (có gốc An Độ) Trong

h ìn h th ứ c này, lân được đ ứ n g chầu vào ván lá đề chạm rồ n g ở vì nóc, và n h ư th ế, nó cũng n h ư m ột biểu tư ợ n g tro n g sự phối hợp các linh khí củ a tầ n g trê n

T rong h ệ bốn chân, chú n g ta cũng còn tìm được m ộ t số con

v ậ t khác, ch ẳ n g h ạ n n h ư n gự a với đao khuỷu bay chéo lên phía lưng (đình Tây Đ ằng) v à được th ể hiện n h ư chiếc cánh, nó gần gũi với h u y ề n th o ại là linh v ậ t cõng á n h sáng, là á n h sá n g hay

m ộ t b iểu tư ợ n g của n g u ồ n p h át sáng H ình tư ợ n g n g ự a có đao bay từ khuỷu ch ân trước (gần gũi với cặp cánh) còn tìm đựơc ở trê n gạch củ a ch ù a T răm Gian (Chương Mỹ, H à Nội), ch ù a sổ (T hanh Oai, H à Nội), n h a n g án chùa Bút T háp (T huận T hành, Bắc Ninh), ở cửa đ ề n T hiên H ậu (H ưng Yên) C hính "đôi cánh này" đ ã tạo cho n g ự a vư ợ t ra ngoài con v ậ t b ìn h th ư ờ n g Cùng với n g ự a còn tìm th ấ y n h ữ n g con hươu th ể h iệ n dưới các dạn g khác n h a u tro n g th ế động, đa số ch ú n g được n ằm lọt tro n g m ộ t

v ân x oắn lớn, m à n h ư cố giáo sư Từ Chi đ ã ngờ rằn g , cũng n h ư ngự a, ch ú n g là b iểu tư ợ n g của án h sán g hay n g u ồ n p h á t sáng (đình Lỗ H ạnh), có th ể là m ột dạng của m ặ t trời h ay tin h tú (?)

130

Trang 32

M ột d ạn g linh v ậ t khác cũng đ áng chú ý đó là voi Điển

h ìn h là con voi trê n v án lá gió củ a đình Tây Đằng Voi này có đầu nhin v ề phía sau, vòi cong lên, bộ m ặ t n h ư có th ầ n , ch ân trước

ch ân sau đ ều duỗi, nó n h ư đ an g bay tro n g m ộ t khung, được viền hai b ê n b ằng n h ữ n g vân xoắn lớn Đã có n h iều ý kiến xung

q u a n h n é t tạo h ìn h về con voi này, h ầu n h ư m ọi n h ậ n x é t đều ca

tụ n g v ề ý th ứ c v à tài hoa gắn với tạo h ìn h của người đương thời Song, ở lĩnh vực tâm linh, m ộ t số n h à n g h iê n cứu d ân tộc học

n g h ệ th u ậ t còn n h ư th ấy được ở đây voi là biểu tư ợ n g của n guồn nước, củ a m ư a, của sức m ạ n h m an g tín h chân lý, n ằm ở giữa

n h ữ n g vân x oắn và đan g vận động tro n g th ế n h ư bay bố cục

n ày cho p h ép c h ú n g ta ngờ rằ n g phải chăn g đó là m ộ t biểu tượng cầu m ư a củ a người xưa

N goài n h ữ n g linh v ậ t phổ b iến n h ư kể trê n , h ã n h ữ u chú n g

ta còn gặp được m ộ t vài con v ậ t bốn ch ân khác m a n g đầy tín h

c h ấ t d ân gian n g ẫ u hứ ng, rồi được thời gian tô điểm , để nhữ ng

th ớ gỗ nổi hằn , tạo th à n h m ộ t tác p h ẩm điêu khắc m an g giá trị

rấ t cao, n h ư con hổ ỏ' đ in h Lỗ H ạnh Hổ tro n g th ế đ a n g n ử a động

n ử a tĩnh, bố cục n g h iê n g n h ư n g m ặ t qu ay ra g ầ n n h ư n h ìn

th ẳ n g , đuôi v ắ t ngược lên phía trên Người ta k h ông tạo n ê n m ột con hổ tả th ự c, m à là m ộ t h ìn h tư ợ ng đ ã đọng lại tro n g tâm thức, rồi được th ể h iệ n th eo lối d ân gian, n h ư m ộ t ch ân sau được mọc

ra ờ dưới b ụ n g vơi sự "khá tu ỳ tiện" m à v ẫn không th ấy phi lý và

k h iên cưỡng T h ân h ìn h hổ chắc khỏe, n h ư n g chỉ nói lên sức

m ạ n h tiề m ẩn m à không nói lê n tín h h u n g dữ, h ìn h th ứ c này vẫn

m a n g n é t m ề m m ại, u yển chuyển, nhịp n h à n g được th ể h iện ở

n h ữ n g đường lượn củ a bụng, lưng, đuôi T rong q u a n n iệm của ngư ờ i xưa, hổ được coi là m ộ t linh v ậ t để b iểu tư ợ n g cho sức

m ạ n h trầ n gian, cai q u ả n m ặ t đ ấ t có khả n ăn g trừ tà sá t quỉ (nên

th ư ờ n g x u ấ t h iệ n ở m ặ t ngoài của bức bình p h o n g đình, đền),

T rong ý th ứ c củ a người xư a hổ không th u ộ c linh v ậ t của tầ n g

131

Trang 33

trên , vì th ế con hổ được chạm ở m ộ t m ản h v án trê n cốn c ủ a đình

Lỗ H ạnh h iệ n v ẫn còn là m ột dấu hỏi cho các n h à n g h iê n cứu

Vào th ế kỷ XVII tại chùa Láng (Hà Nội), c h ú n g ta cũ n g đã gặp đôi hổ tro n g th ế đ ang vận động, bố cục n g h iê n g n h ư n g m ặ t được v ặn quay ra dưới dạn g n h ìn chính diện Mỗi con đ ề u cắn

m ộ t m ặ t trờ i/tră n g khiến cho nghi vấn về hổ của thời M ạc p hần nào được giải đáp, bởi tro n g n h ữ n g trư ờ n g hợp n ày hổ đ ã n h ư đồng n h ấ t với n g u ồ n p h á t sáng của tầ n g trê n hay cù n g với

n g u ồ n p h á t sán g trở th à n h m ột cặp phạm trù th u ộ c lĩnh vực âm dương đối đãi

T rong h ệ thống linh v ậ t nổi tiến g m à sa u này hội tụ vào tứ linh th ì h ầ u n h ư con rù a rấ t h iếm x u ấ t h iệ n tro n g ch ạ m khắc trê n kiến trú c gỗ, có lẽ bởi người xư a q u an n iệm nó là con v ật của tầ n g dưới, n h iều khi m ang tín h tích cực, tự th â n đ ã th ể hiện

m ột cặp p h ạm trù âm dương đối đãi hoàn ch in h (m à b iểu tượng

về ngôi n h à sàn được tru y ền th u y ế t d ân gian cho là b ắ t n g u ồ n từ

h ìn h tư ợ n g rùa) Rùa còn là biểu tượng cho sự trư ờ n g tồ n , song cũng n h iề u khi nó có tín h tiêu cực, cùng với rắ n là cặp th u ỷ quái gây lụ t lội T rong tạo h ìn h ở th ế kỷ XVI về sau nó th ư ờ n g được

th ể h iệ n dưới d ạn g hóa th â n của hoa lá sen trê n các m ả n g chạm của kiến trú c Ở đầu thời Nguyễn, tại cung đ ìn h H uế rù a cũng không được th ể h iện tro n g chạm gỗ trê n kiến trú c cu n g điện, nó chỉ trở th à n h m ộ t tro n g tứ linh b ắ t đầu từ th ờ i Gia Long tại các

di tích trê n đ ấ t Bắc Dù dưới dạng hóa th â n hay d ạn g to à n th â n cuốn th u ỷ th ì rù a bao giờ cũng nằm ở p h ầ n b ên dưới củ a cả bố cục Ngoài n h ữ n g linh v ậ t v à con v ậ t được lin h h ó a n h ư kể trên ,

th ì ở thời Mạc đ ã d ần d ần phổ biến h iện tư ợ n g q u ái v ậ t hổ phù được ch ạm khắc trê n gỗ Song, đó chỉ là n h ữ n g b iểu tư ợ n g nằm trê n các h iệ n v ật, tới th ế kỷ XVII chúng mới x u ấ t h iệ n n h iề u dần trê n kiến trú c, n h ư trê n v á n gió của đình Công Đ ình th u ộ c Ninh

H iệp (Hà Nội) có đôi rồng chầu hổ phù, tro n g trư ờ n g hợp này có

132

Trang 34

th ể n g h ĩ hổ phù được đồng n h ấ t với m ặ t tră n g (những hình tượng linh v ậ t có th â n th iếu th ố n thư ờng đồng n h ấ t với m ặ t tră n g hoặc liên q u a n đ ến m ặ t trăng) Hổ phù được tạo n é t gồ ghề (m ắt, m ủi, m ồm ), phối hợp cùng n h ữ n g đao m ác bay chéo lên ở hai b ên đã n h ư n h ấ n m ạ n h cho nó m ột sức th iê n g n h ấ t định Trong n h ậ n th ứ c củ a người Việt - cư dân trồ n g lúa nước, th ì m ặ t trời là n g u ồ n sin h lực khởi n g uyên có sức m ạ n h vô bờ bến,

n g u ồ n gốc của m ọi sự sống còn m ặ t tră n g lại có khả n ăn g th ú c đẩy cho sự sinh sôi, gắn với ước vọng được m ùa Có lẽ vì th ế

m à h iện tư ợ n g hổ p h ù đã liên q u an trự c tiếp tới các tin h th ể này, đây là m ộ t h ìn h tư ợ n g cầu phồn th ự c và h ạn h phúc m u ô n m ặ t của người xưa H ình tư ợ n g hổ p h ù n gày m ột p h á t triể n và nó được h ó a th â n với n h iề u cách th ể h iện khác nhau Vào các thời gian sau ch ú n g ta cũ n g đ ã gặp văn triệ n rồi ho a lá hóa hổ phù ở trê n kiến trúc

M ột vài đề tài khác, th ư ờ n g được thời kỳ này h ế t sức chú ý,

đó là h ệ th ố n g v ân xoắn lớn, có th ể th ấ y ch úng được biểu h iện nổi khối m ập, m ặ t b ê n th â n cong kiểu ốp vỏ m ăng, được chạm ở đầu các con rường, đề tài này có xu hư ởng tạo khối gồ ghề,

n h ư n g v ẫ n u yển c h u y ể n n h ịp n h àn g Qua m ẫu h ìn h đã gặp, h iện tượng v â n x o ắn lớn n ằ m ở vị trí tru n g tâ m của m ản g chạm , với

n h iề u đ ư ờ ng chỉ v à đư ờng diềm v ân xoắn dấu hỏi, có điểm xuyết các lá cúc cách đ iệu đ ã chiếm tới 1/3 không gian của đề tài theo phư ơ ng n ằm n g an g Rõ rà n g ở lĩnh vực tạo h ìn h đơn th u ần , hiện

tư ợ n g n ày cũ n g làm h ạ n chế xúc cảm n g h ệ th u ậ t của người xem Song, n ế u n h ìn đây là m ộ t biểu tư ợ n g th iê n g liêng, m à n h iều

n h à n g h iê n cứu cho rằ n g nó gắn với ước vọng cầu m ư a với h ạ n h phúc đ a diện, để cõng trê n lư ng m ộ t vẻ đẹp tâ m linh, th ì m ặc

n h iê n c h ú n g trở n ê n có m ộ t giá trị đặc biệt, th ậ m chí làm "nhòe"

đi cả như ợc điểm g ắ n với tạo h ìn h đơn th u ầ n C húng ta cũng đã gặp các h ệ vân xoắn, đ ặ t ở dưới và hai b ên n h ữ n g đấu, được

133

Trang 35

chạm nổi trê n n ề n củ a ván lá gió Có lẽ h iện tư ợ n g này chủ yếu chỉ gặp ở phong cách Mạc vào cuối th ế kỷ XVI đ ầ u th ế kỷ XVII

N hững v ân xoắn này lấy gốc từ chiếc đ ấu (có khi là đ ấu ba chạc) làm tâ m đ ể tỏa đ ều san g hai bên Từ lưng của m ỗi v ân xoắn, to nhỏ nối n h a u th eo kiểu tay m ướp, đều bay ra m ộ t chiếc đao có khi dưới d ạng lá th iê n g có sống (lá cúc cách điệu) C ũng th eo kiểu th ứ c này, n h iề u khi n h ữ n g v â n xoắn được k ế t nối với n h au

để th o á n g tạo th à n h n h ữ n g đ ư ờ ng diềm dưới d ạn g ch ạm th ủ n g

Từ th ế kỷ XVII về sau, h ìn h th ứ c vần xoắn n h ư kể trê n chủ

y ếu được th ể h iệ n th iế u sự gồ g h ề m à n h iều khi chỉ chạm n é t chìm ở n h ữ n g ván nong/dong, các kẻ nối từ cột cái q u a cột hiên Vào th ế kỷ XVII n h ữ n g vân x o ắn này n h ư b ắ t n g u ồ n từ bố cục của h ệ v ân xoắn ở thời Trần C húng được th ể h iệ n h ai vân xoắn lớn tỏ a san g hai bên, để đội m ộ t vân x oắn dấu hỏi, phía dưới là

m ộ t chiếc đuôi đơn giản, lượn chéo san g bên M ột giả th iế t để làm việc, m an g tín h đột ngột, coi cả cụm v ân xo ắn n h ư m ây (Vân) v à sấm chớp (Lôi), đuôi chải lượn sóng củ a nó n h ư m ư a (Vũ), h iệ n tư ợ ng bay chéo coi n h ư biểu h iện của gió (Phong), hội lại là tứ p háp tro n g tín ngư ỡng/ý th ứ c cầu m ư a cho m ù a m àn g sinh sôi, p h á t triể n củ a người xưa

về đề tài con người, tới thế kỷ XVI đã trở n ê n gần đời hơn Đôi khi họ x u ấ t h iện là th iê n th ầ n , có khi là h o ạ t cả n h th ế nhân Chắc ch ắn ở đây không còn m a n g dấu tích của n h ữ n g con người

th u ộ c p h o n g cách củ a thời Lý và T rần nữ a Ở thời Mạc, điển h ìn h

là tại đ ìn h Tây Đ ằng, h ệ th ố n g tư ợ n g trò n m an g tư cách n h ạc sĩ

th iê n th ầ n dưới d ạ n g cả n am lẫn n ữ được đ iểm x u y ế t cưỡi trê n các đòn ta y chạm rồ n g đ ặ t trê n đ ấ u ba chạc, họ đ ề u nằm tro n g

hệ lá gió của đ ầu cột cái và cột quân , n h ư biểu h iệ n về các tầ n g trời cao th ấ p khác n h au Các tư ợ n c này chỉ được tạo các p h ần trên , còn n ử a dưới được xẻ th à n h m ộ t m ộng n g o à m ngậm vào

th â n đòn tay, n h ữ n g th iê n th ầ n th ư ờ n g cầm n h ạ c cụ trong động

134

Trang 36

tác nào đó Q ua đây, chúng ta có th ể th ấy được p h ần nào cách phục tra n g c ủ a người đưong thời Đó là k hăn m ỏ quạ, k h ăn như cái th ớ t (gần g ũ i tư ợ ng nh à m ồ Tây Nguyên), m ộ t gợi ý về tiền

th â n củ a k h ă n v àn h dây N hiều nhạc cụ dân gian củng được tạc kèm th eo T ượng có khuôn m ặ t tự n h iê n m an g n é t khái quát,

n h ư n g p h â n b iệ t rõ n am nữ Với m ộ t số tượng nữ, ho a tai thư ờ ng

rấ t dài g ần ch ấ m đ ến vai, m à b ằn g điều tra hồi cố, th ì h ìn h thức này đ ã biểu h iệ n cho sự san g quý Nhìn chung, tu y là th iê n th ầ n

n h ư n g đ ều tỏ ra không xa cách, đôi cánh của tư ợ n g th ư ờ n g chỉ tạo đơn giản rồi gắn vào hay được chạm chìm trê n n ề n ván lá gió M ột ý k iến khác, khi đi đ iền dã với cố giáo sư T rần Quốc Vượng, ông có gợi ý rằ n g hệ th ố n g tư ợ ng bao q u a n h này phần nào n h ư chịu ả n h hưởng từ tích tru y ện P hật Giáo, khi đức Thích

Ca M âu Ni x u ấ t th ế, các ông v u a trời là Phạm T hiên và Đe Thích

đ ã cho các n h ạ c sĩ th iê n th ầ n tu n g hoa n h ã nhạc v an g lừ ng bầu trời để chúc m ừ n g Ở đây, h iệ n tượng này n h ư n h ằ m đề cao

th á n h T ản Viên

Một d ạn g th iê n th ầ n khác n h ư được đời hóa, để m an g tư cách phù hợ p cho m ối tìn h đặc b iệt của th ế gian, th ể h iện trê n bức p hù điêu, tạ i lá gió của cột q u ân góc tro n g bên trá i đình Tây

Đ ằng T ru n g tâ m của m ản g ch ạm là m ột ông già có v ế t n h ăn trê n trán , cầm chiếc lược đ an g m uốn chải tóc cho cô gái trẻ, ken giữ a h ai ngư ời là m ộ t cây "vũ trụ " Đ áng q u an tâ m hơn, cùng

h àn g , ở h ai b ê n là hai th iê n th ầ n có cánh, hai ta y cùng cầm cuống củ a m ộ t búp hoa, đặc b iệ t n ử a dưới của hai th iê n th ầ n này

đ ều là th â n rồ n g /rắ n (hình th ứ c này cũng gặp ở cử a võng gian giữ a của đ ề n v à , th ị xã Sơn Tây) Có m ộ t lần cố giáo sư Từ Chi cho b iết rằ n g h iệ n tượng tạc m ộ t người đ àn ông già "tằ n g tiu" với cô gái tr ẻ là m ột biểu tư ợ n g về Lão Dương và T hiếu Âm, như ước vọng tạo ra "th á n h n h â n " ? Vì người con được sinh ra đã

th ừ a h ư ở ng tr í tu ệ củ a người cha và sức khỏe củ a người m ẹ

135

Trang 37

Đ ồng thời h ìn h tư ợ ng n ử a trê n là người, n ử a dưới là rồ n g /rắ n đã được coi n h ư bóng dán g về diêm vương tro n g n h ậ n th ứ c của

n h iề u cư d ân phía N am dãy Hi Mã Lạp Sơn Ở đây th iê n th ầ n vừa

có đuôi rồ n g lại vừ a có cánh đ ã được coi n h ư hợp th ể của âm và dương, hỗ trợ cho m ối tìn h đặc b iệt gắn với h u y ền th o ại ờ th ế

gian N goài n h ữ n g h ìn h tư ợ n g n h ư n ê u trê n , n h ìn ch u n g đ ề tài con người được làm m ộ t cách khái q u át, đơn giản n h ư n g vô cùng sinh đ ộ n g để p h ả n án h về các m ặt sin h h o ạ t tro n g đời sống n h ư cản h đi th u y ề n hái hoa (vì nóc), trai gái tìn h tự, ngồi khóc cho

m ă n g m ọc (lá gió), cảnh đẽo gỗ, g án h con, tạo cho c h ú n g ta

n h ữ n g suy n g h ĩ đ a diện Có th ể th ấy ở đó là n h ữ n g m ản g chạm

p h ản á n h m ộ t tư duy tạo h ìn h đ ạ t đ ế n c h u ẩ n m ực r ấ t cao tro n g

th ế khái q u á t cô đọng Ví dụ, đứa bé con ngồi tro n g th ú n g (cảnh

m ẹ g án h con), chỉ m ộ t u trò n tư ợ ng cho đầu, m ộ t vòng trò n

tư ợ ng cho h ai ta y ôm lấy hai u trò n tư ợ n g cho hai đ ầ u gối Một chi tiế t khác củ a thời kỳ này còn th ể h iện n h ữ n g sin h h o ạ t văn hóa vui chơi, n h ư cảnh làm xiếc, chèo th u y ề n ch ạm ở đình Tây

Đ ằng v à ch ù a Cói Nổi lên tro n g các h ìn h tượng liên q u an đến người lao đ ộng là phục tra n g của người đ àn ông, họ th ư ờ n g đội

m ũ bì b iện (m ũ chóp n họn bằn g da ôm s á t đầu) v à m ặc váy có khi n g ắ n trê n đầu gối Bằng vào n h ữ n g h ìn h tư ợ n g trê n , m ột giả th iế t làm việc đ ặ t ra là đư ơng thời n am giới ở tầ n g láp dưới

v ẫn còn phổ b iến kiểu phục tra n g với váy cũ n cỡn v à có th ể đóng khố (người săn th ú trê n vì nóc đình Tây Đằng) Ở m ộ t số di tích khác n h ư tại ch ù a Thổ H à đ ã có h iệ n tư ợ n g người đ à n bà ngồi

d ạng cả ch ân ta y n â n g cầm con rắrr đ ư a ra phía trư ớc, n h ư m ộ t

h ìn h tư ợ n g khởi đ ầu cho loại đề tài b à B anh/Đ anh, phổ biến hơn tro n g ch ạm khắc trê n kiến trú c và bia ký ở th ế kỷ XVII Đ ồng thời ở đ ìn h Lỗ H ạnh với h iện tượng tiê n cưỡi th ú h a y cưỡi rồ n g

n h ư m ộ t tiề n đề cho đề tài tương đồng, rấ t p h o n g p h ú ở thời gian sau Suy cho cùng, tấ t cả n h ữ n g h ìn h tư ợ n g con người

ch ạm gỗ ở th ế kỷ XVI ngoài p h ản á n h về m ộ t số k h ía cạn h nào

136

Trang 38

đó của cuộc sống th ì hầu n h ư đã được th iê n g hóa Song, các hình

tư ợ ng đã gặp p hần n h iều n h ư m u ố n làm nhòe đi cái ra n h giới giữa th ế n h â n và siêu nhân

Thời L ê trung hưng (thế kỳ XVII)

Đây là giai đoạn p h á t triển tiếp tụ c của n g h ệ th u ậ t dân gian

b ắ t n g u ồ n từ th ế kỷ XVI, để rồi đ ạ t đ ế n đ ỉn h cao ở cuối th ế kỷ này (chúng tôi không dừ ng lại tro n g m ô tả và ý n g h ĩa về các biểu

tư ợ ng linh vật, m à chủ yếu chỉ nói về bước p h á t triể n tro n g thời

kỳ này) T rong th ế kỷ XVII, hầu n h ư m ọi linh v ậ t dưới thời Mạc

đ ề u được tái hiện Người đương thời, tro n g không khí p h á t triể n của n g h ệ th u ậ t, đã sản sinh ra rấ t n h iề u loại rồ n g khác nhau

N hững con rồng th â n vồng khúc lớn đ ể trơn, m ắ t quỷ, m iệng sư

tử, ră n g nh e, tai th ú lớn bay ngang, g ầ n n h ư là sản p h ẩm của dòng v ăn hó a chạy từ v ù n g H ùng Lô, Lâu T hượng tạ t san g Ba Vì

về Quốc Oai Rồi n h ữ n g con rồ n g kiểu khác, "chìm " tro n g cả m ột

rừ n g đao m ác, được th ể h iện đặc kín ở m ọi nơi m ọi chỗ tro n g kiến trú c, có th ể th ấ y điển h ìn h n h ư ở cửa võng đ ìn h Diềm (Bắc Ninh), đ ìn h Thổ Hà (Bắc Giang), đ ìn h H ạ H iệp (Hà Nội) hay ỏ vì nóc của đ ìn h H ưng Lộc (Nam Định) v à ở rấ t n h iều di tích khác trê n đ ấ t Bắc Bộ Tuy n h iên m ột đặc điểm của thời kỳ này (chủ yếu vào cuối th ế kỷ XVII), người đ ư ơ ng thời đã th ể h iện n h ữ n g con rồ n g dưới d ạn g nổi, bong, kênh, lộng cù n g vái n h ữ n g con v ậ t

bị coi là tầ m th ư ờ n g v à cả con người leo trè o trê n râ u tóc của nó Vào n h ữ n g n ăm 70 - 80 của th ế kỷ XX, m ộ t số người đ ã lầm

tư ở n g đó là n h ữ n g h ìn h tư ợng chống đối p h o n g kiến (dưới chế độ cũ) N hư ng h ầu n h ư ở đ ìn h ch ù a làn g đều th ể h iện rồ n g không

p h ải đại d iện cho v u a vì ch úng chỉ được th ể h iện từ 4 m óng trở xuống, n ê n ý n g h ĩa củ a các đề tà i liên q u an đ ế n rồ n g chắc chắn

đã m a n g tín h c h ấ t sâu xa hơn Q uan n iệm của n h iều cư d ân trê n

th ế giới củ n g n h ư của người V iệt (nông nghiệp) đ ã n h ìn n h ậ n

m ư a n h ư dòng tin h dịch của trờ i ch a trà n vào lòng m ẹ đ ấ t cho

137

Trang 39

m uôn loài sin h sôi T rong tạo h ìn h th ì rồ n g là biểu tư ợ n g của

m ây với đao m ác của nó là sấm chớp, đó là hợp th ể tạo ra m ư a tro n g ước vọng cầu p hồn th ự c củ a con người, ở m ộ t k h ía cạnh nào đó, người ta đ ã n h ìn n h ậ n rồ n g đồng n h ấ t với tin h dịch của trời cha, n h ư th ế nó cũng trở th à n h linh v ậ t đầy tính "đĩ th õ a " ăn

n ằm với cả rồ n g (chùa Điềm Giang) và đủ m ọi loài (đền Đ inh Lê, Hoa Lư, N inh Bình) Vì th ế có th ể n g h ĩ rằ n g n h ữ n g con v ậ t nhỏ leo trê n râ u rồ n g là con của nó, n h ư để biểu h iệ n v ề tìn h

p h ụ /m ẫu tử N hận th ứ c này có lẽ n gày m ột m ở rộng, n ê n tro n g

h ìn h th ứ c chạm khắc n h iều khi h ìn h tư ợ ng các con th ú và người

đã được th ể h iện tro n g m ộ t k h ông gian đầy rồng to n h ỏ khác

n h au v à n h iều trư ờ n g hợp k hông p h ân đ ịn h nổi được đó là rồng cha h ay rồ n g m ẹ và n h ữ n g loài kia là con hay là n h ữ n g con

v ật được linh hó a đ iểm x u y ết dưới góc độ tạo hình

v ề n h ữ n g linh v ậ t khác, so với thời Mạc, tro ng th ế kỷ XVII,

ch ú n g h ầ u n h ư đ ã p h á t h uy đ ế n m ức tối đ a tín h dân gian, bên cạnh n h ữ n g n g u y ên tắc quy đ ịn h về chúng, đó là n h ữ n g con phư ợ ng vũ dưới các d ạn g khác n h a u , đặc b iệ t là giống chim cõng

vũ n ữ th iê n th ầ n , đã được th ể h iệ n n h iều tr ê n kiến trú c Người ta cũng tìm được n h ữ n g con chim gần gũi với thự c tế, được đ ặ t

đ ú n g chỗ, tro n g m ộ t động tác vô cùng sinh động n h ư ở đ ìn h Chu

Q uyến v à ở n h iề u kiến trúc khác Đặc b iệt đối với lân, ngoài hình

th ứ c cường đ iệu bởi n h ữ n g chi tiế t thiêng, th ì n h iều con chỉ còn giữ được k h u ô n m ặ t và đao k h u ỷ u để xác n h ậ n về tín h th iên g của ch ín h nó, còn đ ộng tác của c h ú n g lại rấ t g ần gũi với đ ộng tác của n h ữ n g con th ú b ìn h thư ờ ng, n h ấ t là củ a chó, m à m ộ t tro n g

n h ữ n g đ iển h ìn h là ở v án lá gió củ a đ ìn h Thổ Hà Một số con v ậ t khác n h ư voi, ngựa, hổ cũng được th ể h iện n h iều , so n g đ a p h ần

ch ú n g được th iê n g h ó a th à n h voi, n g ự a th ờ (đình Q uang Húc), hoặc p h ù trợ cho n h ữ n g h o ạt cản h củ a con người n h ư voi đấu hổ, cảnh săn hổ C húng ta còn g ặ p n h ữ n g co n th ạch sù n g được

138

Trang 40

chạm trước m ặ t rồ n g để cho b iết đó là hỏa long (đình Liên Hiệp,

Hà Nội)(lì, hay rắ n chạy ra từ m ũi của rồng, đó là th ủ y long (Phù Đổng, Hà Nội)

N h ữ n a linh v ậ t ở thời kỳ này, bằnq vào sự đ a dạng, đa loại, với n h ữ n g động tác vô cùng sin h động đã tạo n ê n sự náo nức của

cả m ộ t không gian tâ m linh tro n g kiến trú c của đương thời

P h át triể n hệ th ố n g biểu tư ợ ng dưới thời Mạc, th ì ở th ế kỷXVII h ầ u n h ư được làm tin h tế hơn và k ết hợp với n h ữ n g đề tài khác m ộ t cách n h u ầ n n h u y ễn hơn, cho n ê n trừ m ộ t số đề tài

m an g tín h quy p h ạm n h ư biểu tư ợ ng về m ặ t trờ i dưới dạn g m ặt trò n có đao m ác, h o a th iê n g cách điệu, rồi vân xoắn các dạng Thì các biểu tư ợ n g khác p h ần nhiều đã n h ư n h ữ n g bệ đỡ để

th iê n g hóa đề tài trọ n g tâm

về h ìn h tư ợ n g con người, b ắ t đầu từ n h ữ n g n ăm 70 và n h ấ t

là 20 n ăm cuối củ a th ế kỷ XVII đã th ể h iện khá n h iều dưới các

d ạn g khác n h au

Người đương thời đã chạm nhữ ng th iê n th ầ n có cán h (chủ yếu là nữ th ần ) với khuôn m ặ t phúc hậu, rồi rấ t n h iề u h o ạt cảnh khác đầy sự náo nứ c n h ư đu a thuyền, đấu vật, nuôi con Đặc

b iệt là h o ạt cản h liên q u an đ ế n phồn th ự c v à tìn h yêu n am nữ

C húng ta đ ã gặp kh á n h iề u h ìn h tư ợ ng bà B anh/Đ anh dưới dạng người phụ n ữ khỏa th â n ngồi d an g rộng chân ta y san g hai bên trê n bia ký, th ì nay cũ n g x u ấ t h iện trê n v án gió tại m ặ t trước tiề n đư ờng ch ù a Thổ H à (Bắc Giang), đình Phù Lão (Bắc Giang), rồi cả n h tra i gái ôm n h a u n h ư ở đình Thổ T ang (Vĩnh Phúc) hoặc trai gái đ ù a giỡn dưới h ìn h th ứ c tắ m khỏa th â n rõ rà n g n h ư ở

(1) Thạch Sùng là một biểu tuợng của thần giữ lửa Chúng được đúc trên các nồi

ba muơi xua (để giữ nóng khi luộc bánh chưng) Chúng cũng xuất hiện nhiều ở hai bên biểu tuợng mặt trời (Nghệ thuật Tây Nguyên).

139

Ngày đăng: 08/07/2022, 16:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy A nh (1964), Đ ất nước Việt N am qua các đời, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đ ất nước Việt N am qua các đời
Tác giả: Đào Duy A nh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1964
2. Phương Anh, Thanh Hương (1973), Hà Bắc ngàn năm văn hiến, tập 1, Ty Văn hoá xuất bản, Hà Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắc ngàn năm văn hiến
Tác giả: Phương Anh, Thanh Hương
Năm: 1973
4. Toan Ánh (1968), Hội hè đình đám, Nxb. Lá Bối, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb. Lá Bối
Năm: 1968
5. Toan Anh (1968), Làng xóm Việt Nam, Phương Quỳnh, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan Anh
Năm: 1968
8. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1996
9. Trần Lâm Biền (2000), Một con đương tiếp cận lịch sử, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đương tiếp cận lịch sử
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Vănhóa dân tộc
Năm: 2000
10. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2001), Trang trí trong m ỹ thuật truyền thống của người Việt, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí trong m ỹ thuật truyền thống của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
11. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồ thờ trong di tích của người Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Trần Lâm Biền (chủ biên) (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt (vùng châu thổ sông Hồng), Hà Nội, Nxb. Văn hoá Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt (vùng châu thổ sông Hồng)
Tác giả: Trần Lâm Biền (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Văn hoá Thông tin
Năm: 2008
13. Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh, (2010), Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội, Hà Nội, Nxb. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới biểu tượng trong di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh
Nhà XB: Nxb. Hà Nội
Năm: 2010
14. Nguyễn Du Chi (1993), Nghệ thuật kiến trúc thời Mạc, M ỹ thuật thời Mạc, Viện Mỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật kiến trúc thời Mạc, M ỹ thuật thời Mạc
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Năm: 1993
15. Nguyễn Du Chi (1993), Những công trình kiến trúc thời Mạc nay còn vết tích nghệ thuật, M ỹ thuật thời Mạc, Viện Mỹ thuật, Hà Nội.173 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những công trình kiến trúc thời Mạc nay còn vết tích nghệ thuật, M ỹ thuật thời Mạc
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Năm: 1993
16. N guyễn Từ Chi (1978), Hoa văn Mường, Nxb. Văn hóa dân tộc, Ha Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Mường
Tác giả: N guyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 1978
17. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hoá và văn hoá tộc người, Tạp chí Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, Nxb. Vàn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hoá và văn hoá tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nxb. Vàn hóa thông tin
Năm: 1996
18. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí - 3 tập, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí -
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1992
19. Đoàn Trung Còn (1966), Từ điển Phật học, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Phật học
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Năm: 1966
20. Nguyễn Văn Cương (2000), " về yếu tố đặc sắc của đình làng Bắc b ộ ", Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: về yếu tố đặc sắc của đình làng Bắc b ộ
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Năm: 2000
22. Ngô Văn Doanh (1986), " Tháp Phổ Minh: m ột tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của Phật giáoViệtNam đời Trần”, Tạp chí Khảo cổ học số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tháp Phổ Minh: m ột tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của Phật giáoViệtNam đời Trần
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Năm: 1986
23. Ngô Đức Thịnh (2001), Tứì ngưỡng Thành hoàng trong tửì ngưỡng và văn hoá Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứì ngưỡng Thành hoàng trong tửì ngưỡng và văn hoá Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2001
24. Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải (chủ biên) (1998), Bước đầu tìm hiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt - Hoa trong lịch sử, Nxb.Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìmhiểu sự tiếp xúc và giao lưu văn hoá Việt - Hoa trong lịch sử
Tác giả: Phạm Đức Dương, Châu Thị Hải (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Thế giới
Năm: 1998

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w