1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bao cao 10 nam thuc hien chi thi 19

13 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo cáo 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19
Trường học Trường Trung Cấp Kỹ Thuật - Kỹ Nghệ Bắc Nghệ An
Chuyên ngành Chính sách lao động và giáo dục nghề nghiệp
Thể loại Báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2022
Thành phố Quỳnh Lưu
Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 50,35 KB
File đính kèm Bao cao 10 nam thuc hien Chi thi 19.rar (47 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19CTTW, ngày 05112012 của Ban Bí thư khóa XI về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn. Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19CTTW, ngày 05112012 của Ban Bí thư khóa XI về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn.

Trang 1

BẮC NGHỆ AN

Số : /BC-TrTCNBNA

Quỳnh Lưu, ngày tháng 6 năm 2022

BÁO CÁO Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW, ngày 05/11/2012

của Ban Bí thư khóa XI về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với

công tác dạy nghề cho lao động nông thôn".

Phần thứ nhất TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN

CHỈ THỊ SỐ 19-CT/TW

1 Tình hình quán triệt và triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW

1.1 Tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Chỉ thị

số 19-CT/TW.

- Chi bộ đã chỉ đạo nhà trường thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư khóa XI “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn”, xây dựng Kế hoạch học tập, tổ chức các Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện đến toàn thể đội ngũ cán bộ, Đảng viên, giáo viên, nhân viên trong đơn vị Nhìn chung, Cán bộ, Đảng viên, GV-NV trong trường có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về công tác dạy nghề cho lao động nông thôn theo tinh thần Chỉ thị số 19-CT/TW Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và sự phối hợp với các đoàn thể để thực hiện Chỉ thị luôn được quan tâm và được cụ thể hóa trong nhiệm vụ từng năm học;

- Nhà trường đã ban hành các văn bản cụ thể hóa việc thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW như: Dựa vào chương trình khung của Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội xây dựng lại chương trình phù hợp với đáp ứng nhu cầu của Công ty, Doanh nghiệp để đào tạo nhân lực có tay nghề cao; lên kế hoạch tổ chức thi đối với từng kỳ, năm học đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả của học viên, bảo đảm trung thực, khách quan

1.2 Việc xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện Chỉ thị

số 19-CT/TW.

- Hằng năm, nhà trường lập kế hoạch tuyển sinh, thông báo tuyển sinh,

hướng dẫn các chế độ chính sách về công tác đào tạo nghề cho lao động nông và

Trang 2

giải quyết việc làm sau đào tạo đến các xã trên địa bàn huyện đồng thời nắm bắt nhu cầu đào tạo của các địa phương để có kế hoạch mở lớp;

- Các Hội nông dân, Hội phụ nữ, Phòng Lao động - thương binh và Xã hội, Trung tâm giáo dục cộng đồng tại địa phương đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy nghề hàng năm, rà soát danh mục nghề đào tạo, chỉ đạo thực hiện với phương châm “chỉ đào tạo nghề khi xác định được việc làm và thu nhập sau học nghề”; tình trạng chạy theo số lượng, chỉ tiêu đã được khắc phục tích cực; dạy nghề gắn với thế mạnh địa phương, với quy hoạch phát triển sản xuất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng nông thôn mới;

Thường xuyên cử cán bộ làm công tác tuyển sinh Giới thiệu việc làm -Liên kết doanh nghiệp, giáo viên giảng dạy tham gia các lớp tập huấn do cấp trên

tổ chức để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ

1.3 Công tác ban hành các văn bản chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW.

Thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban bí thư khóa XI

Chi bộ đã chỉ đạo nhà trường ban hành các văn bản để tổ chức thực hiện (Phụ lục

1 kèm theo).

1.4 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW.

- Chi bộ đã xây dựng kế hoạch tổ chức giám sát việc thực hiện Chỉ thị số 19

- CT/TW cũng như quán triệt các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong chỉ thị Chỉ đạo tổ chức Hội nghị CB-CC-VC hàng năm để đánh giá tình hình thực hiện Chỉ thị từng năm học trước đó, rút kinh nghiệm, khắc phục tồn tại, hạn chế, đồng thời đề

ra kế hoạch trọng tâm cho năm học mới; xây dựng kế hoạch từng tháng, quý Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các bộ phận chuyên môn và các đoàn thể trong đơn vị thực hiện tốt các kế hoạch đã đề ra;

- Hằng năm, Nhà trường cử cán bộ Phòng đào tạo xuống địa phương đã mở lớp kiểm tra, giám sát và được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất mỗi tuần 1 lần, đánh giá đảm bảo khách quan, kịp thời, chính xác Xử lý nhanh chóng, dứt khoát đúng quy định những vấn đề phát sinh thuộc thẩm quyền hoặc đề xuất kịp thời về Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xử lý những vấn đề phát sinh thực tế vượt thẩm quyền, đảm bảo phục vụ các lớp học kịp thời, đầy đủ, đạt chất lượng, hiệu quả

1.5 Hoạt động sơ kết, tổng kết việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW.

- Trong quá trình triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW Chi bộ nhà trường định kỳ sơ kết 6 tháng và đánh tổng kết cuối năm, cụ thể: kiểm tra, giám sát hồ sơ sổ sách liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Giám sát

Trang 3

thực tế một số đối tượng tại địa phương sau đào tạo để kịp thời rút kinh nghiệm chỉ đạo trong tổ chức thực hiện Chỉ thị;

- Qua quá trình thực hiện theo tinh thần Chỉ thị cùng với sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương nhìn chung nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được nâng lên, tạo điều kiện thuận lợi trong công tác giáo dục và mở lớp dạy nghề ở nông thôn Một bộ phận lao động nông thôn sau khi được học nghề đã có việc làm mới, ổn định tại các cơ

sở nông nghiệp trong và ngoài tỉnh Góp phần tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới;

- Qua khảo sát thực tế, kết quả sau đào tạo đạt 87% lao động có việc làm và thu nhập ổn định;

- Hồ sơ, sổ sách Lưu trữ đầy đủ, đúng Quy định

2 Kết quả thực hiện các nhiệm vụ theo Chỉ thị số 19-CT/TW.

2.1 Công tác tuyên truyền về dạy nghề cho lao động nông thôn.

- Nhà trường đã phối hợp với Hội nông dân, Hội phụ nữ, Huyện đoàn để

tư vấn và tuyên truyền các chế độ ưu đãi của nhà nước, gửi thông báo tuyển sinh về các xã trên địa bàn huyện thông báo trên đài truyền thanh địa phương;

- Ngoài việc quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhà trường huy động toàn thể giáo viên, nhân viên tuyển sinh để tuyên truyền các thông tin về công tác đào tạo nghề của trường Đồng thời, phối kết hợp chặt chẽ với các địa phương trong vùng để tuyên truyền về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn;

- Nhìn chung nhận thức của người dân về học nghề ngày một tích cực hơn, hiểu được lợi ích của việc học nghề là điều kiện dễ tìm được việc làm và có thu nhập ổn định, đồng thời hiểu được mục đích của nghề nông thôn là tăng thêm thu nhập cho gia đình trong những lúc nông nhàn

2.2 Đổi mới dạy nghề cho lao động nông thôn.

2.2.1 Kiện toàn tổ chức, nhân sự thực hiện dạy nghề.

Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật Bắc Nghệ An là cơ sở Công lập được thành lập trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Dạy nghề - Hướng nghiệp Quỳnh Lưu theo Quyết định số 2938/QĐ -UBND.VX ngày 11/7/2008 của UBND tỉnh Nghệ

An Từ ngày 23/5/2017 Trường Trung cấp nghề KT - KT Bắc Nghệ An được đổi tên thành Trường Trung cấp KT KT Bắc Nghệ An theo Quyết định số 2141/QĐ -UBND ngày 23/5/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, hàng năm nhà trường tuyển sinh đào tạo 1500 -2000 học viên Sơ cấp, 1000 -1500 học sinh trung cấp; với

cơ cấu tổ chức bộ máy như sau:

Trang 4

- Cán bộ quản lý: 09 người (Ban Giám hiệu 02; Trưởng, phó phòng khoa 07)

- Viên chức, người lao động khác: 04 người

- Tổng số nhà giáo tham gia giảng dạy: 27 (cơ hữu: 21 người; thỉnh giảng theo hợp đồng năm học: 6 người);

- Ngoài ra nhà trường hợp đồng các giáo viên thỉnh giảng dạy trình độ Sơ cấp hàng năm: 30 người, với trình độ chuyên môn: 02 Thạc sỹ, 21 Đại học, 07 Cao đẳng

2.2.2 Công tác tư vấn, khảo sát, dự báo nhu cầu học nghề.

- Để xác định được nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo và nhu cầu học nghề của người lao động, nhà trường đã triển khai các hoạt động điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo trong các ngành kinh tế, vùng kinh tế

và ở từng địa phương một cách khoa học, đầy đủ; đồng thời với việc nắm thông tin nhu cầu về sử dụng lao động, khảo sát nhu cầu học nghề của đối tượng, hơn nữa cũng khảo sát đặc điểm và thói quen canh tác, sản xuất của người nông dân ở các vùng miền khác nhau để có thể có các hình thức đào tạo phù hợp;

- Dựa trên kết quả điều tra nhu cầu sử dụng LĐNT qua đào tạo nghề và nhu cầu của các đối tượng LĐNT học nghề, trên cơ sở phân tích các yếu tố về KT-XH, đặc điểm của LĐNT theo từng vùng miền và từng thời điểm khác nhau để xác định ngành nghề đào tạo cho phù hợp Xuất phát từ đặc điểm của người nông dân và lao động ở nông thôn nước ta như tính cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới, giúp ích cho hoạt động của mình , bên cạnh đó đặc điểm của LĐNT còn có tính manh mún, tập quán làm việc theo cảm tính, ý thức tổ chức kỷ luật chưa cao, trình độ văn hoá thấp ; để phù hợp với những điều kiện, đặc điểm trên của LĐNT

và để công tác tổ chức đào tạo có hiệu quả thì một số ngành nghề được xác định trong đào tạo LĐNT bao gồm: May thời trang; Sửa chữa máy nông nghiệp; Điện dân dụng; Sửa chữa xe gắn máy; Mây tre đan; Kỹ thuật Làm vườn; Kỹ thuật trồng nấm;

- Qua khảo sát thực tế đã xác định cụ thể nhu cầu học nghề của lao động nông thôn, nhu cầu sử dụng lao động của xã hội, của doanh nghiệp; từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nghề hàng năm sát thực tế, đồng thời có định hướng cho phát triển đào tạo nghề những năm tiếp theo Cùng với đó, trong quá trình khảo sát đã tuyên truyền, vận động người lao động thay đổi xác định lựa chọn nghề phù hợp nhóm tuổi, phù hợp định hướng phát triển kinh tế của gia đình và phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo từng địa phương

Trang 5

2.2.3 Đổi mới chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn.

- Định kỳ hàng năm, tổ chức hội thảo mời các chuyên gia, các nhà sử dụng lao động đánh giá tính thực tiễn của chương trình dạy nghề, trên cơ sở đó có những biện pháp điều chỉnh chương trình cho phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động;

- Nhà trường có bộ phận theo dõi, thu thập thông tin về lao động học nghề sau khi tốt nghiệp, tiếp nhận các thông tin từ phía doanh nghiệp, trên cơ sở đó có

sự điều chỉnh chương trình đào tạo để thích ứng với nhu cầu của doanh nghiệp;

- Giai đoạn 2012 - 2019: Rà soát, chỉnh sửa 17 chương trình Sơ cấp (nghề nông nghiệp: 08 chương trình, nghề phi nông nghiệp: 09 chương trình);

- Giai đoạn 2020 - 2022: Rà soát, chỉnh sửa 16 chương trình Sơ cấp (nghề nông nghiệp: 07 chương trình, nghề phi nông nghiệp: 09 chương trình);

2.2.4 Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ dạy nghề cho lao động nông thôn.

Thiết bị dạy nghề được đầu tư hàng năm đã góp phần quan trọng cho công tác đào tạo, phần nào đáp ứng theo quy chuẩn nên chất lượng đào tạo của Nhà trường ngày một nâng lên, đáp ứng được với nhu cầu sử dụng lao động nông thôn của các công ty, doanh nghiệp, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

hóa đất nước (Phụ lục 2 kèm theo).

2.3 Kết quả dạy nghề cho lao động nông thôn.

2.3.1 Dạy nghề cho lao động nông thôn.

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là nhiệm vụ quan trọng nhằm cung cấp các kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ

và hướng giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn, góp phần cải thiện đời sống khu vực nông thôn theo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn

mới Kết quả đào tạo (Phụ lục 2 kèm theo).

2.3.2 Dạy nghề cho nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp.

- Các đối tượng học nghề chủ yếu là nông dân thiếu việc làm (chiếm 90%), các ngành nghề chủ yếu là nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp; người lao động tham gia các lớp dạy nghề 100% học viên đều được được đào tạo nâng cao tay nghề với các ngành nghề chính như: Trồng nấm, Kỹ thuật làm; Bảo vệ thực vật; Chăn nuôi thú y; Nuôi trồng thủy sản;

- Hình thức đào tạo nghề được đào tạo tập trung tại địa phương, có thực hành trực tiếp (trên đồng ruộng, chuồng trại )

- Các lớp đào tạo nghề theo đó đã tạo sự chuyển biến mạnh trong nhận thức của lao động nông thôn đối với hoạt động đào tạo nghề, được các giáo viên có kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu và giải đáp những vướng mắc của học viên Đồng thời, việc đào tạo nghề theo mô hình đã kết hợp tốt giữa việc học lý thuyết và thực hành tay nghề tại chỗ, đặc biệt vật tư thực hành được đầu tư, trang bị đầy đủ, bảo

Trang 6

đảm việc thực hành thành thạo các kỹ năng cho từng học viên của lớp học, tạo sự hấp dẫn thu hút các học viên tham gia lớp học Do vậy, có trên 85% học viên có việc làm và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất kinh doanh tại địa

phương, gia đình, góp phần tăng thu nhập, ổn định cuộc sống Kết quả đào tạo (Phụ lục 2 kèm theo).

2.3.3 Dạy nghề đáp ứng xây dựng nông thôn mới.

- Thực hiện chương trình dạy nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, Chi bộ

đã chỉ đạo nhà trường đào tạo các nghề có thế mạnh của địa phương như chăn nuôi

kỹ thuật cao, sản xuất rau an toàn, nuôi trồng thủy hải sản, Việc tổ chức đào tạo nghề đã bám sát quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội xủa địa phương, để từ đó hình thành các cụm làng nghề phát triển theo hướng hợp lý, đạt hiệu quả cao Theo

đó, xác định trọng tâm chính là : Tạo điều kiện cho lao động nông thôn được tham gia học nghề với sự hỗ trợ của Nhà nước; đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, tăng năng suất lao động và nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế để từng bước thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;

- Phối hợp với các doanh nghiệp để đào tạo nghề, bố trí việc làm hoặc bao tiêu sản phẩm cho người học nghề sau đào tạo

2.4 Nguồn lực thực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn.

2.4.1 Nguồn lực từ ngân sách

- Nhà trường không có

2.4.2 Nguồn lực từ xã hội hóa.

- Các hoạt động xã hội hóa GDNN chưa được tổ chức một cách thường xuyên với sự tham gia tự nguyện, tự giác của đông đảo các lực lượng xã hội;

- Việc gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đào tạo chủ yếu còn mang tính tự phát, dựa trên sự thiện chí của 2 bên

2.4.3 Các nguồn lực khác.

- Giai đoạn 2011 - 2018: Dự án đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tổng kinh phí đầu tư: 9.600.000.000 đồng;

- Giai đoạn 2011 - 2022: Dự án đổi mới và Phát triển dạy nghề, tổng kinh phí đầu tư: 22.500.000.000 đồng

2.4.4 Hiệu quả sử dụng các nguồn lực.

- Kinh phí hỗ trợ cho lao động nông thôn học nghề đảm bảo định mức đúng quy định của Nhà nước; không gây thất thoát, lãng phí, chi đúng đối tượng

- Đã thu hút được sự quan tâm, tham gia của cả hệ thống chính trị, các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện dạy nghề cho lao động nông thôn Qua giám sát của lãnh đạo địa phương, phản ánh của

Trang 7

các cơ quan báo chí, truyền thông, đã kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong những năm đầu thực hiện Đề án để có giải pháp chấn chỉnh, khắc phục kịp thời Nhờ đó, đã hạn chế được những sai sót, thực hiện dạy nghề có hiệu quả cao hơn trong những năm tiếp theo

- Đa số lao động đã có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết, mục tiêu học nghề, từ chỗ học theo phong trào, học để được hỗ trợ tiền ăn, học cho biết chuyển sang học nghề để mưu sinh, phát triển sản xuất, để tìm được việc làm; lao động nông thôn đã có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết, mục tiêu học nghề, từ chỗ học theo phong trào, học để được hỗ trợ tiền ăn, học cho biết chuyển sang học nghề để mưu sinh, phát triển sản xuất để tìm được việc làm;

3 Đánh giá chung.

3.1 Ưu điểm.

- Nhà trường đã tổ chức tuyên truyền và học tập, quán triệt Chỉ thị số 19-CT/

TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư khóa XI “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho lao động nông thôn” tới toàn thể cán bộ, Đảng viên, giáo viên, nhân viên trong toàn trường, xây dựng kế hoạch và chương trình hành động để triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW của Ban bí thư khóa XI, các văn bản chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên Nhìn chung cán bộ, Đảng viên, GV

-NV trong nhà trường đều có nhận thức đầy đủ, sâu sắc về đào tạo nhân lực có tay nghề cao theo tinh thần Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban bí thư khóa XI Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và sự phối hợp với các đoàn thể để thực hiện Chỉ thị luôn được quan tâm và được cụ thể hóa trong nhiệm vụ từng năm học;

- Đa số lao động đã có nhận thức đúng đắn về sự cần thiết, mục tiêu học nghề, từ chỗ học theo phong trào, học để được hỗ trợ tiền ăn, học cho biết chuyển sang học nghề để mưu sinh, phát triển sản xuất, để tìm được việc làm;

- Các Hội nông dân, Hội phụ nữ, Trung tâm giáo dục cộng đồng tại địa phương đã chủ động trong việc xây dựng kế hoạch dạy nghề hàng năm, rà soát danh mục nghề đào tạo, chỉ đạo thực hiện với phương châm "chỉ đào tạo nghề khi xác định được việc làm và thu nhập sau học nghề"; tình trạng chạy theo số lượng, chỉ tiêu đã được khắc phục tích cực; dạy nghề gắn với thế mạnh địa phương, với quy hoạch phát triển sản xuất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng nông thôn mới;

- Nhà trường dạy nghề chuyển từ dạy theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp, dạy nghề theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn gắn với thực hiện tuyên truyền, tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho lao động nông thôn

Trang 8

3.2 Hạn chế, yếu kém.

- Một số lao động nông thôn chưa nhận thức đầy đủ về việc học nghề để tạo việc làm, góp phần khắc phục khó khăn về kinh tế gia đình Vì thế, một số xã việc

tổ chức các lớp học nghề chưa mang lại hiệu quả kinh tế, học nghề xong nhưng một số lao động nông thôn chưa mạnh dạn đầu tư để phát triển sản xuất;

- Học viên chủ yếu trình độ học vấn còn hạn chế, tuổi của học viên không đồng đều nên tiếp thu kiến thức chậm, rất khó khăn cho công tác quản lý và truyền đạt kiến thức của giáo viên;

- Đội ngũ giáo viên còn thiếu, chưa chủ động được trong việc tổ chức lớp đáp ứng nhu cầu học nghề của lao động nông thôn Việc đổi mới phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học tuy đã chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao, còn lúng túng và chuyển biến chậm;

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề tuy đã được đầu tư nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu đào tạo dạy nghề cho lao động nông thôn

3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém.

- Số lượng doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề còn ít, cá biệt có doanh nghiệp chỉ chạy theo xu thế hưởng lợi trong chính sách đào tạo, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng, Có học viên đi học cho có để nhận hỗ trợ, chưa thực sự chú tâm vào nghề đã học;

- Những năm qua, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp ngừng hoạt động hoặc thu hẹp sản xuất dẫn đến hạn chế tuyển dụng lao động mới Điều đó đã gián tiếp giảm động lực của người lao động trong học nghề, giảm tỷ lệ lao động có việc làm mới sau khi học xong;

- Định mức kinh phí đào tạo thấp, mức chi phí hỗ trợ cho người học chưa đảm bảo để thu hút người lao động tham gia học nghề Việc tiếp cận nguồn vốn vay sau khi được học nghề để đầu tư, mở rộng sản xuất gặp nhiều khó khăn nên nhiều lao động sau khi học xong không có điều kiện đầu tư vào sản xuất và chăn nuôi theo mô hình sản xuất hàng hóa, vì vậy chưa thực sự phát huy hiệu quả từ việc học nghề Việc dạy nghề nông nghiệp hiện nay chưa gắn với các doanh nghiệp hay hợp tác xã để bao tiêu sản phẩm nên chưa thu hút được người học;

- Nhiều địa phương chưa gắn chặt giữa đào tạo nghề, phát triển ngành nghề với thế mạnh và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Chưa chú trọng công tác tuyên truyền, tư vấn, vận động người dân đăng ký học nghề phù hợp; chưa chủ động trong hỗ trợ tìm kiếm việc làm, hướng dẫn vay vốn sau đào tạo

và hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm

Trang 9

3.4 Bài học kinh nghiệm.

Sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dạy nghề cho

lao động nông thôn”, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng nhiều hình thức thích hợp nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân về chính sách đào tạo nghề, học nghề, vai trò của đào tạo nghề gắn với việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao;

- Tăng cường phối kết hợp chặt chẽ với Phòng Lao động - Thương binh và

Xã hội, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên các huyện, thị xã triển khai tốt công tác tuyên truyền trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn và giải quyết việc làm sau đào tạo;

- Lựa chọn đúng đối tượng học nghề, đủ điều kiện áp dụng kiến thức nghề sau khi học, là nông dân nòng cốt tại địa phương, đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo; chú trọng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tại làng, xã, thôn, bản hoặc tại cơ sở sản xuất (trang trại, trạm ), gắn với mô hình sản xuất tiến bộ

Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU DẠY NGHỀ

CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐẾN NĂM 2030

1 Bối cảnh.

1.1 Bối cảnh quốc tế.

Hòa bình, hợp tác, liên kết và phát triển vẫn là xu thế lớn nhưng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rất phức tạp, gay gắt Đặc biệt, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó kiểm soát, gây ra suy thoái trầm trọng và khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có khả năng kéo dài sang đầu thập niên 20; làm thay đổi sâu sắc trật tự, cấu trúc kinh tế, phương thức quản trị toàn cầu, cách thức hoạt động kinh tế

và tổ chức đời sống xã hội của thể giới Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn biến rất nhanh, trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia Công nghệ số sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số, làm thay đổi phương thức quản lý nhà nước, mô hình sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội Trên thế giới, nhiều quốc gia, ngay cả các quốc gia phát triển vẫn coi trọng phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn Điển hình như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc hoặc các nước đang phát triển như Thái Lan, Ấn Độ, vì mục tiêu của các nước là

Trang 10

duy trì, phát triển lĩnh vực nông nghiệp, không phải là để nông nghiệp cạnh tranh được với lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ mà để nó tiếp tục tồn tại trong sự cạnh tranh với các sản phẩm đến từ nơi khác, cho dù dịch vụ nông nghiệp có thể chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu GDP

1.2 Bối cảnh trong nước.

Đất nước ta đang trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, đòi hỏi cơ cấu lao động hợp lý và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cùng với sự phát triển và hội nhập phát triển Kinh tế - Xã hội trong những năm gần đây Nhu cầu về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn tay nghề cao ngày càng gia tăng, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2025 tầm nhìn đến năm 2030, định hình

mô hình phát triển đất nước theo hướng trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại (năm 2030) và là nước phát triển (năm 2045), trong đó nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực là một trong ba đột phá chiến lược và nêu rõ định hướng xây dựng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở và linh hoạt, đẩy mạnh đào tạo lại, đào tạo thường xuyên lực lượng lao động

Trường Trung cấp KT - KT Bắc Nghệ An đóng trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Hiện nay trên địa bàn lân cận vùng Quỳnh Lưu đã được UBND tỉnh mời gọi đầu tư nhiều khu công nghiệp như:

- Khu công nghiệp Bắc Vinh chuyên về Chế biến thực phẩm, nhà máy thức

ăn gia súc, xí nghiệp may xuất khẩu và các xí nghiệp xây mới như xí nghiệp sản xuất bao bì xuất khẩu, xí nghiệp mỹ nghệ xuất khẩu Cụm các xí nghiệp công nghiệp cơ khí chế tạo, hoá chất, ván ép, bia, vật liệu xây dựng;

- Khu kinh tế Đông Nam có nhu cầu sử dụng lao động lớn như: Công ty TNHH Luxshare - ITC (Nghệ An); Công ty TNHH Mergy&Luxshare (Việt Nam); Công ty Goertek Hong Kong, chuyên về sản xuất linh kiện điện tử, sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, sản xuất dây cáp điện Ôtô, ;

- Khu công nghiệp Hoàng mai 1 cùng với Khu kinh tế Nghi Sơn trở thành trung tâm công nghiệp Nam Thanh - Bắc Nghệ theo định hướng vùng quy hoạch Nam Thanh - Bắc Nghệ Các ngành nghề ưu tiên gồm: công nghiệp cơ khí lắp ráp; công nghiệp chế biến nông, lâm, khoáng sản; công nghiệp chế tạo cơ khí và hàng điện tử; công nghiệp vật liệu xây dựng; công nghiệp cơ khí chính xác; công nghiệp sản xuất phụ tùng phục vụ các ngành sản xuất, dịch vụ;

Ngày đăng: 17/06/2022, 07:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w