1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CHUYÊN ĐỀ 3 PHÉP BIỆN CHỨNG

51 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên Đề 3 Phép Biện Chứng
Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 296,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG III CHUYÊN ĐỀ 3 PHÉP BIỆN CHỨNG I KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG LỊCH SỬ 1 Khái niệm “biện chứng” và khái niệm “siêu hình” Thuật ngữ “Biện chứng” (Dialectic) đã xuất hiện từ thời cổ đại Hy Lạp, được sử dụng với nghĩa là “Nghệ thuật đối thoại và tranh luận” – nghệ thuật tìm ra mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ lập luận của mình Những nhà biện chứng là những người biết sắp xếp tri thức của mình thành một hệ thống, thể hiện tư duy.

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ 3

PHÉP BIỆN CHỨNG

I KHÁI QUÁT VỀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG TRONG LỊCH SỬ

1 Khái niệm “biện chứng” và khái niệm “siêu hình”

Thuật ngữ “Biện chứng” (Dialectic) đã xuất hiện từ thời cổ đại Hy Lạp, được

sử dụng với nghĩa là “Nghệ thuật đối thoại và tranh luận” – nghệ thuật tìm ra mâuthuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ lập luận của mình.Những nhà biện chứng là những người biết sắp xếp tri thức của mình thành một hệthống, thể hiện tư duy logic, vì vậy, phương pháp tư duy biện chứng trở thànhphương tiện quan trọng nhất để tìm kiếm và phát hiện chân lý

Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ mối liên hệ, sự vận động và phát triển.Trong giới tự nhiên, các sự vật, hiện tượng luôn có mối liên hệ với nhau và chínhmối liên hệ đó đã tạo nên sự vận động và phát triển của giới tự nhiên mà không cầnđến sự tác động của con người – đó là biện chứng của tự nhiên hay còn gọi là biệnchứng khách quan

Biện chứng chủ quan là sự phản ánh mối liên hệ, sự vận động và phát triểncủa các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan vào trong đầu óc con người.Kết quả của sự phản ánh đó, trong đầu óc con người đã hình thành nên các nguyên

lý, khái niệm, phạm trù và qui luật – đó chính là nội dung của phép biện chứng duyvật

Thuật ngữ “Siêu hình” (Metaphisique) cũng xuất hiện ở thời cổ đại Hy Lạpvới nghĩa “đằng sau những hiện tượng vật lý” – được hiểu là những cái thuộc vềbản chất của sự vật mà chúng ta không thể cảm nhận được chỉ bằng các giác quan.Đến cuối thế kỷ XV, do nhu cầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cần cónhững công cụ lao động bằng máy móc để tạo ra năng xuất lao động cao hơn, khoahọc tự nhiên đã tách ra khỏi triết học để trở thành những ngành khoa học độc lập.Khi đó, khoa học tự nhiên có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng Do ảnhhưởng của phương pháp thực nghiệm của khoa học tự nhiên, các nhà triết học, nhưBêcơn, Lốc cơ đã đưa phương pháp đó vào trong nghiên cứu triết học, trở thànhphương pháp tư duy siêu hình, thống trị trong triết học Tây Âu suốt thế kỷ XVII –XVIII

Đối lập phép biện chứng, phép siêu hình là phương pháp nghiên cứu sự vậttrong sự tách rời, cô lập, tĩnh tại

Trang 2

2 Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của phép biện chứng

Lịch sử hình thành và phát triển của phép biện chứng đã được Ph.Ăngghenkhái quát khi nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của tư duy nhân loại, đượctrình bày trong tác phẩm “Chống Đuy rinh” Trong đó, Ph.Ăngghen đã phân tíchquá trình hình thành và phát triển của tư duy nhân loại theo qui luật phủ định củaphủ định Với khởi đầu là Phép biện chứng duy vật ngây thơ, tự phát của các nhàtriết học thời cổ đại – Phép siêu hình của các nhà triết học duy vật Tây Âu thế kỷXVII-XVIII – Phép biện chứng duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức –Phép biện chứng duy vật của C.Mác và Ph.Ăngghen Tương ứng với tiến trình hìnhthành và phát triển đó, lịch sử phép biện chứng được biểu hiện dưới ba hình thức

a Phép biện chứng “tự phát” (sơ khai) trong nền triết học Trung Quốc, Ấn Độ

Xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN với tư cách là một tôn giáo, nhưngtrong Phật giáo đã thể hiện những giá trị triết học trên lập trường của chủ nghĩa duyvật và phép biện chứng khi giải thích về thế giới Phật giáo cho rằng, các sự vật,hiện tượng được tạo bởi 5 yếu tố (ngũ uẩn): sắc, thụ, tưởng, hành thức Sự hìnhthành và mất đi của các sự vật, hiện tượng là do sự kết hợp và tách biệt của 5 yếu tố

đó Theo đó, các sự vật, hiện tượng và cả con người luôn vận động vì bản chất củathế giới là một dòng biến chuyển không ngừng (Chư hành vô thường), vì vậy, sựvật chưa kịp khẳng định cái “tôi” (bản chất) của mình thì đã thay đổi trở thành cáikhác với bản thân nó (Chư pháp vô ngã) Sự thay đổi đó do luật nhân – quả quiđịnh, kết quả, đưa sự vật đến thế giới mà ở đó các sự vật không còn trong sự thayđổi – đó là cõi Niết bàn (Niết bàn tịch tĩnh)

Như vậy, tư tưởng biện chứng trong triết học Phật giáo, về cơ bản đã lý giảiđược bản chất của thế giới luôn vận động và phát triển, nhưng sự vận động và pháttriển lại kết thúc ở một thế giới mà ở đó, sự vật, hiện tượng không còn vận động vàphát triển

Trang 3

Ở Trung Hoa, tư tưởng biện chứng đã được hình thành từ thời Ân – Thương

và được đúc kết trong Kinh Dịch Tư tưởng này được thể hiện trong việc lý giảinhững vấn đề về thế giới và quản lý xã hội Tuy các trường phái của triết học TrungHoa có nội dung và lập trường chính trị khác nhau, nhưng đều được giải thích bằngphương pháp biện chứng

Kinh Dịch cho rằng, tất cả mọi sự vật hiện tượng đều được tạo bởi hai khítrái ngược nhau, đó là khí Âm và khí Dương Dịch sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh

tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái Hai khí đó có mối liên hệ, tác động qua lại,chuyển hóa lẫn nhau làm cho sự vật luôn vận động và phát triển Âm cực sinhdương, dương cực sinh âm, vật cực tắc phản Kinh Dịch khẳng định sự vận độngcủa sự vật, hiện tượng diễn ra theo đường tròn, điểm khởi đầu cũng là điểm kếtthúc và cũng là điểm khởi đầu cho một chu kỳ mới

Trong khi đó, ở Phương Tây, người được cho là sáng lập ra phép biện chứngduy vật là Hêraclít Dựa vào sự quan sát thế giới, ông cho rằng, thế giới là vật chất,

do lửa sinh ra và dưới sự tác động của lửa, các sự vật, hiện tượng trong thế giớiluôn vận động “Tất cả đều trôi đi, tất cả đều chảy đi như dòng chảy của con sông”.Khi đánh giá về phép biện chứng của Hêraclít, V.I.Lênin đã khẳng định: Là phépbiện chứng hoàn toàn khách quan, coi như nguyên lý của tất thảy những gì đang tồntại

Đánh giá về phép biện chứng của Hy Lạp cổ đại, Ph.Ăngghen cho rằng

“Trong triết học này, tư duy biện chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiênchưa bị khuấy đục bởi những trở ngại đáng yêu mà chính chủ nghĩa siêu hình củathế kỷ XVII và XVIII – Bêcơn và Lốc cơ ở Anh, Vôn phơ ở Đức – đã tự tạo ra chomình và dùng để ngăn chặn con đường của mình tiến từ sự hiểu biết cái cá biệt đến

sự hiểu biết cái toàn thể, đến sự thấu suốt mối liên hệ phổ biến của sự vật Chính vìngười Hy Lạp chưa đạt đến trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãycòn quan niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnhthể ấy Mối liên hệ phổ biến giữa các hiện tượng tự nhiên chưa được chứng minh vềchi tiết, đối với họ, mối liên hệ đó là kết quả của sự quan sát trực tiếp Đó chính làthiếu sót của triết học Hy Lạp, do đó mà sau này, nó buộc phải nhường chỗ chonhững cách nhìn khác Nhưng chính đó cũng cũng là ưu điểm của nó so với tất cảcác địch thủ sau này của nó Nếu về chi tiết, chủ nghĩa siêu hình là đúng so vớinhững người Hy Lạp, thì về toàn thể những người Hy Lạp lại đúng so với chủnghĩa siêu hình Đó là một trong những lý do làm cho, trong triết học cũng nhưtrong nhiều lĩnh vực khác, chúng ta phải luôn luôn trở lại với thành tựu của cái dântộc nhỏ bé đó, cái dân tộc mà năng lực và hoạt động toàn diện của nó đã tạo ra cho

Trang 4

nó một địa vị mà không một dân tộc nào khác có thể mong ước được trong lịch sửphát triển của nhân loại”1.

Như vậy, phép biện chứng duy vật thời kỳ cổ đại đã đem lại cho con ngườimột bức tranh tổng thể về thế giới, nhưng chưa chỉ ra được bản chất của các sự vật,hiện tượng của thế giới, vì vậy, phép biện chứng duy vật tự phát thời kỳ cổ đại đã bịphép siêu hình của các nhà triết học Tây Âu thế kỷ XVII-XVIII phủ định

Phép siêu hình với tư cách là phương pháp nghiên cứu đối lập với phép biệnchứng ra đời vào thế kỷ XVII, là kết quả của nhu cầu con người khi nghiên cứu thếgiới khách quan Không chỉ dừng lại ở bức tranh tổng thể về thế giới, con ngườicòn muốn hiểu rõ từng chi tiết trong bức tranh đó Muốn thực hiện được điều đó,cần phải tách sự vật ra khỏi mối liên hệ chung để nghiên cứu từng mặt, từng bộphận, từng yếu tố cấu thành sự vật Việc nghiên cứu sự vật như vậy chính làphương pháp nghiên cứu của khoa học tự nhiên Do ảnh hưởng của phương phápthực nghiệm của khoa học tự nhiên trong lĩnh vực triết học, đã trở thành phươngpháp tư duy siêu hình

Không thể phủ nhận những thành tựu mà tư duy siêu hình đã mang lại chocon người như đánh giá của Ph.Ăngghen “Việc phân chia giới tự nhiên ra thànhnhững bộ phận riêng biệt, việc tách riêng các loại quá trình tự nhiên và các sự vật

tự nhiên khác nhau thành những loại nhất định, việc nghiên cứu cấu tạo bên trongcủa những vật thể hữu cơ theo các hình thái giải phẫu nhiều vẻ của nó – tất cảnhững cái đó đã là những điều kiện cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ mà 400 nămgần đây đã đem lại cho chúng ta trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên”2

Nhưng phương pháp ấy đã bộc lộ những hạn chế nhất định, như tạo cho conngười thói quen xem xét sự vật, hiện tượng trong sự tách rời, cô lập, không trongquá trình vận động và phát triển “Phương pháp nhận thức siêu hình, dù được coi làchính đáng và thậm chí là cần thiết trong những lĩnh vực nhất định ít nhiều rộng lớntùy theo tính chất của đối tượng nghiên cứu, nhưng chóng hay chầy nó sẽ gặp phảimột ranh giới mà nếu nó vượt quá thì nó sẽ trở thành phiến diện, hạn chế, trừutượng và sa vào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết được, vì nó chỉ nhìnthấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệ qua lại giữa những sựvật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh

và sự tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật

1 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.491- 492.

2 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.36.

Trang 5

ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấyrừng”3

Nhận thức của con người không dừng lại ở việc nghiên cứu về từng bộ phậncũng như từng sự vật, hiện tượng Tiến trình tư duy về thế giới đòi hỏi con ngườiphải có một quan niệm đúng đắn về thế giới, về sự phát triển của thế giới, cũng như

sự phản ánh sự phát triển của thế giới vào trong đầu óc con người Các nhà triết học

cổ điển Đức đã xác lập sự nghiên cứu của mình theo tinh thần ấy

b Phép biện chứng duy tâm trong triết học Cổ điển Đức

Cantơ là người đã đưa tư tưởng về mối liên hệ, sự vận động và phát triển vàotrong lĩnh vực vật lý, khi ông đưa ra hai giả thuyết khoa học Thứ nhất là giả thuyết

về sự lên xuống của nước thủy triều do ảnh hưởng của sức hút mặt trăng và trái đất;Thứ hai, giả thuyết về sự hình thành vũ trụ, theo đó thì sự xuất hiện và tiến hóa của

hệ thống hành tinh là bắt nguồn từ những hạt bụi vật chất Các giả thuyết về khoahọc tự nhiên của Cantơ thể hiện một cách tự phát quan điểm duy vật và biện chứng

về thế giới Đối với Cantơ, thế giới là vật chất, các sự vật trong thế giới vật chất cómối liên với nhau và luôn vận động

Nhưng khi Cantơ chuyển sang nghiên cứu triết học vào sau năm 1770, ông

đã giải quyết những vấn đề của thế giới trên lập trường của thuyết bất khả tri vàphương pháp siêu hình, khi ông đưa ra khái niệm “vật tự nó” và “hiện tượng” Đốivới Cantơ, “vật tự nó” chính là giới tự nhiên tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ýthức của con người, nhưng về nguyên tắc, con người không thể nhận thức được

“vật tự nó” vì nó thuộc về bản chất của giới tự nhiên Cái mà nhận thức con người

có thể đạt được là những mối liên hệ bên ngoài của giới tự nhiên mà Cantơ gọi là

“hiện tượng”

Vì vậy, khi đánh giá về Cantơ, Ph.Ăngghen cho rằng: “Kể từ khi người taphát hiện ra rằng Cantơ là người khởi xướng ra hai giả thuyết thiên tài, mà nếukhông có hai giả thuyết này thì lý luận của khoa học tự nhiên ngày này không thểtiến lên được, - thuyết về nguồn gốc của hệ thống mặt trời mà trước kia người tacho là của Laplaxơ và thuyết thủy triều làm giảm tốc độ quay của quả đất, - từ ngày

đó các nhà khoa học tự nhiên lại hoan nghênh Cantơ Nhưng từ khi người ta tìmthấy một cương yếu rộng rãi về phép biện chứng trong các tác phẩm của Hêghen,mặc dù là cương yếu ấy xuất phát từ những tiền đề hoàn toàn sai lầm, thì việc họctập phép biện chứng của Cantơ quả là một công việc tốn sức, không đem lại lợi íchgì”4

3 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.37

4 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.492.

Trang 6

Không thể phủ nhận rằng, Hêghen là người đầu tiên trong lịch sử triết học cócông lao xây dựng phép biện chứng thành một hệ thống lý luận với những nguyên

lý phạm trù, qui luật; từ đó rút ra những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo chocon người trong nhận thức và hành động

Phương pháp tư duy của Hêghen khác với phương pháp tư duy của các nhàtriết học khác là ở chỗ nó lấy một sự mẫn cảm to lớn về lịch sử làm cơ sở cho nó.Mặc dù hình thức của nó cực kỳ trừu tượng và cực kỳ duy tâm, nhưng tiến trìnhphát triển tư tưởng của nó bao giờ cũng đi song song với tiến trình của lịch sử toànthế giới Ông là người đầu tiên đã cố gắng trình bày sự phát triển, mối liên hệ nộitại của lịch sử mặc dù là với hình thức thuần túy của tư duy Những cống hiến vàhạn chế trong phép biện chứng của Hêghen đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đánhgiá:

“Phương pháp của Hêghen xuất phát từ tư duy thuần túy, nhưng ở đây cầnphải xuất phát từ những sự thật cứng đầu cứng cổ nhất Một phương pháp, mà theolời thú nhận của chính bản thân Hêghen, “xuất phát từ cái không, thông qua cáikhông mà đi đến cái không”, thì dưới hình thái đó, ở đây hoàn toàn không thíchhợp Tuy vậy, trong số các tư liệu logic hiện có, nó lại là cái tư liệu duy nhất mà ít

ra người ta có thể dùng được Phương pháp đó chưa bị phê phán, nó chưa bị đánh

đổ trong số những người chống nhà biện chứng vĩ đại đó; chưa ai có thể chọc thủngđược cái lâu đài kiêu hãnh của phương pháp đó; nó bị người ta lãng quên vì trườngphái Hêghen đã không biết dùng phương pháp đó để làm gì cả Cho nên, trước hếtcần phải phê phán đến nơi đến chốn phương pháp của Hêghen”5

Mặc dù phê phán phương pháp biện chứng của Hêghen, nhưng C.Mác vàPh.Ăngghen cũng đã rất khách quan khi đánh giá về công lao của Hêghen trong sựphát triển phép biện chứng: “Tính chất thần bí mà phép biện chứng đã mắc phải ởtrong tay Hêghen tuyệt nhiên không ngăn cản Hêghen trở thành người đầu tiêntrình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phépbiện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng

nó lại là sẽ phát hiện được cái nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí củanó”6

c Sự hình thành, phát triển của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác – Lênin

C.Mác và Ph.Ăngghen vốn là những thành viên của phái Hêghen trẻ, vì vậy,

tư tưởng triết học của các ông trong giai đoạn đầu chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết

5 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 13 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Tr.612.

6 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.494.

Trang 7

học Hêghen, trong đó có phép biện chứng Nhưng bằng tư duy thiên tài, cũng nhưthông qua thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản ở những năm 40 củathế kỷ XIX, các ông đã tiếp thu được “hạt nhân hợp lý” trong triết học của Hêghen– là phép biện chứng và đã cải tạo, phát triển phép biện chứng duy tâm khách quancủa Hêghen trở thành phép biện chứng duy vật Vì vậy, không khỏi có những quanniệm cho rằng, phép biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ thuần túy là sự tiếpthu phép biện chứng của Hêghen, rồi thay vào đó bằng “cái vỏ” duy vật Nhưngbản thân C.Mác khi nói về phép biện chứng của mình, ông đã khẳng định sự khácbiệt trong phép biện chứng của mình với phép biện chứng của Hêghen:

“Phương pháp biện chứng của tôi không những khác phương pháp củaHêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nữa Đối với Hêghen,quá trình tư duy – mà ông ta thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập dưới cáitên gọi ý niệm – chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng quachỉ là biểu hiện bên ngoài của tư duy mà thôi Đối với tôi thì trái lại, ý niệm chẳngqua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến

đi ở trong đó”7

Sau này, Ph.Ăngghen cũng đã đánh giá về công lao của C.Mác trong việcphục hồi những thành tựu của phép biện chứng trong thời kỳ cổ đại, tiếp thu và cảitạo phép biện chứng của Hêghen, đồng thời vận dụng những nội dung của phépbiện chứng để lý giải mối quan hệ, các qui luật kinh tế trong nền sản xuất hàng hóanói chung và trong sản xuất của chủ nghĩa tư bản

“Công lao của Mác là ở chỗ ông là người đầu tiên đã phục hồi lại phươngpháp biện chứng đã bị bỏ quên, nêu rõ những mối quan hệ và sự khác nhau củaphương pháp đó với những mối quan hệ và sự khác nhau của phương pháp đó vớiphép biện chứng của Hêghen, và đồng thời, trong bộ Tư bản, ông đã áp dụngphương pháp đó vào những sự kiện của một khoa học thực nghiệm xác định, khoahọc kinh tế chính trị Ông đã thành công đến mức là ngày nay, nếu phái kinh tế họchiện đại ở nước Đức mà hơn được phái mậu dịch tự do tầm thường thì cũng là nhờ

đã mượn cớ phê phán Mác để sao chép lại Mác”8

Không chỉ ở nước Đức của thế kỷ XIX, hiện nay, khi thế giới lâm vào khủnghoảng kinh tế toàn cầu, các nhà nghiên cứu và các nhà tư bản lại đổ xô đi tìm đọc

bộ Tư bản của C Mác vì những lý luận của phép biện chứng duy vật đã đượcC.Mác vận dụng một cách tài tình và sáng tạo khi phân tích những qui luật kinh tếcủa chủ nghĩa tư bản

7 C.Mác – Ph.Ăngghen toàn tập, tập 23 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Tr.35.

8 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.494.

Trang 8

Trên cơ sở kế thừa và phát triển những nội dung của phép biện chứng tronglịch sử triết học, triết học Mác – Lênin đã đưa ra một số định nghĩa về phép biệnchứng.

Trước hết, Ph.Ăngghen đã định nghĩa phép biện chứng từ nội dung cơ bảnnhất của nó, đó là các qui luật chi phối tự nhiên, xã hội và tư duy “Phép biện chứngchẳng qua chỉ là môn khoa học về những qui luật phổ biến của sự vận động và pháttriển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”9

Tiếp thu tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa

về phép biện chứng trên cơ sở nguyên lý về sự phát triển “Phép biện chứng…là họcthuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiếndiện”10

Sau này, khi nghiên cứu lý luận về mâu thuẫn trong lịch sử triết học để tìm racách thức giải quyết những mâu thuẫn ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười,V.I.Lênin đã đưa ra định nghĩa về phép biện chứng trên cơ sở của qui luật thốngnhất và đấu tranh của các mặt đối lập “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng làhọc thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân củaphép biện chứng, những điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một sự pháttriển thêm”11

II CÁC NGUYÊN LÝ VÀ QUI LUẬT CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1 Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật 12

Trong phép biện chứng duy vật, hai nguyên lý được xem là những nội dung

cơ bản, khái quát để từ đó, cụ thể hóa thành các phạm trù và qui luật trong phépbiện chứng duy vật

Đánh giá về vai trò của hai nguyên lý trong phép biện chứng duy vật,Ph.Ăngghen viết: “Phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xétnhững sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qualại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêuvong của chúng.”13

a Nguyên lý mối liên hệ phổ biến

Liên hệ là quan hệ giữa hai sự vật, mà sự thay đổi của một bên, dẫn đến sựthay đổi của bên kia và ngược lại

9 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.201.

10 V.I.Lênin Toàn tập, tập 29 Nxb chính trị quốc gia, năm 2006 Tr.179.

11 V.I.Lênin Toàn tập, tập 29 Nxb chính trị quốc gia, năm 2006 Tr.240.

12 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soan giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo trình triết học Mác – Lênin Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

13 C Mác & Ph Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.38

Trang 9

Như vậy, để định nghĩa được khái niệm liên hệ, phải dựa vào khái niệm rộnghơn là quan hệ Giữa liên hệ và quan hệ có những điểm chung, nhưng cũng có sựkhác biệt Trong liên hệ, hai sự vật chỉ có sự ràng buộc lẫn nhau, nghĩa là, sự thayđổi của bên này, ảnh hưởng, qui định sự thay đổi của bên kia và ngược lại Nhưngtrong quan hệ, ngoài sự ràng buộc của các sự vật, giữa chúng còn có sự tách biệttương đối Vì vậy, trong ngôn ngữ thông thường, người ta thường sử dụng kháiniệm quan hệ nhiều hơn liên hệ.

Liên hệ phổ biến là quan hệ tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau của các sựvật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, cơ sở của mối liên hệ giữacác sự vật, hiện tượng là tính thống nhất vật chất của thế giới Theo quan điểm này,các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào chăngnữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất

là thế giới vật chất Ngay cả tư tưởng, ý thức của con người vốn là những cái phivật chất, cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc conngười, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh các sự vật của thế giớikhách quan vào trong bộ óc con người

Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là phổ biến, nó không chỉ diễn ra ởmọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, trong xã hội, trong tư duy mà còn diễn ra đốivới các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng

Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tínhphổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng, các quá trình mà nó cònnêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại đó Có mối liên hệ bên ngoài, có mối liên

hệ bên trong; có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệ thứ yếu; có mối liên hệ chungbao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một lĩnhvực riêng biệt của thế giới đó Có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp màtrong đó sự tác động qua lại được thực hiện qua một hoặc một số khâu trung gian

Có mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, liên hệ tất yếu và liên hệngẫu nhiên Có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau, có mối liên hệ giữa các mặtkhác nhau của cùng một sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triểnqua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhautạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng…

Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động vàphát triển của chính các sự vật, hiện tượng quy định Chính vì vậy, khi nghiên cứumối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, cần phải có cơ sở để phân loại các mối liên

hệ Nếu căn cứ vào phương thức tồn tại của vật chất là vận động, mối liên hệ của sự

Trang 10

vật được phân chia thành 5 loại, tương ứng với các hình thức vận động của vậtchất; Nếu căn cứ vào hình thức vận động của vật chất có thể chia mối liên hệ thànhhai loại: mối liên hệ trong không gian và mối liên hệ trong thời gian; Hoặc căn cứvào vai trò của các mối liên hệ trong sự tồn tại và phát triển của sự vật, có thể phânchia mối liên hệ thành bên trong – bên ngoài, cơ bản – không cơ bản, chủ yếu – thứyếu….

Việc phân loại liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại liên hệ chỉ là mộthình thức, một bộ phận, một mắt khâu của mối liên hệ phổ biến nói chung Song sựphân loại các mối liên hệ là cần thiết vì vị trí, vai trò của từng mối liên hệ trongviệc qui định sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng không hoàn toàn nhưnhau

Những hình thức riêng biệt, cụ thể của từng mối liên hệ là đối tượng nghiêncứu của từng ngành khoa học cụ thể, còn phép biện chứng duy vật nghiên cứunhững mối liên hệ chung nhất, phổ biến nhất của thế giới Vì thế, V.I.Lênin viết:Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến

Nghiên cứu mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng cho chúng taquan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

b Nguyên lý phát triển

Trong phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến gắn liềnvới nguyên lý về sự phát triển Hai nguyên lý này thống nhất với nhau, vì liên hệcũng tức là vận động, từ đó tạo ra sự phát triển Nghiên cứu nguyên lý về sự pháttriển, cần phân biệt khái niệm vận động với khái niệm phát triển

Vận động là mọi sự biến đổi nói chung, không kể đến tính chất, khuynhhướng và kết quả thế nào Có những biến đổi làm cho sự vật mới ra đời, nhữngcũng những biến đổi dẫn đến sự tan rã, tiêu vong của các sự vật Còn phát triển là

sự vận động theo khuynh hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp,

từ kém hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn Như vậy, phát triển chỉ là mộtkhuynh hướng của sự vận động, không nên đồng nhất vận động và phát triển

Cần phải phân biệt phát triển với tăng trưởng Tăng trưởng là khái niệm đolường sự tăng thêm về giá trị trong một khoảng thời gian nhất định

Trong ngôn ngữ thông thường, tăng trưởng thường dùng đồng nhất với pháttriển vì tăng trưởng đóng vai trò thiết yếu định hình mức độ phát triển Khái niệmtăng trưởng thường được dùng phổ biến trong lĩnh vực kinh tế Nhưng trong triếthọc, giữa phát triển và tăng trưởng có sự khác biệt, thể hiện, nếu tăng trưởng chỉ đề

Trang 11

cập đến sự tăng lên về mặt lượng, thì phát triển yêu cầu sự tăng lên phải bao gồm

cả lượng và chất

Hiện nay, trên thế giới đã xuất hiện khái niệm phát triển bền vững, Ủy banthế giới về Môi trường và phát triển WCED (World Commission on Environmentand Development) đã đưa ra định nghĩa khái quát về phát triển bền vững: “là pháttriển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đápứng các nhu cầu của thế hệ tương lai” Nội dung của phát triển bền vững bao gồmcác yếu tố: tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, công bằng, dân chủ và nhân đạo,bền vững về môi trường tự nhiên Phát triển bền vững xem xét cả thế giới kháchquan như một hệ thống bao gồm các yếu tố cấu thành, sự tăng trưởng của mỗi yếu

tố trong hệ thống phải đảm bảo được sự hài hòa với các yếu tố khác Đặc biệt, khicon người ngày càng chỉ nhấn mạnh đến sự tăng trưởng về kinh tế, ít quan tâm đếnnhững yếu tố như văn hóa, môi trường

Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi vềlượng, đến điểm nút, thông qua bước nhảy, dẫn đến sự thay đổi về chất; Chất mới

ra đời tạo điều kiện cho lượng mới phát triển, rồi lại đến điểm nút, thông qua bướcnhảy dẫn đến sự thay đổi về chất, tạo thành một đường nút vô cùng, vô tận Sự pháttriển diễn ra theo đường “xoáy ốc”, nghĩa là trong quá trình phát triển có sự kế thừanhững yếu tố cũ, dường như có sự quay trở lại điểm xuất phát, nhưng trên một cơ

sở mới cao hơn

Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, do sự đấu tranhcủa các mặt đối lập trong sự vật quy định Phát triển, trong quan điểm duy vật biện

chứng, là quá trìnhvận động tự thân của sự vật và hiện tượng Do vậy, phát triển là

một quá trình khách quan, độc lập với ý thức con người

Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển không chỉ thừa nhận tínhkhách quan của sự phát triển, nó còn khẳng định tính phổ biến của sự phát triển vớinghĩa là sự phát triển diễn ra ở tất cả mọi lĩnh vực – từ tự nhiên đến xã hội và tưduy, từ hiện thực khách quan đến những khái niệm, những phạm trù phản ánh hiệnthực ấy Khi đề cập đến vấn đề này, V.I.Lênin lập luận: “Nếu tất cả đều phát triển,thì những cái đó có áp dụng cho những khái niệm và những phạm trù chung nhấtcủa tư duy không? Nếu không thì tức là tư duy không có liên hệ gì với tồn tại cả.Nếu có, thì tức là có phép biện chứng của những khái niệm và phép biện chứng củanhận thức, phép biện chứng này có một ý nghĩa khách quan”.14

Quan điểm duy vật biện chứng về sự phát triển đối lập với quan điểm duytâm và quan điểm siêu hình về sự phát triển Sự đối lập này được V.I.Lênin chỉ ra:

14 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.379.

Trang 12

“Hai quan niệm cơ bản… về sự phát triển (sự tiến hoá): Sự phát triển coi như làgiảm đi và tăng lên, như là sự lặp lại, và sự phát triển coi như là sự thống nhất củacác mặt đối lập (sự phân đôi cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫnnhau và mối quan hệ lẫn nhau giữa các mặt đối lập ấy)…

Quan niệm thứ nhất là chết cứng, nghèo nàn, khô khan Quan niệm thứ hai làsinh động Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho ta chìa khoá của “sự tự vận động” củatất thảy mọi cái đang tồn tại; chỉ có nó mới cho ta chìa khoá của những “bước nhảyvọt”, của sự “gián đoạn của tính tiệm tiến”, của sự “chuyển hoá thành mặt đối lập”,

“của sự tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh ra cái mới”.15

Lịch sử phát triển của xã hội loài người, được C.Mác trình bày qua sự hìnhthành và phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mà cơ sở của nó là sự thay thếcủa các phương thức sản xuất qua các giai đoạn lịch sử Sự phát triển theo xuhướng tiến lên như vậy gọi là tiến bộ xã hội, mà cơ sở đánh giá, suy đến cùng lànăng xuất lao động ngày càng tăng lên Nhưng trong quá trình vận động và pháttriển của xã hội, có nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động vào quá trình đó,làm cho sự vận động đó không phải lúc nào cũng theo khuynh hướng tiến lên, thậmchí còn thụt lùi, đó chính là sự thoái bộ của lịch sử xã hội Ví dụ, sự ra đời và tồntại của chủ nghĩa phát xít vào những thập niên 30 và 40 của thế kỷ XX, đã đẩy nhânloại đứng trước nguy cơ diệt chủng Sự chậm thay đổi trong cách thức quản lý xãhội và quản lý kinh tế cũng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự chậm phát triển củacác quốc gia lựa chọn con đường phát triển đất nước theo khuynh hướng xã hội chủnghĩa vào những thập niên 70, 80 của thế kỷ XX

Hiện nay, đánh giá về sự tiến bộ xã hội, quan niệm của nhiều học giả chorằng, tiêu chuẩn để đánh giá sự tiến bộ xã hội, không chỉ ở sự tăng trưởng về kinh

tế, mà còn phải xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau, gọi chung là chỉ số về conngười, bao gồm : thu nhập bình quân đầu người/năm; vấn đề giáo dục; y tế; phápluật; môi trường… mà mục đích là hướng tới đảm bảo ngày càng cao hơn hạnhphúc cho con người

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp cho chúng ta nhận thức đượcrằng, muốn thực sự nắm được bản chất của sự vật, hiện tượng, nắm được khuynhhướng vận động và phát triển của chúng, phải có quan điểm phát triển, khắc phụcquan điểm bảo thủ, trì trệ

2 Các quy luật cơ bản và các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật

a Hệ thống phạm trù và quy luật trong phép biện chứng duy vật

15 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.381.

Trang 13

- Quan niệm về phạm trù trong phép biện chứng duy vật

Trong quá trình nhận thức của con người về thế giới xung quanh, khi nhậnthức của con người đạt được những tri thức về mối liên hệ bản chất của sự vật, conngười sẽ đánh dấu bước tiến trong quá trình nhận thức bằng những khái niệm và

phạm trù Vì vậy, V.I.Lênin cho rằng: “Trước con người, có màng lưới những hiện

tượng tự nhiên Con người bản năng, người man rợ, không tự tách khỏi giới tựnhiên Người có ý thức tự tách khỏi giới tự nhiên, những phạm trù là những giaiđoạn của sự tách khỏi đó, tức là của sự nhận thức thế giới, chúng là những điểm nútcủa màng lưới, giúp chúng ta nhận thức và nắm được màng lưới”16

Như vậy, phạm trù là khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, nhữngthuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến của các sự vật, hiện tượng trongmột lĩnh vực nhất định

Phạm trù là kết quả của hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người vềthế giới khách quan, vì vậy, nội dung của phạm trù mang tính khách quan, bị thếgiới khách quan qui định, mặc dù hình thức tồn tại của chúng là chủ quan Vì vậy ,phạm trù là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan

Bản thân thế giới khách quan luôn vận động và phát triển, đồng thời nhậnthức của con người về thế giới khách quan ngày càng phát triển và sâu sắc hơn, vìvậy, hệ thống các phạm trù cũng ngày càng được bổ sung bằng những phạm trùmới

Mỗi ngành khoa học đều có hệ thống các phạm trù của mình Ví dụ: Vật lýhọc có các phạm trù năng lượng, khối lượng, sinh vật học có phạm trù biến dị, ditruyền; văn học có phạm trù hình tượng, điển hình; Luật học có phạm trù nhà nước,pháp luật, tội phạm…

Khác với các khoa học cụ thể, phạm trù triết học là khái niệm chung nhất,phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ biến củacác sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phạm trù có tính hệthống, tất cả các phạm trù đều nằm trong một chỉnh thể và có quan hệ nội tại vớinhau, vì các phạm trù là sự phản ánh sự tác động qua lại của các sự vật trong thếgiới khách quan vào trong đầu óc con người Nhưng mỗi phạm trù chỉ có thể phảnánh, một mặt, một mối liên hệ của thế giới khách quan Để phản ánh thế giới mộtcách đầy đủ, trong một chỉnh thể, các phạm trù phải liên hệ với nhau trong mộtchỉnh thể thống nhất

16 V.I.Lênin Toàn tập, tập 29 Nxb chính trị quốc gia, năm 2006 Tr.103.

Trang 14

Mối liên hệ giữa các phạm trù phải dựa trên nguyên tắc, phạm trù trước là cơ

sở để nhận thức các phạm trù sau Mối liên hệ phải tạo thành con đường để conngười nhận thức được bản chất của sự vật Mối liên hệ giữa các phạm trù trongphép biện chứng duy vật được sắp xếp theo tiến trình nhận thức thế giới kháchquan, trên nguyên tắc từ cái chung đến cái riêng Mối liên hệ giữa các phạm trùmang tính hữu cơ, vừa tác động qua lại, vừa đối lập, bổ sung và chuyển hóa lẫnnhau

- Quan niệm về quy luật trong phép biện chứng duy vật

Trong phép biện chứng duy vật, qui luật giữ vị trí quan trọng nhất vì qui luật

“là hiện tượng có tính bản chất”, qui luật có thể chỉ ra mối liên hệ bản chất, tất yếu,phổ biến, ổn định , lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt của sự vật,hiện tượng Vì vậy, “Qui luật và bản chất là những khái niệm cùng một loại (cùngmột bậc), hay nói đúng hơn, là cùng một trình độ, những khái niệm này biểu hiệncon người nhận thức ngày càng sâu sắc các hiện tượng”.17

Qui luật là mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các sự vật,hiện tượng hay giữa các mặt của sự vật, hiện tượng V.I.Lênin cho rằng: “Kháiniệm qui luật là một trong những giai đoạn của sự nhận thức của con người về tínhthống nhất và về liên hệ, về sự phụ thuộc lẫn nhau và tính chỉnh thể của quá trìnhthế giới”.18

Như vậy, qui luật phản ánh những mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiệntượng, vì vậy, qui luật luôn mang tính khách quan

Có rất nhiều qui luật được khái quát từ mối liên hệ bản chất của các sự vật,hiện tượng trong thế giới khách quan Vì vậy, có thể phân chia qui luật thành nhiềuloại, tùy thuộc vào căn cứ khác nhau

Nếu căn cứ vào lĩnh vực tác động, có thể phân chia các qui luật thành ba loại:qui luật tự nhiên, qui luật xã hội và qui luật tư duy

Qui luật tự nhiên là những qui luật nảy sinh và tác động qua các sự vật, hiệntượng của giới tự nhiên, không cần có sự tham gia của con người; Qui luật xã hội lànhững qui luật được hình thành và tác động thông qua hoạt động của con người có

ý thức, nhưng các qui luật xã hội vẫn mang tính khách quan cho dù con người cóhoặc không nhận thức được chúng; Qui luật của tư duy là những qui luật phản ánhmối liên hệ của các khái niệm, phạm trù, phán đoán, trên cơ sở đó, hình thành nênnhững tri thức về sự vật, hiện tượng

17 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.161.

18 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.159-160.

Trang 15

Căn cứ vào phạm vi, mức độ phản ánh mối liên hệ của các sự vật, hiệntượng, các qui luật có thể được phân chia thành ba loại: qui luật riêng, qui luậtchung và qui luật phổ biến.

Qui luật riêng phản ánh những mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiệntượng trong một lĩnh vực nhất định Ví dụ: qui luật đấu tranh sinh tồn trong lĩnhvực sinh học, qui luật đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp… Qui luật chungphản ánh mối liên hệ bản chất của các sự vật trong một số lĩnh vực nhất định, ví dụnhư qui luật bảo toàn khối lượng, bảo toàn năng lượng tác động trong các lĩnh vực

cơ giới, hóa học và sinh học Qui luật phổ biến phản ánh mối liên hệ bản chất củatất cả các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan (bao gồm cả tự nhiên, xã hội

và tư duy) – đó chính là các qui luật của phép biện chứng duy vật

Các qui luật của phép biện chứng duy vật phản ánh những phương diện khácnhau của quá trình vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,

xã hội và tư duy Qui luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi vềchất và ngược lại khái quát cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.Qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập chỉ ra nguồn gốc, động lực của

sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Qui luật phủ định của phủ địnhkhái quát khuynh hướng vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

- Tương quan giữa các phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện

chứng

Các phạm trù và qui luật của phép biện chứng duy vật là sự cụ thể hóanguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Các phạm trù vàqui luật của phép biện chứng duy vật là những nấc thang khác nhau trong quá trìnhnhận thức về thế giới khách quan, theo nguyên tắc ngày càng phản ánh sâu sắc hơn

về thế giới Nếu phạm trù là “điểm nút” của màng lưới về giới tự nhiên, thì qui luậtchỉ ra được bản chất của sự vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trongthế giới khách quan, nhận thức được qui luật tức là nhận thức được bản chất của sựvật Vì vậy, phát hiện ra các qui luật là nhiệm vụ trọng tâm của các khoa học vàtriết học

- Quan niệm của Lênin về các yếu tố của phép biện chứng

Các nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật đã được V.I Lênin kháiquát thành các yếu tố của phép biện chứng duy vật, được trình bày trong tác phẩmBút ký triết học, bao gồm 16 yếu tố: 1,tính khách quan của sự xem xét; 2, tổng hòanhững quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác; 3, sự phát triển của

sự vật ấy, sự vận động của chính nó, đời sống của chính nó; 4, những khuynh

Trang 16

hướng (và những mặt) bên trong của sự vật ấy; 5, sự vật (hiện tượng) coi là tổng số

và sự thống nhất của các mặt đối lập; 6, sự đấu tranh respective sự triển khai củacác mặt đối lập ấy, của những khuynh hướng mâu thuẫn; 7, sự kết hợp phân tích vàtổng hợp, - sự phân tích những bộ phận riêng biệt và tổng hòa, tổng của những bộphận ấy; 8, những quan hệ của mỗi sự vật (hiện tượng) không những là muôn vẻ,

mà còn là phổ biến, toàn diện Mỗi sự vật (hiện tượng, quá trình) đều liên hệ vớimỗi sự vật khác; 9, không phải chỉ là sự thống nhất của các mặt đối lập, mà còn lànhững chuyển hoá của mỗi qui định, chất, đặc trưng, mặt, thuộc tính sang mỗi cáikhác (sang cái đối lập với nó?); 10, quá trình vô hạn của việc tìm ra những mặtmới, những quan hệ mới; 11, quá trình vô hạn của sự đi sâu của nhận thức của conngười về các sự vật, hiện tượng, quá trình …, nhận thức đi từ hiện tượng đến bảnchất, từ bản chất ít sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn; 12, từ sự cùng tồn tại đến tínhnhân quả và từ một hình thức liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau này đến một hình thứckhác, sâu sắc hơn, chung hơn; 13, sự lặp lại, ở giai đoạn cao, của một số đặc trưng,đặc tính của giai đoạn thấp và; 14, sự quay trở lại dường như cái cũ (phủ định củaphủ định); 15, đấu tranh của nội dung với hình thức và ngược lại, vứt bỏ hình thức,cải tạo nội dung; 16, sự chuyển hóa lượng thành chất và ngược lại19

Các yếu tố của phép biện chứng thể hiện nội dung cơ bản của phép biệnchứng duy vật, xuất phát từ sự tồn tại khách quan của sự vật với những yếu tố,những mặt cấu thành nên nó Các mặt, yếu tố này có mối quan hệ tác động qua lạivới nhau theo khuynh hướng phát triển trái ngược nhau, tạo nên sự vận động, pháttriển của sự vật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất vàngược lại theo khuynh hướng dường như quay trở lại cái ban đầu trên cơ sở caohơn

b Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng 20

- Cái riêng và cái chung

Trong Bút kí triết học, Lênin nhận xét rằng dù người ta bắt đầu bằng bất cứmột mệnh đề nào, chẳng hạn, bắt đầu bằng những mệnh đề đơn giản nhất, quenthuộc nhất như “Ivan là một người”, “Giutsơca là con chó”v.v thì ngay ở đó người

ta đã thấy có phép biện chứng rồi Phép biện chứng đó thể hiện ở chỗ “cái riêng làchung” V.I Lênin nhận xét tiếp rằng “Bất cứ cái riêng nào cũng thông qua hàngnghìn sự chuyển hoá mà liên hệ với những cái riêng thuộc loại khác (sự vật, hiệntượng, quá trình)” 21

19 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.239-240.

20 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soan giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo trình triết học Mác – Lênin Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

21 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.381.

Trang 17

Như vậy, theo V.I.Lênin, “cái riêng” là phạm trù được dùng để chỉ một sựvật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định Còn “cái chung” là một phạmtrù được dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính không chỉ có ở một kết cấu vậtchất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trìnhriêng lẻ khác Trong các ví dụ trên thì “Ivan”, “Giutsơca” là những “cái riêng”, còn

“người”, “chó” là những “cái chung”

Cần phân biệt “cái riêng” với “cái đơn nhất” Khác với “cái chung”, “cái đơnnhất” là phạm trù được dùng để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính…chỉ

có ở một kết cấu vật chất nhất định và không được lặp lại ở bất cứ một kết cấu vậtchất nào khác

Vấn đề mối quan hệ tác động qua lại giữa “cái riêng” và “cái chung” là mộttrong những vấn đề quan trọng nhất và khó nhất của triết học nói riêng, của sự nhậnthức của nhân loại nói chung Trong quá trình tìm cách giải quyết vấn đề ấy đã hìnhthành hai phái rõ rệt:

Phái duy thực tuyên bố rằng “cái chung” tồn tại độc lập, không phụ thuộc

vào “cái riêng” và sinh ra “cái riêng” Còn “cái riêng” thì hoặc là không tồn tại,hoặc nếu có tồn tại thì cũng là do “cái chung” sản sinh ra và chỉ là tạm thời “Cáiriêng” sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi, trong khi đó,

“cái chung” tồn tại vĩnh viễn, không phải trải qua một biến đổi nào cả

Phái duy danh lại phát triển theo một quan điểm ngược lại Họ cho rằng chỉ

có “cái riêng” tồn tại thực sự, còn “cái chung” chỉ là những tên gọi do lý trí đặt ra,chứ không phản ánh một cái gì có trong hiện thực

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cái chung và cái riêng tồn tại trongmối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện như sau:

đó có nghĩa là “cái chung” thực sự tồn tại, nhưng lại chỉ tồn tại trong “cái riêng”chứ không tồn tại biệt lập, lơ lửng ở đâu đó bên cạnh “cái riêng” Bởi vì, cái chungchính là khái niệm về sự vật, phản ánh những thuộc tính giống nhau, cơ bản của sựvật, do đó, phải có sự vật, mới có khái niệm về sự vật

Thứ hai, như V.I Lênin đã chỉ rõ “cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa

đến cái chung”23 Điều đó nghĩa là “cái riêng” tồn tại độc lập, nhưng sự tồn tại độclập đó không có nghĩa là “cái riêng” hoàn toàn cô lập với cái khác Ngược lại, bất

cứ “cái riêng” nào bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường, một hoàn cảnh nhấtđịnh, tương tác với môi trường, hoàn cảnh ấy, do đó, đều tham gia vào các mối liên

22 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.381.

23 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.381.

Trang 18

hệ qua lại hết sức đa dạng với các sự vật, hiện tượng khác xung quanh mình Cácmối liên hệ qua lại này cứ trải rộng dần, gặp gỡ rồi “giao thoa” với các mối liên hệqua lại khác, kết quả là tạo nên một mạng lưới các mối liên hệ mới, trong đó cónhững mối liên hệ dẫn đến một hoặc một số “cái chung” nào đó Không những thế,bất cứ “cái riêng” nào cũng đều không tồn tại vĩnh viễn Mỗi “cái riêng”, sau khixuất hiện , đều tồn tại trong một thời gian nhất định rồi biến thành một “cái riêng”khác, “cái riêng” khác này lại biến thành “cái riêng” thứ ba, v.v., cứ như vậy chođến vô cùng vô tận Kết quả của sự biến hoá vô cùng tận này là tất cả các “cáiriêng” đều có liên hệ với nhau.

Chính vì thế, V.I.Lênin không chỉ khẳng định rằng “cái riêng” không tồn tạinhư thế nào khác ngoài mối liên hệ dẫn tới “cái chung”, mà còn nhận xét rằngthông qua hàng nghìn sự chuyển hoá, nó còn liên hệ với những cái riêng thuộc loạikhác

Thứ ba, mối liên hệ giữa “cái riêng” và “cái chung” còn thể hiện ở chỗ “cái

chung” là một bộ phận của “cái riêng”, còn “cái riêng” không gia nhập hết vào “cáichung” V.I.Lênin viết: “Bất cứ cái riêng (nào cũng) là cái chung Bất cứ cái chungnào cũng là (một bộ phận, một khía cạnh, hay một bản chất) của cái riêng Bất cứcái chung nào cũng chỉ bao quát một cách đại khái tất cả mọi vật riêng lẻ Bất cứcái riêng nào cũng không gia nhập đầy đủ vào cái chung”24

Khẳng định trên đây, phản ánh một sự thật là bên cạnh những thuộc tínhđược lặp lại ở các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung, bất cứ “cái riêng” nàocũng còn chứa đựng những “cái đơn nhất”, những cái chỉ vốn có ở nó và khôngđược lặp lại ở bất cứ sự vật nào nữa

Thứ tư, trong quá trình phát triển khách quan của sự vật, trong những điều

kiện nhất định, “cái đơn nhất” có thể biến thành “cái chung” và ngược lại, “cáichung” có thể biến thành “cái đơn nhất”

Trong hiện thực, cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay một lúc, màlúc đầu xuất hiện dưới dạng “cái đơn nhất”, cái cá biệt Nhưng theo quy luật, cáimới nhất định sẽ phát triển mạnh lên, ngày càng trở nên hoàn thiện, tiến tới hoàntoàn chiến thắng cái cũ và trở thành “cái chung” Ngược lại, cái cũ ngày càng mấtdần đi và từ chỗ là “cái chung” nó biến dần thành “cái đơn nhất”

Vì trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định, “cáiđơn nhất” có thể biến thành “cái chung”, ngược lại, “cái chung” có thể biến thành

“cái đơn nhất” nên trong hoạt động thực tiễn cần tạo điều kiện thuận lợi cho “cái

24 V.I Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.381.

Trang 19

đơn nhất” biến thành “cái chung”, nếu “cái đơn nhất” đó có lợi cho ta; và ngược lại,biến “cái chung” thành “cái đơn nhất”, nếu sự tồn tại của “cái chung” không còn làđiều ta mong muốn.

Nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa “cái riêng” và “cái chung”, cầnnắm vững một số vấn đề phương pháp luận sau:

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần phải nhận thức được cái chung

vì cái chung là cái bản chất, sâu sắc, chi phối mọi cái riêng V.I.Lênin viết: “Ngườinào bắt tay vào những vấn đề riêng trước khi giải quyết những vấn đề chung, thì kẻ

đó, trên mỗi bước đi, sẽ không sao tránh khỏi “vấp phải” những vấn đề chung đómột cách không tự giác Mà mù quáng vấp phải những vấn đề đó trong từng trườnghợp riêng, thì có nghĩa là đưa chính sách của mình đến chỗ có những sự dao độngtồi tệ nhất và mất hẳn tính nguyên tắc”25

Nhưng để nhận thức được cái chung, phải bắt đầu từ những cái riêng, và khivận dụng cái chung vào từng trường hợp riêng, cần vận dụng một cách sáng tạo

Cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiệnnhất định, cần phải tạo điều kiện cho cái đơn nhất, hợp qui luật chuyển thành cáichung, mang tính phổ biến Ngược lại, biến cái chung đã trở nên lỗi thời, lạc hậutrở thành cái đơn nhất, trước khi nó mất đi hoàn toàn

- Nguyên nhân và kết quả

Nguyên nhân là tương tác giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vậtvới nhau gây ra những biến đổi nhất định; còn kết quả là những biến đổi xuất hiện

do tác động lẫn nhau của các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau

Cần phân biệt nguyên nhân với điều kiện Điều kiện chỉ là các yếu tố kết hợpvới nguyên nhân trong không gian và thời gian, làm cho nguyên nhân có thể nhanhchóng hoặc chậm tạo ra kết quả, hoặc kết quả tạo ra có thể tốt hoặc xấu

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối liên hệ nhân - quảmang tính khách quan, phổ biến và tất yếu Tính khách quan của mối liên hệ nhân –quả phản ánh mối liên hệ của bản thân các sự vật trong thế giới khách quan, tồn tạingoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc ta có nhận thức được nóhay không

Tính phổ biến của mối liên hệ nhân – quả thể hiện, tất cả mọi hiện tượngtrong tự nhiên và trong xã hội đều được gây nên bởi những nguyên nhân nhất định.Không có hiện tượng nào không có nguyên nhân cả Chỉ có điều nguyên nhân ấy đãđược phát hiện hay chưa được phát hiện mà thôi

25 V.I Lênin toàn tập, tập 15 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.437.

Trang 20

Khi xem xét mối liên hệ nhân – quả, chúng ta thấy rằng kết quả do nguyênnhân gây ra phụ thuộc vào những điều kiện nhất định Những điều kiện này lànhững hiện tượng cần thiết cho một biến cố nào đó xảy ra nhưng bản thân chúngkhông gây nên biến cố ấy Thực tiễn cho thấy rằng: một nguyên nhân nhất địnhtrong những hoàn cảnh nhất định chỉ có thể gây ra kết quả nhất định Nhưng trênthực tế, không có bao giờ có những nguyên nhân giống nhau, trong điều kiện giốngnhau và cho kết quả cũng giống nhau Vì vậy, tính tất yếu của mối liên hệ nhân –quả phải được hiểu như sau: Nếu các nguyên nhân và hoàn cảnh càng ít khác nhaubao nhiều thì các kết quả do chúng gây nên cũng càng ít khác nhau bấy nhiêu.

Nguyên nhân và kết quả có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện như

sau:

Nguyên nhân là cái sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả,sản sinh ra trước kết quả Còn kết quả chỉ xuất hiện sau khi nguyên nhân xuất hiện

và bắt đầu tác động

Như vậy, khi xem xét mối liên hệ nhân – quả mà chỉ chú ý đến tính liên tục

về thời gian thôi thì chưa đủ Cái phân biệt liên hệ nhân – quả với liên hệ nối tiếpnhau về mặt thời gian chính là ở chỗ: giữa nguyên nhân và kết quả còn có mối quan

hệ sản sinh, quan hệ trong đó nguyên nhân sinh ra kết quả

Thực tiễn cho thấy cùng một nguyên nhân có thể sinh ra nhiều kết quả khácnhau tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Ngược lại, một kết quả có thể được tạo nênbởi những nguyên nhân khác nhau tác động riêng lẻ hay tác động cùng một lúc

Khi các nguyên nhân tác động cùng một lúc lên sự vật thì hiệu quả tác độngcủa từng nguyên nhân tới sự hình thành kết quả sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào hướngtác động của nó Nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo cùng mộthướng thì chúng sẽ gây nên ảnh hưởng cùng chiều với sự hình thành kết quả.Ngược lại, nếu các nguyên nhân khác nhau tác động lên sự vật theo các hướng khác

nhau thì chúng sẽ làm suy yếu, thậm chí hoàn toàn triệt tiêu tác dụng của nhau

Nguyên nhân sản sinh ra kết quả, nhưng sau khi xuất hiện, kết quả không giữvai trò thụ động đối với nguyên nhân, trái lại, nó có ảnh hưởng tích cực ngược trởlại đối với nguyên nhân

Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả còn thể hiện ở chỗ:một hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thì trong mối quan hệkhác lại là kết quả và ngược lại Ph.Ăngghen đã nhận xét: “Nguyên nhân và kết quả

là những khái niệm chỉ có ý nghĩa là nguyên nhân và kết quả khi được áp dụng vàomột trường hợp riêng biệt nhất định; nhưng một khi chúng ta nguyên cứu trường

Trang 21

hợp riêng biệt ấy trong mối liên hệ chung của nó với toàn bộ thế giới thì nhữngkhái niệm ấy lại vẫn gắn với nhau và xoắn xuýt với nhau trong một khái niệm về sựtác động qua lại lẫn nhau một cách phổ biến, trong đó nguyên nhân và kết quả luônthay đổi vị trí cho nhau: cái ở đây hoặc trong lúc này là nguyên nhân thì ở chỗ kháchoặc ở lúc khác lại là kết quả và ngược lại”26 Một hiện tượng nào đó với tính cách

là kết quả do một nguyên nhân nào đó sinh ra , đến lượt mình lại trở thành nguyênnhân sinh ra hiện tượng thứ ba…và quá trình cứ thế tiếp tục mãi không bao giờ kếtthúc, tạo nên một chuỗi nhân – quả vô cùng tận Trong chuỗi đó, không có khâunào có thể trở thành khâu bắt đầu hay khâu cuối cùng Vì vậy, các chuỗi nhân – quả

là “không đầu”, “không cuối”, và một hiện tượng nào đó được coi là nguyên nhânhay kết quả bao giờ cũng ở trong một quan hệ xác định cụ thể

Khi nghiên cứu và vận dụng mối liên hệ nhân –quả, cần lưu ý một số vấn đềsau: vì mối liên hệ nhân – quả tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức củacon người nên chỉ có thể tìm nguyên nhân của hiện tượng ở trong chính thế giớicủa các sự vật, hiện tượng chứ không phải ở trong đầu óc con người

Nguyên nhân luôn luôn có trước kết quả, khi tìm nguyên nhân của một hiệntượng nào đó, cần tìm trong những mặt, những sự kiện, những mối liên hệ đã xảy ratrước khi hiện tượng đó xuất hiện

Dấu hiệu đặc trưng của nguyên nhân trong mối liên hệ với kết quả là nguyênnhân sinh ra kết quả, nên khi xác định nguyên nhân của hiện tượng cần đặc biệt chú

ý đến dấu hiệu đặc trưng ấy

Một hiện tượng có thể do nhiều nguyên nhân sinh ra nên trong quá trình xácđịnh nguyên nhân của một hiện tượng nào đó cần hết sức tỉ mỉ, thận trọng, vạch racho được kết quả tác động của từng mặt, từng sự kiện, từng mối liên hệ cũng nhưcủa các tổ hợp khác nhau của chúng trong việc làm nảy sinh hiện tượng để trên cơ

sở đó có thể xác định đúng về nguyên nhân sinh ra hiện tượng

Một hiện tượng trong mối quan hệ này là kết quả, trong mối quan hệ khác cóthể là nguyên nhân nên để hiểu rõ tác dụng của hiện tượng ấy cần xem xét nó trongnhững quan hệ mà nó giữ vai trò là nguyên nhân cũng như trong những quan hệ mà

Trang 22

Muốn làm cho hiện tượng ấy xuất hiện cần tạo tra nguyên nhân cùng nhữngđiều kiện cần thiết cho nguyên nhân sinh ra nó phát sinh tác dụng.Vì hiện tượngnày có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân tác động riêng lẻ hoặc đồng thời nêntrong hoạt động thực tiễn cần tuỳ hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương pháp hànhđộng thích hợp, không nên hành động rập khuôn theo phương pháp cũ.

- Tất nhiên và ngẫu nhiên

Tất nhiên là cái do những nguyên nhân cơ bản, bên trong của kết cấu vật chấtquyết định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ khôngthể khác

Ngẫu nhiên là cái không phải do bản thân kết cấu của sự vật,hiện tượng quyđịnh mà do các nguyên nhân bên ngoài, do sự ngẫu hợp của nhiều hoàn cảnh bênngoài quyết định; do đó, nó có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện, có thể xuấthiện như thế này, cũng có thể xuất hiện như thế khác

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tạimột cách khách quan, ở bên ngoài và độc lập với ý thức của con người Trong quátrình phát triển của sự vật, không phải chỉ có cái tất nhiên, mà cả cái ngẫu nhiêncũng đều có vai trò quan trọng Nếu cái tất nhiên có tác dụng chi phối sự phát triểncủa sự vật, thì cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng đến sự phát triển ấy, có thể làm cho sựphát triển đó diễn ra nhanh hoặc chậm

Tuy cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại, nhưng chúng không bao giờ tồntại một cách biệt lập với nhau dưới dạng thuần tuý, mà bao giờ cũng cùng nhau tồntại trong một sự thống nhất hữu cơ Sự thống nhất hữu cơ đó thể hiện ở chỗ cái tấtnhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình xuyên qua vô số cái ngẫu nhiên, còncái ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của cái tất nhiên, đồng thời là cái bổ sung chocái tất nhiên Điều đó có nghĩa là cái tất nhiên bao giờ cũng là khuynh hướng của

sự phát triển, nhưng khuynh hướng ấy mỗi khi tự bộc lộ mình thì bao giờ cũng phảibộc lộ ra dưới một hình thức ngẫu nhiên nào đó so với chiều hướng chung Bảnthân cái tất nhiên ấy chỉ có thể được tạo nên từ những cái ngẫu nhiên Còn tất cảnhững gì ta thấy trong hiện thực và cho là ngẫu nhiên thì đều không phải là nhữngngẫu nhiên thuần tuý, mà là những ngẫu nhiên đã bao hàm cái tất nhiên, đã chegiấu cái tất nhiên, đằng sau chúng bao giờ cũng ẩn nấp cái tất nhiên nào đó.Ph.Ăngghen viết:…”cái mà người ta quả quyết cho là tất yếu lại hoàn toàn donhững ngẫu nhiên thuần tuý cấu thành, và cái được coi là ngẫu nhiên, lại là hìnhthức, dưới đó ẩn nấp cái tất yếu”27

27 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 21 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.431.

Trang 23

Tất nhiên và ngẫu nhiên không phải tồn tại vĩnh viễn ở trạng thái cũ màthường xuyên thay đổi, phát triển và trong những điều kiện nhất định, chúngchuyển hoá lẫn nhau, tất nhiên biến thành ngẫu nhiên và ngẫu nhiên trở thành tấtnhiên.

Cần chú ý rằng, ranh giới giữa cái tất nhiên và cái ngẫu nhiên chỉ có tính chấttương đối Thông qua những mặt này hay trong mối quan hệ này thì biểu hiện làngẫu nhiên, nhưng thông qua những mặt khác hay trong mối quan hệ khác thì lạibiểu hiện là tất nhiên; và ngược lại Do vậy, chúng ta cần tránh cái nhìn cứng nhắckhi xem xét sự vật, hiện tượng

Trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào cái tất nhiên, thì trong nhận thức nóichung và nhận thức khoa học nói riêng cần phải nhận thức cái tất nhiên

Cái tất nhiên không tồn tại dưới dạng thuần tuý mà bao giờ cũng biểu lộ rangoài thông qua cái ngẫu nhiên, cho nên muốn nhận thức cái tất nhiên cần bắt đầu

từ cái ngẫu nhiên Nhưng, cái tất nhiên bao giờ cũng vạch đường đi cho mình thôngqua vô số cái ngẫu nhiên nên chỉ có thể vạch ra được cái tất nhiên bằng cách nghiêncứu qua rất nhiều cái ngẫu nhiên

Cái ngẫu nhiên cũng không tồn tại một cách thuần tuý mà bao giờ cũng làhình thức trong đó ẩn nấp cái tất nhiên, cho nên trong hoạt động nhận thức cũngnhư hoạt động hoạt động thực tiễn không nên bỏ qua cái ngẫu nhiên, mà bao giờcũng phải chú ý tìm ra cái tất nhiên ẩn giấu đằng sau những cái ngẫu nhiên đó

Trong những điều kiện nhất định, cái tất nhiên có thể biến thành cái ngẫunhiên, và ngược lại, cho nên, cần chú ý tạo những điều kiện cần thiết hoặc để ngăntrở, hoặc để sự chuyển hóa đó diễn ra tuỳ theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn

- Nội dung và hình thức

Nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố, những quá trình tạonên sự vật; còn hình thức là phương thức tồn tại và phát triển của sự vật ấy, là hệthống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố của nó

Giữa nội dung và hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, thể hiện:

Sự thống nhất và gắn bó khăng khít giữa nội dung và hình thức Nội dung vàhình thức không tách rời, mà gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau Không có một hìnhthức nào không chứa đựng nội dung, ngược lại, cũng không có nội dung nào lạikhông tồn tại trong hình thức Tuy nhiên, khẳng định điều đó không có nghĩa là mộtnội dung bao giờ cũng chỉ được thể hiện ra trong một hình thức nhất định, và mộthình thức bao giờ cũng chỉ chứa đựng một nội dung nhất định Tính phức tạp củamối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức là ở chỗ: cùng một nội dung

Trang 24

trong tình hình phát triển khác nhau có thể có nhiều hình thức, và ngược lại, cùngmột hình thức có thể thể hiện những nội dung khác nhau.

Vai trò quyết định của nội dung so với hình thức trong quá trình vận động,phát triển của sự vật, thể hiện, trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, nộidung bao giờ cũng là mặt động nhất, nó có khuynh hướng chủ đạo là biến đổi Cònhình thức là mặt tương đối bền vững của sự vật, nên khuynh hướng chủ đạo của nó

là ổn định Sự biến đổi, phát triển của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi,phát triển của nội dung Còn hình thức cũng biến đổi, nhưng biến đổi chậm hơn, íthơn so với sự biến đổi nội dung Khi nội dung biến đổi thì hình thức cũng buộcphải biến đổi theo cho phù hợp với nội dung mới Vì vậy, so với hình thức thì nộidung bao giờ cũng giữ vai trò quyết định

Sự tác động tích cực trở lại của hình thức đối với nội dung Tuy nội dunggiữ vai trò quyết định so với hình thức nhưng điều đó hoàn toàn không có nghĩa làhình thức chỉ là cái bị động, “ngoan ngoãn” đi theo nội dung Trái lại, hình thứcluôn luôn có tính độc lập nhất định và tác động tích cực trở lại nội dung Khi phùhợp với nội dung thì hình thức sẽ mở đường và thúc đẩy sự phát triển của nội dung;trường hợp ngược lại, nó sẽ kìm hãm sự phát triển ấy

Sự tác động qua lại giữa nội dung và hình thức diễn ra trong suốt quá trìnhphát triển của sự vật Lúc đầu, những biến đổi diễn ra trong nội dung chưa ảnhhưởng đến hệ thống mối liên hệ tương đối bền vững của hình thức Nhưng khinhững biến đổi đó tiếp tục diễn ra thì tới một lúc nào đó, hệ thống mối liên hệtương đối bền vững ấy của hình thức bắt đầu trở nên chật hẹp và bắt đầu kìm hãm

sự phát triển của nội dung Lúc này hình thức không còn phù hợp với nội dung nữa

Sự không phù hợp ấy tiếp tục phát triển và tới một lúc nào đó sẽ xảy ra sự xung độtgiữa nội dung và hình thức: nội dung mới phá bỏ hình thức cũ và trên cơ sở củahình thức vừa mới hình thành nó tiếp tục biến đổi, phát triển và chuyển sang mộttrạng thái mới về chất

Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, khi nghiên cứu và vận dụng mốiquan hệ giữa nội dung và hình thức, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Nếu nội dung và hình thức luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau thì trong hoạtđộng thực tiễn cần chống lại mọi khuynh hướng tách rời với nội dung và hình thức

Ở đây cần chống lại cả hai thái cực sai lầm: hoặc là tuyệt đối hoá hình thức, xemthường nội dung (trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, điều đó được biểu hiện ở chủnghĩa hình thức); hoặc ngược lại, tuyệt đối hoá nội dung, xem thường hình thức

Trang 25

Cùng một nội dung, trong tình hình phát triển khác nhau, có thể có nhiềuhình thức, và ngược lại, cùng một hình thức có thể thể hiện những nội dung khácnhau nên cần sử dụng một cách sáng tạo mọi loại hình thức có thể có (mới cũngnhư cũ), kể cả phải cải biến những hình thức cũ vốn có, lấy cái này bổ sung, thaythế cho cái kia để phục vụ có hiệu quả cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhấtđịnh tuy theo yêu cầu của hoạt động thực tiễn Ở đây cần chống hai thái cực sailầm: hoặc chỉ bám lấy hình thức cũ, bảo thủ, trì trệ, chỉ muốn làm theo kiểu cũ,hoặc hoàn toàn phủ nhận vai trò của nó trong hoàn cảnh mới, chủ quan, nóng vội,thay đổi hình thức cũ một cách tuỳ tiện, không có căn cứ.

Nội dung quyết định hình thức nên để xét đoán sự vật nào đấy, cần căn cứtrước hết vào nội dung của nó, và nếu muốn làm biến đổi sự vật thì cần tác động đểthay đổi trước hết nội dung của nó Ngược lại, vì hình thức có tác động ngược trởlại nội dung, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung, cho nêntrong hoạt động thực tiễn cần luôn luôn theo dõi mối quan hệ giữa hình thức và nộidung của sự vật để có thể kịp thời can thiệp vào tiến trình phát triển của nó, tạo chohình thức của sự vật một sự phù hợp hay không phù hợp cần thiết với nội dungđang biến đổi của nó nhằm thúc đẩy nhanh hoặc kìm hãm sự phát triển đó tuỳ theoyêu cầu của hoạt động thực tiễn

- Bản chất và hiện tượng

Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tươngđối ổn định ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật Cònhiện tượng là sự biểu hiện của những mặt, những mối liên hệ ấy ra bên ngoài

Phạm trù bản chất gắn bó hết sức chặt chẽ với phạm trù cái chung Cái tạonên bản chất của một lớp sự vật nhất định cũng đồng thời là cái chung của các sựvật đó Tuy nhiên, không phải cái chung nào cũng là cái bản chất, vì bản chất chỉ làcái chung tất yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật

Cái bản chất cũng đồng thời là cái có tính quy luật Nói đến bản chất của sựvật là nói đến tổ hợp những quy luật quyết định sự vận động và phát triển của nó

Vì vậy, bản chất là phạm trù cùng bậc với phạm trù quy luật nhưng giữa bản chất

và qui luật cũng có sự khác biệt Một bản chất có thể được biểu hiện thông quanhiều qui luật, nhưng mỗi qui luật chỉ thể hiện một khía cạnh nào đó trong bản chấtcủa sự vật

Quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng được thể hiện như sau:Bản chất và hiện tượng không những tồn tại khách quan, mà còn ở trong mỗiliên hệ hữu cơ, gắn bó hết sức chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Mỗi sự vật

Ngày đăng: 04/06/2022, 11:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mác – Ph.Ăngghen toàn tập, tập 2. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội,1995 Khác
2. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập, tập 12. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
3. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
4. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập, tập 20. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Khác
5. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 21. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Khác
6. C.Mác – Ph.Ăngghen toàn tập, tập 23. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 Khác
7. C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 25, phần II. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Khác
8. C. Mác & Ph. Ăngghen toàn tập, tập 46. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác
9. Đảng cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011 Khác
10. Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soan giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh. Giáo trình triết học Mác – Lênin. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Khác
11. V.I. Lênin toàn tập, tập 13. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
12. V.I.Lênin. Toàn tập, tập 15. Nxb chính trị quốc gia, năm 2006 13. V.I. Lênin toàn tập, tập 26. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
14. V.I.Lênin toàn tập, tập 29. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
15. V.I. Lênin toàn tập, tập 42. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
16. V.I. Lênin toàn tập, tập 49. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
17. Trường Đại học Luật Hà Nội. Giáo trình Lịch sử triết học (TS. Trần Thị Hồng Thúy Chủ biên). Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999 Khác
18. Trường Đại học Luật Hà Nội. Những nội dung cơ bản của triết học Mác – Lênin qua các tác phẩm kinh điển (TS. Trần Thị Hồng Thúy Chủ biên). Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001 Khác
19. Viện Hàn lâm khoa học Liên xô – Viện Triết học. Lịch sử phép biện chứng tập 1,2,3,4,5. Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w