1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề về PHÉP BIỆN CHỨNG

25 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 105 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trß Mét sè vÊn ®Ò vÒ PhÐp biÖn chøng trong t¸c phÈm “chèng ®uy rinh” cña ph ¨ngghen sù vËn dông cña ®¶ng ®èi víi c¸ch m¹ng n­íc ta hiÖn nay 1 Hoµn c¶nh ra ®êi cña t¸c phÈm 1 1 Vµi nÐt s¬ l­îc vÒ t.

Trang 1

Một số vấn đề về Phép biện chứng trong tác phẩm “chống đuy rinh” của ph ăngghen

sự vận dụng của đảng đối với cách mạng nớc ta hiện nay

1 Hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

1.1 Vài nét sơ lợc về thân thế sự nghiệp của Ph.

Ăngghen

Ph Ăngghen sinh ngày 28 tháng 11 năm 1820 ở Bácmenthuộc tỉnh Ranh của nớc Phổ Năm 1834 học ở trờng trunghọc Enbơphenđơ, ngay từ khi còn trẻ đã tỏ ra có năng khiếu

đặc biệt và nghị lực nghiên cứu, học tập phi thờng; năm

1837 làm việc cho hãng buôn của bố ở Bácmen Năm 1841

Ăngghen đi làm nghĩa vụ quân sự ở Béclin, năm 1841nghiên cứu tác phẩm “Bản chất đạo Thiên chúa” củaPhoiơbắc, năm 1842 ông bắt đầu cộng tác với tờ nhật báocủa tỉnh Ranh; cuối tháng 10 năm 1842 hoàn thành nghĩa vụquân sự trở về Bácmen Khi trở về Bác men ông bắt đầuhoạt động, tham gia viết bài năm 1844 ông viết “Tìnhcảnh nớc Anh” gửi cho tạp chí “Niên giám Pháp- Đức”, khoảngtháng 8- 1844 sang Pari, ở đây Ăngghen đã gặp C.Mác Ông

đã viết rất nhiều tác phẩm, “Chống Đuyrinh” đợc viết năm

1875 Ông đã đấu tranh phát triển triết học Mác và trực tiếp

lãnh đạo phong trào công nhân cho đến năm 1895 khi Ph

Ăngghen qua đời

1.2 Vài nét sơ lợc về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm

Cuối thế kỷ XIX chủ nghĩa t bản châu Âu đang chuyển

từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền.Phong trào công nhân đã trở thành một lực lợng thực tế, chủnghĩa xã hội khoa học ngày càng đợc đông đảo công nhântiên tiến tin theo, song cũng bị nhiều kẻ thù tấn công từ nhiềuphía, đặc biệt là trên lĩnh vực lý luận t tởng

Nớc Đức, thời kỳ này (1850- 1890) vẫn là nớc chậm pháttriển, còn nhiều cát cứ phong kiến cản trở con đờng pháttriển t bản chủ nghĩa; kinh tế còn lạc hậu, ruộng đất tậptrung chủ yếu ở giai cấp phong kiến Mặt khác cuộc chiếntranh kéo dài 30 năm (1850- 1880) đã làm cho kinh tế nớc Đứccàng kiệt quệ thêm Năm 1879 cách mạng t sản Pháp nổ ra

và giành thắng lợi đã là tấm gơng cho các nớc châu Âu và nớc

Đức đi theo con đờng t bản chủ nghĩa Nớc Đức lại có chung

đờng biên giới với nớc Pháp do đó lại càng ảnh hởng trực tiếpcách mạng t sản Pháp Nhng giai cấp t sản Đức lúc bấy giờ cònyếu hèn một mặt vừa muốn làm cách mạng, mặt khác lại

Trang 2

muốn thoả hiệp với giai cấp phong kiến thực hiện cách mạngbằng con đờng cải lơng, chấp nhận sự thống trị của nhà nớcquân chủ Phổ Do vậy, nhiệm vụ xoá bỏ chế độ phong kiến

đợc trao vào tay giai cấp vô sản Đức để tiến hành cách mạngdân chủ t sản kiểu mới Nhng giai cấp vô sản Đức còn nonyếu cả về số lợng và chất lợng, cha có sự thống nhất về mặt

tổ chức Trong đảng dân chủ xã hội Đức có sự phân hoá chia

rẽ thành hai phái: phái Liên đoàn do Lát xan lành đạo, thựchiện cải cách xã hội bằng con đờng cải lơng; phái hữukhuynh do Bêben lãnh đạo, lúc đầu theo chủ nghĩa Mác sau

đó bị nhà nớc Phổ ép buộc, nên cũng đi theo phái Liên

đoàn Tổng hội Liên hiệp công nhân toàn Đức đợc thành lậpnăm 1863, bị chi phối bởi t tởng cơ hội chủ nghĩa củaLátxan Vào thời kỳ này mặc dù chủ nghĩa Mác đã ra đời vàthâm nhập vào giai cấp công nhân, nhng lúc này những t t-ởng cơ hội xét lại phủ nhận chủ nghĩa Mác có xu hớng pháttriển mạnh mẽ; nhiều học thuyết t sản phản động mọc nên

nh nấm sau cơn ma Đảng công nhân xã hội dân chủ Đức đợcthành lập tháng 8 năm 1869 theo quyết nghị của Quốc tếcộng sản, nhng vẫn bị ảnh hởng của chủ nghĩa cơ hội Do

đó, t tởng của giai cấp vô sản Đức bị xuống cấp nghiêmtrọng; phong trào công nhân bị các t tởng t sản, cơ hội xétlại lũng đoạn Các t tởng tiểu t sản cũng phát triển tràn lan và

đợc truyền bá rộng rãi trong xã hội Đức Ăngghen nhận xét: “ítlâu nay, ở Đức, những hệ thống nghiên cứu nguồn gốc của vũtrụ, hệ thống triết học tự nhiên nói chung, hệ thống chính trịhọc, hệ thống kinh tế chính trị học mọc ra nh nấm sau mộttrận ma Một vị tiến sỹ triết học xoàng nhất, thậm chí cảmột sinh viên, cũng bắt tay vào việc sáng tạo ra một “hệthống” hoàn chỉnh chứ không kém hơn”1 Mặt khác vào năm

1875 Đuyrinh đã viết hàng loạt các bài công kích gay gắt,

đòi gạt bỏ, thay thế chủ nghĩa Mác trong phong trào côngnhân

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” hay Ông “Đuyrinh đảo lộn khoa học” là tác phẩm nổi tiếng của Ph Ăngghen, là công

trình bút chiến chống lại Đuyrinh- nhà t tởng tiểu t sản Đức.Việc viết tác phẩm này là một đòi hỏi tất yếu không chỉ vềmặt lý luận mà còn về mặt chính trị Thực tế là, Đuyrinh đãviết hàng loạt các bài công kích gay gắt chủ nghĩa Mác, ông

ta tự cho mình là đã sáng tạo ra đợc một hệ thống “hoànchỉnh” đầy đủ những quan điểm trong tất cả các lĩnh vực

1 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 3

của tri thức Nhng cái lỗi của các quan điểm ấy là cái lý luận

“chủ nghĩa xã hội” chống chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hộicủa Đuyrinh là ý đồ tầm thờng của kẻ cải lơng, tuyệt đối hoávai trò nhà nớc t sản, không muốn làm thay đổi bản chất củachủ nghĩa t bản Các quan điểm t tởng của Đuyrinh thực rakhông có gì mới mẻ, kể cả trong triết học, cũng chỉ là thứchiết trung chủ nghĩa, duy vật tầm thờng, là thứ t tởng phản

động chống lại chủ nghĩa Mác Ăngghen viết: “Và ông Đuyrinhchính là một trong những loại hình tiêu biểu nhất cho cáikhoa học giả hiệu trắng trợn mà ngày nay, trong khắp nớc

Đức, ta đều thấy ngoi lên hàng đầu và lấn át tất cả bằngnhững lời rỗng tuếch khoa trơng ầm ĩ của nó”2 và “Đuyrinhluôn luôn truyền bá chủ nghĩa duy tâm- quan điểm duytâm chủ nghĩa”3 Mặt khác, điều nguy hiểm là sự côngkích chủ nghĩa Mác mà Đuyrinh thực hiện dựa trên lý luận

nh vậy, lại đợc một số thành viên của đảng xã hội dân chủ

Đức vừa mới thành lập đồng tình ủng hộ Thậm chí có nhữngngời đã chuẩn bị truyền bá học thuyết ấy Có một bộ phậnbáo chí xã hội chủ nghĩa đã hoan nghênh nhiệt thành môn

đồ mới- ông Đuyrinh và sẵn lòng thừa nhận học thuyết đó,chuẩn bị phổ cập vào phong trào công nhân Do Mác đangviết bộ t bản quyển 2 và quyển 3; tác phẩm “Phê phán cơnglĩnh Gô ta”, nên đã đề nghị Ăngghen tạm hoãn viết tác phẩm

“Biện chứng của tự nhiên”, để viết bài chống lại Đuyrinh Trớc tình hình đó, đặt ra nhu cầu cần phải đập lại bộmặt phản động của học thuyết Đuyrinh, nhằm ngăn chặnkhuynh hớng chia rẽ trong đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác Từnhu cầu tất yếu ấy, một tác phẩm dới hình thức bút chiến vàbách khoa về nội dung của Ăngghen đã ra đời- tác phẩm

“Chống Đuy Rinh” Ông bắt đầu viết từ tháng 9 năm 1876,

viết xong phần 3 vào tháng 4 năm 1878; tác phẩm đợc xuấtbản ba lần vào năm 1878, 1885, 1894; sau khi ông mất toàn

bộ tác phẩm “Chống Đuy Rinh” đợc dịch sang tiếng Nga và

đợc xuất bản đầy đủ ở Liên xô vào năm 1907

Tác phẩm “Chống Đuy Rinh” đợc in trong bộ C Mác và Ph.

Ănghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

1994 (từ trang 15- tr450).

2 Cấu trúc và nội dung cơ bản của tác phẩm

2 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

tr 17.

3 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 4

Tác phẩm: “Chống Đuy Rinh” hay “Ông Đuyrinh đảo lộn khoa học” là một tác phẩm lớn gồm: ba lời tựa viết cho ba lần

xuất bản (1878, 1885, 1894); phần mở đầu (gồm hai

ch-ơng); phần nội dung chính bao gồm cả ba bộ phận cấuthành chủ nghĩa Mác: Triết học (gồm mời hai chơng), Kinh tếchính trị học (gồm mời chơng) và Chủ nghĩa cộng sản khoahọc (gồm năm chơng) Trong tác phẩm này Ph.Ăngghen đãtrình bày những vấn đề quan trọng nhất của triết học,khoa học tự nhiên và khoa học xã hội

Phần thứ nhất: Triết học

Ph.Ăngghen đã dành mời hai chơng (từ chơng 3 đến

ch-ơng 14): chch-ơng 3 và chch-ơng 4 viết về phân loại chủ nghĩatiên nghiệm và đồ thức luận về vũ trụ; chơng 5 đến chơng

8 ngoài việc phê phán quan điểm triết học của Đuyrinh, ông

đã trình bày có hệ thống các t tởng cơ bản của triết họcmácxít trên hầu hết các nội dung; chơng 9 đến chơng 11trình bày xung quanh về đạo đức và pháp quyền; chơng 12

và chơng 13 trình bày các quy luật cơ bản của phép biệnchứng duy vật

Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học (10 chơng)

Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội (5 chơng)

Nh vậy, qua kết cấu và nội dung của tác phẩm, Ăngghenmuốn chỉ ra rằng, chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mácnói riêng cũng có tiền đề lý luận do kế thừa những giá trị ttởng trớc đó, khái quát thực tiễn xã hội và nhận thức khoahọc; triết học Mác ra đời là hình thức phát triển cao của t t-ởng triết học trong lịch sử, đồng thời ba bộ phận cấu thành

chủ nghĩa Mác không thể tách rời Lênin đánh giá: “Đó là một

cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”4

Do vậy, việc nghiên cứu toàn diện tác phẩm trong đó cótriết học là điều hết sức cần thiết có ý nghĩa cả về nhậnthức và hoạt động thực tiễn

Phạm vi bài thu hoạch này chỉ đề cập đến “một số

vấn đề về phép biện chứng trong tác phẩm và sự vận dụng của Đảng ta đối với công cuộc đổi mới hiện nay”

3 Một số vấn đề về phép biện chứng trong tác phẩm

“Chống Đuy Rinh” của Ăngghen là tác phẩm luận chiến,

xuất phát từ việc ông Đuyrinh tạo nên một hệ thống lý luận

Trang 5

chống chủ nghĩa Mác nói chung và triết học Mác nói riêng Do

đó xuyên suốt tác phẩm Ăngghen đã kết hợp việc dẫn quan

điểm của Đuyrinh và quan điểm của Mác, qua đó vạch trần

bộ mặt thật của Đuyrinh và khẳng định quan điểm duy vậtbiện chứng mácxít

Phép biện chứng là vấn đề trung tâm của phần triếthọc trong tác phẩm Để chống lại Đuyrinh, Ăngghen đã phântích vấn đề phép biện chứng và áp dụng nó vào tất cả cáclĩnh vực của triết học, trong đó có chủ nghĩa duy vật lịch

sử và những vấn đề triết học của khoa học tự nhiên

Thứ nhất, Ăngghen đã trình bày lịch sử hình thành vàphát triển của phép biện chứng

Ăngghen đã chứng minh tính quy luật của quá trình thaythế các thời kỳ cơ bản của lịch sử triết học, thông qua sựthay thế các hình thức của phép biện chứng Ông đã luậnchứng phép biện chứng duy vật ra đời trên cơ sở kế thừa cáchình thức t duy trớc đó: từ phép biện chứng duy vật thời cổ

đại đến phép siêu hình, đến phép duy vật thế kỷ XVIII vàphép biện chứng duy vật- là hình thức cao nhất của t duy

Ăngghen viết: “Những nhà triết học Hylạp cổ đại đều lànhững nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh nó ngày càng bị

sa vào cái gọi là phơng pháp t duy siêu hình và Hêghen đãquay trở lại với phép biện chứng, coi đó là hình thức caonhất của t duy”5

Ăngghen khẳng định sự ra đời và phát triển của phépbiện chứng duy vật là một tất yếu khách quan vì nó hội đủcác tiền đề về lý luận và tự nhiên Bằng hàng loạt các dẫnchứng, Ăngghen đã luận giải tính tất yếu lịch sử cho ra đờiphép biện chứng duy vật các tiền đề về lý luận đã chínmuồi; khoa học tự nhiên phát triển mạnh đã cung cấp dữ liệucho triết học khái quát; điều đặc biệt là phong trào đấutranh của giai cấp công nhân phát triển mạnh mẽ nhữngyếu tố đó cho phép xuất hiện phép biện chứng duy vật Ôngviết: “Sự nhận thức có hệ thống về toàn bộ thế giới bên ngoài

có thể đạt đợc những thành tựu khổng lồ từ thế hệ này quathế hệ khác”6

Hai là, Ăngghen coi phép biện chứng là hình thức caonhất của t duy khoa học và chỉ ra sự đối lập về nguyên tắc

5 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

tr34- tr 35.

6 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 6

giữa phép biện chứng và phép siêu hình, sự khác nhau cănbản giữa phép biện chứng mác xít và phép biện chứng duytâm của Hêghen.

Nghiên cứu lịch sử t tởng triết học, Ăngghen coi phépbiện chứng là hình thức cao nhất của t duy khoa học Trớchết Ăngghen đánh giá thành tựu và công lao to lớn của cácnhà triết học trớc Mác trong việc xây dựng phép biện chứng

từ cổ đại cho đến thế kỷ thứ XIX Xét về nguồn gốc, ngời

đề xuất đầu tiên là Hêraclít, ngời nghiên cứu sâu sắc làArixtốt và Hêghen đã có công lao quay lại phép biện chứng

cổ đại, đã xây dựng phép biện chứng tơng đối hoànchỉnh, coi đó là hình thức cao nhất của t duy Ông viết:

“Nền triết học mới ở Đức đã ra đời và đã đạt tới đỉnh caonhất của nó, thể hiện ở Hêghen Công lao lớn nhất của nó là

đã quay trở lại phép biện chứng, coi đó là hình thức caonhất của t duy Những nhà triết học Hylạp cổ đại đều lànhững nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và Arixtốt, bộ ócbách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiêncứu những hình thức căn bản nhất của t duy biện chứng”7.Thông qua phê phán các quan điểm của Đuyrinh, Ăngghen

đã phân tích làm rõ thực chất, những hạn chế của phơngpháp t duy siêu hình và chỉ ra sự đối lập về nguyên tắcgiữa phơng pháp t duy biện chứng và phơng pháp siêu hình.Trớc hết đánh giá về phơng pháp siêu hình “là phơngpháp t duy hầu nh cũng hoàn toàn chi phối những ngời Pháptrong thế kỷ XVIII, ít nhất cũng là trong những công trìnhchuyên bàn về triết học của họ Nhng ngoài lĩnh vực triếthọc hiểu theo đúng nghĩa của nó ra, họ cũng để lại chochúng ta nhiều tuyệt tác về phép biện chứng”8

Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của loài ngời qua cácthời kỳ, Ăngghen đã khẳng định tính tất yếu của phơngpháp xem xét siêu hình; sự ra đời của phép siêu hình làmột tất yếu khách quan, là kết quả hợp quy luật đối với mộtgiai đoạn lịch sử nhất định ở giai đoạn đó khi mà các khoahọc đang nghiên cứu các bộ phận riêng biệt của thế giới, và

đó cũng là nhiệm vụ của khoa học cụ thể Ông viết: “Khichúng ta dùng t duy để xem xét giới tự nhiên, lịch sử loài ng-

ời, hay hoạt động tinh thần của bản thân chúng ta thì trớcnhất, chúng ta thấy một bức tranh về sự chằng chịt vô tận

7 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

tr 354

8 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 7

của những mối liên hệ và những sự tác động qua lại trong

đó không có cái gì là đứng nguyên, không thay đổi, phátsinh và mất đi Cái thế giới quan ban đầu, ngây thơ, nhngxét về thực chất thì đúng đó là thế giới quan của các nhàtriết học Hylạp cổ đại và lần đầu tiên đã đợc Hêraclít trìnhbày một cách rõ ràng: mọi vật đều tồn tại và đồng thời lạikhông tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều khôngngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêuvong Nhng cách nhìn ấy vẫn không đủ để giải thíchnhững chi tiết hợp thành bức tranh toàn bộ ấy Muốn nhậnthức đợc những chi tiết ấy, chúng ta buộc phải tách chúng rakhỏi mối liên hệ tự nhiên hay lịch sử của chúng, và nghiêncứu riêng từng chi tiết một theo đặc tính của chúng, theonguyên nhân và kết quả riêng của chúng Đó trớc hết lànhiệm vụ của khoa học tự nhiên và của việc nghiên cứu lịchsử”9

Ăngghen đã đánh giá công lao và vai trò của phép siêuhình trong lịch sử triết học và trong xã hội Ông viết: “ Tấtcả những cái đó đã là những điều kiện cơ bản cho nhữngtiến bộ khổng lồ mà 400 năm gần đây đã đem lại chochúng ta trong lĩnh vực nhận thức giới tự nhiên”10

Về hạn chế của phép siêu hình, theo Ăngghen: “Nó chỉnhìn thấy sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệqua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại củanhững sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêuvong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh củanhững sự vật ấy mà quên mất sự vận động của sự vật ấy,chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”11 Nh vậy, thế giớiquan siêu hình đợc Ăngghen coi là điều không tránh khỏi và

sự ra đời của nó là hợp quy luật đối với một giai đoạn nhất

định trong lịch sử phát triển của nhận thức khoa học- giai

đoạn nghiên cứu những chi tiết của bức tranh toàn bộ về giới

tự nhiên Ăngghen viết: “ Tất cả những cái đó đã là những

điều kiện cơ bản cho những tiến bộ khổng lồ Nhng phơngpháp nghiên cứu ấy đồng thời cũng truyền lại cho chúng tamột thói quen là xem xét những vật thể tự nhiên và quátrình tự nhiên trong trạng thái biệt lập của chúng, ở bên ngoàimối liên hệ to lớn chung, và do đó không xem xét chúng

9 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 8

trong trạng thái vận động mà xem xét trong trạng thái tĩnh,không coi chúng về cơ bản là biến đổi, mà coi chúng làvĩnh viễn không biến đổi, không xem xét chúng trong trạngthái sống mà xem xét chúng trong trạng thái chết”12 Muốnnhận thức đợc bản chất của thế giới đòi hỏi con ngời khôngchỉ nhận thức bên ngoài sự vật mà còn phải nhận thức cáibên trong- cái bản chất của sự vật Do đó, ông cũng khẳng

định tính tất yếu phải có phơng pháp t duy khác thay thế

nó Ông viết: “Phơng pháp nhận thức siêu hình, dù đợc coi làchính đáng và thậm chí là cần thiết trong những lĩnh vựcnhất định nó trở thành phiến diện, hạn chế, trừu tợng và savào những mâu thuẫn không thể nào giải quyết đợc”13

Ăngghen chỉ ra sự đối lập giữa phép biện chứng vớiphép siêu hình, ông viết: “Đối với nhà siêu hình học thìnhững sự vật và sự phản ánh của chúng trong t duy, tức lànhững khái niệm, đều là những đối tợng nghiên cứu riêngbiệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải đợc xem xét cái nàysau cái kia, cái này độc lập với cái kia”14 Ăngghen viết tiếp:

“Trái lại, đối với phép biện chứng là phơng pháp mà điều cănbản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh củachúng trong t tởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau củachúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sựtiêu vong của chúng”15

Khi xem xét sự phát triển của thế giới quan biện chứngtrong lịch sử t tởng triết học, Ăngghen cũng đối lập phépbiện chứng mácxít với phép biện chứng duy tâm củaHêghen, đó là sự khác nhau căn bản của hai phơng pháp trên

Ông viết: “Có thể nói rằng hầu nh chỉ có Mác và tôi là nhữngngời đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duytâm Đức và đa nó trong quan niệm duy vật về tự nhiên và

về lịch sử”16 Phép biện chứng duy vật đợc Ăngghen coi là sựtổng kết toàn bộ quá trình phát triển của triết học và khoahọc tự nhiên, đồng thời là sự khái quát các quy luật kháchquan của giới tự nhiên và xã hội

12 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 9

Ăngghen đã chỉ ra mối quan hệ giữa biện chứng kháchquan và biện chứng chủ quan Biện chứng của “ý niệm” vềthực chất là biện chứng của sự vật và do biện chứng của sựvật quyết định chứ không phải do “ý niệm” quyết định nhHêghen tởng.

Khi bàn đến tính khách quan của các quy luật biệnchứng, Ăngghen chỉ ra rằng: “Không thể là đa những quyluật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên, mà là phát hiện

ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự nhiên”17

Ông viết tiếp: “Giới tự nhiên là hòn đá thử vàng đối với phépbiện chứng, và cần phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại

đã cung cấp cho sự thử nghiệm ấy mọi cái đều diễn ra mộtcách biện chứng chứ không phải siêu hình”18 Nh vậy bảnthân giới tự nhiên tồn tại một cách biện chứng, tồn tại mộtcách khách quan, các sự vật hiện tợng, các quá trình của tựnhiên tồn tại trong mối liên hệ phong phú nhiều vẻ, đa dạngtác động qua lại lẫn nhau, vận động và biến đổi khôngngừng Chính biện chứng khách quan ấy quy định và đòihỏi con ngời phải có quan điểm biện chứng khi xem xét thếgiới, khi nhận thức hiện thực khác quan- biện chứng chủ quan

Ăngghen cũng chỉ ra phép biện chứng tự phát và phépbiện chứng tự giác Phép biện chứng tự phát là vốn có củahiện thực khách quan khi con ngời cha nhận thức đợc nó; cònphép biện chứng tự giác chính là phép biện chứng duy vậtkhoa học nó đợc rút ra từ giới tự nhiên và lịch sử trên cơ sởcon ngời nhận thức đợc các quy luật của tự nhiên và xã hội

Ăngghen viết: “Từ lâu ngời ta đã suy nghĩ một cách biệnchứng trớc khi biết biện chứng là gì, cũng nh từ lâu ngời ta

đã nói theo văn xuôi trớc khi có danh từ “văn xuôi””19

Mặt khác, Ăngghen cũng đánh giá công lao to lớn củaHêghen khi ông sử dụng phơng pháp biện chứng trong việcxem xét thế giới tự nhiên Ăngghen viết: “Nền triết học mớicủa Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống củaHêghen, trong đó lần đầu tiên- và đây là công lao to lớn của

ông- toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần đợc trìnhbày nh là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến

đổi, biến hoá và phát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ

17 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 10

nội tại của sự vận động và sự phát triển ấy”20 Công lao lịch

sử của Hêghen là ông đã đề ra nhiệm vụ của t duy hiện nay

là theo dõi bớc tiến tuần tự của quá trình ấy và tất cả nhữngkhúc quanh của nó để chứng minh tính quy luật bên trongcủa nó thông qua các ngẫu nhiên bên ngoài, mặc dù cha đợcthực hiện Ăngghen viết: “Nhiệm vụ của t duy hiện nay làphải theo dõi bớc tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cảnhững khúc quanh co của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên

bề ngoài”21 Đồng thời Ăngghen cũng chỉ ra nguyên nhân hạnchế của Hêghen, đó là do giới hạn không thể vợt qua đợc trithức của bản thân ông và tri thức của thời đại ông lúc bấygiờ; mặt khác ông lại là nhà triết học duy tâm nên đã giảiquyết lộn ngợc mối liên hệ hiện thực của các hiện tợng thếgiới Ăngghen viết: “Hêghen là một nhà duy tâm, nghĩa là

đối với ông thì những t tởng trong đầu óc của chúng takhông phải là những phản ánh ít nhiều trừu tợng của những

sự vật và quá trình hiện thực, mà ngợc lại, những sự vật và

sự phát triển của chúng, đối với Hêghen, chỉ là những phản

ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại ở một nơi nào đóngay trớc khi có thế giới”22 Đề cập đến hệ thống triết họccủa Hêghen, Ăngghen cũng chỉ ra tính chất mâu thuẫn của

nó, nó bị gò ép, giả tạo, h cấu và bị xuyên tạc: “Một hệ thống

nh thế là mâu thuẫn với những quy luật cơ bản của t duybiện chứng”23

Ba là, Ăngghen khẳng định phép biện chứng duy vật làkhoa học và chỉ rõ đối tợng, nhiệm vụ, bản chất của phépbiện chứng duy vật

Trớc hết, Ăngghen đã đa ra định nghĩa về phép biệnchứng: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học

về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự pháttriển của tự nhiên, của xã hội loài ngời và của t duy”24 Ông coiphép biện chứng không chỉ là khoa học về t duy mà nó còn

là khoa học để nghiên cứu giới tự nhiên và xã hội loài ngời Đốivới phép biện chứng, điều căn bản nhất là nó xem xétnhững sự vật và sự phản ánh chúng trong t duy trong mối liên

20 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 11

hệ qua lại lẫn nhau, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phátsinh và sự tiêu vong, các thành tựu khoa học tự nhiên đãchứng minh điều đó Nh vậy Ăngghen đã trình bày mộtcách có hệ thống lịch sử quá trình nhận thức của nhân loạidới góc độ phơng pháp t duy Ông khẳng định triết học với tcách là thế giới quan và phơng pháp luận đã có cách nhìnthế giới nh một chỉnh thể thống nhất Ông cũng chứng minh

và chỉ rõ hình thức đầu tiên của phép biện chứng là phépbiện chứng cổ đại, phơng pháp siêu hình là phơng phápcần thiết, phép biện chứng duy tâm của Hêghen “có cônglớn” nó đã quay lại phép biện chứng cổ đại, và phép biệnchứng duy vật là đỉnh cao của phép biện chứng và triết họcMác đã giải phóng phép biện chứng khỏi hệ thống triết họcduy tâm, làm cho phép biện chứng mác xít mang bản chấtcách mạng và khoa học

Về đối tợng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật lànghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động,phát triển của tự nhiên, xã hội và của t duy Ông cũng chỉ rabản chất của phép biện chứng duy vật là xem xét những sựvật và những phản ánh của nó trong t tởng trong mối liên hệqua lại, tác động lẫn nhau giữa chúng trong sự ràng buộc sựvận động, phát sinh và tiêu vong của chúng Ăngghen viết:

“Trái lại, đối với phép biện chứng là phơng pháp mà điều cănbản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh củachúng trong t tởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau củachúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sựtiêu vong của chúng”25 Nh vậy biện chứng cả trong tự nhiên,trong xã hội và trong t duy Ông cũng chỉ ra nhiệm vụ củaphép biện chứng duy vật đó là, theo dõi quá trình vận

động tất yếu, chứng minh tính tất yếu thông qua cái ngẫunhiên bên ngoài Qua đó xem xét nó không chỉ trong giới tựnhiên mà điều quan trọng chủ yếu là trong xã hội để chứngminh tính tất yếu diệt vong của chủ nghĩa t bản

Bốn là, Ăngghen đã trình bày các quy luật cơ bản củaphép biện chứng duy vật

Khái quát toàn bộ lịch sử phát triển của triết học, khoahọc tự nhiên, khoa học lịch sử và khoa học kinh tế, ông đãtrình bày khái quát các quy luật cơ bản của phép biện chứngtrong tác phẩm này (phần triết học) Mỗi quy luật phản ánhnhững mặt riêng lẻ của quá trình phát triển duy nhất trong

25 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Trang 12

thế giới hiện thực xung quanh chúng ta Ăngghen xem xét vàphân tích làm rõ các quy luật cơ bản của phép biện chứngduy vật: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đốilập: quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lợng thànhnhững biến đổi về chất và ngợc lại; quy luật phủ định củaphủ định

Trớc hết, về quy luật mâu thuẫn.

Ăngghen đã chỉ ra tính khách quan, tính phổ biến củamâu thuẫn: mâu thuẫn có ở tất cả các sự vật hiện tợng cảtrong tự nhiên, xã hội và t duy con ngời Mâu thuẫn của sự vật

đợc thể hiện giữa hai mặt đối lập của nó, vừa thống nhấtvừa chuyển hoá cho nhau Đồng thời, Ăngghen cũng chỉ ranguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển của sự vật

đó là tự thân do mâu thuẫn và đấu tranh giải quyết mâuthuẫn giữa các mặt đối lập bên trong sự vật

Đuyrinh cho rằng mâu thuẫn chỉ có trong t tởng còntrong sự vật không có mâu thuẫn Ăngghen cho rằng cáchxem xét nh vậy của Đuyrinh là siêu hình, trái lại khi xem xét

sự vật phải trên quan điểm duy vật biện chứng Ăngghen đãminh hoạ bằng nhiều ví dụ trong các lĩnh vực khác nhau của

sự nhận thức giới tự nhiên nh cơ học, toán học, sinh vật học

Ăngghen còn coi vận động cũng có đặc trng mâu thuẫn- ờng xuyên nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn, mà

th-điều đó với thế giới quan siêu hình, Đuyrinh không thể hiểunổi Mâu thuẫn biện chứng trong vận động thể hiện trong

sự đối lập và chuyển hoá giữa vận động và đứng im

Ăngghen viết: “Theo quan điểm biện chứng, khả năng biểuhiện vận động bằng cái đối lập với nó, tức thể tĩnh, hoàntoàn không phải là một điều gì khó khăn cả Theo quan

điểm biện chứng, tất cả sự đối lập ấy, nh chúng ta đã thấy,

đều chỉ là tơng đối; không có thể tĩnh tuyệt đối, không

có sự thăng bằng vô điều kiện Vận động riêng biệt thì có

xu hớng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ sựthăng bằng Cho nên, thể tĩnh và thế thăng bằng ở nơi nàochúng diễn ra thì đều là kết quả của một vận động có hạnnào đó, và hiển nhiên là vận động ấy có thể đo đợc bằngkết quả của nó, có thể biểu hiện ra bằng kết quả của nó và

đi từ kết quả ấy có thể đợc phục hồi lại nó dới hình thức nàyhay hình thức khác”26

26 C.Mác-Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự Thật, Hà Nội, 1994, Tập 20,

Ngày đăng: 22/10/2022, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w