CHƯƠNG IV CHUYÊN ĐỀ 4 NHẬN THỨC LUẬN I CÁC QUAN NIỆM CHÍNH TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VỀ NHẬN THỨC Khi bàn về vấn đề cơ bản của triết học, Ph Ăngghen cho rằng “Vấn đề lớn cơ bản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” Trong đó có hai mặt, thứ nhất, trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào Giải quyết vấn đề này là cơ sở để phân chia các nhà triết học trong lịch sử thành chủ nghĩa du.
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 4NHẬN THỨC LUẬN
I CÁC QUAN NIỆM CHÍNH TRONG LỊCH SỬ TRIẾT HỌC VỀ NHẬN THỨC
Khi bàn về vấn đề cơ bản của triết học, Ph.Ăngghen cho rằng “Vấn đề lớn cơbản của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tưduy và tồn tại”1
Trong đó có hai mặt, thứ nhất, trong mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, cáinào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào Giải quyết vấn đề này là
cơ sở để phân chia các nhà triết học trong lịch sử thành chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm
Nhưng vấn đề cơ bản của triết học còn có một mặt khác: “Những suy nghĩcủa chúng ta về thế giới xung quanh ta có quan hệ như thế nào với bản thân thế giớiấy? Tư duy của chúng ta có thể nhận thức được thế giới hiện thực không? Trongcác quan niệm và các khái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thểphản ánh được một hình ảnh đúng đắn về hiện thực không? Theo ngôn ngữ triếthọc, vấn đề đó được gọi là vấn đề tính đồng nhất giữa tư duy và tồn tại”2 Vấn đềnày được V.I.Lênin giải thích “Tư tưởng của chúng ta về cái thế giới xung quanhchúng ta có quan hệ với bản thân thế giới đó như thế nào? Tư duy của chúng ta cókhả năng nhận thức được thế giới hiện thực không? Trong những biểu tượng vàkhái niệm của chúng ta về thế giới hiện thực, chúng ta có thể phản ánh được đúngđắn hiện thực kkhông?”3 Mặt thứ hai này gọi là nhận thức luận, trả lời cho các câuhỏi: con người có khả năng nhận thức thế giới hay không?; thế giới được nhận thức
là thế giới nào?; nhận thức thế giới bằng cách nào?; cơ sở và tiêu chuẩn của nhậnthức?
Trả lời mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học, đã chia các nhà triết họctrong lịch sử thành thuyết khả tri và bất khả tri Các nhà triết học khả tri thừa nhậnkhả năng nhận thức của con người về thế giới, nhưng họ lại khác nhau khi lý giải
về thế giới được nhận thức là thế giới khách quan hay thế giới tinh thần Ngược lại,một số nhà triết học, kể cả duy vật và duy tâm không thừa nhận khả năng có thểnhận thức được thế giới của con người, hoặc không thể nhận thức thế giới một cáchđầy đủ Trong khi đó lại có một số nhà triết học hoài nghi khả năng nhận thức củacon người
1 1 C.Mác & Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 21 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Tr.403.
22 C.Mác & Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 21 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Tr.403.
3 3 Lênin, toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2006 Tr.113.
Trang 21) Quan niệm của thuyết khả tri, bất khả tri và hoài nghi về nhận thức
a) Quan niệm của thuyết khả tri về nhận thức
Các nhà triết học khả tri thừa nhận khả năng nhận thức của con người, nhưng
họ lại khác nhau trong việc lý giải đối tượng, con đường và tiêu chuẩn của nhậnthức Từ đó, đã phân chia các nhà triết học này thành các nhà triết học khả tri duytâm và khả tri duy vật
- Theo quan điểm của các nhà khả tri duy tâm, đối tượng nhận thức là thếgiới tinh thần tồn tại ở bên ngoài, độc lập với ý thức con người (khả tri duy tâmkhách quan) hoặc thế giới tinh thần của cá nhân (khả tri duy tâm chủ quan)
Đại diện cho thuyết khả tri duy tâm khách quan là Platon (nhà triết học thời
cổ đại Hy lạp) và Hêghen (nhà triết học cổ điển Đức) Đối với Platon, đối tượngnhận thức là thế giới “ý niệm” – thế giới tồn tại trước con người và là cơ sở để sinh
ra thế giới các sự vật, hiện tượng Tri thức chân thực của con người chỉ có thể đạtđược bằng nhận thức lý tính và được thể hiện trong các khái niệm Bản chất củanhận thức là sự “hồi tưởng” của “linh hồn bất tử” về thế giới “ý niệm”
Còn theo Hêghen, xuất phát từ nguyên lý đồng nhất giữa tư duy và tồn tại,thế giới hiện thực chỉ là biểu hiện của của thế giới “ý niệm tuyệt đối”, sự đồng nhấtnày là quá trình phát triển lịch sử của sự tự nhận thức của bản thân “ý niệm tuyệtđối” “Ý niệm tuyệt đối” sau khi “tha hóa” thành giới tự nhiên và xã hội loài người,quay trở lại bản thân mình thông qua ý thức của mỗi cá nhân Ưu điểm của thuyếtkhả tri duy tâm của Hêghen là đã sử dụng phép biện chứng để lý giải quá trình “thahóa” và tự quay trở lại bản thân mình của “ý niệm tuyệt đối”
Các nhà triết học theo thuyết khả tri duy tâm chủ quan, đại diện là G.Béccơli(nhà triết học nước Anh thế kỷ XVII) xuất phát từ chỗ cho rằng, sự tồn tại của các
sự vật là do con người có thể tri giác được về nó, vì vậy, nhận thức đối với ông làtri giác về thực thể tinh thần tồn tại trong lý tính con người
- Các nhà khả tri duy vật lại cho rằng, đối tượng của nhận thức là thế giớikhách quan tồn tại ở bên ngoài, độc lập với ý thức con người và con người có khảnăng nhận thức về thế giới bắt đầu bằng các giác quan Đại diện qua các thời kỳlịch sử như Đêmôcrit (thời cổ đại Hy Lạp); Bêcơn, Xpinôda, Điđrô (thế kỷ XVII-XVIII ở Tây Âu); L.Phoi ơ bắc (triết học cổ điển Đức)
b) Quan niệm của thuyết bất khả tri về nhận thức
Trái ngược với các nhà triết học theo thuyết khả tri, một số nhà triết học theothuyết bất khả tri phủ nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới, nhưng họcũng khác nhau khi quan niệm về thế giới mà họ phủ nhận, vì vậy, các nhà triết học
Trang 3theo thuyết bất khả tri cũng được phân chia thành bất khả tri duy tâm và bất khả triduy vật.
Đại diện cho thuyết bất khả tri duy tâm là nhà triết học Đ Hium (nhà triếthọc Anh thế kỷ XVII), tiếp thu chủ nghĩa duy tâm chủ quan của Béccơli, Hium đãcực đoan hơn khi phủ nhận sự tồn tại của cả thế giới vật chất lẫn thế giới tinh thần,
vì vậy, phủ nhận khả năng nhận thức của con người về thế giới
Đại diện cho thuyết bất khả tri duy vật là I.Cantơ (nhà triết học cổ điển Đức).Xuất phát từ nhiệm vụ phê phán chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hìnhthế kỷ XVII – XVIII, Cantơ đã chia thế giới làm hai loại đó là thế giới của các
“hiện tượng” và thế giới “vật tự nó” “Hiện tượng” thuộc về thế giới chủ quan mànhận thức có thể đạt được, còn “vật tự nó” là thế giới vật chất tồn tại khách quan,không phụ thuộc vào ý thức con người Về nguyên tắc, con người chỉ có thể nhậnthức được thế giới các “hiện tượng” do sự tác động của “vật tự nó” lên giác quancon người Nếu đi sâu vào “vật tự nó”, con người sẽ gặp phải những mâu thuẫnkhông thể vượt qua được, vì vậy, con người không thể nhận thức được thế giới “vật
tự nó”
c) Quan niệm của chủ nghĩa hoài nghi về nhận thức
Chủ nghĩa hoài nghi xuất hiện vào thời kỳ khủng hoảng của xã hội cổ đại(thế kỷ thứ IV TCN), khi lý tưởng xã hội cũ đã bị lung lay, lý tưởng xã hội mớichưa được hình thành Về lý luận, sự xuất hiện của chủ nghĩa hoài nghi như là một
sự phản ứng đối với các hệ thống triết học dùng những lập luận của mang tính tưbiện để giải thích thế giới Những người theo thuyết hoài nghi chỉ ra tính tương đốitrong nhận thức của con người, sự phụ thuộc của nó với những hoàn cảnh khácnhau, vì vậy, chủ nghĩa hoài nghi có tác dụng trong việc chống lại chủ nghĩa giáođiều trong thời Trung cổ Trong triết học hiện đại, chủ nghĩa hoài nghi đã được tiếpthu trong chủ nghĩa thực chứng, khi coi mọi sự phán đoán, khái quát và giả thuyếtkhông thể kiểm nghiệm trực tiếp bằng kinh nghiệm được là vô lý
2) Các khái niệm "nhận thức”, "ý thức”, "tư duy”, "tư tưởng”
a) Phân biệt ý thức với nhận thức
Ý thức là hình ảnh chủ quan về thế giới khách quan, là sự phản ánh thế giớikhách quan vào trong bộ não con người một cách chủ động, sáng tạo
Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người, đi từ chưa biết đếnbiết, từ biết chưa đầy đủ, chưa sâu sắc đến ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn về sự vật,hiện tượng
Trang 4Giữa ý thức và nhận thức vừa có sự đồng nhất, vừa có sự khác biệt Ý thức
và nhận thức đều là sự phản ánh một cách sáng tạo thế giới khách quan vào trong
bộ não con người và kết quả của sự phản ánh, đem lại cho con người tri thức về thếgiới Xét ở khía cạnh này, ý thức và nhận thức đồng nhất với nhau Nhưng giữa ýthức và nhận thức có sự khác biệt tương đối, sự khác biệt này thể hiện ở mức độ mànhững tri thức mà con người thu nhận được trong quá trình phản ánh Có thể phânbiệt một cách tương đối, nếu ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào trong
bộ não con người, kết quả, tạo nên hình ảnh của thế giới trong bộ não con người;thì nhận thức lại nhấn mạnh đến sự phản ánh diễn ra trong đầu óc con người trảiqua các giai đoạn, từ sự phản ánh trực tiếp đến phản ánh gián tiếp để thu nhận đượcnhững tri thức ngày càng phản ánh sâu sắc hơn về thế giới khách quan
Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức (còn gọi là giai đoạn nhậnthức lý tính), là giai đoạn nhận thức sự vật, hiện tượng bằng sự trừu tượng và kếtquả tạo ra các khái niệm, phạm trù và qui luật Vì vậy, không nên đồng nhất nhậnthức với tư duy, vì ngoài giai đoạn nhận thức lý tính, trong nhận thức của con
người còn có giai đoạn thấp, còn gọi là nhận thức cảm tính.
b) Tư tưởng
Tư tưởng là một bộ phận của tư duy, là kết quả của giai đoạn nhận thức lýtính, là hệ thống các mục đích và quan niệm giúp điều chỉnh mục tiêu, dự tính vàhành động của con người Một cách khái quát, tư tưởng là quan điểm, suy nghĩ củacon người với hiện thực khách quan
Tư tưởng bao giờ cũng thuộc về cá nhân, vì vậy, bị chi phối bởi điều kiệnkinh tế - xã hội mà cá nhân tồn tại, đồng thời phụ thuộc vào khả năng nhận thứccủa mỗi cá nhân và bị chi phối bởi giai cấp, tầng lớp mà cá nhân thuộc về Nhưng
tư tưởng của cá nhân có sức ảnh hưởng rất to lớn đến các cộng đồng, vì vậy, nếu tưtưởng của cá nhân nếu phù hợp với lợi ích của nhóm người, giai cấp, dân tộc sẽđược các cộng đồng sử dụng làm tư tưởng của cộng đồng đó Khi tư tưởng của cánhân được các giai cấp sử dụng, tư tưởng cá nhân sẽ đại diện cho tư tưởng giai cấp,khi đó, tư tưởng sẽ được sử dụng với nghĩa hệ tư tưởng Mỗi cá nhân đều có tậncùng và giới hạn, nhưng những tư tưởng của cá nhân nếu phù hợp với hiện thựckhách quan, tư tưởng ngoài tính cá nhân, giai cấp còn mang tính nhân loại và sẽ tồntại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người
c) Sự đa dạng và thống nhất các kiểu tri thức
Kết quả của nhận thức là tri thức, tức là sự hiểu biết của con người về thếgiới khách quan Trong quá trình nhận thức của con người về thế giới khách quan,
Trang 5do khả năng nhận thức của mỗi cá nhân và các cộng đồng trong các thời kỳ lịch sử,
đã đem lại cho con người những tri thức khác nhau về thế giới Tri thức của conngười có thể được phân chia thành rất nhiều hình thức, tùy thuộc vào căn cứ đểphân loại
Căn cứ vào trình độ hiểu biết của con người về thế giới khách quan, có thểphân chia tri thức của con người thành hai loại: tri thức kinh nghiệm và tri thức lýluận Tri thức kinh nghiệm là kết quả của giai đoạn nhận thức sự vật, hiện tượngbằng các giác quan mà kết quả, đem lại cho con người tri thức phản ánh mối liên hệbên ngoài của sự vật, hiện tượng Tri thức lý luận là kết quả của giai đoạn nhậnthức sự vật, hiện tượng thông qua con đường tư duy trừu tượng mà kết quả, đem lạicho con người tri thức phản ánh mối liên hệ bản chất, mang tính qui luật của sự vật,hiện tượng
Căn cứ vào các lĩnh vực mà tri thức con người đạt được, có thể phân chia nộidung tri thức thành ba loại: tri thức về tự nhiên, tri thức về xã hội và tri thức về tưduy
Tri thức về tự nhiên phản ánh mối liên hệ của các mặt, cũng như các sự vật,hiện tượng của tự nhiên Tri thức về tự nhiên đạt đến trình độ cao nhất là tìm ra cácqui luật chi phối tự nhiên
Tri thức về xã hội phản ánh mối liên hệ của con người, tạo thành các qui luậtchi phối sự vận động và phát triển của xã hội, là kết quả nghiên cứu của các ngànhkhoa học xã hội và nhân văn
Tri thức về tư duy là kết quả nghiên cứu về mối liên hệ, quá trình vận động
và phát triển của khái niệm, phạm trù, qui luật
Mặc dù khác nhau về trình độ và nội dung phản ánh, nhưng các tri thức đềuthống nhất với nhau ở những đặc điểm sau:
- Các tri thức đều là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thếgiới khách quan
- Các tri thức phản ánh trình độ nhận thức của con người ngày càng phongphú và đi sâu vào nhận thức bản chất của thế giới khách quan
- Các tri thức đều có khả năng giúp cho con người trong việc tìm hiểu, chinhphục và cải tạo thế giới khách quan, phục vụ cho cuộc sống của con người
3) Chủ thể, khách thể và đối tượng của nhận thức
Trong lý luận nhận thức, vai trò của chủ thể và mối quan hệ giữa khách thể
và chủ thể giữ vai trò quan trọng
Trang 6Chủ thể của nhận thức theo nghĩa rộng là toàn bộ xã hội loài người, theo đó,khách thể nhận thức là toàn bộ thế giới khách quan Nhưng khi xét quan hệ giữakhách thể và chủ thể nhận thức, phải đặt trong quan hệ xác định, trong đó, chủ thểcủa nhận thức có thể phân bậc làm hai cấp độ: cá nhân và cộng đồng Trong cấp độcộng đồng, bao gồm tập thể, giai cấp, dân tộc Với chủ thể đó, khách thể của nhậnthức là bộ phận của thế giới nằm trong quan hệ với chủ thể, nhận thức của chủ thểhướng tới Với các chủ thể khác nhau về trình độ nhận thức và năng lực hoạt độngthực tiễn, sự tác động vào khách thể cũng khác nhau Vì vậy khách thể của nhậnthkức cũng mang tính lịch sử - cụ thể.
Khi xem xét vai trò của chủ thể, mọi yếu tố của chủ thể như xúc cảm, tìnhcảm, ý chí, niềm tin, giá trị, chuẩn mực, tri thức…đều tham gia vào quá trình nhậnthức, vì thế, nhận thức là một quá trình phức tạp Nhận thức không chỉ có tri thức
mà các yếu tố của chủ thể đều tác động, ảnh hưởng đến nội dung của nhận thức
Mối quan hệ giữa khách thể và chủ thể nhận thức được biểu hiện ở chỗ:Khách thể và chủ thể có quan hệ biện chứng với nhau, giới tự nhiên chỉ trở thànhkhách thể của nhận thức khi nằm trong mối quan hệ với chủ thể và ngược lại, conngười chỉ trở thành chủ thể nhận thức khi nghiên cứu về giới tự nhiên Trong mốiquan hệ này, khách thể qui định nội dung của chủ thể nhận thức, vì vậy, khách thểgiữ vai trò quyết định đối với chủ thể Ngược lại, chủ thể lại có tính tích cực, chủđộng, bởi vì, trong quá trình nhận thức, chủ thể không chỉ dừng lại ở sự quan sátthụ động khách thể, mà còn phản ánh một cách sáng tạo khách thể thông qua hoạtđộng thực tiễn của con người Qua đó, con người cải biến khách thể phục vụ nhucầu, mục đích của mình và còn cải tạo, hoàn thiện bản thân mình
Khi xem xét quan hệ giữa khách thể và chủ thể của nhận thức, cần so sánhgiữa khách thể nhận thức với đối tượng nhận thức Đối tượng nhận thức là một mặt,một bộ phận, một khía cạnh của khách thể nhận thức mà nhận thức tập trung vào đểnghiên cứu Về cơ bản, đối tượng nhận thức hẹp hơn so với khách thể nhận thức
II LÝ LUẬN NHẬN THỨC DUY VẬT BIỆN CHỨNG
1) Các nguyên tắc và đối tượng của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
a) Các nguyên tắc xây dựng lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”,V.I.Lênin đã đưa ra 4 nguyên tắc cơ bản của nhận thức luận duy vật biện chứng
Thứ nhất, trên cơ sở phê phán chủ nghĩa duy tâm từ Beccơli đến Ma khơ vàAvênariut, V.I.Lênin đã chỉ ra đối tượng của nhận thức luận duy vật biện chứng làthế giới khách quan tồn tại ở bên ngoài, độc lập với ý thức của con người: “Có
Trang 7những vật tồn tại độc lập với ý thức của chúng ta, độc lập đối với cảm giác củachúng ta, ở ngoài chúng ta, vì không nghi ngờ gì nữa rằng chất alidarin đã tồn tạingày hôm qua trong hắc ín của than đá, và cũng không nghi ngờ gì nữa rằng ngàyhôm qua chúng ta chẳng biết tí gì về sự tồn tại đó cả và chất alidarin đó không đemlại cho ta một cảm giác nào cả”4.k
Thứ hai, xuất phát từ sự phê phán thuyết bất khả tri duy tâm của Hium vàthuyết bất khả tri duy vật của Cantơ, V.I.Lênin đã khẳng định khả năng nhận thức
vô hạn của con người về thế giới khách quan Không có cái gì mà con người khôngthể nhận thức được, mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được: “Dứtkhoát là không có và không thể có bất kỳ sự khác nhau nào về nguyên tắc giữa hiệntượng và vật tự nó Chỉ có sự khác nhau giữa cái đã được nhận thức và cái chưađược nhận thức Còn như những điều bịa đặt triết học về những ranh giới đặc biệtgiữa hai cái đó, về một “vật tự nó” nằm ở bên kia hiện tượng (Cantơ), về việc cóthể và cần phải dựng lên một bức tường triết học giữa chúng ta và vấn đề về cái thếgiới mà một bộ phận nào đó chưa được nhận thức nhưng vẫn tồn tại ở ngoài chúng
ta (Hium) – tất cả những cái đó chỉ là những điều thuần túy bậy bạ, quái tưởng vàbịa đặt thôi”5
Thứ ba, phê phán các nhà triết học duy vật siêu hình, máy móc ở Tây Âu thế
kỷ XVII-XVIII tách rời và tuyệt đối hóa hai giai đoạn của quá trình nhận thức,V.I.Lênin khẳng định: “Trong lý luận nhận thức, cũng như trong tất cả các lĩnh vựckhác của khoa học, cần suy luận một cách biện chứng, nghĩa là đừng giả định rằngnhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẵn, mà phải phân tích xem sự hiểubiết nảy sinh từ sự không hiểu biết như thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và khôngchính xác trở thành đầy đủ và chính xác hơn như thế nào”6 Quá trình nhận thứcdiễn ra một cách biện chứng, chủ động, sáng tạo, theo con đường từ trực quan sinhđộng đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quátrình nhận thức sự vật đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến bảnchất ngày càng sâu sắc hơn
Với suy luận này, phép biện chứng đã được vận dụng vào lý luận nhận thức,tạo thành nguyên tắc thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và logichọc (logic biện chứng) Nguyên tắc này đã được C.Mác sử dụng trong Bộ Tư bản
và được V.I.Lênin đánh giá “Marx không để lại cho chúng ta “Logic học” (với chữ
L viết hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta logic của “Tư bản”, và cần phải tận dụngđầy đủ nhất logic đó để giải quyết vấn đề mà chúng ta đang nghiên cứu Trong “Tư
44 Lênin, toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2006 Tr.117.
5 5 Lênin, toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2006 Tr.117.
6 6 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.117.
Trang 8bản”, Mác áp dụng logic, phép biện chứng và lý luận nhận thức [không cần ba từ:
đó là cùng một cái duy nhất] của chủ nghĩa duy vật vào một khoa học duy nhất”7
Thứ tư, lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin đã thể hiện tính cáchmạng, khoa học và sáng tạo so với lý luận nhận thức của các nhà triết học tronglịch sử khi đánh giá đúng vai trò của thực tiễn đối với nhận thức Thực tiễn vừa là
cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý, vì vậy, “Quan điểm
về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhậnthức”8
Trong các nguyên tắc cơ bản của nhận thức luận duy vật biện chứng, nguyêntắc nền tảng của nhận thức là sự phản ánh tích cực, sáng tạo hiện thực khách quan
b) Đối tượng của lý luận nhận thức duy vật biện chứng
Đối tượng của lý luận nhận thức duy vật biện chứng chính là các sự vật,hiện tượng của thế giới khách quan tồn tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức củacon người Trong những thời kỳ khác nhau, tùy vào nhu cầu của thực tiễn và khảnăng nhận thức của con người mà đối tượng này được nhận thức ở mức độ hiệntượng, bản chất ít sâu sắc, hay bản chất sâu sắc hơn và khả năng sử dụng những nộidung đã được nhận thức phục vụ cho nhu cầu của con người Vì vậy, đối tượngnhận thức là tiêu chí để đánh giá về khả năng, mức độ nhận thức của con người vềthế giới
2) Các giai đoạn cơ bản của quá trình nhận thức
Trong lịch sử triết học, quá trình nhận thức cũng được các nhà triết học phânchia thành hai giai đoạn: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Giai đoạn nhậnthức cảm tính (còn được V.I.Lênin gọi là trực quan sinh động), giai đoạn nhận thức
lý tính (gọi là tư duy trừu tượng) Đây là những giai đoạn khác nhau của cùng mộtquá trình nhận thức thống nhất
Quá trình nhận thức về thế giới khách quan được Lênin khái quát “Từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn – đó làcon đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại kháchquan”9
a) Nhận thức cảm tính 10
7 7 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.359-360.
8 8 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.167.
9 9 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.179.
10 10 Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Giáo trình Triết học Mác – Lênin Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999
Trang 9Nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, là giaiđoạn nhận thức sự vật, hiện tượng bằng các giác quan, được thể hiện dưới 3 hìnhthức là cảm giác, tri giác và biểu tượng.
- Cảm giác là hình thức đầu tiên của quá trình nhận thức và là nguồn gốc củamọi hiểu biết của con người Cảm giác là hình ảnh chủ quan về thế giới kháchquan, phản ánh từng mặt, từng khía cạnh, từng thuộc tính riêng biệt của sự vật.Cảm giác có được khi từng giác quan của con người tác động trực tiếp vào từngmặt, từng bộ phận của sự vật Kết quả là hình ảnh của từng mặt, từng bộ phận của
sự vật được lưu lại trong đầu óc con người Cảm giác là kết quả của sự tác động vậtchất của sự vật vào các giác quan con người, là sự chuyển hóa năng lượng kíchthích bên ngoài thành yếu tố của ý thức Sự hình thành các cảm giác là kết quả củahoạt động có ý thức, mục đích của con người trong hoạt động thực tiễn Trong đó,các cảm giác được lặp đi lặp lại sẽ tạo cho con người những kỹ năng đặc biệt trongtừng hoạt động của họ
Tri giác là sự tổng hợp nhiều cảm giác, đem lại hình ảnh tương đối hoànchỉnh về sự vật trong đầu óc con người Tri giác nảy sinh trên cơ sở các cảm giác,
là sự kết hợp các cảm giác So với cảm giác, tri giác là hình thức cao hơn của nhậnthức cảm tính, nó đem lại cho chúng ta tri thức về sự vật đầy đủ hơn, phong phúhơn
Cảm giác và tri giác là sự phản ánh trực tiếp về sự vật, hiện tượng thông quacác giác quan Trên cơ sở của cảm giác và tri giác, nhận thức đạt đến trình độ caohơn, đó là biểu tượng
Biểu tượng là hình thức cao nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, phản ánhnhững mặt, thuộc tính gây ấn tượng đậm nét nhất của khách thể khi khách thểkhông còn nằm trong tầm tri giác của chủ thể
Quá trình tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với sự vật sẽ để lại trong chúng tanhững ấn tượng, những hình ảnh về sự vật Những ấn tượng, hình ảnh này đậm nét
và sâu sắc đến mức có thể hiện lên trong kí ức của chúng ta ngay cả khi sự vậtkhông còn ở trước mặt Đó chính là những biểu tượng Biểu tượng chỉ giữ lạinhững nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác đem lại trước đó.Biểu tượng thường hiện ra khi có những tác nhân tác động, kích thích đến trí nhớcon người Hình thức cao nhất của biểu tượng là sự tưởng tượng; sự tưởng tượng đãmang tính chủ động, sáng tạo Tưởng tượng có vai trò rất to lớn trong hoạt độngsáng tạo khoa học và sáng tạo nghệ thuật Biểu tượng tuy vẫn còn mang tính chất
cụ thể, sinh động của nhận thức cảm tính, song đã bắt đầu mang tính chất khái quát
và gián tiếp Nhưng sự phản ánh của biểu tượng mới chỉ dừng lại ở những hình ảnh
Trang 10bên ngoài của sự vật, đôi khi còn không chính xác về sự vật Vì vậy, có thể xembiểu tượng như là hình thức trung gian quá độ cần thiết để chuyển từ nhận thứccảm tính sang nhận thức lý tính
Kết quả của giai đoạn nhận thức cảm tính, con người sẽ đạt được những trithức phản ánh mối liên hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng (còn gọi là tri thức kinhnghiệm) Nhu cầu của nhận thức cần phải đạt đến tri thức phản ánh bản chất của sựvật, hiện tượng Trên cơ sở những tài liệu do nhận thức cảm tính cung cấp, nhậnthức sẽ phát triển lên một giai đoạn cao hơn, đó là nhận thức lý tính
b) Nhận thức lý tính là giai đoạn tiếp theo và cao hơn về chất của quá trình
nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính Nếu chỉ bằng cảm giác, trigiác thì nhận thức của con người sẽ rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằngcảm giác mà hiểu được những vấn đề như tốc độ, ánh sáng, cách mạng, giai cấp,nhà nước, pháp luật, giá trị v.v Muốn hiểu được những cái đó phải nhờ đến sứcmạnh của tư duy trừu tượng
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực kháchquan Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ, ngôn ngữ
là cái vỏ vật chất của tư duy Tư duy có tính năng động sáng tạo, nó có thể phảnánh được những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, và đầy đủ hơn về thế giới Muốn tưduy, con người phải sử dụng các phương pháp như so sánh, phân tích và tổng hợp,khái quát hoá và trừu tượng hoá, v.v Nhận thức lý tính, hay tư duy trừu tượng,được thể hiện ở các hình thức như khái niệm, phán đoán và suy lý
Khái niệm là hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mặt, thuộctính cơ bản của một lớp các sự vật Xét về mặt hình thức, khái niệm được thể hiệnbằng từ Ví dụ: con người, cái cây, ngôi nhà…
Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong tư duy khoa học Khái niệm lànhững vật liệu tạo thành ý thức, tư tưởng Khái niệm là những phương tiện để conngười tích lũy thông tin, suy nghĩ và trao đổi tri thức với nhau
Khái niệm có tính chất khách quan bởi chúng phản ánh những mối liên hệ,những thuộc tính khách quan của các sự vật, hiện tượng trong thế giới Vì vậy, khivận dụng phải chú ý đến tính khách quan của nó Nếu áp dụng khái niệm một cáchchủ quan, tùy tiện sẽ rơi và chiết trung và ngụy biện V.I.Lênin chỉ rõ: “Các kháiniệm logic đều là chủ quan, chừng nào chúng còn là “trừu tượng”, còn ở dưới hìnhthức trừu tượng của chúng, nhưng đồng thời chúng cũng biểu hiện những vật tự nó.Giới tự nhiên thì vừa là cụ thể vừa là trừu tượng, vừa là hiện tượng vừa là bản chất,vừa là khoảng khắc vừa là quan hệ Những khái niệm của con người là chủ quan
Trang 11trong tính trừu tượng của chúng, trong sự tách rời của chúng, nhưng là khách quantrong chỉnh thể, trong quá trình, trong kết cuộc, trong khuynh hướng, trong nguồngốc”11.
Nội hàm của khái niệm không phải là bất biến, bởi vì hiện thực khách quanluôn vận động và phát triển cho nên khái niệm phản ánh hiện thực đó cũng phải vậnđộng, phát triển theo, liên hệ chuyển hoá lẫn nhau, mềm dẻo, linh hoạt, năng động.V.I.Lênin khẳng định: “Những khái niệm của con người không bất động, mà luônvận động, chuyển hoá từ cái nọ sang cái kia, tràn từ cái nọ sang cái kia, không nhưvậy, chúng không phản ánh đời sống sinh động Sự phân tích những khái niệm,việc nghiên cứu chúng, “nghệ thuật vận dụng chúng” (Ăngghen) bao giờ cũng đòihỏi nghiên cứu sự vận động của các khái niệm, mối liên hệ giữa chúng, sự chuyểnhoá lẫn nhau giữa chúng”12
Vì vậy cần phải chú ý đến tính biện chứng, sự mềm dẻo của các khái niệmkhi vận dụng chúng Phải mài sắc, gọt giũa các khái niệm, phải bổ sung những nộidung mới cho các khái niệm đã có, thay thế khái niệm cũ bằng khái niệm mới đểphản ánh hiện thực mới, phù hợp với thực tiễn mới
Phán đoán là hình thức của tư duy trừu tượng, vận dụng các khái niệm đểkhẳng định hoặc phủ định một thuộc tính, một mối liên hệ nào đó của hiện thựckhách quan Phán đoán là hình thức liên hệ giữa các khái niệm, phản ánh mối liên
hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong ý thức của con người Tuy nhiên, phán đoánkhông phải là tổng số giản đơn của những khái niệm tạo thành mà là quá trình biệnchứng trong đó các khái niệm có sự liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau
Phán đoán được biểu hiện dưới hình thức ngôn ngữ, nếu khái niệm là từ, thìphán đoán là câu Ví dụ: Anh A là sinh viên
Trong quá trình phát triển của tư duy, có rất nhiều phán đoán được phân chiathành các hình thức khác nhau Nếu căn cứ vào mối liên hệ mà phán đoán phảnánh, có thể phân chia phán đoán thành ba loại: phán đoán đơn nhất, phán đoán đặcthù và phán đoán phổ biến Sự phân loại này đã được Ăngghen thể hiện trong tácphẩm Biện chứng của tự nhiên, trong đó, Ăngghen trên cơ sở phân tích sự phân loạiphán đoán của Hêghen, Ông đã nêu các ví dụ về ba loại phán đoán, về phán đoánđơn nhất: “Ma sát là nguồn sinh ra nhiệt” phản ánh một mối liên hệ; phán đoán đặcthù: “Mọi vận động cơ giới đều có thể biến thành nhiệt bằng ma sát” phản ánh mốiliên hệ của các sự vật trong một lĩnh vực nhất định; phán đoán phổ biến: “Bất cứhình thức vận động nào, tùy theo những điều kiện nhất định của mỗi trường hợp,
1111 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.222-223.
12 12 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.267.
Trang 12đều có thể và nhất thiết phải chuyển hóa trực tiếp hay gián tiếp thành một hình thứcvận động khác” phản ánh mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giớikhách quan Căn cứ vào hệ từ (liên kết các khái niệm), phán đoán có thể phân chiathành phán đoán khẳng định (ví dụ: Anh A là sinh viên) và phán đoán phủ định (vídụ: Anh A không phải là sinh viên)
Suy lý là một hình thức tư duy trừu tượng trong đó xuất phát từ một hoặcnhiều phán đoán làm tiền đề để rút ra phán đoán mới làm kết luận Nói cách khác,suy lý là quá trình đi đến một phán đoán mới từ những phán đoán tiền đề Thí dụ:
từ hai phán đoán tiền đề: “Mọi người Việt Nam đều yêu nước” và “Anh A là ngườiViệt Nam” đi đến một phán đoán mới làm kết luận “Anh A yêu nước”
Nếu như phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm thì suy lý là sự liên hệgiữa các phán đoán Suy lý là công cụ hùng mạnh của tư duy trừu tượng thể hiệnquá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã biết đến nhận thức những cái chưabiết một cách gián tiếp Toàn bộ các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý
và nhờ có suy lý mà con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiệnthực khách quan
Tuy nhiên, để phản ánh đúng hiện thực khách quan, trong quá trình suy lýphải xuất phát từ những tiền đề đúng và phải tuân theo những quy tắc logic Do đó:nếu những tiền đề của chúng ta là đúng và nếu chúng ta vận dụng một cách chínhxác những quy luật của tư duy đối với những tiền đề ấy thì kết quả phải phù hợpvới hiện thực
c) Quan hệ biện chứng giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nhận thức cảm tính vànhận thức lý tính là hai giai đoạn khác nhau về chất, có đặc điểm và vai trò khácnhau trong việc nhận thức sự vật khách quan Nhận thức cảm tính là sự phản ánhtrực tiếp, cụ thể, sinh động sự vật, còn nhận thức lý tính là sự phản ánh gián tiếp,mang tính trừu tượng khái quát Nhận thức cảm tính đem lại những hình ảnh vềmối liên hệ bên ngoài, chưa sâu sắc về sự vật, còn nhận thức lý tính phản ánh đượcnhững mối liên hệ bên trong, bản chất, phổ biến, tất yếu của sự vật Do đó, nhậnthức lý tính phản ánh sự vật sâu sắc hơn và đầy đủ hơn
Tuy nhiên, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính lại thống nhất biện chứngvới nhau, liên hệ, tác động lẫn nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau, không tách rời nhau.Chúng đều cùng phản ánh thế giới vật chất, có cùng một cơ sở sinh lý duy nhất là
hệ thần kinh của con người và đều cùng chịu sự chi phối của thực tiễn lịch sử - xãhội Nhận thức cảm tính là cơ sở của nhận thức lý tính; không có nhận thức cảm
Trang 13tính thì không có nhận thức lý tính Trái lại, nhận thức cảm tính mà không có nhậnthức lý tính thì không thể nắm bắt được bản chất và quy luật của sự vật Vì vậy cầnphải phát triển nhận thức cảm tính lên lý tính, nhận thức lý tính sẽ giúp cho nhậnthức cảm tính trở nên chính xác hơn Trên thực tế, chúng thường diễn ra đan xenvào nhau trong mỗi quá trình nhận thức.
Như vậy, nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là hai giai đoạn của quátrình nhận thức thống nhất của con người Quán triệt sự thống nhất giữa nhận thứccảm tính và nhận thức lý tính có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt độngthực tiễn, khắc phục được bệnh chủ quan, giáo điều
d) Sự thống nhất giữa quan niệm " đi từ trừu tượng đến cụ thể” (của C.Mác) và quan niệm " đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” (của V.
I Lênin)
“Đi từ trừu tượng đến cụ thể” không phải là con đường của sự nhận thức thếgiới khách quan, mà là một nguyên tắc được C.Mác sử dụng thành công khi phântích nền kinh tế của chủ nghĩa tư bản Theo nguyên tắc này, cái cụ thể vừa là điểmxuất phát đồng thời cũng vừa là mục đích của nhận thức, được diễn ra như sau:nhận thức của con người phải bắt đầu từ việc sử dụng giác quan nghiên cứu các sựvật, hiện tượng (cụ thể cảm tính), sau đó bằng sự phân tích, tổng hợp, trừu tượnghóa, khái quát hóa, tư duy con người liên kết được các mặt, thuộc tính, các mối liên
hệ cơ bản tạo thành hình ảnh phản ánh được bản chất, qui luật của sự vật (cái cụ thểtrong tư duy)
Nguyên tắc này của Mác phải được diễn đạt: đi từ cái cụ thể (cảm tính) đếncái trừu tượng và từ cái trừu tượng đến cái cụ thể (trong tư duy)
Luận điểm của Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, thểhiện, nhận thức của con người phải bắt đầu từ sự nhận thức sự vật bằng các giácquan, đem lại cho con người hình ảnh về các mặt, các mối liên hệ bên ngoài của sựvật, hiện tượng Từ đó, thông qua hoạt động phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa,khái quát hóa của tư duy, nhận thức phát triển lên giai đoạn cao hơn là tư duy trừutượng Kết quả đem lại cho con người tri thức phản ánh mối liên hệ bản chất, tấtyếu, phổ biến của sự vật, hiện tượng
Nguyên tắc “Đi từ trừu tượng đến cụ thể” của C.Mác với luận điểm “Từ trựcquan sinh động đến tư duy trừu tượng” của V.I.Lênin khác nhau về thuật ngữ sửdụng, nhưng về bản chất đều thể hiện sự thống nhất trong hoạt động nhận thức củacon người, bắt đầu từ sự nhận thức mối liên hệ bên ngoài đến nhận thức ngày càng
Trang 14đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng Đều hướng đến mục đích của nhận thức
là tìm ra được bản chất, qui luật của thế giới
Nhưng giữa “Đi từ trừu tượng đến cụ thể” với “Từ trực quan sinh động đến
tư duy trừu tượng” có sự khác biệt Sự khác biệt đó là do “Đi từ trừu tượng đến cụthể” nguyên tắc phương luận chỉ đạo nhận thức và hoạt động thực tiễn, vì vậy,nguyên tắc này phải nhấn mạnh đến vai trò của tư duy trừu tượng trong nhận thứccủa con người Còn luận điểm “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” mô
tả quá trình nhận thức của con người, phải tuân thủ trình tự của quá trình nhận thức,
từ trình độ nhận thức thấp đến trình độ nhận thức cao, từ nhận thức về các hiệntượng đến nhận thức ra được bản chất của thế giới
3) Biện chứng của quá trình nhận thức
Biện chứng của quá trình nhận thức chính là biện chứng chủ quan theo hainghĩa: Một là, sự phản ánh biện chứng của thế giới khách quan vào trong đầu óccon người (còn gọi là phép biện chứng duy vật); Hai là, biện chứng của chính quátrình nhận thức diễn ra trong đầu óc con người, còn gọi là tư duy biện chứng (biệnchứng thuần túy của tư duy hoặc logic biện chứng) Nếu xét biện chứng của nhậnthức với nghĩa thứ hai, lý luận nhận thức được đồng nhất với logic biện chứng vàphép biện chứng
Biện chứng của quá trình nhận thức, được thể hiện trong mâu thuẫn biệnchứng và sự giải quyết mâu thuẫn trong quá trình phát triển của nhận thức; trongquan hệ giữa lượng và chất, cùng với sự chuyển hoá giữa lượng và chất trong quátrình phát triển của nhận thức, trong sự phủ định biện chứng và sự phủ định biệnchứng trong quá trình phát triển của nhận thức
Những mâu thuẫn được nảy sinh trong quá trình vận động và phát triển củanhận thức biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai đoạn nhận thức cảm tính với giai đoạnnhận thức lý tính, giữa nhận thức chưa đầy đủ, chưa sâu sắc về sự vật với nhận thứcđầy đủ và sâu sắc hơn về bản chất sự vật Mâu thuẫn biện chứng của nhận thức đãđược V.I.Lênin chỉ rõ “Nhận thức là một quá trình nhờ đó tư duy mãi mãi và khôngngừng tiến gần đến khách thể Phản ánh của giới tự nhiên trong tư tưởng của conngười phải được hiểu không phải một cách “chết cứng”, “trừu tượng”, không phảikhông vận động, không mâu thuẫn mà là trong quá trình vĩnh viễn của vận động,của sự nảy sinh mâu thuẫn và của sự giải quyết mâu thuẫn đó”13
Mâu thuẫn trong quá trình nhận thức được biểu hiện trong mối quan hệ giữachất và lượng Nếu như chất là tính qui định khách quan của sự vật, là tổng hợp
13 13 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.208.
Trang 15hữu cơ của các yếu tố, thuộc tính cấu thành, làm cho sự vật là nó, khác với các sựvật khác, thì lượng có xu hướng luôn luôn thay đổi, để đến giới hạn, thông quabước nhảy, làm thay đổi sự vật Đó chính là “sự gián đoạn của tính tiệm tiến” của
sự vật được phản ánh vào trong đầu có con người
Mâu thuẫn trong quá trình nhận thức được biểu hiện trong mối quan hệ giữacái khẳng định và cái phủ định, giữa chân lý và sai lầm, giữa cái cũ và cái mới Quátrình nhận thức của con người đi từ sai lầm đến chân lý, rồi lại từ chân lý đến sailầm V.I Lênin cho rằng: “Nhận thức của con người không phải là (respectivekhông đi theo) một đường thẳng, mà là một đường cong đi gần vô hạn đến một loạtnhững vòng tròn, đến một vòng xoáy ốc Bất cứ đoạn nào, khúc nào, mảnh nào củađường cong ấy cũng có thể chuyển hóa (chuyển hóa một cách phiến diện) thànhmột đường thẳng độc lập, đầy đủ, đường thẳng này (nếu chỉ thấy cây không thấyrừng) sẽ dẫn đến vũng bùn, đến chủ nghĩa thày tu”14
4) Quan điểm biện chứng duy vật về chân lý
a) Khái niệm chân lý
Chân lý là tri thức có nội dung phù hợp với hiện thực khách quan và đượcthực tiễn kiểm nghiệm
Chân lý là kết quả của quá trình con người nhận thức thế giới Vì vậy, chân
lý cũng được hình thành và phát triển từng bước phụ thuộc vào sự phát triển của sựvật khách quan, vào điều kiện lịch sử - cụ thể của nhận thức, vào hoạt động thựctiễn và hoạt động nhận thức của con người Không nên coi chân lý là tri thức cuốicùng về thế giới, bản thân chân lý là một quá trình như VI.Lênin đã nhận xét: “Sựphù hợp giữa tư tưởng và khách thể là một quá trình Tư tưởng (=con người) khôngnên hình dung chân lý dưới dạng một sự đứng im chết cứng, một bức tranh (hìnhảnh) đơn giản, nhợt nhạt (lờ mờ), không khuynh hướng, không vận động…”15
b Các tính chất của chân lý
Mọi chân lý đều có tính khách quan, tính cụ thể, tính tuyệt đối và tính tươngđối
- Tính khách quan của chân lý (hay chân lý là khách quan), nghĩa là tuy chân
lý là tri thức, thuộc về bộ não của con người nhưng nội dung của nó phản ánh thếgiới khách quan, không phụ thuộc vào con người và loài người V.I.Lênin đã phântích “Khoa học tự nhiên không cho phép người ta nghi ngờ rằng khẳng định củakhoa học đó về sự tồn tại của quả đất trước khi có loài người là một chân lý Đấy là
1414 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.385.
15 15 Lênin toàn tập, tập 29 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.207
Trang 16một điều hoàn toàn có thể thừa nhận được theo quan điểm của lý luận duy vật vềnhận thức: cái được phản ánh thì tồn tại không phụ thuộc vào cái phản ánh (thế giớibên ngoài tồn tại không phụ thuộc vào ý thức), đó là tiền đề cơ bản của chủ nghĩaduy vật Sự khẳng định của khoa học tự nhiên rằng quả đất có trước khi có loàingười, là một chân lý khách quan”16
Chủ nghĩa duy vật liên hệ chặt chẽ với việc thừa nhận chân lý khách quan,nếu phủ nhận chân lý khách quan thì nhất định sẽ dẫn tới thuyết không thể biết vàchủ nghĩa chủ quan Vì vậy, “là người duy vật, có nghĩa là thừa nhận chân lý kháchquan”17
Chủ nghĩa duy vật biện chứng nhấn mạnh tính khách quan của chân lý cónghĩa là thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới và sự phản ánh thế giới đóvào trong bộ óc con người Nội dung mà chân lý phản ánh thuộc về thế giới kháchquan, chân lý chỉ có ở con người, nhưng nội dung của chân lý lại không lệ thuộcvào con người mà chỉ lệ thuộc vào sự vật khách quan được chân lý đó phản ánh
- Tính cụ thể của chân lý (hay chân lý là cụ thể)
Chân lý đạt được trong quá trình nhận thức bao giờ cũng gắn với một lĩnhvực cụ thể của hiện thực và được phát triển trong những điều kiện, hoàn cảnh cụthể đó Vì vậy, triết học Mác – Lênin khẳng định: “không có chân lý trừu tượng,chân lý bao giờ cũng cụ thể”18
Chân lý là cụ thể bởi vì đối tượng mà chân lý phản ánh bao giờ cũng tồn tạimột cách cụ thể, trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể với những quan hệ cụ thể
Vì vậy, bất kì chân lý nào cũng phải gắn với điều kiện lịch sử - cụ thể Nếu thoát lykhỏi điều kiện lịch sử - cụ thể thì cái vốn là chân lý sẽ không còn là chân lý nữa
Nguyên lý tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa phương pháp luận quan trọngtrong nhận thức và thực tiễn Nguyên lý này đòi hỏi phải có quan điểm lịch sử - cụthể khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng V.I.Lênin khẳng định: Bản chất, linhhồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể Quan điểmnày đòi hỏi chúng ta phải chú ý đến điều kiện lịch sử - cụ thể trong nhận thức, phảixuất phát từ điều kiện cụ thể của từng quốc gia, từng dân tộc, từng địa phương khivận dụng lý luận, tránh giáo điều, dập khuôn, máy móc Việc vận dụng nhữngnguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Namđòi hỏi phải xuất phát từ điều kiện lịch sử - cụ thể của đất nước để vận dụng sángtạo Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách
16 16 Lênin toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.143.
17 17 Lênin toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.155.
18 18 Lênin toàn tập, tập 8 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.486.
Trang 17mạng và khoa học của nó và biết vận dụng đúng đắn, phù hợp với điều kiện nước
ta
- Tính tuyệt đối và tính tương đối của chân lý
Con người đạt tới chân lý trong quá trình vận động vô tận của nhận thức thếgiới khách quan với cả một chuỗi những sự trừu tượng, những sự hình thành cáckhái niệm, quy luật Những khái niệm này bao quát một cách tương đối, gần đúngvới những quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn vận động và phát triển, tạonên một bức tranh khoa học về thế giới khách quan
Nhưng con người nhận thức chân lý khách quan như thế nào? Có thể nhậnthức được một cách tức khắc, toàn bộ, tuyệt đối, vô điều kiện hay chỉ gần đúng, cóđiều kiện? Trả lời câu hỏi đó tức là phải xem xét quan hệ giữa tính tuyệt đối và tínhtương đối của chân lý – còn được gọi là chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối
Chân lý tuyệt đối là tri thức phản ánh đúng, đầy đủ, về hiện thực khách quan
và được thực tiễn kiểm nghiệm
Chân lý tương đối là tri thức phản ánh đúng nhưng chưa đầy đủ về hiện thựckhách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm
Mối quan hệ giữa chân lý tuyệt đối và chân lý tương đối biểu hiện mối quan
hệ biện chứng giữa quá trình vô tận của sự nhận thức thế giới khách quan của loàingười với khả năng và kết quả nhận thức có hạn ở từng thời điểm cụ thể của cánhân Mối quan hệ này đã được Ăngghen giải thích khi phân tích mâu thuẫn giữatính “tối cao” và “không tối cao” của tư duy con người “Tính tối cao của tư duy chỉđược thực hiện trong một loạt người tư duy cực kỳ không tối cao; nhận thức cóquyền tuyệt đối nắm chân lý thì được thực hiện trong một loạt những sai lầm tươngđối; cả hai đều không thực hiện được đầy đủ bằng cách nào khác ngoài cách thôngqua đời sống dài vô tận của nhân loại”19 Mâu thuẫn này chỉ có thể được giải quyết
“trong quá trình tiến lên vô tận, trong sự nối tiếp trên thực tế và vô hạn – ít nhất làđối với chúng ta – của các thế hệ loài người Theo ý nghĩa đó thì tư duy của conngười vừa là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con ngườivừa là vô hạn vừa là có hạn Tối cao và vô hạn là xét theo bản tính, sứ mệnh, khảnăng và mục đích lịch sử cuối cùng; không tối cao và có hạn là xét theo sự thựchiện riêng biệt và thực tế trong mỗi một thời điểm nhất định”20
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì “theo bản chất của nó,
tư duy của con người có thể cung cấp và đang cung cấp cho chúng ta chân lý tuyệtđối mà chân lý này chỉ là tổng số những chân lý tương đối Mỗi giai đoạn phát triển
19 19 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.127.
20 20 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 20 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 Tr.127
Trang 18của khoa học lại đem thêm những hạt mới vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối,nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là tương đối, khi thì
mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tuy theo sự tăng tiến của tri thức”21 Sở dĩ như vậy vìthế giới khách quan là vô cùng tận, nó biến đổi, phát triển không ngừng, không cógiới hạn, tận cùng; còn nhận thức của từng con người, từng thế hệ lại luôn bị hạnchế bởi điều kiện lịch sử khách quan và bởi năng lực chủ quan
Tuy nhiên, việc thừa nhận tính tương đối của chân lý ở đây không loại trừviệc chấp nhận chân lý tuyệt đối Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng, trong tính tương đối của chân lý vẫn chứa đựng một phần, một yếu tố củachân lý tuyệt đối V.I Lênin viết: “Chân lý tuyệt đối được cấu thành từ tổng sốnhững chân lý tương đối đang phát triển; chân lý tương đối là những phản ánhtương đối đúng của một khách thể tồn tại độc lập đối với nhân loại; những phảnánh ấy ngày càng trở nên chính xác hơn; mỗi chân lý khoa học, dù là có tính tươngđối, vẫn chứa đựng một yếu tố của chân lý tuyệt đối”22
Sự phân biệt giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối đã được V.I Lêninphân tích: “Nó chính vừa đủ “không xác định” để ngăn, ngừa khoa học trở thànhmột giáo điều theo nghĩa xấu của từ đó, một vật chất, ngưng đọng, cứng đờ, nhưngđồng thời nó lại vừa đủ “xác định” để phân rõ ranh giới dứt khoát và kiên quyếtnhất với chủ nghĩa tín ngưỡng và thuyết bất khả tri, với chủ nghĩa duy tâm triết học
và thuyết ngụy biện của các đồ đệ của Hium và Cantơ”23
Quan niệm đúng đắn về sự thống nhất biện chứng giữa chân lý tuyệt đối vàchân lý tương đối có ý nghĩa quan trọng trong việc phê phán và khắc phục nhữngcực đoan sai lầm trong nhận thức và hành động Nếu cường điệu chân lý tuyệt đối,
hạ thấp chân lý tương đối sẽ rơi vào quan điểm siêu hình, chủ nghĩa giáo điều, bệnhbảo thủ trì trệ; ngược lại, nếu cường điệu chân lý tương đối, hạ thấp chân lý tuyệtđối sẽ rơi vào chủ nghĩa tương đối và từ đó đi đến chủ nghĩa chủ quan, chủ nghĩaxét lại, thuật ngụy biện, thuyết hoài nghi và thuyết không thể biết
III NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI
1 Tầm quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh sự thống nhất giữa lý luận thực tiễn là một nguyên
tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
21 21 Lênin toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.158.
22 22 Lênin toàn tập, tập 18 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.383
23 23 Lênin toàn tập, tập 8 Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Tr.159-160.
Trang 19thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.Quá trình phát triển của lịch sử đã chỉ rõ, cội nguồn của những đột phá, nhữngbước tiến vượt bậc của xã hội loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực Lýluận lại có nguồn gốc, cơ sở, động lực từ thực tiễn và lấy thực tiễn làm tiêu chuẩncủa chân lý Chính thực tiễn đã đặt ra vô vàn những vấn đề mà lý luận phải giải đáp
và chỉ trên cơ sở đó, lý luận mới thực sự giữ vai trò dẫn đường
Nhận thức và giải quyết đúng mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễnluôn là đòi hỏi cấp bách và là một phương thức để mang đến thành công cho hoạtđộng của mỗi cá nhân, của tổ chức và của một chính Đảng Dùng lý luận làm kimchỉ nam cho hoạt động thực tiễn, tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận chẳngnhững là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề vướng mắc trên con đường đi đến mụctiêu đã định mà còn là phương tiện chủ yếu để khắc phục, ngăn ngừa các khuynhhướng tư duy sai lầm của bệnh chủ quan duy ý chí, bệnh kinh nghiệm và bệnh giáođiều Những căn bệnh này biểu hiện ra bên ngoài thông qua hoạt động thực tiễn củacon người làm cản trở, triệt tiêu sự phát triển, thậm chí dẫn đến những thất bại màđối với một chính Đảng, sự thất bại đó có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng
2 Phạm trù thực tiễn và phạm trù lý luận
a Phạm trù thực tiễn
Thực tiễn là một phạm trù nền tảng, cơ bản không chỉ của lý luận nhận thức
Mác-xít mà còn là của toàn bộ triết học Mác-Lênin nói chung
- Quan điểm của triết học trước Mác
Các nhà triết học triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề thực tiễn với
những quan niệm khác nhau:
+ Ph.Bê-Cơn (1561-1626), người sáng lập chủ nghĩa duy vật Anh cho rằng,
nhiệm vụ của triết học là phải tìm ra con đường nhận thức giới tự nhiên, muốn vậyphải kiên quyết chống chủ nghĩa kinh viện và chủ nghĩa kinh nghiệm; nhận thứcphải xuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm để tìm ra mối quan hệ nhân quả,phát hiện và kiểm tra chân lý
Như vậy, Bê-cơn là người đầu tiên thấy được vai trò của thực tiễn, của thựcnghiệm khoa học trong quá trình nhận thức, quá trình hình thành tri thức
+ Đêni Đi-đơ-rô (1713-1784), nhà duy vật tiêu biểu của triết học khai sáng;
người chủ biên bộ bách khoa toàn thư (1751-1789) của Pháp cho rằng: “Phươngpháp triết lý đúng đắn đã và sẽ phải là ở chỗ sao cho kiểm tra trí tuệ bằng trí tuệ,sao cho bằng trí tuệ và thực nghiệm kiểm soát các cảm tính, bằng nhận thức giới tự
Trang 20nhiên, nghiên cứu giới tự nhiên để sáng chế các công cụ, dùng các công cụ để tìmtòi và hoàn thiện các tri thức”24.
Như vậy, Đi-đơ-rô hiểu chưa đầy đủ về thực tiễn, cho rằng thực tiễn là hoạtđộng thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
+ L.Phoiơbắc (1804-1872), nhà triết học duy vật nổi tiếng Đức, cho rằng chỉ
có lý luận mới thực sự là hoạt động chân chính của con người, còn thực tiễn mang
tính chất con buôn bẩn thỉu
+ Hêghen (1770-1831), nhà triết học duy tâm Đức, cho rằng bằng thực tiễn,
chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóa bản thân mình trong quan hệ với thế giớibên ngoài Nhưng ở Hêghen, thực tiễn chỉ là khái niệm, tư tưởng thực tiễn, chứkhông phải bản thân thực tiễn với tư cách là hoạt động vật chất
Chủ nghĩa duy vật trước Mác, nhìn chung chưa thấy được vai trò của thực tiễnđối với nhận thức C.Mác nhận xét: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩaduy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc - là sự vật, hiện thực,cái cảm giác, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan,chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn”25 Tuy nhiên, đến thời cận đại, các ngành khoa học thực nghiệm ra đời - mỗi chân
lý phải được chứng minh bằng thực nghiệm - đã thực sự tạo ra một cuộc cách mạngtrong nhận thức luận, và là một trong những tiền đề cho quan điểm thực tiễn củatriết học Mác
- Quan điểm triết học Mácxít về thực tiễn
Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội
của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người
Hoạt động thực tiễn có những đặc trưng sau:
Một là, thực tiễn là hoạt động vật chất cảm tính Đó là những hoạt động mà con
người phải dùng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượngvật chất theo những hình thức và mức độ khác nhau tùy mục đích của con người đểlàm biến đổi chúng Kết quả của quá trình này là tạo ra những sản phẩm thỏa mãnnhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và cộng đồng
Hai là, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội Nghĩa là, thực tiễn là hoạt động của
con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người và trải quanhững giai đoạn lịch sử nhất định, bị chi phối bởi những điều kiện lịch sử - cụ thểnhất định cả về đối tượng, phương tiện và mục đích hoạt động
24 24 Đ.Đi-đơ-rô các tác phẩm,T.VII,M.1939 Tr.96(tiếng Nga)
25 25 C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 3 Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004 Tr.9.
Trang 21Ba là, thực tiễn là hoạt động có tính mục đích - nhằm trực tiếp cải biến tự nhiên
và xã hội phục vụ con người Tính mục đích đó mặc dù phải thông qua từng cánhân, từng nhóm người, song mỗi cá nhân, mỗi nhóm người lại không thể tách rờicác quan hệ xã hội Xã hội quy định mục đích, đối tượng, phương tiện và lực lượngtrong hoạt động thực tiễn
Như vậy hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng bản chất của con người;được tiến hành một cách tất yếu khách quan trong các quan hệ xã hội; là hoạt động
mang tính năng động, sáng tạo; là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã
hội loài người.
Hoạt động thực tiễn có ba hình thức cơ bản:
Một là, hoạt động sản xuất vật chất, là hình thức hoạt động cơ bản đầu tiên, có
vai trò quyết định đối với các dạng hoạt động khác của hoạt động thực tiễn Nó làhoạt động nguyên thủy nhất, tồn tại một cách khách quan, thường xuyên trong đờisống con người và nó tạo ra những của cải thiết yếu có tính chất quyết định sự sinhtồn và phát triển của con người và xã hội loài người
Hai là, hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người khác
nhau trong xã hội trực tiếp tác động vào xã hội nhằm cải biến các quan hệ xã hội đểthúc đẩy xã hội phát triển theo hướng tiến bộ
Ba là, hoạt động thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của thực tiễn,
được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần giống hoặc lắp lạinhững trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và pháttriển của đối tượng nghiên cứu
Các hình thức của hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối, nhưngthống nhất với nhau, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích; chúng hỗ trợ,ảnh hưởng lẫn nhau Trong mối quan hệ đó thì hoạt động sản xuất vật chất là cơbản nhất tác động sâu sắc, toàn diện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trungtâm chủ yếu của con người
Trên cơ sở các hình thức thực tiễn cơ bản, một số lĩnh vực của thực tiễn nhưhoạt động giáo dục, hoạt động nghệ thuật.v.v…cũng được hình thành và cũng tácđộng vào quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Đó là những hình thức thực tiễnphát sinh, hình thức đặc thù của thực tiễn
b Phạm trù lý luận
Theo Từ điển triết học: “ Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý
thức của con người, là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ thống tương