1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề về PHÉP BIỆN CHỨNG DUY vật TRONG tác PHẨM “CHỐNG ĐUY RINH” của c mác và PH ĂNG GHEN ý NGHĨA đối với CUỘC đấu TRANH TRONG LĨNH vực tư TƯỞNG lý LUẬN ở nước TA

18 94 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 106 KB
File đính kèm PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT.rar (25 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác phẩm “Chống Đuyrinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác. Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học. Sự ra đời của tác phẩm do nhu cầu tất yếu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm tiểu tư sản phản động. V.I. Lênin lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuyrinh” của C. Mác và Ph. Ăngghen là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích”, là một trong ba tác phẩm “gối đầu giường” của người công nhân có tri thức và là tác phẩm kinh điển đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại.

Trang 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY-RINH” CỦA C MÁC VÀ PH ĂNG GHEN Ý NGHĨA ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH TRONG LĨNH VỰC TƯ

TƯỞNG LÝ LUẬN Ở NƯỚC TA

-MỞ ĐẦU

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác Nội dung của tác phẩm bao gồm cả ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kinh tế chính trị học và lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học Sự ra đời của tác phẩm do nhu cầu tất yếu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm tiểu tư sản phản động V.I Lênin - lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XX cho rằng, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của

C Mác và Ph Ăng-ghen là “một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú

và bổ ích”, là một trong ba tác phẩm “gối đầu giường” của người công nhân

có tri thức và là tác phẩm kinh điển đã đi vào kho tàng lý luận của nhân loại Trong phạm vi của bài thu hoạch, tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu một số vấn

đề về phép biện chứng duy vật từ dó rút ra ý nghĩa của vấn đề đối với cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận ở nước ta hiện nay

I HOÀN CẢNH RA ĐỜI, ĐẶC ĐIỂM, KẾT CẤU VÀ NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN CỦA TÁC PHẨM

1 Hoàn cảnh ra đời và một số đặc điểm cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” được C Mác và Ph Ăng-ghen viết từ nửa sau thế kỷ XIX, khi mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽ ở hầu hết các nước châu Âu Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không chỉ bằng sức mạnh nội tại của nó mà còn bằng con đường xâm lược Cũng trong giai đoạn này, cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp vô sản và phong trào

Trang 2

công nhân cũng phát triển trở thành một lực lượng quốc tế.Tuy nhiên sau thất bại của Công xã Pa-ri (1789) có một bộ phận của giai cấp công nhân quốc tế chịu ảnh hưởng của các học thuyết xét lại (Revisionism) và cơ hội (Opportunism) Các học thuyết này đã đưa ra những nội dung giải thích mới

về chủ nghĩa Mác, xa rời với những luận điểm cơ bản của học thuyết này Trong đó có những vấn đề thuộc về thế giới quan, phương pháp luận, đặc biệt

là phương pháp luận đấu tranh cách mạng; mục đích của họ là nhằm bác bỏ chủ nghĩa Mác

Một trong những học giả đại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản phản động có ảnh hưởng nhất là Oi-ghen Các Đuy-rinh (1833-1921), giáo sư cơ học trường Đại học Béc-lin Ông đã tuyên bố về những khám phá mới của mình Thực chất triết học của ông ta chỉ là chủ nghĩa chiết trung, là sự dung nạp vô nguyên tắc giữa chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật siêu hình tầm thường với chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa vô chính phủ trong chính trị Bằng các luận điểm của mình, ông đã công kích gay gắt chủ nghĩa Mác, cho rằng chủ nghĩa Mác là “cũ rích”, là “phi khoa học”, là “sự nhắc lại chủ nghĩa G.Ph.Hêghen và làm mới chủ nghĩa L.Phoiơbắc” Theo Đuy-rinh, chỉ có tin

và đi theo con đường mà ông ta vạch ra thì phong trào công nhân mới rũ bỏ được “cuộc đời đau khổ” của họ Điều này đã gây nên những ảnh hưởng tiêu cực, góp phần làm “tiêm nhiễm những tư tưởng độc hại” vào phong trào công nhân nói chung Đặc biệt một số đảng viên chủ chốt của đảng Đảng dân chủ

-xã hội Đức còn chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghĩa Đuy-rinh; họ đã tỏ thái

độ hoan nghênh Đuy-rinh và đề xuất ý định thay thế chủ nghĩa Mác bằng thứ chủ nghĩa theo quan điểm chiết trung chính trị của Đuy-rinh Lãnh đạo của Đảng dân chủ - xã hội Đức đã nhận thức được vấn đề và đã đề nghị Ph.Ăng-ghen viết bài chống lại Đuy-rinh nhằm ngăn chặn khuynh hướng chia rẽ trong nội bộ đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác

Trang 3

Việc phê phán và vạch trần quan điểm sai lầm của Đuy-rinh được C Mác và Ph Ăng-ghen đặc biệt coi trọng; Ph.Ăng-ghen cho rằng cần phải công khai nêu lên quan điểm chính kiến của chủ nghĩa Mác nhằm chống lại quan điểm sai lầm, cũng như sự ngạo mạn của Đuy-rinh và những người theo quan điểm của ông ta Vì thế, Ph Ăng-ghen đã dừng “một số công việc quan trọng”để thực hiện ý định của mình Thông qua cuộc đấu tranh đó Ph Ăng-ghen đã bảo vệ và tiếp tục phát triển học thuyết của mình Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” đã được Ph Ăng-ghen viết trong suốt hai năm, từ cuối tháng 5 năm

1876 đến đầu tháng 7 năm 18781, tác phẩm “Chống Đuy-rinh” đã được đăng trên báo “Vorwarts”2 từ ngày 03/01/1877 đến ngày 07/7/1878 Lần đầu tiên, toàn bộ tác phẩm với lời tựa của Ph Ăng-ghen đã được in thành một cuốn sách riêng bằng tiếng Đức ở Lai-pxích vào năm 1878, dưới nhan đề “Ông Oi-ghen Đuy-rinh đảo lộn khoa học Triết học Kinh tế chính trị học Chủ nghĩa

xã hội”, nhưng ngay sau đó tác phẩm này đã bị chính quyền Đức đương thời cấm lưu hành

Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh” có những vấn đề được trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành tư tưởng có tính kinh điển như: phép biện chứng duy vật hoặc có những vấn đề được giải quyết một phần như: vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồn tại, đạo đức, pháp quyền… Quá trình viết tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã dẫn chứng các chất liệu sống là thành quả của khoa học, nhất là khoa học tự nhiên, để tăng sức thuyết phục cho quan điểm của mình Đây là một công việc rất khó khăn và phức tạp giống như “ngoạm vào cái quả chua… mà một khi đã ngoạm vào thì buộc phải nuốt cho kỳ hết Hơn nữa, nó không những rất chua mà lại còn rất to”3 Mặt khác, nội dung đấu tranh chống lại các quan điểm sai lầm của Đuy-rinh có phạm vi rất rộng, như Ph

Ăng-1 C Mác và Ph Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr.896.

2 Tờ báo “Vorwarts” (“Tiến lên”) là cơ quan trung ương thống nhất của Đảng Dân chủ - xã hội Đức, được xuất bản thay cho các tờ báo “Volksstaat” (“Nhà nước nhân dân”) và “Neuer Sozialdemokrat” (“Người dân chủ - xã hội mới”) đã có trước đó, theo quyết định tại Đại hội Gô-ta của Đảng này được tổ chức vào năm 1876.

3 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.16.

Trang 4

ghen đã mô tả: “Hệ thống của ông Đuy-rinh được phê phán trong quyển sách này bao trùm một lĩnh vực lý luận rất rộng; tôi buộc phải dõi theo ông khắp nơi và đem những quan điểm của tôi ra đối lập lại những quan điểm của ông

ta Vì vậy, sự phê phán tiêu cực đã trở thành tích cực; cuộc bút chiến chuyển thành một sự trình bày ít nhiều có hệ thống về phương pháp biện chứng và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa mà Mác và tôi đã đại biểu - và trình bày như thế trên một loạt khá nhiều lĩnh vực…”4

2 Kết cấu và những tư tưởng cơ bản của tác phẩm

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” được dịch sang tiếng Việt từ nguyên bản bằng tiếng Nga và in trong bộ “Toàn tập C Mác và Ph Ăng-ghen”, tập 20, do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1994, với tổng số 444 trang từ trang 07 đến trang 450 kết cấu gồm lời tựa cho ba lần xuất bản (I, II, III), lời

mở đầu (I: “Nhận xét chung” II: “Ông Đuy-rinh hứa những gì”) và phần ba là phần chính, trong phần này C Mác và Ph Ăng-ghen trình bày ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác: Triết học, Kinh tế chính trị học và Chủ nghĩa xã hội khoa học

Trong “Lời nói đầu”, Ph Ăng-ghen chứng minh sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác; phân tích phép biện chứng duy vật và chỉ ra

sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật với phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen Ph Ăng-ghen đã tóm tắt sự phát triển của triết học và chỉ ra tính tất yếu của sự hình thành chủ nghĩa Mác Ngoài ra, ở phần này, Ph Ăng-ghen cũng đánh giá sự đóng góp của nhiều thế hệ triết gia vào sự phát triển của tư duy triết học nhân loại và cho rằng, sự phát triển của khoa học tự nhiên và thực tiễn của cuộc đấu tranh giai cấp là điều kiện của sự phát triển triết học

Phần thứ nhất: Triết học gồm 12 chương, từ chương III đến chương

XIV (từ trang 53 đến trang 206) Ph Ăng-ghen đã làm sáng tỏ nội dung chủ

Trang 5

yếu của triết học Mác Ông đã phân tích vấn đề cơ bản của triết học, tính thống nhất vật chất của thế giới, các phương thức tồn tại của vật chất, lý luận nhận thức, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và nêu lên một số quan niệm duy vật về lịch sử Cụ thể: Thông qua phê phán các quan điểm sai lầm của Đuy-rinh về các vấn đề không gian, thời gian; thiên thể học, vật lý học, hoá học; giới hữu cơ, Ph Ăng-ghen đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng Ngoài ra Ph Ăng-ghen còn tập trung bàn về các vấn đề đạo đức và pháp quyền, phê phán Đuy-rinh về quan điểm “chân lý vĩnh cửu”, bình đẳng, tự do và tất yếu Trình bày các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học, gồm 10 chương, từ chương I đến

chương X(từ trang 207 đến trang 355) Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh đảo lộn kinh tế chính trị học”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 7 đến tháng 12/1877 Với tư tưởng chính là phân tích những vấn đề cơ bản của kinh tế chính trị học theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, thông qua đó, C Mác và Ph Ăng-ghen còn nêu lên những vấn đề về triết học trong lĩnh vực xã hội

Phần thứ ba: Chủ nghĩa xã hội, gồm 05 chương, từ chương I đến

chương V (từ trang 356 đến trang 450) Các chương của phần này đã được đăng tải dưới nhan đề: “Ông Đuy-rinh đảo lộn chủ nghĩa xã hội”, làm phụ lục khoa học cho báo “Vorwarts” từ tháng 5 đến tháng 7/1878 Tư tưởng chính của phần này là chỉ rõ lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học và cho rằng: chủ nghĩa xã hội khoa học là sự biểu hiện về lý luận của phong trào vô sản, đồng thời, ông đã phác thảo những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa cộng sản tương lai Ph Ăng-ghen đã phân tích sâu sắc biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, mâu thuẫn đó biểu hiện về mặt xã hội là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản; ông cho rằng, chỉ có thể giải quyết mâu thuẫn

Trang 6

cơ bản này bằng con đường cách mạng vô sản Giai cấp vô sản sử dụng bạo lực cách mạng để giành chính quyền về tay mình Một khi chế độ tư bản chủ nghĩa bị xoá bỏ và chế độ xã hội chủ nghĩa được xây dựng, thì con người mới thật sự có tự do, hạnh phúc, mới thật sự làm chủ tự nhiên và xã hội, mới nhảy vọt từ “vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do”

II CÁC VẤN ĐỀ VỀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG TÁC PHẨM “CHỐNG ĐUY-RINH” CỦA C MÁC VÀ PH ĂNG-GHEN

Trong tác phẩm, Ph Ăng-ghen đã đề cập đến hầu hết các vấn đề về phép biện chứng như nội dung hai nguyên lý, 3 quy luật cơ bản và các quy luật không cơ bản của phép biện chứng duy vật Đồng thời, chỉ ra tính khách quan

và tính phổ biến của những quy luật đó

1.1 Về lịch sử của phép biện chứng duy vật

Trước hết, Ph Ăng-ghen coi phép biện chứng là hình thức cao nhất của

tư duy khoa học và khẳng định sự phát triển của nó luôn gắn liền với lịch sử phát triển của tư duy nhân loại Đề cập đến phép biện chứng cổ đại, Ph Ăng-ghen cho rằng: “Những nhà triết học Hy Lạp cổ đại đều là những nhà biện chứng tự phát, bẩm sinh, và A-ri-xtốt bộ óc bách khoa nhất trong các nhà triết học ấy, cũng đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng”5 Ph Ăng-ghen cũng chỉ ra sự đối lập giữa phép biện chứng với phép siêu hình và chỉ ra hạn chế đặc thù của triết học duy vật siêu hình trong thế kỷ XVII, XVIII, mà người đầu tiên có quan niệm theo phương pháp này là Bê-cơn và Lốc-cơ Ph Ăng-ghen viết: “Đối với nhà siêu hình học, thì những sự vật và phản ánh của chúng vào tư duy, tức là những khái niệm, đều là những đối tượng nghiên cứu riêng biệt, cố định, cứng đờ, vĩnh viễn, phải được xem xét cái này sau cái kia, cái này độc lập với cái kia”6

5 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.34.

Trang 7

Đánh giá phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, Ph Ăng-ghen đánh giá rất cao công lao cống hiến của Hê-ghen trong tiến trình lịch sử triết học nói chung, lịch sử phép biện chứng nói riêng, và trên thực tế, nhiều nội dung thuộc về phép biện chứng được Hê-ghen trình bày đã trở thành “cái hạt nhân hợp lý” đối với sự phát triển của tư duy triết học nhân loại, được C Mác

và Ph Ăng-ghen trực tiếp kế thừa, hoàn thiện Ph Ăng-ghen cho rằng, Hê-ghen là người đem đến cách hiểu mới về khái niệm phép biện chứng, vượt qua giới hạn chủ quan ban đầu để đạt tới ý nghĩa phổ quát của một phương pháp triết học, một học thuyết xem xét các sự vật, hiện tượng trong mối liên

hệ, tác động, chuyển hoá, thâm nhập và chế ước lẫn nhau Tuy nhiên Ph Ăng-ghen cũng cho rằng phép biện chứng Hê-Ăng-ghen còn tồn tại những hạn chế cần được khắc phục, Ph Ăng-ghen viết: “Mặc dù Hê-ghen, cũng như Xanh-xi-mông, là một khối óc bách khoa nhất của thời đại bấy giờ, song dù sao ông vẫn bị hạn chế, một là bởi những giới hạn không thể tránh được của những tri thức của bản thân ông, và hai là bởi những tri thức và những quan niệm của thời đại ông… Ngoài ra còn có thêm một điều thứ ba nữa Hê-ghen là một nhà duy tâm, nghĩa là đối với ông thì những tư tưởng trong đầu óc của chúng ta không phải là những phản ánh ít nhiều trừu tượng của những sự vật và quá trình hiện thực, mà ngược lại, những sự vật và sự phát triển của chúng, đối với Hê-ghen, chỉ là những phản ánh thể hiện cái “ý niệm” nào đó tồn tại ở một nơi nào đó ngay trước khi có thế giới”7 Chính vì những hạn chế đó, cho nên: “Mặc dù Hê-ghen đã nắm được một cách đúng đắn và thiên tài một số mối liên hệ riêng biệt giữa các hiện tượng… Hê-ghen cũng không tránh khỏi

gò ép, giả tạo, hư cấu, tóm lại là bị xuyên tạc Hệ thống Hê-ghen, với tính cách là một hệ thống như vậy, là một cái thai đẻ non khổng lồ, nhưng đó cũng

là cái thai đẻ non cuối cùng trong loại của nó”8 Như vậy, việc chỉ ra bản chất

“sai lầm” của chủ nghĩa duy tâm Đức, cũng như mặt tích cực và mặt hạn chế

7 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.40, 41.

8 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.41.

Trang 8

của nó là con đường đưa C Mác và Ph Ăng-ghen đến với chủ nghĩa duy vật Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác ra đời có sự kế thừa “hạt nhân hợp lý” của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hê-ghen với tư cách là một tiền đề lý luận trực tiếp Tuy nhiên phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác hoàn toàn khác, thậm chí còn đối lập với nó, như C Mác đã thừa nhận Trong tác phẩm này, Ph Ăng-ghen đã khẳng định: “Có thể nói rằng, hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử”9 Qua việc phân tích tiến trình lịch sử của phép biện chứng, các ông đã chỉ ra bản chất của phép biện chứng duy vật và khẳng định

đó là phương pháp tư duy khoa học, có khả năng đem lại cho con người tính

tự giác cao trong hoạt động thực tiễn

1.2 Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật trong tác phẩm

Về nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý phát triển

Tác phẩm “Chống Đuy-rinh” của C Mác và Ph Ăng-ghen đã chỉ ra những vấn đề bản chất của mối liên hệ phổ biến, về vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Sự ra đời của phép biện chứng duy vật là cuộc cách mạng trong phương pháp tư duy triết học, là phương pháp khác về chất so với các phương pháp tư duy trước đó Theo đó phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật với phương pháp biện chứng và giữa lý luận nhận thức với logic biện chứng

“Đối với phép biện chứng là phương pháp mà điều căn bản là nó xem xét những sự vật và những phản ánh của chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau giữa chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và

sự tiêu vong của chúng”10 Ph Ăng-ghen đã đưa ra định nghĩa về phép biện chứng như sau: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những

9 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.22.

Trang 9

quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”11

Nguyên lý về phát triển của phép biện chứng duy vật cũng phản ánh đặc trưng phổ quát nhất của thế giới Xem xét các sự vật, hiện tượng trong sự vận động và phát triển không ngừng theo những quy luật vốn có của chúng.Đồng thời khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới Do đó Ph Ăng-ghen đã gọi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển Ông khẳng định: “Như vậy, một quan niệm đúng đắn về vũ trụ, về sự phát triển của vũ trụ và sự phát triển của loài người, cũng như về sự phản ánh của sự phát triển ấy vào trong đều óc con người chỉ có thể có được bằng con đường biện chứng, với sự chú ý thường xuyên đến những tác động qua lại phổ biến giữa sự phát sinh và sự tiêu vong, giữa sự biến đổi tiến bộ và sự biến đổi tụt lùi”12

Để khái quát bức tranh toàn cảnh chằng chịt những mối liên hệ của thế giới khách quan Phép biện chứng duy vật xem xét các sự vật, hiện tượng trong những mối liên hệ lẫn nhau của chúng Cho rằng liên hệ phổ biến là đặc trưng phổ quát nhất của thế giới Từ đó xây dựng nên nguyên lý về mối liên

hệ phổ biến Theo nghĩa này, phép biện chứng được hiểu như là khoa học về mối liên hệ phổ biến Nghiên cứu những mối liên hệ, phép biện chứng vạch ra những quy luật phổ biến, mà theo đó, mọi vận động và phát triển đều chịu sự chi phối của chúng

Qua quá trình nghiên cứu, Ph Ăng-ghen còn khái quát các quy luật cơ bản của phép biện chứng, mọi sự vật hiện tượng đều vận động, biến đổi theo các quy luật khách quan Các quy luật này không chỉ phổ biến trong tự nhiên

và xã hội, mà còn được phổ biến cho cả quá trình nhận thức và tư duy

1.2.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

11 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.201.

12 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.39.

Trang 10

Để chứng minh cho tính khách quan và phổ biến của mâu thuẫn, trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh”, Ph Ăng-ghen đã nêu bật luận điểm xuất phát, nền tảng đại ý là: mâu thuẫn là một lực lượng có thực, khách quan; mọi sự vật đều hàm chứa mâu thuẫn Ph Ăng-ghen chưa phân tích nội dung cụ thể của quy luật này, mà chỉ mới đưa ra tư tưởng về tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn Ông viết: “Như vậy là ở đây chúng ta có một mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân các sự vật và các quá trình và có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình”13

Ph Ăng-ghen cho rằng, trong quá trình vận động cũng là quá trình nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn, mâu thuẫn biện chứng trong vận động thể hiện

ở sự đối lập và chuyển hoá giữa vận động và đứng im, ông đã trình bày quan điểm của mình: “Chừng nào chúng ta xem xét các sự vật như là đứng im và không có sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia, thì chắc chắn là chúng ta không thấy được một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”14 “Nhưng tất cả sự đối lập ấy, như chúng ta đã thấy, đều chỉ là tương đối; không có thể tĩnh tuyệt đối, không có sự thăng bằng vô điều kiện Vận động riêng biệt thì có xu hướng thăng bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ sự thăng bằng Cho nên, thể tĩnh và thể thăng bằng ở nơi nào chúng diễn ra thì đều là kết quả của một vận động có hạn nào đó, và hiển nhiên là vận động ấy có thể đo được bằng kết quả của nó… và đi từ kết quả ấy có thể được phục hồi lại nó dưới hình thức này hay hình thức khác”15 Xét về đặc trưng mâu thuẫn của sự vận động, Ph Ăng-ghen cho rằng, bản thân vận động vốn đã là một mâu thuẫn Ông cho rằng: “Bản thân sự vận động đã là một mâu thuẫn; ngay như sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện được, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó

13 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.173.

14 C Mác và Ph Ăng-ghen: Sđd, 1994, t.20, tr.172.

Ngày đăng: 23/12/2021, 22:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w