“Chèng §uy Rinh” hay “¤ng ¥ PAGE 15 mét sè vÊn ®Ò vÒ phÐp biÖn chøng duy vËt trong t¸c phÈm “chèng ®uy rinh cña ¨ng ghen” ý nghÜa ph¬ng ph¸p luËn cña nã ®èi víi thùc tiÔn c¸ch m¹ng trong thêi ®¹i ngµ.
Trang 1một số vấn đề về phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “chống đuy rinh của ăng ghen” ý nghĩa
ph-ơng pháp luận của nó đối với thực tiễn cách mạng
trong thời đại ngày nay.
“Chống Đuy Rinh” hay “Ông Ơ Đuy Rinh đảo lộn khoa học” là tác phẩm nổi tiếng của Ăngghen Tác phẩm này đợc Ăngghen bắt đầu viết từ tháng 9 năm 1976 và hoàn thành vào tháng 6 năm 1978 Tuy ra đời cách đây hơn 100 năm, tác phẩm vẫn là những chỉ dẫn vô giá của Ăngghen trong việc xem xét các sự vật hiện tợng, trong việc đánh giá quá khứ và dự báo tơng lai Hàng loạt vấn đề đợc Ăngghen nêu ra và giải quyết trong “chống Đuy Rinh”
đến nay vẫn thể hiện sức thuyết phục do tính khái quát và tính tổng hợp của những vấn đề đó Tác phẩm “chống Đuy Rinh” đã góp một phần quyết định vào thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong phong trào công nhân lúc bấy giờ cũng
nh trong thời đài ngày nay Đối với cách mạng Việt Nam những vấn đề về phép biện chứng duy vật đợc Ăngghen nêu ra và giải quyết trong “chống Đuy Rinh” càng có ý nghĩa quan trọng quyết định đến thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong giai đoan hiện nay
Tác phẩm “chống Đuy Đuy Rinh” ra đời trong thời điểm chủ nghĩa t bản đã trở thành một hệ thống rộng lớn Chủ nghĩa t bản phát triển không chỉ bằng sức mạnh nôi tại của nó, bằng sự thay đổi trong cơ cấu lực lợng sản xuất và các quan
hệ xã hội mà cả bằng sự xâm chiếm thực dân, đặt ách thống trị lên các dân tộc khác Trớc tình hình đó các học thuyết xét lại và cơ hội sau công xã Pari bắt đầu
đa ra những giải thích mới về chủ nghĩa Mác mà thực chất là xa rời các luận
điểm cơ bản của nó, chủ trơng dung hoà với trật tự xã hội hiện tại, hoặc tìm kiếm một Cơng lĩnh chính trị dựa trên sự thoả hiệp giai cấp nhân danh tiến bộ xã hội
và văn minh Các trào lu triết học phi cổ điển và tôn giáo tiếp tục ảnh hởng đến sinh hoạt tinh thần của giới có học thức ở Pháp; Đức và một số nớc Tây Âu khác Một số học thuyết đã sử dụng các thành quả của khoa học tự nhiên và khoa học lich sử để bác bỏ chủ nghĩa Mác
Oighen Các Đuy Rinh (1833 - 1921), giáo s cơ học trờng đại học Béc Lin, nhà t tởng đại diện cho chủ nghĩa xã hội tiểu t sản phản động, xuất hiện trên sân khấu triết học với tuyên bố về những khám phá mới của mình, đã gây
sự chú ý của các nhà hoạt động chính trị và hoạt động khoa học Thực tế những khám phá mà Đuy Rinh tuyên bố là một loại bài viết vào năm 1975
Trang 2nhằm công kích chủ nghĩa Mác Những quan điểm triết học của Đuy Rinh, theo Ăngghen là sự trộn lẫn một cách chiết trung cả chủ nghĩa duy vật tầm th-ờng, cả chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa duy tâm Điều rất nguy hiểm là sự công kích chủ nghĩa Mác mà Đuy Rinh thực hiện lại tìm đợc sự ủng hộ từ một
số lãnh tụ của Đảng dân chủ - xã hội Đức E Becstanh hoan nghênh Đuy Rinh
và bày tỏ ý định thay thế chủ nghĩa Mác bằng chủ nghĩa xã hội theo phơng án chiết trung chính trị Lãnh tụ A Bê Ben, lúc đầu cũng không nhận diện đầy
đủ hiểm hoạ t tởng này: Trớc tình hình đó, một số ngời bạn của Ăngghen đề nghị ông tiến hành phê phán học thuyết của Đuy Rinh Để ngăn chặn khuynh hớng chia rẽ trong đảng và bảo vệ chủ nghĩa Mác, Ăngghen đã nhận và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này
Nhiệm vụ của “chống Đuy Rinh” là thông qua tranh luận với vị giáo s này về hàng loạt vấn đề triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội để bác bỏ các luận chứng thiếu cơ sở khoa học; bảo vệ và làm sâu sắc thêm các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác Các phần đã đóng góp lớn về mặt lý luận đối với quá trình phổ biến các giá trị của chủ nghĩa Mác vào đời sống, nhất là vào phong trào công nhân quốc tế và các phong trào đấu tranh vì dân chủ và công bằng xã hội, chống xu hớng độc quyền đang hình thành Những vấn đề đợc nêu ra và giải quyết trong “chống Đuy Rinh” không chỉ đóng vai trò định h-ớng lý luận đối với các phong trào công nhân, mà còn tạo nên một chủ nghĩa lạc quan có cơ sở khoa học trong sinh hoạt tinh thần của xã hội lúc đó
Trong tác phẩm “chống Đuy Rinh”, Ăngghen đã trình bày những vấn đề quan trọng nhất của triết học, của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Nhận xét về tác phẩm V.I.Lênin cho rằng “Đó là một cuốn sách có nội dung đặc biệt phong phú và bổ ích” Tác phẩm không dàn trải mà tập trung vào những vấn đề cốt lõi, trong đó có những vấn đề đợc giải quyết một phần (vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tồn tại, đạo đức, pháp quyền, ), có những vấn đề đợc trình bày khá hoàn chỉnh, trở thành t tởng có tính kinh điển (phép biện chứng duy vật) Vì đây là tác phẩm luận chiến nên Ăngghen đã dựa vào những thành quả của khoa học nhất là khoa học tự nhiên để tăng thêm sức thuyết phục cho các quan điểm của mình Ông cho rằng để đứng vững trên diễn đàn t tởng phức tạp cần đọc và hiểu các phát minh mới nhất của khoa học Nhà triết học cần phải là ngời am hiểu sâu rộng các lĩnh vực khác Mặt khác nếu không
đứng vững trên cơ sở thế giới quan và phơng pháp luận khoa học, thì các nhà
Trang 3khoa học có thể rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thờng hoặc chủ nghĩa duy tâm thần bí ngay cả trong việc giải thích về mặt lý luận các phát minh khoa học của họ mà Đuy Rinh là điển hình “Chống Đuy Rinh” nh tên gọi của cuốn sách, trớc hết là chống lại thế giới quan duy tâm và duy vật tầm thờng, phê phán phơng pháp siêu hình, chủ nghĩa cải lơng và chủ nghĩa không tởng chính trị, xác lập phơng pháp biện chứng thống nhất với chủ nghĩa duy vật, đa ra cách hiểu đúng đắn về mối quan hệ giữa triết học và các khoa học cụ thể, giữa triết học và đời sống
Ngoài phần mở đầu, tơng ứng với ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác, cuốn sách gồm ba phần: Triết học, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội khoa học
Trong lời mở đầu, ngoài việc chứng minh sự thống nhất của ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, Ăngghen phân tích phép biện chứng duy vật và sự khác nhau cơ bản giữa nó với phép siêu hình và phép biện chứng duy tâm của Hêghen Từ điển này Ăngghen phân tích toàn bộ các vấn đề còn lại của tác phẩm Ông cũng nêu lên sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội khoa học và chủ nghĩa xã hội không tởng Lời nói đầu dành một phần để đánh giá đóng góp của nhiều thế hệ triết gia và sự phát triển của t duy triết học nhân loại
Phần thứ nhất (triết học): Song song với việc phê phán quan điểm triết học
của Đuy Rinh, Ăngghen làm sáng tỏ nội dung chủ yếu của triết học Mác xít Tác giả phân tích vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề tính thống nhất vật chất của thế giới, các phơng thức tồn tại của vật chất, lý luận nhận thức, các quy luật cơ bản của phép biện chứng, một số vấn đề của quan niệm duy vật về lịch sử
Phần thứ hai (Kinh tế chính trị học):Ăngghen mổ xẻ những vấn đề cơ
ban của kinh tế chính trị học Mác xít; đan xen với chúng là những vấn đề của triết học xã hội
Phần thứ ba (chủ nghĩa xã hội): Ăngghen trình bày học thuyết về chủ nghĩa
xã hội, từ không tởng đến khoa học Trong phần này một số vấn đề triết học cũng
đợc nêu ra, làm cơ sở cho việc phân tích các quá trình lịch sử - xã hội
Nh vậy sau khi chỉ ra thực chất bớc ngoặt trong lịch sử triết học do Mác
và Ăngghen thực hiện, Ăngghen đã gắn liền thế giới quan Mác xít với kinh tế chính trị học Mác xít và chủ nghĩa xã hội khoa học
Với tác phẩm “Chống Đuy Rinh” Ăngghen đã nêu ra và giải quyết một loạt những vấn đề nh: Vấn đề cơ bản của triết học, một số vấn đề về phép biện
Trang 4chứng, một số vấn đề về lý luận nhận thức ở đây tôi chỉ làm rõ phép biện chứng duy vật trong tác phẩm “chống Đuy Rinh” của Ăngghen
Khi xem xét sự phát triển của thế giới quan biện chứng trong lịch sử t t-ởng triết học, Ăngghen đã đối lập phép biện chứng, Mác xít với phép biện chứng duy tâm của Hêghen Hêghen là ngời đã đem đến cách hiểu mới về khái niệm phép biện chứng, vợt qua giới hạn chủ quan ban đầu, để đạt tới ý nghĩa phổ quát của một phơng pháp triết học, một học thuyết xem xét các sự vật, hiện tợng trong mối liên hệ, tác động, chuyển hoá, thâm nhập và chế ớc lẫn nhau “Nền triết học mới của Đức - đã đạt đến tính cao của nó trong hệ thống của Hêghen, trong đó lần đầu tiên và đây là công lao to lớn của ông -toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần đợc trình bày nh là một quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hoá và phát triển, và ông đã
cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và sự phát triển ấy Theo quan
điểm ấy, lịch sử loài ngời [ ] là một quá trình phát triển của bản thân loài ngời và nhiệm vụ của t duy hiện nay là phải theo dõi bớc tiến tuần tự của quá trình ấy qua tất cả những khúc quanh co của nó và chứng minh quy luật bên trong của nó qua tất cả những cái ngẫu nhiên bề ngoài
Việc Hêghen không giải quyết đợc nhiệm vụ ấy, thì điều đó ở đây đối với chúng ta cũng không quan trọng gì Công lao lịch sử của ông là đã đề ra nhiệm vụ ấy”1
Nhận định của Ăngghen cho thấy ông đánh giá cao vai trò của Hêghen trong lịch sử triết học nói chung, lịch sử phép biện chứng nói riêng, và thực tế nhiều vấn đề đợc Hêghen trình bày đã trở thành hạt nhân hợp lý đối với sự phát triển của t duy triết học nhân loại, đợc Mác và Ăngghen kế thừa, hoàn thiện Tuy nhiên do điều kiện lịch sử, trong phép biện chứng của Hêghen còn tồn tại những hạn chế cần đợc khắc phục, nhất là hạn chế về thế giới quan Phép biện chứng của Hêghen chính là phép biện chứng duy tâm hay nói nh Mác phép biện chứng bị đặt lộn ngợc đều xuống đất
Để thực hiện nhiệm vụ lịch sử mà Hêghen chỉ mới đặt ra trong phép biện chứng của mình, theo Ăngghen phải rà soát lại lịch sử phép biện chứng, trong
đó có phép biện chứng của Hêghen, để từ điểm xuất phát này xác lập hình thức hiện đại của phép biện chứng - phép biện chứng duy vật
1 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H 1994, tập 20, tr 39, 40
Trang 5Phép biện chứng duy vật trực tiếp đối lập với phép siêu hình Nó xem xét các sự vật và hiện tợng trong sự vận động và phát triển của chúng Theo quan
điểm của phép biện chứng duy vật thì các sự vật, hiện tợng không đơn giản vận động mà thay đổi, phát triển về chất Ăngghen gọi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển
Phép biên chứng xem xét các sự vật, hiện tợng trong những mối liên hệ lẫn nhau của chúng, tuân thủ nguyên tắc toàn diện, cụ thể, tránh tính chất khập khiễng và chủ quan Theo nghĩa này, phép biện chứng đợc hiểu nh khoa học về mối liên hệ phổ biến Nghiên cứu những mối liên hệ, phép biện chng vạch ra những quy luật phổ biến mà theo đó mọi vận động và phát triển đợc thực hiện bởi lẽ các quy luật trớc hết là những mối liên hệ nhất định
Ăngghen nhìn nhận phép biện chứng nh khoa học về các quy luật chung nhất của vận động Các quy luật của phép biện chứng đợc phổ biến cho cả quá trình nhận thức và t duy Sự nhận thức và t duy phản ánh sự phát triển biện chứng của tự nhiên
và xã hội Bởi thế Ăngghen đa ra định nghĩa phép biện chứng nh sau: “Phép biện chứng chẳng qua là một môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động
và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài ngời và của t duy”1
Trong chơng XII và chơng XIII, tính luận chiến của sự trình bày quan điểm Mác xít về phép biện chứng có tác dụng mở đờng cho việc cụ thể hoá nội dung của phép biện chứng duy vật Ăngghen chỉ rõ, Đuy Rinh, mặc dù “tái thiết lập” phép biện chứng Hêghen bằng “phơng pháp tổng quát” và “loại suy” điển hình song sự “tái thiết lại” ấy vẫn không che đậy đợc t tởng chống phép biện chứng vốn
đặc trng ở chủ nghĩa máy móc của ông và gắn với nó là phơng pháp siêu hình
“xem xét các sự vật nh là đứng im và không có sinh khí, cái nào riêng cho cái ấy, cái này bên cạnh cái kia và cái này nối tiếp cái kia không thấy đợc một mâu thuẫn nào trong các sự vật cả”2 Chính vì vậy Đuy Rinh từng tuyên bố phép biện chứng là “một điều thuần tuý vô nghĩa”3 và không thể hiểu đợc rằng sự sống cũng
là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân các sự vật và các quá trình
Ăngghen cũng phê phán thái độ xuyên tạc của Đuy Rinh đối với phép biện chứng Mác xít nói chung, phép biện chứng do C Mác thể hiện trong việc nghiên cứu hình thái kinh tế - xã hội nói riêng Đuy Rinh tỏ ra thiển cận khi gán cho Mác là “môn đệ của Hêghen”1, mà không thấy rằng chính Mác không
1 C Mác và Ph Ăngghen; Sđd, 1994, tập 20, tr 201.
2 Sđd, tr 172.
3 sđd, tr 132
1 C Mác và Ph Ăngghen, Sđd, 1994, tập 20, tr 187.
Trang 6chỉ làm sống lại phép biện chứng Hêghen, mà còn khắc phục tính chất tự biện của nó bóc dần lớp vỏ thần bí, để phép biện chứng đồ thức luận lôgíc thuần tuý đến hoá thân trong hoạt động thực tiễn của con ngời và mang ý nghĩa cải tạo thế giới thực sự Đuy Rinh đã không phân biệt đợc sự khác nhau cơ bản giữa phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm vì thế mà “gán cho
C Mác những điều trái với lời C Mác đã nói”2
Trong tác phẩm Ăngghen tiếp tục tập trung làm nổi bật những quy luật cúa phép biện chứng, tính khách quan và tính phổ biến của những quy luật đó
Ăngghen cha phân tích nội dung cụ thể của quy luật “quy luật thống nhất
và đấu tranh của các mặt đối lập” mà chỉ mới đa ra t tởng về tính khách quan
và tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn, nêu bật luận điểm xuất phát, nền tảng ở mọi sự vật đều hàm chứa mâu thuẫn bên trong, và dù nhà triết học siêu hình có thừa nhận hay không, thì mâu thuẫn là một lực lợng có thực, khách quan “ trong bản thân các sự vật và các quá trình, có một mâu thuẫn tồn tại khách quan hơn nữa mâu thuẫn đó lại là một lực lợng có thực” 3 Quan điểm về mâu thuẫn đợc Ăngghen phác thảo ngay trong chơng XII, có tên gọi “phép biện chứng Lợng và chất” Bản thân vận động - thuộc tính cố hữu và phơng thức tồn tại của vật chất - đã là một mâu thuẫn: Ph Ăngghen viết “ Ngay nh sự di động một cách máy móc và đơn giản sở dĩ có thể thực hiện đợc, cũng chỉ là vì một vật trong cùng một lúc vừa ở nơi này lại vừa ở nơi khác, vừa ở cùng một chỗ lại vừa không ở chỗ đó Và sự nảy sinh thờng xuyên
và việc giải quyết đồng thời mâu thuẫn này - đó cũng chính là sự vận động”1 Tính khách quan của mâu thuẫn đợc chứng minh bằng sự phát triển lâu dài, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ cha hoàn thiện đến hoàn thiện hơn trong tự nhiên, trong đời sống và trong t duy Tóm lại mâu thuẫn là điều kiện tiến quyết của vận động và phát triển
Trong tác phẩm Ăngghen nêu ra “quy luật chuyển hoá từ những biến đổi
về lợng thành những biến đổi về chất và ngợc lại” bằng cái ví dụ cụ thể trong các lĩnh vực khoa học khác nhau và thực tiễn xã hội nhất là rút ra từ sự phân tích của C Mác trong “t bản” Chẳng hạn khi nghiên cứu quá trình hình thành
t bản C Mác rút ra kết luận rằng không phải bất kỳ số tiền nào cũng có thể chuyển hoá thành t bản, mà tiền đề của sự chuyển hoá đó là một số tiền hoặc
2 Sđd, tr 179.
3 Sđd, tr 173.
1 Sđd, tr 172, 173
Trang 7giá trị trao đổi tối thiểu nhất định trong tay ngời sở hữu tiền, hoặc hàng hoá Cũng chính từ điểm này, Ăngghen phê phán sự xuyên tạc của Đuy Rinh đối với C Mác, mà thực chất là tầm thờng hoá cách hiểu về sự chuyển hoá lợng thành chất”
Đối lập với Đuy Rinh, Ph Ăngghen không chỉ đánh giá cao sự phân tích của Hêghen về quy luật này mà cần nhấn mạnh rằng biện chứng do Mác và
ông xây dựng đã kế thừa và phát triển những mặt tích cực của phép biện chứng Hêghen, giải thích một cách duy vật nội dung đó, đa nó vào các quá trình hiện thực Cũng nh quy luật sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật này mang tính khách quan và tính phổ biến Dù Đuy Rinh có xem quá trình này là “một quan niệm mù mịt và mơ hồ”, thì nó vẫn đang diễn ra với tất cả sự phong phú của mình cả trong tự nhiên lẫn trong xã hội, Ăngghen dẫn lại
ý C Mác “ở đây cũng nh trong khoa học tự nhiên, tính chất đúng đắn của cái quy luận do Hêghen phát hiện trong cuốn” “lôgíc học” của ông ta cũng đợc xác minh, quy luật đó là: những thay đổi đơn thuần về lợng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hoá thành những sự khác nha về chất”1
Sự biến đổi về chất, tức bớc nhảy, diễn ra khác nhau trong những điều kiện khác nhau, với những sự vật, hiện tợng khác, song đều biểu thị gián đoạn của tính tiệm tiến của các thay đổi về lợng trớc đó, Ăngghen cũng dẫn ra cách hiểu của Hêghen về đờng nét các mối quan hệ của độ, các bớc nhảy và thông qua các ví dụ đơn giản để chứng minh cho Đuy Rinh thấy rằng, dù Hêghen là nhà duy tâm, nhng ông đã xác lập cách tiếp cận thực sự nghiêm túc và khoa học về các quá trình của thế giới dới hình thức triển khai các khái niệm lôgíc
Sự tác động ngợc lại của chất, làm cho lợng thay đổi, đợc ví dụ sự tác động của một “sức mới” nào đó lên chính những yếu tố cấu thành
Quy luật lợng chất phân tích một khía cạnh quan trọng nh vật chất xuất hiện ra sao trong sự phát triển, chỉ rõ các thay đổi căn bản diễn ra theo hình thức bớc nhảy, còn các bớc nhảy về phần mình lại đợc chuẩn bị và đợc kích thích bởi những thay đổi từ từ trớc đó, Quy luật cũng chỉ rõ, sự phát triển gồm
có hai mặt - sự thay đổi về lợng và sự biến đổi về chất chi phối lẫn nhau Sự phát triển không thể chỉ là sự thay đổi đơn thuần về lợng hoặc về chất, nó là sự thống nhất biện chứng của hai sự thay đổi này
1 Sđd, tr 179
Trang 8“Bằng sự phủ định cái trứng, các côn trùng nở ra khỏi trứng, trải qua các giai đoạn biến đổi cho đến khi dậy thì, giao cấu với nhau và lại bị phủ định, tức là chúng chết sau khi quá trình giao cấu đã hoàn thành và con cái đã đẻ ra nhiều trứng”1, hay nh “chủ nghĩa duy vật cũ đã bị chủ nghĩa duy tâm phủ
định Nhng trong sự phát triển về sau của triết học, lại đến lợt chủ nghĩa duy tâm không đứng vững đợc và bị chủ nghĩa duy vật hiện đại phủ định”2
Về quy luật thứ ba của phép biện chứng - quy luật phủ định của phủ định
Ăngghen cũng rất chú ý chỉ ra tính khách quan và phổ biến của nó trong tự nhiên xã hội và t duy con ngời Ăngghen viết: “Quy luật phủ định cái phủ định thực hiện một cách không có ý thức trong tự nhiên, trong lịch sử và cả trong
đầu óc ta nữa, trớc khi ta nhận thức đợc nó- quy luật đó lần đầu tiên đã đợc Hêghen nêu lên một cách nổi bật”3 Cũng nh các quy luật trớc Ăngghen bắt
đầu phân tích quy luật phủ định của phủ định bằng việc tranh luận và bác bỏ các luận điểm của Đuyrinh về sự xuyên tạc học thuyết của C Mác trong nội dung này Tuy đánh giá xác đáng công lao của Hêghen nhng Ăngghen cũng chỉ ra do Hêghen xuất phát từ những quy định của t duy để khách quan hoá tự nhiên và lịch sử do vậy phủ định của phủ định đợc xem nh khâu kết thúc(tổng hợp) của tam đoạn thức lôgíc Chính vì thế Hêghen không thể giải thích đợc các chuỗi biến cố và các thời đại lịch sử Thế mà Đuyrinh lại khẳng định rằng nếu không đa vào phủ định của phủ định của Hêghen thì C Mác không có cách gì khác để chứng minh tính tất yếu của cách mạng xã hội Điểm khác nhau giữa C.Mác và Hêghen là cơ sở để phân biệt phép biện chứng duy vật và phép biện chứng duy tâm Đối với Hêghen, t duy giành cho mình quyền thiết
định toàn bộ thực tại, đem đến cho nó ý nghĩa thông qua khái niệm đã khách quan hoá Đối với C.Mác, t duy chỉ có ý nghĩa khi nó xuất phát từ thực tại khách quan, phản ánh thực tại ấy một cách sáng tạo và hợp lý, và nếu có tởng tợng gì đi nữa, thì thực tại vẫn là cơ sở ban đầu, điều kiện tiên quyết của nó
Ăngghen chỉ rõ không phải C.Mác lấy phủ định của phủ định từ Hêghen để chứng minh lịch sử mà ngợc lại, từ các diễn biến của lịch sử C Mác khẳng
định rằng đây là một quá trình “diễn ra theo một quy luật biện chứng nhất
định”1
1 C.Mác Ph Ăngghen, Sđd 1994, tập 20, tr.194
2 Sđd,tr 197
3 C Mác và Ph Ăngghen: Sđd, 1994, Tập 20, tr 202
1 Sđd, tr 191
Trang 9Khái niệm “phủ định” trong phép biện chứng dùng để biểu thị sự thay thế cái
cũ bằng cái mới, nói cách khác, sự chuyển hoá của sự vật, hiện tợng từ một giai
đoạn phát triển sang giai đoạn khác cao hơn đợc thực hiện thông qua phủ định Sự phủ định do đó mang tính khách quan, tính tất yếu và tính phổ biến Ăngghen lấy hàng loạt ví dụ trong tự nhiên, xã hội, t duy để làm sáng tỏ nhận định này
Sự phủ định diễn ra bởi sự phát triển tự nhiên của quá trình, sự hoạt động mang tính chất quy luật vốn có của nó, chứ không phải bởi sự can thiệp của lực lợng bên ngoài xa lạ Phủ định không chấm dứt sự phát triển ngợc lại là
điều kiện của nó và diễn ra dới hình thức đợc xác định bởi bản chất của quá trình đó: Tất cả những gì hợp lý, hữu ích từ giai đoạn phát triển trớc đó chuyển vào giai đoạn mới và tiếp tục phát triển theo hình thức mới Sự phủ định biện chứng, một khi bác bỏ cái cũ lỗi thời và giữ lại các thành tựu tiến bộ của thời
đai trớc sẽ là điều kiện của sự phát triển tiên tiến - nó đi từ cái cũ sang cái mới, mang ý nghĩa tích cực trong thiên nhiên hữu cơ và cuộc sống xã hội
Ăngghen đã đem đối lập phủ định biện chứng và quan điểm siêu hình về phủ
định, quan điểm “thủ tiêu một lần” mang tính phá huỷ, bất chấp những điều kiện cụ thể Theo Ăngghen phủ định không phải một lần, mà nhiều lần, gắn với bản chất và quá trình sự vật - phủ định của phủ định Điều này chứng tỏ phủ định không diễn ra theo đờng thẳng Cùng với sự vận động về phía trớc vẫn có thể còn những sự lập lại cái cũ ở một vài giai đoạn trên cơ sở mới, cao hơn Con đờng phát triển này theo hình thức mới của mình, diễn ra theo vòng xoáy ốc, cái cuối cùng dờng nh lặp lại cái khởi đầu, nhng trên cơ sở cao hơn, hoàn thiện hơn
Tóm lại quy luật phủ định của phủ định là “một quy luật vô cùng phổ biến và chính vì vậy mà có một tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng to lớn
về sự phát triển của tự nhiên, của lịch sử và của t duy”1
Nh vậy, ba quy luật trên là quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhận thức, chúng tác động trong giới tự nhiên, xã hội và t duy của con ngời Phép biện chứng là phơng pháp nhận thức còn các quy luật của nó là kim chỉ nam về mặt lý luận cho sự nghiên cứu lại sự vật, hiện tợng, quá trình của tự nhiên, lịch sử và t duy
Dới hình thức bút chiến “chống Đuyrinh” là một tác phẩm tổng kết toàn diện sự phát triển của chủ nghĩa Mác Trong tác phẩm này, lần đầu tiên
1 Sđd, tr.200.
Trang 10Ăngghen trình bày một cách hoàn chỉnh thế giới quan Mác xít, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, khoa kinh tế chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học Ăngghen đã chỉ ra mối liên hệ không thể tách rời và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác: Triết học, kinh
tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học Với tác phẩm “Chống Đuyrinh”
Ăngghen đã phê phán tất cả các lĩnh vực mà Đuyrinh đã đặt ra, đồng thời trình bày và phát triển những quan điểm của chủ nghĩa Mác Ra đời cách đây hơn
100 năm tác phẩm không chỉ góp một phần quyết định vào thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong phong trào công nhân lúc bấy giờ mà còn góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh mu toan tầm thờng hoá chủ nghĩa Mác và các biến t-ớng của chủ nghĩa cái lơng trong bối cảnh thế giới hiện nay
“Chống Đuyrinh” là một công trình tổng thể trong đó Ăngghen nêu và giải quyết nhiều vấn đề trong đó nổi bật lên là phép biện chứng duy vật đợc
Ăngghen trình bày khá hoàn chỉnh và trở thành t tởng có tính kinh điển Thông qua việc phân tích một cách có hệ thống ba quy luật cơ bản của phép biện chứng, cùng với hàng loạt ví dụ cụ thể trong tự nhiên, xã hội và t duy để làm sáng tỏ vấn đề Ăngghen đã chỉ ra sự khác nhau căn bản giữa phép biện chứng và phép siêu hình, đồng thời khẳng định tính chất cực đoan, máy móc siêu hình của Đuyrinh, bảo vệ thành công chủ nghĩa Mác Tuy nhiên ý nghĩa của tác phẩm không chỉ dừng lại ở đấy, chính thái độ khách quan, khoa học trong việc xem xét các sự vật, hiện tợng, trong việc đánh giá quá khứ và dự báo tơng lai đã làm cho tác phẩm “chống Đuyrinh” trở thành điển hình của tinh thần luận chiến khoa học, bảo vệ và phát triển các giá trị của chủ nghĩa Mác trong điều kiện phức tạp của đời sống xã hội
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mác đặc biệt là một số vấn đề về phép biện chứng duy vật đợc Ăngghen trình bày trong tác phẩm vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó cho đến ngày nay Nó là cơ sở lý luận giúp cho các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế đề ra chiến lợc, sách lợc cách mạng phù hợp Qua tính chất đấu tranh quyết liệt trong tác phẩm còn giúp chúng ta thấy
đợc bài học quan trọng đó là: Chủ nghĩa Mác cũng nh phép biện chứng duy vật cần phải luôn đợc bảo vệ đồng thời hoàn thiện một cách sáng tạo và củng cố trên cơ sở khoa học hiện đại và thực tiễn lịch sử xã hội
Phép biện chứng duy vật về bản chất có tính khoa học và tính cách mạng sâu sắc Phép biện chứng duy vật luôn chống lại mọi quan điểm bảo thủ, trì trệ, nó là cơ sở,