1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đình làng Việt (Châu thổ Bắc Bộ)

222 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đình Làng Việt (Châu Thổ Bắc Bộ)
Tác giả GS. Trần Lâm Biển
Trường học Viện Bảo Tồn Di Tích
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 32,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ScanGate document GS TRẦN LÂM BIỂN (Chủ biên) (VIỆN BẢO TỔN DI TÍCH) ĐỊNH LÂNG U Ì É T (CHÂU THỔ BẮC Bộ) ầ L , ■ Í P ^ ềềẩắằẼ N H À X U Ấ T B Ả N H Ố N G Đ Ứ C ÌNH LÀI VIỆT (CHÂU THỔ BẮC BỘ) T R Ầ N LÂM BIỀN ÌNH LÀI VIỆT (CHÂU THỔ BẮC BỘ) NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC t Ha Y L ồ ĩ AAỚ M ột tro n g n h ữ n g công trìn h kiến trú c có n iê n đ ại sớm ở nước ta, m à c h ú n g ta được biết là ngôi đ ìn h ở c ạ n h đ ộ n g T hiên Tôn, th u ộ c k h u di tíc h H oa Lư (Ninh Bình) Ngôi đ ìn h n ày không còn n ữ[.]

Trang 1

GS TRẦN LÂM BIỂN (Chủ biên)

(VIỆN BẢO TỔN DI TÍCH)

ĐỊNH LÂNG

Trang 2

ÌNH LÀI VIỆT(CHÂU THỔ BẮC BỘ)

Trang 3

T R Ầ N LÂM BIỀN

ÌNH LÀI VIỆT

(CHÂU THỔ BẮC BỘ)

NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC

Trang 4

q u ả n h ư thế, th ì đó là dịch đình (đình trạm ), chứ không phải là ngôi đ ìn h làng n h ư người thời nay còn b iế t đến T ất nhiên,

ch ú n g ta không loại trừ khả năng dịch đình là tiề n th â n của đình làng H iện nay, tạ i địa điểm của ngôi đình cổ ấy, ch ú n g ta còn gặp n h iề u v iên g ạch và m ột số m ản h gốm có hoa v ăn nói lên dấu tích của các thời Đinh, tiền Lê, Lý

Tới thời T rần, ngôi đình vẫn chỉ m an g tín h ch ấ t của m ột điểm n g h ỉ chân Bằng vào tài liệu viết, ch ú n g ta b iết rằn g nó

ch ư a phải là nơi th ờ T hành hoàng củ a làng xã

Đ iểm lại đôi n é t còn biết được về d iễn trìn h củ a loại kiến • • • trú c được gọi là "đ ìn h ", từ buổi đ ầu của thời kỳ độc lập cho đến

th ờ i Lê sơ - Mạc v à dừ ng lại trước triề u C hính Hòa (cuối th ế kỷ XVII), tức triề u đ ạ i được đ án h dấu bởi m ột bước p h á t triể n rực rỡ

c ủ a n g h ệ th u ậ t xây dự ng đình làng Trong buổi khởi nguyên của

nó, cái gọi là "đình" vốn là m ột n h à công cộng để n g h ỉ chân (đình trạm ) Đ en đ ầu triều Trần, m ộ t số n h à n g h ỉ ch ân ấy còn được d ù n g làm nơi th ờ Phật, đồng thời v ẫn giữ chức n ăn g cũ Có

5

Trang 5

đ iều rằ n g , g iữ a h ai chức n ăn g cũ và mới ấy, cái nào trở th à n h chính, th ì th ự c khó m à phỏng đoán Thời Lê sơ, rồi đ ế n thời Mạc,

ắ t h ẳ n n h iề u n g ô i đình vẫn là n h à nghỉ chân, n h ư n g nội d u n g

m ộ t số lời v ă n b ia còn cho thấy, có n h ữ n g ngôi đ ìn h đã trở th à n h công trìn h k iến trú c công cộng củ a làng xã C húng tôi th iế t nghĩ,

m ộ t khi đ ìn h đ ã th u ộ c về làng xã, th ì không có gì lạ, n ế u có

n h ữ n g vị th ầ n củ a làng xã được đư a vào đình, ch ẳn g khác gì

P h ậ t cũ n g từ n g bước vào đình Dưới thời T rần đạo P h ật còn đóng vai n h ư m ộ t quốc giáo, đến thời Lê tru n g hưng, th ì sự có m ặ t của

n h â n v ậ t gọi là "T h àn h hoàng" tro n g m ộ t số đ ìn h làn g là điều chắc c h ắ n (nội d u n g văn bia đ ìn h A n Khê ở Bắc Giang)

Ke ra, n ế u chỉ căn cứ vào nội dung các lời bia đ ã tó m tắt,

th ì có th ể n g h ĩ rằ n g bấy giờ chức n ăn g trạ m n g h ỉ ch â n v ẫ n còn chiếm ư u th ế so với chức năn g th ờ phụng Dù sao, q u a k hảo sát trê n th ự c địa, ta cũ n g thấy rằng, n gay từ th ế kỷ XVI (thời nhà Mạc), m ộ t số n g ô i đ ìn h lớn đã x u ấ t h iện với tư cách là m ộ t kiến trú c công cộng c ủ a làng xã: các đ ìn h Thụy P hiêu sử a n ă m 1531 (Ba Vì, H à Nội), Tây Đ ằng (thị tr ấ n Tây Đằng, h u y ệ n Ba Vi, Hà Nội), T h a n h L ũng (huyện Ba Vì, H à Nội), Lỗ H ạn h (huyện H iệp Hòa, Bắc G iang), Thổ Hà (huyện V iệt Yên, Bắc Giang), là n h ữ n g

ví dụ nổi tiế n g M ấy ngôi đình v ừ a kể là n h ữ n g tác p h ẩm n g h ệ

th u ậ t h o à n ch ỉn h củ a làng xã Đ ương nhiên, với thời gian c h ú n g

k h ô n g còn giữ được n g uyên trạ n g , n h ư n g p h ần còn lại c ũ n g đủ

để c h ú n g ta n h ìn lại bộ m ặ t th ự c củ a từ n g ngôi đình: m ộ t công trìn h kiến trú c d à n h cho việc th ờ T h àn h h o àn g làng, v ấ n đề vẫn cần đ ặ t ra là n iê n đại khai sinh củ a loại đ ìn h làn g ấy (không phải

là q u á n ng h ỉ, ch ủ yếu là nơi th ờ T h àn h hoàn g làng) K hông m ột tài liệu th u ộ c b ấ t cứ loại nào có th ể m in h chứ ng, n ê n c h ú n g tôi chỉ n g h iê n cứ u tr ê n các h iện v ậ t v à di tích để đ o án định

T h à n h h o à n g làng là vị th ầ n bảo hộ làng, có th ể nói là đ ấng

th ầ n lin h tối th ư ợ n g của làng C húng ta th ư ờ n g h iểu n h ư vậy

Trang 6

Song, vị ấy ở đ âu ra? Theo n guồn gốc T ru n g Hoa, khái n iệm

"T hành h o àn g " từ n g được nhắc đến: T hần T h à n h h o àn g của

T rung H oa chỉ m ới x u ấ t hiện vào đời n h à Chu, cù n g m ộ t lư ợt với

n h ữ n g th à n h q u á c h của các lãn h chúa, và h o à n g là cái hào bao

q u a n h bức cường Đó lả th ầ n của th àn h trì v à th à n h phố

T hần của ta là th ầ n làng xóm, chứ không p h ải là th ầ n củ a

th à n h phố N ông th ô n ở T rung Hoa c ó th ầ n làn g k h ô n g ? Có,

n h ư n g lại khác h ẳ n th ầ n làng của ta T hần của ta là n h â n v ậ t địa phương, còn th ầ n các làng T rung Hoa là th ầ n đ ấ t đai Ta có cất nhà, họ th ì lộ th iê n T hần của ta là của riên g củ a d ân m ỗi làng

T hần củ a T ru n g H oa là của riê n g lãnh ch ú a m à n h iề u làn g phải cùng th ờ với lãn h chúa

Theo đó, tác giả Bình Nguyên Lộc nói rằn g à nước ta thờ

T hành hoàng là sai Nhưng dù sai hay đúng thì v ẫn h iện diện m ột thực tế lịch sử: Khái niệm T hành hoàng" gốc T rung H oa đ ã "đổ bộ" vào nông thôn nước ta v ấ n đề là từ bao giờ? Chưa có bằn g cứ gì cho phép tin rằ n g vị th ần m ang tê n gọi Trung Hoa ấy đã "có m ặt" ở nòng thôn nước ta hồi thời Lý v à thời Trần Thời Lê SƯ, Nho giáo

p h á t triển m ạnh: trê n đấu trường tran h chấp ý thứ c hệ chính làm

n ề n cho m ột n h à nước quân chủ m à tính chất tru n g ương tập quyền ngày càng được củng cố Đạo giáo và P h ật giáo bị đẩy lùi

m ột bước Khác với nhà Lý, chính quyền Lê sơ, sau khi lãnh đạo

n h â n d â n đuổi giặc Minh, đ ã n h ìn T rung Hoa n h ư m ộ t m ẫ u m ực cho việc tổ chức x ã hội về m ọi m ặt Thế là n h iề u b iểu h iệ n văn

h ó a - n g h ệ th u ậ t cu n g đ ìn h của n h à M inh được đ e m áp d ụ n g vào nước ta Và, tấ t n h iê n n g h ệ th u ậ t - văn hó a d â n tộc có bị m ờ đi,

p h ải ch ăn g đấy cũ n g là m ộ t thời kỳ để cho k h ái n iệ m "T h àn h

h o àn g '' được tru y ề n bá vào n ô n g th ô n nước ta

Có th ể th ấ y rõ là tro n g xã hội thời Lê sơ có n h iề u b iế n đổi lớn so với các th ờ i trước, đặc b iệ t là, triề u đ ìn h k h ô n g còn đ ể cho

n ô n g th ô n tự trị th eo lối cũ, không chỉ bóc lột n ô n g d â n th ô n g

7

Trang 7

q u a "ch ủ làn g " nữa, m à xã hội nông th ô n được tổ chức lại, gắn

bó với triề u đ ìn h hơn về các m ặ t kinh tế, ch ín h trị, v ăn hóa Phải

ch ăn g , tìn h h ìn h mới ấy đã tạo n ê n điều kiện cho triề u đ ìn h đưa

"T h à n h h o à n g làng" vào làng xã, để qua đó m à cung cấp cho người d â n m ộ t ông v u a tin h th ầ n ? Nếu q u ả th ế, không có gì lạ

n ế u T h à n h h o à n g được cấy vào ngôi đình, m ộ t kiến trú c tu y vốn

p h i tô n giáo, n h ư n g lại đ ã có tiền lệ tiếp n h ậ n tư ợ n g P hật, theo

lệ n h củ a v u a T rần

Rồi dưới cái ô bảo trợ của triề u đình, x u th ế mới cứ th ế m à

m ạ n h lên, la n rộng Ngay từ th ế kỷ XVI, sự h iện d iện củ a triều

đ ìn h tro n g ngôi đ ìn h làng đ ã quá rõ ràng Tại đ ìn h Lỗ H ạn h (Bắc

G iang) m ộ t tro n g n h ữ n g ngôi đình cổ n h ấ t m à p h ần cơ bản của kiến trú c cò n tồ n tại đ ến ngày nay, chú n g tôi đã đọc được trê n

m ộ t bức p h ù đ iêu , bốn chữ: "H oàng đế vạn tu ế " do h ai con rồng cuộn th â n vào n h a u n âng lên Từ đó về sau, tro n g số các hoành

p h i c ủ a từ n g ngôi đình làng, th ư ờ n g thì th ế nào cũng có m ộ t bức

h o à n h phi m a n g m ấy chữ "T hánh cung vạn tu ế ", h ay "T hánh thọ

vô cư ơ ng" T oàn là n h ữ n g công th ứ c chúc tụ n g v u a v à chính vì

th ế m à ta có q u y ền n g h ĩ rằng, ngay từ n h ữ n g đ oạn đường đầu

c ủ a nó, đ ìn h làn g dù là nơi thờ T h àn h h o àn g của làng xã, đồng

th ờ i còn n h ằ m m ụ c đích đề cao chính th ể q u â n chủ, v à n h â n v ật tiê u b iểu củ a c h ín h th ể ấy là ông vua

T ất n h iê n , đình, với tư cách là nơi th ờ T h àn h h o àn g làng

c ủ a làn g xã, k h ô n g chỉ ra đời vì triề u đình và ch ín h th ể q uân chủ Xã hội n ô n g th ô n càng phân hóa, tần g lớp chủ n h â n mới của

n ô n g th ô n c à n g được củng cố T rong m ột n ô n g th ô n n gày càng

p h á t triể n n h ư n g th iế u m ộ t n ề n kinh tế h àn g hóa, tầ n g lớp chủ

n h â n m ới nói tr ê n chỉ có th ể tự khẳn g định ch ủ y ếu tro n g phạm

vi làn g xã Và đ ìn h làng, m ột khi đã trở th à n h tru n g tâ m tin h

th ầ n c ủ a làn g xã, với việc th ờ T h àn h hoàng do n h à v u a phong, có

th ể đ ó n g m ộ t v ai trò tích cực tro n g q u á trìn h tự k h ẳn g đ ịn h nói

Trang 8

trên Cho nên, bên cạn h các h ìn h thứ c đề cao v u a v à ch ín h th ể

q u ân ch u y ê n chế, đ ìn h còn khả n ăn g th u h ú t các sin h h o ạ t văn hóa v à tin h th ầ n củ a làng xã Ả nh hưởng củ a Ý th ứ c h ệ dội từ triề u đ ìn h xuống chủ yếu được biểu hiện tại đình, q u a lễ tế Hội đìn h còn bao gồm b iế t bao sinh h o ạ t văn hóa d ân g ian khác nữa, với các h èm và trò chơi, kể cả diễn xướng

Khi trao đổi ngoài lề với nhau, cũng có người cho rằng, T hành

h oàng là biến tướng của m ột vị th ần nào đó, chẳng h ạn th ầ n đ ấ t của xóm làng thời cổ Chúng ta không đủ cứ liệu để tá n th à n h hay bác bỏ ý kiến này Dù sao, đối với nhiều người, T h àn h h o àn g là vị

th ầ n được du nhập vào làng xã Việt theo yêu cầu của điều kiện lịch

sử thời Lê sơ và thời Mạc Không rõ hồi bấy giờ từ n g vị T hành

h oàng làng m ang diện mạo cụ th ể ra sao, chỉ b iết rằng, bước qua thời Lê tru n g hư ng (thế kỷ XVII), nếu căn cứ vào m ột số sắc phong

và các th ầ n phả còn sót lại đến nay (chủ yếu do N guyễn Bính ngồi tại Bộ Lễ thảo ra), th ì n h ân vật đang được bàn đ ã ho àn to à n m ang tín h bản địa Nhiều khi, Thành hoàng được thờ tại m ộ t ngôi đình không chỉ có m ột vị, m à tới năm sáu vị th ậm chí n h iều hơn nữa

T h àn h hoàng có th ể là danh n hân lịch sử (Lê P hụng Hiểu, Lý T hánh Tông) có th ể là sơn th ầ n (Tản Viên), là hoàng h ậu cùng công chúa (như ở đình Trà cổ), chẳng nhữ ng th ế còn có th ể là d âm th ần , là trẻ con, là ăn m ày ch ế t vào giờ thiêng Có ư ư ờ n g hợp làng lập đình,

n h ư n g vì làng không sẵn T hành hoàng, biết làng khác có vị T h àn h

h o à n g th iên g , b è n xin rước b á t n h an g về thờ T hế là có vị T h àn h

h o à n g kiêm n h iệm hai địa phận Điều đó k h iến c h ú n g ta ngỡ rằn g , vì bản th â n khái niệm "T hành hoàn g " được du n h ậ p từ ngoài, cho n ê n T h àn h h o àng cụ th ể của các làn g x ã có x u ấ t x ứ v à

sự tíc h khác n h au Đ ịnh cho m ọi T hành h o àn g ở ta m ộ t n g u ồ n gốc lịch sử chung, e rằ n g không p hù hợp với th ự c tế lịch sử

T hế là T h àn h h o àn g trở th à n h ông v u a tin h th ầ n c ủ a làng

xã, ch ú n g tôi m u ố n nói rằng, việc th ờ p h ụ n g T h àn h h o à n g vô

9

Trang 9

h ìn h c h u n g g ắ n liền với việc sù n g bái H oàng đế, v à qua H oàng

đế m à sù n g bái triề u đình, vì đây là m ột h ìn h th ứ c sinh h o ạt triề u đ ìn h th u n h ỏ lại Có thể nói th ế, vì sự có m ặ t củ a vị th ầ n này và ngôi đ ìn h , nơi th ờ vị th ầ n ấy, ở giữa lòng làng xã làm cho người d â n q u ê q u e n với cái trậ t tự của chế độ vu a q u an đương thời và góp p h ầ n d ự n g m ộ t xã hội ổn định tro n g h ệ ý th ứ c của trậ t tự đó

T rên th ự c tế, n h ữ n g ngôi đ ìn h sớm n h ấ t m à h iện nay ta còn

b iết được, m ới r a đời tro n g thời Mạc (thế kỷ XVI), và tấm sắc phong sớm n h ấ t ch ín h là thuộc về thời đó: tấ m sắc phong cho

T hành h o à n g đ ìn h Tử Dương (huyện ứ n g Hòa, Hà Nội) vào năm

1574 (S ùng K hang 9) Thực ra, th eo ước đ o án của ch ú n g tôi thì đình th ờ T h à n h h o à n g phải ra đời sớm hơn, vào th ờ i Lê sơ Cứ liệu còn q u á ít đ ể k h ẳn g định, n h ư n g cũng p h ần nào được củng

cố bởi b ài ký củ a Bùi Xương T rạch viết vào n ăm 1493 về đình

Q uảng V ăn (H à Nội) Bài văn ca tụ n g triều đình, ch ủ yếu đề cao

n h à vua, đ ồ n g th ờ i nói lên ý n g h ĩa th ự c tiễ n của ngôi đ ìn h trong việc công bố ch ín h lện h của n h à nước đư ơng thời Và, về m ặ t nào đó, cũ n g p h ả n á n h được việc sán g tạo ra m ộ t kiến trú c mói Tạm có th ể cho rằn g , đây là tiề n đề củ a ngôi đ ìn h làn g về sau

T ất n h iên , còn p h ải chờ lâu nữ a, qua thời Mạc, san g thời Lê tru n g h ư n g , đặc b iệ t với N guyễn Bính, và n h ữ n g q uy định về cách th ứ c th ờ p h ụ n g T hành hoàng, m à ông là m ột tro n g nhữ ng tay thi h à n h đ ắc lực, th ì vị th ầ n này và ngôi đ ìn h của làn g xã mới gắn bó với n h a u m ộ t cách m ật th iế t

Có th ể n ó i th ờ i Mạc là thời "b ù n g nổ" củ a các công trìn h kiến trú c n ặ n g c h ấ t m ỹ th u ật, ch ủ yếu là kiến trú c ít n h iều có

g ắn với tô n giáo Trong xu th ế ch u n g ấy, kiến trú c đ ìn h cũng

p h á t triể n C h ẳn g n h ữ n g th ế, n h ữ n g ngôi đ ìn h ra đời th ờ i ấy, m à

v ẫn tồ n tạ i đ ế n nay, còn phô bày c h ấ t dân g ian cao nữ a X ét trê n bối cả n h c h u n g đ ư ơ ng thời, đình v ẫ n chư a ch iếm được vị trí độc

Trang 10

tôn Cuối th ế kỷ XVII đ án g được xem là m ột giai đ o ạn b ả n lề, bia

ký đương thời xác n h ậ n tư cách th ắ n g th ế của ngôi đ ìn h trong làng xã Nhiều đ ìn h ra đời có sự đóng góp của d ân đ in h cả làng Đình thự c sự trở th à n h công trìn h của tập th ể, v à về m ặ t nào đó,

có gằn với chế độ ru ộ n o công, tro n g n h iều trư ờ n g hợp, khi iàng

xã q u y ết dự ng đình, th ì tấ t cả dân đinh, n g h ĩa là m ọi người được chia ruộng công, đ ề u có n g h ĩa vụ phải đóng góp

Sang thời Lê m ạ t (thế kỷ XVIII), việc xây d ự n g đ ìn h làng giảm sú t hẳn X ét về m ặ t h oàn cảnh xã hội, đ ây là th ờ i kỳ m à

n ạ n kiêm tín h ru ộ n g đ ấ t ở chầu thổ Bắc Bộ p h á t triể n m ạnh,

h àn g vạn n ô n g d â n "bị đuổi" khỏi làng, đi th a p h ư ơ n g cầu thực Còn riêng về m ặ t kiến trúc, thì h àn g loạt lăng q u ậ n công ra đời, đây là bằng ch ứ n g không th ể chối cãi được về sự p h á t triể n của kinh tế tư n h ân T rong n h ữ n g điều kiện ấy, kinh tế tậ p th ể của cộng đồng làng x ã tấ t giảm sút C húng ta có th ể tin rằ n g , đấy là

lý do khiến cho đ ìn h làng không có điều kiện đ ể tiế p tụ c p h át triể n m ạnh Nói n h ư vậy, không có nghĩa là không đ â u xây đình

nữ a, ta vấn th ấy m ọc lên ngôi đ in h Đ ình Bảng (1736), và m ột số ngôi đ in h khác T uy nhiên, sự x u ấ t hiện n h ữ n g ngôi đ in h trong thời gian này đ ã g ắn liền với sự đỡ đầu của m ộ t h a y n h iều cá

n h â n giàu có, n h ữ n g người làm việc "công đức" để sau n ày được

p h ụ thờ ở đình, v à trư ớc m ắt, đ ể tìm v in h d ự ở làn g xã Tất

n h iên , tín h c h ấ t d ân dã trong tra n g trí đ ìn h đ ã g iảm s ú t nhiều

T rong khi đó, ở m iền T rung, trê n đ ấ t N ghệ An, H à T ĩn h ngày nay, điều kiện lịch sử lại cho p h ép ru ộ n g công củ a làn g x ã được duy trì ở m ộ t m ức độ khá hơn nhiều: phải chăn g , đấy là điều kiện

kh iến cho k iến trú c đ ìn h làng vẫn p h á t triể n m ộ t cách tư ơ n g đối

b ìn h thư ờ ng, v à các biểu h iện d ân gian, d ân dã tro n g n g h ệ th u ậ t tra n g trí không g iảm sú t m ộ t cách đột n g ộ t n h ư tr ê n đ ấ t Bắc

Cuối th ế kỷ XVIII, ch iến th ắ n g của Tây Sơn tạo ra được m ột

th ờ i ổn đ ịn h n g ắ n ngủi, v à vì vậy có lẽ ch ư a đ ủ th ờ i g ian cho

11

Trang 11

làng x ã p hục hồi, cho n ê n ch ú n g ta hiếm gặp ngôi đ ìn h được

dự ng lên lúc bấy giờ Trong m ộ t số trư ờ ng hợp, người ta chỉ tu sửa, hoặc d ự n g th ê m n h à tiền tế, hay h ậu cung, th ế thôi Đó là trư ờ n g hợp, củ a đ ìn h Hồi Q uan (Bắc Ninh), n h à h ậ u cung đình Phong Cốc (đảo H à Nam , Q uảng Ninh)

T riều N guyễn (thế kỷ XIX), dù cho ch ín h sác h củ a triề u đại này là gì, thì, sau q u á nhiều n ăm chiến tra n h , việc nước n h à

th ố n g n h ấ t cũng tạo điều kiện cho làng xã trê n đ ấ t Bắc ổn định trở lại, ít n h ấ t cũ n g tro n g m ột thời gian nào đó, xóm th ô n không còn q u á tiê u điều n h ư tro n g n ử a đ ầ u th ế kỷ th ứ XVIII nữa Dòng

m ỹ th u ậ t tru y ề n th ố n g có thời cơ đ ể phục hồi Cho nên, dưới thời Gia Long, n h iều đ ìn h lớn được dựng, đặc b iệ t đ ìn h An Đông (Q uảng Ninh), với n h ữ n g cột cái lớn chư a từ n g th ấ y (đường kính chân cột n h ữ n g 105cm ) Rồi th ì đ ìn h Tam Tảo (Từ Sơn, Bắc Ninh) C hùa cũ n g vậy, chẳng h ạ n n h ư c h ù a Đức La (Yên Dũng, Bắc Giang) được dự ng lại khá to lớn

Buổi đầu ấy q u a đi n h a n h chóng, rồi n h à N guyễn cũng như

n h à Lê sơ, đề cao Nho giáo, cóp n h ặ t và tru y ền bá n ghệ th u ậ t đương thời của T rung Hoa, ý thức có hệ th ố n g ấy đ ã góp p hần xác lập m ộ t bộ m áy v u a q uan chuyên chế, m à tín h ch ất tru n g ương tập quyền được củng cố th êm rất nhiều, so với các triều đại trước, không khỏi ản h hưởng đến dòng m ỹ th u ậ t b ắt n g uồn từ truyền thống lâu đời của dân tộc Phải chăng, đấy cũng là m ộ t tro n g nhiều

lý do, nếu không phải là lý do chính, khiến cho, dưới thời Minh Mệnh, triều vua có vẻ thịnh trị n h ấ t trong suốt lịch sử của nhà

N guyễn, việc xây c ấ t các công trìn h kiến trú c công cộng ở làng

xã chẳng đ án g là bao: về m ặ t này, ta chỉ gặp bia ký ở các kiến trú c do triề u đ ìn h lện h cho dự ng hoặc kiến trú c p h ụ g h ép th ê m vào các kiến trú c cũ T rong khi đó kiến trú c cu n g đ ìn h ở H uế h ú t

n h iều cố g ắn g cũ n g n h ư của cải N hà nước, và, tấ t n h iê n n h iều sức lao động củ a m ộ t bộ p h ận n h â n dân Từ cuối đời M inh M ệnh

Trang 12

về sau, đ ìn h được dự ng nhiều hơn ở m iền xuôi, vôi và gạch được

sử dụng, còn ở m iền núi, th ì gỗ v ẫn là nguyên liệu chính Kiến

trúc đ ìn h th âm n h ậ p cả vào n h ữ n g vùng tương đối hẻo lánh của

m iền ngược, h àn g loạt đình được trả i ra suốt từ Lạng Sơn qua

Bắc Sơn về T hái Nguyên; đình Long Đống, đình H ữ u Vĩnh, đình

Nông Lục, đ ìn h H ưng Vũ, đình Dục Lắc, đình Q uỳnh Sơn

T rê n đ ất m iền Nam, kể từ nay trở đi, cũng có đình, cũng

th ờ T h à n h hoàng Song, qu a n h ữ n g đình ở Sài Gòn và ở n h iều

làng x ó m x ung quan h , th ì cảm giác đầu tiên của ch ú n g tôi là m ột

số n é t khác b iệt giữa đình ở đây và đình ở m iền Bắc: hội đình

kém náo n hiệt, T hành hoàng đình nào th iên g thì còn được dân

nhiều nơi khác đ ến lễ bái (đình Ông ở ấp Phong Phú, h u y ện Thủ

Đức, th ư ờ n g n h ậ t th u h ú t cả người ở Chợ Lớn h ay xa hơn tới lễ)

Tuy ch ư a có đủ bằn g cứ để dám chắc n h ư n g chúng ta cứ ngờ ngợ

rằ n g ngôi đình ở m iền Nam, về th ự c chất, gắn n h iều hơn với tín h

ch ất củ a ngôi đền Phải chăng tổ chức có phần lỏng lẻo hơn của

làng x ã m iền Nam , so với tổ chức của làng xã m iền Bắc, đã làm

n h ạ t đi vai trò của ngôi đình làng

Đ ình làng là công trìn h kiến trú c được coi là lớn n h ấ t của

làng xã, là m ộ t tru n g tâ m văn hóa tru y ền thống của cộng đồng

T heo tin h th ầ n Nghị q u y ết 5 Ban chấp h à n h T ru n g ương

khóa VIII của Đ ảng về việc p h á t huy b ản sắc văn hó a d ân tộc th ì

việc n g h iê n cứu đ ìn h làng là m ộ t tro n g n h ữ n g trọ n g tâ m của

n h iều n g à n h khoa học M ặt khác, việc nghiên cứu đ ìn h làng là

tìm về v ăn hó a - n g h ệ th u ậ t tru y ền th ố n g dân tộc và góp phần

giới th iệ u tới công ch úng n h ữ n g giá trị văn hóa n g h ệ th u ậ t của

ông cha

1 N ghệ th u ậ t cổ Việt Nam là k ết tin h của tin h th ầ n người

V iệt "m u ô n đời m uôn th ủ a", trê n cơ sở cuộc sống h ằn g ng ày và

cách ứ n g xử củ a cộng đồng, của d â n tộc ta trước cái đẹp th ự c th ể

13

Trang 13

và tâ m linh Công trìn h n g h iên cứu về đình làng trê n các phương diện lịch sử và văn hóa với m ộ t cái n h ìn tổ n g th ể về b ản ch ấ t của cái đẹp h ữ u th ể và cái đẹp vô th ể tro n g sự đ an x en tư ơ n g hỗ của

ch ú n g th u ộ c tru y ền th ố n g văn hóa n g h ệ th u ậ t của d â n tộc

2 Lịch sử v ăn hó a - n g h ệ th u ậ t Việt N am g ắn ch ặ t với

n h ữ n g bước th ă n g trầm , p h á t triể n tro n g từ n g thời đ iểm của văn

hó a - n g h ệ th u ậ t dân tộc, ngôi đ ìn h là m ột tro n g n h ữ n g sản

p h ẩm tiê u biểu, ứng hợp với từ n g điều kiện của lịch sử Đó là

m ột đặc điểm r ấ t riêng, bởi vì không phải b ấ t cứ d ần tộc nào trê n

th ế giới, sự ứ ng hợp ấy cũng rõ n é t n h ư vậy Cũng giống n h ư sự

p h á t triể n của dân tộc về m ặ t xã hội, sự p h á t triể n củ a m ỹ th u ậ t nước ta diễn ra th à n h m ột chuỗi liên tục, không bị đ ứ t đoạn, tro n g đó ngôi đình là m ộ t tro n g n h ữ n g giá trị v ă n hóa - nghệ

th u ậ t và là m ộ t gạch nối trê n dòng chảy liên tục ấy để tạo n ên

m ộ t bình diện độc đáo

Công trìn h n g h iên cứu v ề đình làng Việt N am được trìn h bày n h ư m ột tổ n g hợp tư ơng đối đầy đủ n h ữ n g n h ậ n th ứ c về tổ hợp lịch sử v ăn hóa, kiến trú c n g h ệ th u ậ t đình làng C húng tôi

hy vọng rằ n g nó sẽ đáp ứng được p h ần nào yêu cầu của thự c tế

và n h ư m ộ t "cửa mở" cho n h ữ n g công trìn h tiếp sau

3 Trước kia có m ộ t số người (và n h iều người) tin rằng, m ỹ

th u ậ t V iệt N am cổ tru y ền , th eo cách nói của L B ezacier - người

đ ầu tiê n tìm h iểu m ỹ th u ậ t V iệt Nam, chỉ là "dạng th u ộ c địa" của

m ỹ th u ậ t cổ tru y ề n T rung Hoa, ch ẳn g h ạ n n h ư m ỹ th u ậ t Lý là

m ộ t biến d ạn g của n h iều khía cạn h của m ỹ th u ậ t Tống, m ỹ th u ậ t

N guyễn là m ộ t biến th ể của m ỹ th u ậ t T hanh N hận đ ịn h này dễ được chấp n h ậ n vì dù m uốn, dù không, cha ông ta đ ã từ n g tiếp thư m ột số yếu tố văn hóa - ng h ệ th u ậ t của dân tộc láng giềng C hính vì vậy, có m ột thời, nước ta đã bị coi là m ột nước

"T rung Hoa hóa" (Bezacier) ở Đ ông Nam Á, tro n g khi các nước

Trang 14

Lào, Cam -Pu-Chia, Thái Lan lại bị m ệnh d an h l à nhữ ng nước

"Ấn Độ hóa" N ghiên cứu văn hóa nghệ th u ậ t tru y ền thống Việt

Nam nói chung, đình làng nói riêng, trê n cơ sở quy luật lịch sử và

sự tiếp biến văn hóa, chúng ta sẽ loại bỏ dần n h ận định chưa

khách q u an trên , n h ằm xây dựng và phát triển n ền văn hóa Việt

Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc C húng ta đều hiểu rằng,

tiếp th u không đồng n h ấ t với "sao chép", v ả lại, bên cạnh những

yếu tố tiếp th u (mà cha ông ta đ ã từ ng d u n g hội m ộ t cách tu y ệt

vời dự a trê n cơ sở của tin h th ầ n tự tô n dân tộc) còn có b iết bao

yếu tố khác được b ắ t nguồn từ rấ t xa xư a trê n đ ấ t nước này,

C húng ta cũng h iểu rằng, m ột th ứ lý luận ch ung chung, khô

khan, không th ể làm th ay đổi m ột q u an n iệm đã được đ ịn h hình

Song, chỉ có th ể xóa bỏ nếp h ằn tư duy d ự a trê n n h ữ n g tài liệu

sin h động, cụ th ể m à công trìn h n g h iên cứu về văn hóa - n ghệ

th u ậ t đ ìn h làng sẽ góp phần vào việc làm đó Hy vọng rằng,

th ô n g qua công trìn h này, chú n g ta sẽ dễ d àng và tự n h iên hơn

tro n g việc khám p h á sự sáng tạo độc đáo của tổ tiên, trê n lĩnh

vực sáng tạo cái đẹp,

4 Một đặc th ù của n ền m ỹ th u ậ t cổ tru y ề n Việt Nam là sự

q u án triệ t tín h d â n dã tro n g văn hóa, hay nói đ ú n g hơn, trong

n ề n m ỹ th u ậ t cổ tru y ề n Việt ở thời quân chủ chuyên chế, chúng

ta không n h ậ n th ấ y có sự p h ân b iệt rạch ròi giữa dòng bác học

v à dòng d ân g ian (không phải n ề n m ỹ th u ậ t nào cũng có) Lịch

sử v ăn hóa - n g h ệ th u ậ t đình làng đ ã góp p hần k h ẳng định sự

sá n g tạo diệu kỳ củ a người dân lao động về m ặ t tạo hình

Vói tinh th ầ n nêu trên, chúng tôi tin rằng ấn phẩm Đình làng

V iệt (vùng châu thổ Bắc Bộ) sẽ là m ột công trình nghiên cứu có

tín h chất tổng hợp liên ngành, góp phần nêu b ật được giá trị bản

sắc văn hóa của ông cha ta, dẫn tới việc bảo tồn, xây dựng và phát

huy truyền thống tố t đẹp của Di sản Văn hóa Việt Nam

15

Trang 16

Ọ u á n n ghỉ, T h u n g L ũng, Ba Vì, Hà Nội

( T ư liệu: V M T )

T h ủ y đình, c h ù a T h ầ y , Q u ố c O ai, H à N ội

( T ư liệu: V M T )

Trang 17

Đình T h ụ y Phiêu, Ba Vì, Hà Nội

( T ư liệu: V M T )

Đình A n c ố , T hái T h ụ y , T h á i Bình, T K XVI I

( T ư liệu: V M T )

Trang 19

KHÁI QUÁT VỀ S ự HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÌNH LÀNG VIỆT NAM

N hiều loại h ìn h kiến trúc cổ truyền củ a người V iệt còn lại tới n g ày nay, có th ể tạm p hân định th à n h kiến trú c n h à ở d ân gian, k iến trú c cu n g điện, lăng tẩm , th à n h quách, kiến trú c tô n giáo tín ngư ỡ ng Trong n h ữ n g kiến trú c kể trê n , c h ú n g ta không th ể tiếp cận được với b ấ t kể m ột ngôi n h à d â n g ian nào có

từ giữa th ế kỷ XVII trở về trước Từ giữa th ế kỷ XVII trở về sau cùng lắm chỉ có th ể tìm được n h ữ n g kiến trú c n h à th ờ họ kiêm

n h à ở, còn n h à ở th ô n g thư ờng chủ yếu là sản p h ẩm của th ế kỷ

XX về sau Vì th ế , tro n g việc n g h iên cứu kiến trú c n h à ở b ắ t buộc c h ú n g ta phải tiếp cận từ góc độ lịch sử học kiến trú c và

K hông m ột kiến trú c tô n giáo nào được n ảy sin h từ m ộ t

sá n g kiến riên g biệt, đột ngột, m à mọi kiến trú c ít n h iề u đ ề u có gốc gác, dù g ần gũi, hay xa xôi đều b ắt n g u ồ n từ n h ữ n g ngôi n h à

ở Bởi c h ín h n h à ở, m ộ t khi đã vượt cao hơn n h u cầu trú n g ụ , th ì

nó đ ã c h ứ a đ ự n g cả n h ữ n g yếu tố văn hóa v à tâ m linh, n h iề u khi

Trang 20

nó p h ản á n h về vũ trụ qu an và n h ân sin h q u an thuộc n h ận thức của con người C hính n h ậ n th ứ c đó ià n ền tả n g tin h th ầ n cho mọi kiến trú c tô n giáo, tín ngưỡng và cả n h ữ n g ngôi n h à thời sau

Rõ rà n g n h ữ n g ngôi n h à kiểu m ới m à không m a n g th ầ n thái Việt,

tứ c m an g b ản sắc ẩn tà n g tro n g tâ m hồn của nó, th ì cũng trở

n ên có p h ầ n lạc lõng và xa cách Vậy kiến trú c n h à ở chính của người Việt, n h ấ t là ở đồng bằng Bắc Bộ, đã m a n g d án g dấp và ý

n g h ĩa gì?

Theo lịch sử kiến trúc, ch úng ta có th ể b iế t được người Việt

ở ch âu th ổ sông H ồng đã từ n g có n h iều kiểu n h à khác nhau, từ

n h ữ n g ngôi n h à đơn sơ n h iều tín h "tạm bợ", cả m ái và th án đều lợp lá, rồi n h ữ n g ngôi n h à vách trá t đất, lợp cỏ tra n h (ranh), hay

n h à sàn, n h à trìn h tư ờ ng và m ộ t kiểu n h à dài m ái dốc

T rong kiến trúc tô n giáo tín ngưỡng củ a người Việt th ì 3 dạng n h à sàn, n h à trìn h tường, nh à m ái dốc đã ít nhiều ảnh hưởng tới n h ữ n g m ặ t khác n h a u của ngôi chùa, đình, đền Vì

th ế ch ú n g tôi m u ố n điểm lướt q u a về th ầ n th á i củ a các ngôi nh à này trước khi đi vào n h ữ n g n é t cơ bản thuộc các kiến trú c đình

Nhà sàn

R ất n h iều cư dân ở v ù n g Đ ông Nam Á có n h à sàn Nhà sàn

h iện nay còn có m ặ t ở h ầu khắp địa bàn của các cư d ân thiểu số

V iệt Nam, cả ở Tây Bắc, Việt Bắc cho đ ế n tậ n Tây Nguyên.,

N hiều n h à n g h iê n cứu dân tộc học văn hóa còn cho biết, váo thời gian cách đây chỉ vài b a tră m năm , n h à sàn cũ n g có m ặ t ò vùng

châu th ổ sông Hồng Tới nay th ì n h à sàn cũng m ới chỉ lui về

m iền n ú i cách H à Nội khoảng hơn 40 km N hìn ch u n g , ncười ta

có th ể n h ìn th ấ y n h à sàn được th ể h iện dưới h a i dạng: m ột là,

n h ữ n g n h à là nơi ở củ a tiểu gia đình, nó có độ dài v ừ a đủ, n h iều khi chỉ gồm m ộ t gian hai chái, với bốn m ái lá, được dựng trê n các cột cao, th ấ p không n h ấ t loạt n h ư n h au , có khi chỉ cao vừa

18

Trang 21

đủ để chống sự ẩm thấp, n h ấ t là những ngôi n h à ở gần m iền xuôi C ũng có khi làm khá cao để còn sử d ụ n g không gian dưới sàn Ở v ù n g Tây N guyên, thoáng như còn tà n dư của chế độ

"m ẫu hệ", các gia đ ìn h con gái khi chưa ra ở riên g (cũng có khi không ỏ’ riêng) đã ở ch u n g với bố m ẹ v à dưới m ái n h à này thư ờ ng chiếm m ộ t không gian tương ứng, Do vậy m à ngôi nh à sàn được kéo kh á dài và có bờ nóc thường th e o trụ c Đông - Tây

Có m ột đ iểm đặc b iệ t là, n h à rông Tây N guyên có m ái rấ t cao,

n h ư n g n h à ở th ì m ái th ấp Đ iều chúng ta q u a n tâm là ý nghĩa và

n h ữ n g n h ậ n th ứ c khác n h au thuộc tâm linh của ngôi n h à sàn ở phía Bắc và ở Tây N guyên

T rong tru y ệ n cổ tích của người Việt có kể rằng; ở thời

n g u y ên thủy, tro n g cuộc sống hỗn m ang, con người còn ăn lông

ở lỗ, chư a có n hà, sống rấ t khổ cực Một hôm , vị tù trư ở n g bắt được m ộ t con rùa, đ ịn h làm thịt, thì rù a xin th a và n g uyện dạy cho người cách làm nhà Rùa đứng lên và bảo hãy th eo cái m ai này lấy tra n h làm m ái, th eo cái bụng p h ẳn g này lấy bương làm sàn, theo chân này m à c h ặ t cây làm cột T ất nhiên, câu tru y ện

m an g h ìn h th ứ c h u y ền thoại do chính con người tạo nên, nh ư n g trê n tin h th ầ n ấy người ta có th ể hiểu rằng, m ái n h à sàn cũng

n h ư m u rù a tư ợ n g trư n g cho bầu trời, sàn n h à cũng n h ư bụng

rù a bằng p h ẳn g tư ợ n g trư n g đất, vì thế, số n g tro n g ngôi n h à sàn

là n h ập m ìn h tro n g sự đối đãi giao hoà của ầm - dương, trời -

đ ất, để con người được n h ậ p vào trong dòng sinh lực của vũ trụ,

n ê n luôn được no đủ, khoẻ m an h và h ạn h phúc m ọi m ặt

Ngôi n h à sà n dài củ a Tây Nguyên với trụ c m ái th eo chiều

Đ ông - Tây cũng có ý th ứ c hòa vào vũ trụ N hưng đ iển h ìn h của

n h à sàn Tây N guyên phải là n h à rông Ý n g h ĩa về n h à rông cũng

n h ư h ìn h th ứ c v à n h ữ n g v ấn đề liên q u an th u ộ c lĩnh vực văn hóa của nó đã được n h iề u người nghiên cứu với n h ữ n g công trìn h dài n g ắn trê n sách, báo, n ê n ở đây chúng tôi chỉ d ừ n g lại trê n

Trang 22

m ộ t khía cạnh th u ộ c lĩnh vực tâm linh, liên q u a n đến k iến trú c tru y ề n th ố n g N hà rông điển hình, th ư ờ n g có m ái rấ t cao, th â n

rấ t th ấ p được làm th e o kiểu n h à sàn, d ự n g tr ê n cả m ộ t h ệ th ố n g cột v à rầm khá chắc chắn Thông th ư ờ n g ở h ai đ ầu bờ nóc là

"Đ ầu kìm " (như ''K hau cút"), gồm hai th e n gỗ hoặc tre b ắ t chéo,

n h ư n g n h iề u khi lại là đầu chim , m an g m ộ t giá trị b iể u tượng

g ắn với tâ m linh n ú i rừ ng Dọc bờ nóc nối từ "đ ầu kìm " b ên này

đ ến "đ ầu kìm " b ê n kia, n h iều khi cũng th ể h iệ n chim và h ìn h người T rong q u an n iệm của n h iều cư d ân trê n th ế giới, th ì loài chim do bay được ở trê n tầ n g cao nên đa số ch ú n g tư ợ n g trư n g cho tầ n g trời (trừ n h ữ n g con chim nước ít bay)

T rong m ộ t n gày mới gần đây, m ộ t d u y ên m ay đ ã đ ư a đẩy

ch ú n g tôi tới Kon Tum , Sa Thầy, vô tìn h được tiếp cậ n nhiều người già của địa phương, các cụ cho ch ú n g tôi b iết m ái n h à

rô n g phải cao 9 sải Khi hỏi về n h ữ n g m ô hình, th ì các cụ nhìn

th o án g q u a đ ã chỉ cho chúng tôi cái này đ ú n g , cái kia sai Hóa ra

9 sải chỉ là m ộ t cách nói tương đối có tín h p h iếm chỉ Với cái nh à rông m ô hình, có cái các cụ bảo đ úng 9 sải, có cái các cụ bảo sai

Đó là m ộ t lối nhìn q u e n m ắ t th u ộ c lĩnh vực tâ m linh và c h ú n g tôi

h iểu m ái phải v ú t lên, tạo th ế cao vời vợi n h ư k hông dứ t, p hần giữa m ái n h ư hơi th ó t m ột chút, về th ự c tế, h ầ u n h ư n ế u đo chính xác th ì m ái này không phải cao gấp 9 lần th â n n h à cũng không phải b ằn g 9 lần th â n hay sải tay b ìn h th ư ờ n g của con người, m à con số 9 là số tư ợ n g trư n g (biểu kiến), m a n g ý nghĩa

"n h iều " tro n g q u a n n iệm của người Việt Ở giải p h áp kiến trúc,

h iệ n tư ợ n g hơi võng th â n vào tro n g v à hơi loe ra ch ú t ít củ a bờ

m ái đ ã tạo ra cảm giác th a n h th o át, n h ẹ n h àn g , n h ư có xu hướng bay lên

C ũng tro n g dịp này, do đi ở trê n sàn cảm th ấ y cót két, ọp ẹp

v à m ộ t cảm giác th o á n g q u a là không v ữ n g chãi (dù rấ t chắc chắn), ch ú n g tôi có hỏi bỏ sàn này đi ở th ấ p x u ố n g đ ấ t có chắc

20

Trang 23

chắn hơn không? th ì m ộ t người trả lời ngay: "N hư th ế người ở chung với m a à" C húng tôi sửng sốt và chợt h iểu , ngoài n h ữ n g ý nghĩa, n h ư ta đ ã b iết với n h iều chức n ăng khác n h au , th ì n h à rông còn có m ộ t chức n ăn g khác là nơi ta m tầ n g th ế giới giao hòa, hay suy cho cùng cũng là m ột trục th ô n g linh giữ a tầ n g trê n

- n hân gian - th ế giới b ên dưới Và, ở m ột h ạ n chế nào đó, ngôi

n h à này n h ư m ộ t sự k ế t tụ tâm linh đến m ức độ cao để cho con người khi ngồi tro n g không gian nội th ấ t củ a nó đ ã n h ư được hòa

cá thẻ vào vũ trụ trư ờ n g tồn

Nhà trình tường

Không gian gắn với ngôi nh à này chủ yếu ở châu th ổ sông

H ồnc v à m ột p h ầ n ở H oa Nam Nhà trìn h tư ờ n g th ích hợp với

k h ô n j gian v ăn hóa cổ tru y ền của người V iệt ở v ù n g khí hậu

n h iệt đới gió m ù a Chắc chắn nh à trìn h tư ờ n g khó có n iên đại sớm lơ n n h à sàn, nó thích ứng với vùng đ ồng b ằn g th ấp , nơi có

th ể da cạn n h ữ n g n g u y ên liệu tự nhiên K hông gian củ a n h à trìn h tường, ch ủ yếu là ở các m iền quê châu thổ, gắn với các gia

đ ìn h tiểu nông tro n g cơ cấu xã hội th ô n dã Người ta có th ế nghĩ

rằ n g vào m ột làng q u ê của người Việt là tiế p cận ít n h ấ t với bốn khôn} gian v ăn hóa Nơi đồng ruộng tu y không còn chỗ nào

m an c tín h tự n h iê n n h ư ở vùng đồng núi nữ a, n h ư n g cũng có th ể

tạ m coi đây là không gian th ứ n h ấ t có yếu tố th iê n n h iên , không

g ia n th ứ hai: giữ a đ ồng ru ộ n g và ven làng, m a n g tín h n ử a th iên nhiên, n ử a v ăn hóa, không gian th ứ ba: vào tro n g làng là không

g ia n văn hóa, vào tro n g n h à được coi là không g ian v ăn hó a đậm

đ ặc Trong không gian ấy, tư duy nông n g h iệp V iệt biểu h iệ n qua

m ộ t số ứ ng x ử với th iê n n h iên và tâ m linh đ ã bộc lộ rấ t rõ Trước

h ế t rgôi n h à th ư ờ n g kh á thấp, không bao giờ cao hơn n h ữ n g cây

có th ân gỗ tru n g bình, nó n h ư m ang ý n g h ĩa bám lấy đ ất, chưa

có Ý “hứ c vươn th eo ch iều cao (có lẽ x u ấ t p h á t từ tin h th ầ n , từ ý

th ứ c th ự c dụng, ch ư a đẩy th ầ n linh lên cao) N hiều người cũng

Trang 24

cho rằn g , với ch ấ t lượng kém bền vững, ngôi n h à Việt khó vững trước bão tố tự n h iên n ê n không th ể vươn cao được, về không gian m ặ t b ằn g của khuôn viên, ch ú n g ta th ư ờ n g th ấ y các cây lớn chủ yếu được đẩy ra v en /b iên k huôn viên Ngôi n h à th ư ờ n g quay

về h ư ớ ng Nam , n h ư vậy n h à được nằm chủ y ế u ở phía Bắc của khuôn viên Trước m ắ t thư ờ ng là khoảng sân k h á rộng, h ìn h chữ

n h ậ t Trước thời hòa b ĩn h lập lại (1954) sân củ a n h à người nông dân chủ yếu để đ ấ t n ệ n chặt, n h iều khi đ ấ t đó được trộ n với m ột

ít vôi trấ u n ê n khá rắ n chắc Sân n h à ít n h ấ t có h ai tác dụng, m ột

là để phơi lúa, hai là tạo n ê n không gian th o á n g đ ãng trước m ặt nhà, ở phía trư ớc của sân thư ờ ng được trồ n g m ộ t dải hoa cảnh Tiếp đó th ư ờ n g là vườn rau, cũng có khi lại đ iểm m ột số cây ăn quả N hững cây ăn qu ả lưu niên, th ư ờ n g được trồ n g ở hai bên và phía sau N hà bếp được đ ặt v uông góc với n h à chính (chủ yếu nằm ở b ên trái) N hiều n h à có giếng nước n ằ m ở đầu hồi nh à chính và n h à bếp (vị trí này không có quy đ ịn h rõ rệt) Cũng có khi n h à vệ sinh và chuồng lợn được nối đầu với n h à bếp Cửa vào của ngôi n h à rấ t kỵ đi th ẳ n g từ m ặ t trước vào gian chính, m à

th ư ờ n g ở phía bên hoặc ở s á t góc phía trước, v ấ n đề đ ặ t ra ở đây không phải về tín h ch ấ t dân tộc học kiến trúc, m à h iện tượng mô

tả tư ơ ng đối này chỉ để n h ằm n h ấ n m ạn h k h ô n g gian làm nền cho ngôi n h à chính, ít khi (có n h ữ n g kiến trú c phụ) p h á vỡ sự

th o án g đ ã n g ở trước m ặt Từ th ự c tế đó, ngôi n h à với m ái th ấp càng có xu hư ớng n h ư bị h ú t x u ố n g đất T rong cách thứ c làm

n h à trìn h tường, người ta th ấy có m ấy điểm nổi b ậ t như: sau khi

đ ịn h vị về ngôi nhà, người ta vư ợ t đ ấ t lên làm n ề n n h à v à tường Đưcmg n h iên , đ ấ t được trộ n với m ạ t cư a/trấu v à vôi bột nhào

đ ều để tạo sự b ền vữ ng và trá n h n ứ t nẻ, n ề n n h à th ư ờ n g cao hơn m ặ t sâ n m ộ t chút, khoảng 20 - 30cm , n h ằ m trá n h nước m ư a vào tro n g lòng nhà

về n ề n n h à ở, dù sau này có điều kiện th u ậ n tiện, n h ư gạch

rẻ, song n h ữ n g người n ông dân châu thổ chỉ lát sân, không bao

22

Trang 25

giờ lát n ền n h à (đây cũ n g là h iện tượng không lát n ền của các kiến trú c tín ngư ỡ ng tru y ền thống ), vì người xư a q u an niệm rằng, lát n ền n h à b ằn g gạch hoặc chất liệu n h â n tạo là n g ăn cách

sự giao hòa của khí âm dương, khiến cho cuộc sống trong ngôi

n h à dường n h ư du ơ n g nhiều, âm ít, tạo sự m ấ t cân bằng v à hệ

q u ả là khó có kh ả n ă n g dàí dòng ỉớn họ T hiếu sự hỗ trợ của th ế giới âm , tro n g đó có cả tổ tiên, kèm th eo đó là v ậ t nuôi, cây trồ n g cũ n g khó có đ iều kiện sin h sôi và p h á t triển , d ẫn đến gia đình đó bị th ấ t b át Vì th ế, để lèn ch ặ t nền n h à người ta thư ờng chỉ đóng xuống n ề n n h ữ n g n ử a h ạ t trám hoặc đôi khi ở v en biển

là n h ữ n g vỏ sò m à thôi Đối với tường nhà, người xưa thư ờng

sử d ụ n g hai tấ m v án dài đ ặ t úp m ặt vào n h au , với khoảng cách bằng độ m ở của tư ờ ng, ken giữ cẩn th ận , rồi đổ đ ấ t và d ùng vồ

n ện chặt Sau đó n h ấc ván ra để thự c hiện ở độ cao kế liền Cứ

n h ư th ế lại n ân g v án lên để đổ lớp đ ấ t th ứ hai, th ứ ba cho đến khi h o àn th à n h bức tư ờ n g bao q u an h ngôi nhà N hững ngôi nh à

cổ trin h tường này có tư ờ ng rấ t thấp, th ư ờ n g chỉ n g an g đầu người (xấp xỉ 1,5 - l,6 m , có khi th ấp hơn) Phía sau và hai bên được bịt kín, p h ía trư ớc tạo m ộ t cửa ra vào ở chính giữa, hai bên

có cửa sổ với ch ấn song bằng các th a n h tre, cửa m ở chỉ là m ột tấm liếp đơn giản Mái n h à cũ n g chỉ là n h ữ n g v ậ t liệu gần n h ư tự cấp, tự túc, n h ữ n g đ òn tay, đòn nóc là n h ữ n g th â n tre được trồng phía sau bếp, còn m ái rạ (phần dưới của cây lúa) thì có sẵn Mái này th ư ờ n g được lợp dày, có khi tới 30 cm, n ê n tạo cho ngôi nh à

m á t về m ù a hè, ấm về m ù a đông Trong cách xây dự ng n h ư vậy

th ì ngôi nh à n ày rấ t tối, vì th ế , chỗ tra n g trọ n g n h ấ t v à sáng

n h ấ t tro n g n h à th ư ờ n g là củ a b àn thờ Ở đó, đối với n h ữ n g nh à khá giả cũng n h ư n h à bình thư ờng, đ ều chú ý tra n g trí n h ữ n g

m àu nóng, n h ằ m trá n h không khí lạnh lẽo, m à thự c ra chủ yếu chỉ để sưởi ấm tâ m hồn Nhìn chung, n h à trìn h tư ờ ng là m ộ t ngôi

n h à tiể u nông, th ích hợp với cả th ự c tế khắc n g h iệ t củ a th iên

n h iên v à tâm h ồ n người Việt tro n g q u á khứ, tru y ền th ố n g này

Trang 26

ản h hư ởng sâu đậm đ ến m ột số v ấn đề k ết cấu của các kiến trú c

tô n giáo, tín ngưỡng Việt

Nhà m ái dốc

Theo sử sách, dưới thời Trần, th ế kỷ XIII, xrv, sứ n h à

N guyên là T rần Phu có nói về ngôi n h à ở của người V iệt n h ư sau:

"Làm n h à không có kiểu gấp m ái hoặc chống kèo, m à từ đòn dông đ ế n m ái h iên cứ th ẳ n g tu ộ t m ộ t m ạch, n h ư đổ h ẳ n xuống Nóc n h à tu y h ế t sức cao n h ư n g m ái h iên th ì chỉ ch ừ n g bốn n ăm xích , có n h à còn th ấ p hơn n ử a là khác, cho n ê n tối, m ái n h à

n g an g m ặ t đ ấ t và trổ cửa sổ " (theo An Nam tức sự)

Q ua đó chú n g ta có th ể n g h ĩ tới m ộ t d ạng n h à cũng thích hợp với cư d ân Việt m à theo n h ư cố giáo sư Từ Chi, ngôi n h à này

có khả n ăn g b ắ t nguồn từ n h à của m ộ t hệ tộc bản địa th u ộ c dòng

M ôn-Khơm e, dạng n h à này ít n h iề u có sự biến đổi v à hiện còn

tồ n tại ở người S 'tiên g (tộc người ở phía Nam Tây N guyên - thuộc h ệ M ôn-Khơme) c ố giáo sư Từ Chi cũng có nói tới m ột dạn g n h à tư ơ n g đồng của người Papou ở n h ữ n g h ò n đảo nhỏ giữa Thái Bình Dương thuộc châu Đại Dương

Bỏ qu a ngôi n h à của người Papou để khảo s á t trự c tiếp

n h ữ n g ngôi n h à dạng này ở đ ấ t Bắc và của người S 'tiên g Gần đây kiểu th ứ c kiến trú c này v ẫn còn tiếp cận được tr ê n đ ấ t Bắc,

m ặc dù ch ú n g đã được biến đổi n h iều , n h ư n g bóng dáng của kiến trú c xư a n h ư còn được diễn ra (khoảng n h ữ n g n ă m 60 của

th ế kỷ XX trở về trước) dưới h ai d ạn g khác nhau

M ột là lều vịt nhỏ, hay lều ca n h ao, dưới d ạng m ái đầu n h à cong tròn, n h à này có khi làm trê n m ặ t nước, chỉ có tấ m liếp làm

m ái k h u m trò n đầu, to àn m ặ t sàn chỉ to hơn chiếc ch iếu c h ú t ít Hai là, kiểu n h à tạm khá lớn, dài , th ư ờ n g gặp ở n h ữ n g bãi m ía

v en sô n g Đáy của đ ấ t H à Nội, người ta dùng tre tạo n ê n k h u n g

n h à liền m ái Theo độ m ở của nhà, hai cây tre được cắm ch ân

24

Trang 27

x uống đ ấ t ở hai đầu hồi rồi vít ngọn buộc với n h a u ở trê n đỉnh,

n h iề u cây tre khác nối đòn nóc và chôn ch â n xuống hai bên, tấ t

n h iê n phải có n h ữ n g h o ành buộc chặt với k h ung để làm bộ xương cho m ái Ngôi nh à này khá cao (nếu đ ứ n g tro n g lòng nó),

m ái được lợp bằng lá mía, chạy suốt từ đ ỉn h xuống sá t dưới đất,

vì th ế không có tường, Cửa mở ở đầu n h à cũng có khi ở bên hông Tại m ộ t đầu là nơi để "m áy" quay/ép m ía do trâ u kéo, ở gần chính giữa là lò nấu m ật Đe thoáng khí, người ta đ ã tạo m ột

"m ái bẩng" kênh lên ngay phía trê n của lò nấu Ngôi n h à này cũng là kho m ía đ em từ bãi về Nhìn chung, n h ữ n g ngôi n h à kể trê n chỉ được làm m ang tín h tạm thời vào m ù a th u hoạch mía, khi gió heo m ay về, gần tế t N guyên đán m à thôi, n ê n nó chỉ tồn tại tro n g vòng vài b a tháng, chúng không được chú ý làm n ền và qua đó chỉ m an g bóng dáng gần với ngôi n h à m à T rần Phu đã kể cho ch ú n g ta biết

Với ngôi n h à của người S 'tiêng, về tín h c h ấ t đã gắn với nh à dài của đại gia đình Cũng có m ái dốc đổ hẳn xuống, th ân rấ t thấp, nhiều khi phải đục mái ra để tàm cửa vào Rõ ràng, đây là m ột

m inh chứng để chúng ta suy nghĩ về ngôi n h à của người Việt (ít

n h ấ t từ thời Trần trở về trước) Tuy nhiên, ngoài bộ m ái thì kết cấu bên trong của nó làm chúng ta suy nghĩ nhiều trong sự liên hệ với chức năng của ngôi đình làng, cố Giáo sư Từ Chi đã cho biết rằng, trong ngôi n h à này vừa có sạp sát phía sau lại vừa có sàn Dọc theo nhà, ở phía trong, là m ột chiếc sạp dài từ đầu hồi nọ đến đầu hồi kia, sạp này chỉ cao như m ột chiếc giường nơi thôn dã, trên có nhiều gia đình cùng hệ sinh sống Đầu tiên là nơi của bố m ẹ già, tiếp theo là gia đình của người chị cả, rồi th ứ hai, th ứ ba Hầu như không có m ột sự ngăn cách rõ rệ t nào trê n h ệ sạp này Tuy nhiên,

ra n h giới được p hân đinh rõ ràng bởi nhữ ng "lều lương thực" được

đ ặ t chính giữa ngôi nhà, lều là của từ ng tiểu gia đình, c ố Giáo sư

Từ Chi còn cho biết, trước đây, lều này được dựng trên bốn cột

Trang 28

đóng xuống m ặt đ ất tại vị trí ran h giới giữa gia đình của người chị

và của ngườỉ em tiếp theo Ở phía trê n cao, người ta làm m ộ t m ặt sàn, có vách đứng bao quanh, để đựng lương thực Cả h ệ thống chứa lương thực này đều được đ ặt sát với đòn nóc v ấ n đề đ ặt ra, ngoài hình thức của bộ m ái và th ân n h à thấp, th ì sạp là nơi nghỉ ngơi, còn sàn là nơi để lương thực Đó là m ột dấu tích về kết cấu

nh à cổ truyền, để chúng ta suy nghĩ kỹ hơn về kết cấu ván sàn của ngôi đình làng đ ấ t Bắc với nơi thờ Thành hoàng làng và nơi ngồi họp của chức sắc cùng dân đình

C húng tôi không có điều kiện n g h iên cứu về m ọi kiểu nh à của các tộc người, n ê n chỉ dừ ng ở n h ữ n g ngôi n h à có m ộ t số vấn

đề, m à th eo chủ q uan của m ình, tạm coi có liên q u a n tới n h ữ n g đối tư ợ n g kiến trú c là ngôi đình m à thôi

Mặt khác, chỉ có nhữ ng công trình văn hóa ít nhiều gắn với tôn giáo tín ngưỡng là sản phấm phổ biến trong cộng đồng, chúng

có m ặt thường xuyên ở nơi thôn dã, và bám rấ t ch ặ t vào những bước đi cơ bản của dân tộc; nó phản ánh, ở m ộ t khía cạnh n h ất định, tín h liên tục của lịch sử, và chính qua đó, nó duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Các di tích này, tuy đã gắn với sinh h o ạt tâm linh, như ng phạm vi p hản ánh của chúng "m ênh m ông'' hơ n rấ t nhiều,

đó là vấn đề của lịch sử và xã hội, là nhịp thở của thời quá khứ, là nhữ ng ước vọng truyền đời của tổ tiên Vì thế, chúng đã vượt lên trê n yếu tố th ầ n linh để trở th à n h m ột đối tư ợ n g đ á n g q u an tâm của lịch sử Có th ể n g h ĩ rằng, n h ữ n g di sản v ă n h ó a v ậ t th ể này

là n h ữ n g tra n g sử cụ th ể bằng kiến trú c n g h ệ th u ậ t, đủ lực bào

m òn n h ữ n g tư duy giáo điều, nhữ ng định hình sai trái cho qu á khứ

Đối tư ợ n g m à ch ú n g ta có th ể tiếp cận được h iện còn rất nhiều, đó là: đền, m iếu, quán, điếm , chùa, đình, lăn g m ộ, nh à thờ T rong n h ữ n g kiến trú c đó th ì đình là m ộ t loại di tích được

n h iều n g ư ờ i q u a n tâ m T rong sâu th ẳ m c ủ a n h ậ n th ứ c đời

26

Trang 29

thư ờng, khi nói đ ế n ngôi đình, người ta n g h ĩ n g ay tới kiến trú c lớn n h ấ t củ a là n g xã, đ ồ n g thời cũng có th ể coi đây là m ộ t kiến trú c bắt n g u ồ n từ th ờ i tiề n sử, sơ sử củ a d â n tộc N hiều n h à

n g h iên cứu c ủ a th ế kỷ XX đă cố công ngư ợ c d ò n g lịch sử đế tìm về n g u ồ n gôc củ a đ ìn h , họ đã tiếp cậ n từ góc độ các vị

th ầ n linh liê n q u a n , cả tr ê n phư ơ ng d iện so sá n h k iến trú c với

n h ữ n g ngôi n h à có n é t tư ơ n g đồng của tộc người th iể u số để

g ần Iihư tin rằ n g , ngôi đ ìn h của người V iệt là m ộ t sản p h ẩm của sự v ậ n đ ộ n g tự th â n dân tộc, là sự tổ n g h ò a của n h iều dòng chảy v ă n h ó a n hư : n h à sàn, n h à rô n g Tây N guyên, n h à

th u y ề n v e n b iể n v à n h iề u y ếu tố khác Người ta cũ n g ch ư a xác

đ ịn h được m ộ t cá ch cụ th ể n iê n đại khởi d ự n g củ a đình làng, khiến cho đ ế n nay chư a có m ột giả th iế t nào đủ sức th u y ế t phục hoàn to àn tro n g n h ậ n th ứ c của chúng ta Trong n h ữ n g năm trước đây, m ộ t n h ó m n h à n g h iên cứu dân tộc học kiến trúc, dưới

sự trợ giúp củ a cố Giáo sư Từ Chi đã đư a ra m ộ t n h ậ n th ứ c có phần b ất ngờ là: đ ìn h được phân định th eo n h iều d ạng khác nhau, đồng th ờ i đ ặ t ra m ộ t "giả th iế t để làm việc" về sự x u ất

h iện của đ in h làng là vào khoảng cuối th ế kỷ XV, định hình vào

th ế kỷ XVI, p h á t triể n vào cuối thế kỷ XVII, suy dần vào th ế kỷ XVIII, và b iế n đổi b ản c h ấ t vào th ế kỷ XIX Đây là m ột n h ận

đ ịnh tu y đ ộ t n g ộ t, n h ư n g ngày càng được n h iều người q u an tâm

và tan th à n h , đó là m ộ t tro n g không n h iều hướng n g h iên cứu được n ê u ra với c h ú n g ta C húng tôi theo lu ận điểm này để dẫn dòng chảy n h ậ n th ứ c vào "đình làng Việt"

Đ ình th e o n h iề u người, có nghĩa là d ừ n g lại Trong q u á khứ

x a xòi, không riên g chỉ ở nước ta, m à n h ư ở T rung Hoa cũng có đình, n h ư n g n h ữ n g đ ìn h cổ tru y ền ấy không phải là đình làng

n h ư ở Việt N am m à c h ú n g ta biết đến hiện nay T rên diễn trìn h lịch sử của k iến trúc, ch ú n g ta biết có n h iều loại đ ìn h khác nhau,

tạ m có th ể x ếp vào m ấy d ạn g cụ th ể n h ư sau:

Trang 30

Đ ình quán, là q u án n g h ỉ được nằm rải rác v en n h ữ n g con đường giao th ô n g cổ truyền, cũng có khi nó được d ự n g ở giữa cán h đồng, m a n g chức n ăn g của m ộ t ngôi n h à n g h ỉ trá n h nắng,

m ư a cho n h ữ n g người đi đường, n h ữ n g người n ô n g d ân làm

ru ộ n g H iện nay, đây đó, còn th ấ y n h ữ n g ngôi đình n à y ở v ùng

n ông thôn, n h iều khi nó chuyển h ó a th à n h m iếu th ờ n h ữ n g th ầ n linh không d an h tín h hay cô hồn bơ vơ, cũng có khi là nơi th ờ thổ

th ầ n /th ổ địa T ất cả n h ữ n g ngôi đ ìn h này đều n úp dưới b óng cây

um tù m v à n h iề u khi tro n g đ ìn h còn có q u án bầy bán chè x an h

v à m ộ t vài sản p h ẩm nơi th ô n dã N hững ngôi đình n ày th ư ờ n g được làm rấ t đơn giản, n h iều ngôi m à ch ú n g ta gặp được còn giữ bóng d án g củ a kiến trú c 4 m ái Có lẽ nó đồng n h ấ t với n h ữ n g

d ạng điếm th ờ của xóm , còn lại khá n h iều ở v ù n g Sơn Tây (nhữ ng điếm này có khi vẫn còn sàn và có bàn th ờ bày ở chính gian giữa, chủ yếu là th ờ vị th ầ n bảo vệ đ ấ t đai của d â n cư xóm làng Kết cấu của kiến trúc n ày th ư ờ n g nhỏ, m ột gian h ai chái với bộ k h u n g bằn g gỗ lợp ngói cổ)

Một d ạng kiến trú c khác cũng được nhắc tới tro n g sử sách,

đó là tò a n h à ba gian tư ờ ng hồi bít đốc, có khi để trố n g ở hai m ặt trư ốc sau, hoặc gian giữa, n h ằm th ô n g gió, đ ến m ù a đ ông thì phía sau được bịt lại cho ấm b ằn g các v ậ t liệu khác n h au , tới

m ù a nực lại bỏ ra Hai gian bên có khi xây bục để ngồi hoặc nằm nghỉ N hữ ng n h à này cũng th ư ờ n g có q u án nước, c h ú n g có th ể là sản p h ẩm kiến trú c cách ngày nay khoảng vài ba tră m năm

N hững q u án n g h ỉ kiểu này đã được dân địa phương coi n h ư m ột kiến trú c h ằ n sâu vào tư duy của m ình, vì vậy, g ần đây ta vẫn còn th ấ y n h ữ n g đ ìn h /q u án đó được xây m ới b ằng c h ấ t liệu h iện đại, ch ẳ n g h ạ n n h ư ở v ù n g T hạch T h ấ t (Hà Nội), g ần con đư ờng Láng - H òa Lạc có m ộ t ngôi n h à m ở cử a giữa, hai cử a sổ ở hai gian b ê n và có cả cửa sổ đ ầu hồi So sán h giữa kiến trú c n à y với

đ iếm can h đ ê không xa cách n h a u bao n h iêu

28

Trang 31

Chúng ta có th ể tin được rằng, ở nhiều nơi, m ột số đình/quán kiểu này đã hội n h ập với các kiến trú c m an g n h ữ n g chức n ăng khác n h ư m iếu "m ục đồng" hay m iếu ''th ờ th ầ n lúa", m à từ nửa sau th ế kỷ XX đ ến nay không còn th ấy nữ a, (chỉ b iết được qua điều tr a hồi cố ở v ù n g T hanh Oai) Như th ề, rõ rà n g n h ữ n g đình

q u án này có chức n ăn g chính là để n g h ỉ ngơi với ý th ứ c thự c

d ụ n g của n ô n g d ân Việt Người ta cũng k ết hợp chú n g với m ột

p h ầ n của tứi ngư ỡ ng dân gian để vừa làm chỗ nghỉ tạ m cho người, vừ a làm nơi trú n gụ của m ột số th ầ n linh cấp th ấp Ngoài

ra, th e o lịch sử, vào thời T rần (Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu) có cho b iế t rằng: vào th u ở hàn vi, T hượng hoàn g (Trần Thái Tông)

có tới nghỉ tại m ộ t đình q u án và được m ộ t th ầ n n h â n coi tướng

đ o án đ ịn h rằ n g "người này về sau sẽ đại quý", nay n h à v u a lệnh cho các nơi đem tư ợ n g P hật vào thờ N hư vậy, ng ay từ thời Trần

đ ã có h iện tư ợ n g P h ật giáo hóa q uán nghỉ

Các n h à n g h iê n cứu về lịch sử kiến trú c cho chú n g ta biết,

có th ể đ ìn h q u án đ ã x u ấ t hiện từ rấ t sớm, khi người V iệt khai

p h á châu th ổ sống Hồng, biến vùng này th à n h đồng ru ộ n g iàng xóm trù phú Vậy n iên đại q u án đình Việt có khả n ă n g ra đời từ

kh o ản g tr ê n dưới 2 0 0 0 năm trước đây Tuy nhiên, dấu v ế t còn lại

củ a n h ữ n g ngôi đ ìn h dạng này hiện chỉ là sản p h ẩm chủ yếu của

th ế kỷ XX m à thôi

Trở lại vấn đ ề lịch sử, nhiều n h à n g h iên cứu còn n g ờ rằng,

x u ấ t p h á t từ n h ữ n g ngôi đ ìn h q uán dạng n ê u trê n v à m ặ t nào có

sự ả n h h ư ở ng của v ăn hóa T rung Hoa, m à m ộ t số kiểu đ ìn h khác được h ìn h th àn h , tro n g đó có n h ữ n g q u án n g h ỉ củ a sứ th ầ n địa

p h ư ơ n g hoặc ngoại quốc, trước khi vào tiế p kiến n h à vu a Ngôi

đ ìn h q u á n ấy th ư ờ n g ở sát kinh th àn h , kiến trú c của nó m ang

d ạn g th ứ c n h ư th ế nào hầu n h ư không được ghi chép lại Qua khảo sát đ iề n dã khảo cổ học, tại kinh th à n h Hoa Lư (Ninh Bình),

c h ú n g ta có th ể tạ m coi ngôi đình q u án ở phía ngoài cửa động

Trang 32

T hiên Tôn là m ột ngôi đ ìn h có dấu v ế t sớm n h ấ t về d ạn g đình kiểu th ứ c này ở nước ta,

Phươ ng đình, là n h à có n ề n vuông, k ết cấu th eo kiểu thứ c

2 tầ n g 8 m ái, đôi khi cũng có kiến trú c phư ơ ng đ ìn h b a hay m ột

tầ n g m ái D ạng phư ơng đ ìn h th ư ờ n g được gắn với n h ữ n g gác chuông, ta m q u an kiểu gác chuông, n h à th ủ y đ ìn h (gắn với m ú a rối) hoặc n h iề u khi m an g tư cách n h à th iê u h ư ơ ng hoặc th ậ m chí

đ ặ t ở p h ía trư ớc n h ư m ộ t n h à tiề n tế Dấu v ế t củ a n h ữ n g phư ơng đ ìn h này được ngờ là có từ thời Mạc (thế kỷ th ứ XVI), song vào th ế kỷ XVII, th ì chắc ch ắn h iện nay còn có th ể tiếp cận được, ch ẳ n g h ạ n n h ư th ủ y đ ìn h đ ề n Phù Đổnq, gác ch uông ch ù a Keo và m ộ t vài di tích khác T rong loại h ìn h này có th ể chữ

"Đ ình" chỉ là m ộ t từ m ượn để chỉ ngôi n h à có n ề n v u ô n g kể trên

C húng không có nghĩa là q u án nghỉ, càng không có n g h ĩa là đình làng, bởi n h ữ n g tòa phương đ ìn h đó lúc là gác ch uông (chùa Keo,

ch ù a Bút Tháp, ch ù a Bối Khê), lúc là tò a th iê u hư ơng (đền An Dương V ương ở c ổ Loa), lúc là n h à bia (Cổ Loa v à Văn M iếu, Hà Nội), lúc là ngôi n h à gắn với việc chống lụt/lầy (Trấn Ba Đ ình ở

đ ền Ngọc Sơn, Hà Nội, T rấn G iang Lâu, đ ền C hả Đ ồng Tử, H ưng Yên) N hư vậy chỉ m ới điểm q u a đ ã th ấ y phư ơ ng đ ìn h không

d à n h để m an g m ột chức n ăn g riên g b iệ t cho m ộ t kiến trúc tôn giáo tín n gư ỡ ng nào, m à, trê n th ự c tế nó là m ộ t kiến trú c th à n h

p h ần tro n g n h ữ n g công trìn h kiến trúc khác n h au , c h ú n g v ừ a có vai trò tạo sự tô n quý, vừ a là đ iểm n h ấ n n g h ệ th u ậ t tro n g tổng

th ể công trìn h kiến trú c

Người ta cũng còn d ù n g chữ đ ìn h để chỉ n h ữ n g kiến trúc khác nữ a, n h ư đình tạ (tọa), n h iề u khi là ngôi n h à n g h ỉ nử a trê n đất, n ử a tr ê n nước tro n g m ộ t q u ần th ể kiến trú c lớn, ngôi nh à

n ày th ư ờ n g được làm khá đẹp, cầu kỳ, yên tĩn h m a n g g iá trị

th ư g iãn rấ t cao, điển h ìn h n h ư tro n g lăng tẩ m củ a v u a Tự Đức tại H uế

30

Trang 33

Đ ình làng, có th ể COI là m ột kiến trúc lớn n h ấ t tro n g n h ữ n g kiến trú c th ô n dã trước đây (chủ yếu ra đời dưới thời q u ân chủ chuyén chế Nho giáo) Chúng có nhiều chức n ăn g khác nhau, trước h ế t có th ể coi là m ột trụ sở của chính quy ền q u ân chủ Nho giáo, nơi ban bố chinh lệnh của triều đình Từ lúc h ìn h th àn h ,

đ ình làng củ n g là nơi giải quyết nhữ ng việc công của làng như sưu th u ế , phu, lính Đình làng còn là m ột tru n g tâ m sinh h o ạt

v ăn hó a riên g của làng theo kiểu thức "trống làng nào làng ấy

đ ánh, T h án h làn q nào làng đó thờ" Đình làng là nơi tậ p hợp dân

đ inh khi có việc làng, đồng thời cũng là nơi hội họp th ư ờ n g

x u y ên củ a các hội đồng kỳ m ục, nơi khao th ư ở n g đón tiếp qu an chức cấp trê n , đón tiế p người đỗ đạt Đ ình làng là nơi thờ

T h àn h h o àn g làng., đương n h iên vai trò của đình làng còn lệ thuộc vào điều kiện h o àn cảnh của từ n g làng m à sẽ có th ê m m ột vài chức n ăn g khác

Từ ngôi đ ìn h làng, người ta có th ể tim ra được rấ t n h iều vấn đề liên q u a n tới lịch sử và xã hội chung của dân tộc Trong phần này c h ú n g tôi chỉ d ư n a lại à m ột số khía cạnh thuộc lĩnh

vực văn hó a v à n g h ệ th u ậ t, m à chưa có khả n ăn g đi sâu toàn diện vào m ọi v ấn đề Dựa vào nhữ ng kết q u ả n g h iê n cứu h iện

n ay về n g u ồ n gốc, diễn trìn h p h át triể n của đình làng, chú n g tôi

sẽ đề cập m ộ t cách khái q u á t nhữ ng vấn đề liên q u an tới kiến trúc này

N hư trê n đ ã trìn h bầy, thời Lê sơ (thế kỷ XV) là giai đoạn

b ản lề ch u y ển đổi từ chế độ q u ân chủ chuyên chế P h ật giáo sang chế độ q u ân ch ủ chuyên chế Nho giáo Nếu ở thời n h à Lý, địa bàn trự c trị củ a triề u đình, p h ản ánh q u a di sản văn hóa v ậ t thể, chỉ m ới n ằm tro n g khu vực châu thổ sông H ồng v à v en th eo biển tới Bắc T h an h Hóa; thời T rần đã chú ý tới m ột số v ùng biên viễn liên q u a n đ ế n n h ữ n g con đường xâm lược của q u ân N guyên

M ông N hư vậy, về cơ bản, hai triều đại này chỉ n ắm được các

Trang 34

ch âu m ụ c ở x a dưới phương th ứ c ky m i(1), dù cho thời T rần ch ặ t chẽ h ơ n th ờ i Lý, ch ín h từ sự p h á t triể n đó đ ã tạo đ iều kiện cho

n h à Lê sơ c h iê u tậ p được n h iều th ủ lĩnh địa p hư ơ ng cùng th a m gia k h á n g c h iế n (việc T rần Lựu chém Liễu T hăng ở Chi Lăng là

m ộ t ví dụ) Có th ể từ đây người Việt đã n h ậ n th ứ c sâu sắc hơn

rằ n g , m u ố n bảo v ệ độc lập dân tộc thì buộc phải củ n g cố m ối đại

đ o àn k ế t cộ n g đ ồ n g n h iều tộc người, đồng thời củ n g cố uy lực

củ a triề u đ ìn h m ạ n h m ẽ hơn về m ặt chính trị cũng n h ư n h iều

m ặ t khác T rê n đ ịa bàn th ự c tế đã th ấy d ấu tích củ a n h à Lê sơ để lại từ n h ữ n g n ă m 30 của th ế kỷ XV ở Hoà Bình, Sơn La, Cao

B ằng v à n h iề u v ù n g xa khác, rồi đến n ử a cuối th ế kỷ này k h ẳn g

đ ịn h hơ n ờ v ù n g H ạ Long Ngoài ra, Lê T h ánh Tông (qua tru y ề n

th u y ế t) cũ n g đ ã đ ể lại dấu tích của m ìn h trê n n ú i "đá bia" tại

m iề n N am T ru n g Bộ, T ất cả n h ữ n g điều n ê u trê n cho th ấ y sức

m ạ n h củ a n g ư ờ i V iệt đ ã được khẳng đ ịn h q u a triề u đ ìn h đương thời, với h ạ t n h â n cơ bản là tộc người chủ th ể M ột "sá n g kiến" dưới th ờ i Lê T h á n h Tông là tạo ra ngôi đ ìn h th e o m ộ t d ạn g mới

C hưa rõ n h ữ n g ngôi đình này được đưa vào n ô n g th ô n dưói h ìn h

th ứ c nào, n h ư n g m ộ t tro n g n h ữ n g ngôi đ ìn h được sách vở nhắc tới là đ ìn h Q u ả n g Văn, được làm vào n ăm 1492 N ếu chỉ d ự a vào

sử sác h th ì có th ể n g h ĩ rằng, ngôi đình trê n chỉ m a n g tư cách là trụ sở đ ể b a n bố ch ín h lện h củ a n h à vua • I về m ặ t kiến trú c, đình• 9

Q uảng V ăn đ ã được triề u đình Lê sơ k hen ngợi, vì nó th ích hợp với ý đồ v à h o à n cản h lúc đó Thông q u a n h ữ n g dòng sử sách,

c h ú n g ta có th ể th ấ y nó không vượt qu á "uy th ế " cung điện, m à

v ẫ n đ á p ứ n g được yêu cầu là đại diện cho triề u đ ìn h ở m ặ t h ìn h

th ứ c, có n g h ĩa nó g ần n h ư m ộ t biểu tượng của uy lực, n h ư n g lại

có k h ả n ă n g th íc h ứ n g với x ã thôn Ở thời Lê sơ, b à n tay c h ín h trị

c ủ a triề u đ ìn h đ ã "đóng d ấu " vào xã th ô n m ộ t cách m ạ n h m ẽ

(1) Quản lý năng lực ràng buộc (qua phong tước, gả công chúa).

32

Trang 35

hơn, th ể h iện ở việc xác lập vai trò của Lý trưởng N hân v ậ t này

ít n h iều n h ư làm cạn m òn đi yếu tố kính sỉ (trọng lão) v ốn đ ã tồ n tại lâu đời ở nơi th ô n dã, để xác lập tín h ch ấ t kính tước liên q u a n tới ch ế độ q u ân chủ chuyên chế Nho giáo Có th ể n g h ĩ rằ n g Xã trưởng, Lý trư ở ng gần n h ư có chức năng hai m ang, v ừ a đại d iện cho triề u đình tro n g mối q u an hệ với dân chúng, lại v ừ a đại diện cho d ân chú n g tro n g q u an hệ với triều đình, và n h â n v ậ t n ày không do triều đình cử về m à do chính n h ữ n g người d â n sở tại

cử ra N hư vậy, tạ m coi Lý trư ở n g là m ột hình th ứ c n h â n d ạn g của đặc tín h Việt tro n g m ối q uan hệ trê n - dưới ở th ờ i Lê sơ, và ngôi đ ìn h cũng dường n h ư m ang tín h ch ất đó dưới d ạ n g kiến trúc Có lẽ tín h hai m an g đã tạo sức sống và sự tồ n tạ i cho ngôi đình, để rồi tro n g diễn trìn h p h á t triển, nó th ă n g trầ m cù n g với

n h ữ n g b iến động của làng xã

N hư trê n đã trìn h bầy, đình là m ột từ d ù n g c h u n g cho

n h iều kiến trúc, còn đình làng là dạng riêng biệt, sản p h ẩ m của

m ột thời kỳ lịch sử, xã hội n h ấ t định Trong d iễn trìn h lịch sử của ngôi đình, chúng ta n h ư th ể rú t ra được m ột số v ấ n đề v ề lối

ứ ng xử củ a người dân qu a loại kiến trúc này với tư cách n h ư m ộ t

"giả th iế t để làm việc"

N hư th ế, có th ể tạm n g h ĩ rằng, khởi đầu giai đ o ạ n m a n h

n h a củ a đ ìn h làng là từ thời Lê sơ Đây là giai đ o ạn ch u y ể n đổi của chế độ xã hội (từ q u ân chủ chuyên chế Phật giáo sa n g q u â n chủ ch u y ên chế Nho giáo) với sự "lên ngôi" của tầ n g lớp Nho sĩ Tuy n h iên , cũng phải có m ộ t thời gian dài n h iều ch ụ c n ă m m ới

có m ộ t loại kiến trú c thích hợp tương đối to lớn được h ìn h th à n h dưới th ờ i Lê T hánh Tông Có lẽ, ở dưới thời Lê sơ, loại kiến trú c trê n v ẫ n chưa có yếu tố đầy đủ của m ột ngôi đ ìn h làn g n h ư

ch ú n g ta đ ã từ n g hiểu, m à chủ yếu chỉ để m an g chứ c n ă n g cơ bản liên q u an đ ến "bàn tay chính trị" của triề u đ ìn h , ở nơi đó ban bố chính lện h của n h à vua Trong m ột giới h ạ n nào đó,

Trang 36

ch ú n g ta có th ể tạm n g h ĩ rằn g , đây là trụ sở củ a ch ín h quyền, nơi m à n h ữ n g người đại diện cho triề u đ ìn h tiế p cận với d ân chúng Đ iều còn chư a rõ là kiến trú c này đã th ự c sự có m ặ t rộng rãi ở các làng x ã chưa, hay mới chỉ dừ ng lại ở n h ữ n g tru n g tâ m

lỵ sở (?) Vì th ế ch ú n g tôi mới chỉ dừng lại ở m ứ c độ coi nhữ ng kiến trú c d ạn g trê n là sự m a n h n h a của đình làng

Ngôi đ ìn h làng sớm n h ất, m à ta b iết được h iệ n nay, là đình Thụy P hiêu ở Ba Vì - H à Nội, có ghi rõ m ột n iê n đại ở đ ầu cột vào

th ế kỷ XVI (Đại C hính nhị niên, 1531), và chỉ là n iên đại trù n g

tu, vì vậy có th ể n g h ĩ rằng, đ ìn h Thụy Phiêu đ ã được khởi dựng vào m ộ t thời đ iểm trước đó Từ đây có th ể đ ặ t ra m ộ t giả th iế t là, ngay đầu thời Mạc, xu hướng p h á t triể n của kinh tế thư ơ ng m ại dọc th eo sông Hồng, sông Đáy cùng với sự p hục hồi củ a văn hóa

d ân dã đ ã cho p h ép ở m ặ t nào đó giữa triều đ ìn h v à q u ầ n chúng nơi th ô n xã không còn có sự n g ăn cách rạch ròi n h ư dưới thời Lê

sơ, n ê n h iện tư ợ n g dân gian hó a ngôi đình để chuyển nó th àn h

đ ìn h làn g cũng là đ iều có th ể hiểu được T rong buổi khởi đầu này, khi đ ìn h trở th à n h m ộ t th ự c th ể văn h ó a củ a làng xã, người dân đã hội n h ập vào đình làn g n h ữ n g sin h h o ạ t của th ô n dã, tro n g đó bao gồm cả sinh h o ạ t trầ n gian và sin h h o ạ t tâm linh,

có th ể coi đây là tiề n đề cho sự x u ấ t h iện củ a các vị th ầ n linh

d ân d ã hoặc được d ân dã hóa tại chốn th â m n g h iêm của đình làng Điều n ày đ ã xảy ra đối với n h iều ngôi đ ìn h ở v ù n g Ba Vì, tro n g đó có đ ìn h Thuỵ Phiêu với Tản Viên Sơn T hánh Như vậy,

n gay từ khi b ắ t đầu chuyển từ "trụ sở" th à n h đ ìn h làng th ì kiến trú c n ày đ ã có yếu tố của m ộ t ngôi đền th ờ th ầ n T ất nhiên, người ta v ẫ n không bỏ đi chức n ăn g khởi n g u y ê n của nó, và tín h

d u n g h ò a đ ã khiến cho cả tầ n g lớp trê n và b ìn h d ân lớp dưới đều được th ỏ a m ã n với d ạn g th ầ n linh này Khồng rõ các vị th ầ n này được gọi là T h àn h h o àn g làng từ khi nào, chỉ b iế t rằn g , tro n g quá trìn h p h á t triể n của kiến trú c tô n giáo ở n ô n g th ô n Việt thì

34

Trang 37

T hành hoàng làng th ư ờ n g được thờ tại đ ìn h (nhiều khi cũng được thờ tại n h ữ n g ngôi đền, nghè, m iếu có liên q u an trự c tiếp tới ngôi đình) T rong n h iề u lễ hội, người ta rước T hành hoàng làng từ m iếu - n g h è về đ ìn h để làm lễ tế v à th ự c h iện các sinh

h o ạt tâm linh liên quan H iện tượng này củng ít n h iều tương đồng với n h ữ n g lễ hội của các hệ kiến trú c đ ề n th ờ n ằm tro n g

m ộ t h ệ th ố n g tín ngư ỡ ng khác, như trong h ệ th ố n g th ờ Tứ Pháp

ở chùa Dâu Vào ngày hội người dân các làng thư ờ ng rước tượng của các bà P háp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ở các ch ù a Đậu, chùa Tướng, ch ù a G iàn về ch ù a Dâu rồi rước v ề ch ù a M ãn Xá; hay

n h ư ở Nghi Lộc, T h an h Oai, nhiều làng k ết chạ cũng rước bài vị

T hành h o àn g làng củ a th ô n m ình về đình làng Nghi Lộc N hiều

n h à n g h iê n cứu n g h ĩ rằn g , h iện tượng kể trê n x u ấ t p h á t từ n h iều

n g u ồ n gốc: M ột là, các vị th ầ n này, m ột sản p h ẩm của tư duy dân

dã, theo sự tích có m ối liên q uan trực tiếp với cuộc sống của con người (như m ây, m ư a, sấm , chớp gắn với n g u ồ n nước no đủ) hay n h ư ở đ ìn h N ghi Lộc là gắn với hệ "Tam Sơn" tro n g tín ngưỡng cổ tru y ền Hai là, các lànơ này có m ộ t m ối qu an hệ thân

th iết, ch ẳn g h ạ n n h ư k ết ch ạ (liên kết a n h em ), để hỗ trợ nhau tro n g sản x u ấ t cũ n g n h ư tro n g quá trìn h khai canh, m ở đất, hoặc

do dân đ ông làn g lón, với n h u cầu p h á t triể n m à phải chia tách làng, th eo đó p h ải chia tá c h th ầ n linh th à n h nơi th ờ chính và nơi

th ờ phụ

Đôi khi, ở n h ữ n g làng m à vai trò của giới "Nho sĩ dân gian"

p h á t triể n m ạ n h th ì T h àn h hoàng làng có khi không được th ờ ở

đ ìn h m à chỉ th ờ ở m iếu, n g h è của các thôn, chỉ vào ng ày hội mới rước về hội tụ ở đ ìn h đ ể sin h h o ạt tâm linh

Dù sao, x é t về m ặ t h ìn h thức, chú n g ta dễ cảm n h ậ n rằng, tro n g th ế kỷ XVI ngôi đ ìn h làng có lẽ gần gũi với bóng dáng của ngôi đ ìn h thời Lê sơ hơn các thời sau, vì ở giai đoạn đầu, q uần chú n g n h â n d â n còn sử d ụ n g ngôi đình với ý th ứ c th ự c d ụ n g đời

Trang 38

thư ờng, (khiến cho) m ọi chức n ă n g của ngôi đình, n h ư về sau, chư a m ạ n h và có lẽ cũ n g do vị th ế của ngôi ch ù a và các kiến trú c

tô n giáo khác còn khá đậm , người dân chư a h ẳn q u an tâ m m ạn h

m ẽ đ ế n ngôi đình Tạm có th ể đ ặ t ra m ột giả đ ịn h rằn g , dưới thời Mạc, h ìn h th ứ c của n g ô i đinh làn g còn m an g d án g v ẻ áp chế,

n ặn g nề, với n h ữ n g m ái lớn, th â n thấp, đặc b iệt là bờ m ái th ẳ n g chư a d ù n g tầ u m ái, ch ư a có góc m ái cong th u ộ c k ế t cấu bộ khung, đ ìn h chư a có tư ờ n g bao Vào đầu th ế kỷ XVII đình làng gần n h ư kém p h á t triể n , h iện tại chú n g ta chỉ tìm th ấ y đình Tường P hiêu ở xã Tích G iang (Tùng Thiện), h u y ện Phúc Thọ, Hà Nội, đ ìn h X uân Dục, Gia Lâm, Hà Nội (xác định n ăm 2006) Trên

m ộ t phư ơ ng diện n h ấ t đ ịn h cũng có th ể xếp đ ìn h Phù Lưu ở thị

xã Từ Sơn, Bắc Ninh vào giai đo ạn này Đ ây là thời kỳ của cuộc chiến tra n h Nam Bắc triề u (Trịnh, Mạc) vừ a k ết thúc, các yếu tố

th ư ơ n g m ại vốn được đ ề cao, nay n h ư bị đẩy x u ống dưới yếu tố nông n g h iệp , khiến cho sự tiế n bộ của lịch sử dường n h ư bị kéo lùi trở lại Sự "ngỡ n g à n g của thời cuộc" không th ể không ảnh

hư ởng tới kiến trú c tru y ề n th ố n g cửa d ân tộc Vào giai đoạn đầu

th ế kỷ XVII, h iếm th ấ y n h ữ n g kiến trú c tô n giáo của cộng đồng làng x ã được xây dự ng m ối, m à ch ủ yếu chỉ th ấy sự ra đời (hoặc trù n g tu) n h ữ n g công trìn h lớn n h ư n h ữ n g ngôi đền, ngôi chùa kiểu "tră m gian" (có sự bảo trợ củ a tầ n g lớp quý tộc ở triề u đình) tại các " tru n g tâm " tín n gư ỡ ng có ản h hư ởng tới đông đảo tín đồ

th ậ p phương Có th ể n g h ĩ rằng, tầ n g lớp trê n chư a m u ố n th am gia tô n tạo n h ữ n g ngôi đ ìn h làng vì không gian ản h hư ởng của

nó còn q u á "eo hẹp" T rở lại với ngôi đ ìn h Tường Phiêu, có lẽ, nối tiế p bước đi của ngôi đình thời Mạc, ngôi đ ìn h th ờ i này đã

h ằ n sâu hơn vào tâ m h ồ n của cư dần làng xã để chuyển hóa cả

về chức n ă n g v à về h ìn h th ứ c k ế t cấu N eu ở th ờ i Mạc, vào cuối

th ế kỷ XVI người ta còn tìm th ấ y đôi rồ n g cuộn th â n với nhau, ngóc đầu lên đỡ m ột tấ m biển đề 4 chữ "H oàng Đe vạn tu ế " như

để khẳn g đ ịn h vai trò củ a n h à v u a (đình làn g Lỗ H ạnh, H iệp Hòa,

36

Trang 39

Bắc Giang), th ì đến th ế kỷ XVII h iện tượng này hầu n h ư không còn T ừ đây, các th ầ n linh q u en th u ộ c ở n h ữ n g đền, m iếu, vốn được coi là th ầ n làng, th ì nay m ột số vị "q u a n trọ n g " gần n h ư đồng loạt được chuyển đối th à n h T hành h o àn g làng, n g ự trị tro n g đình Các vị th ầ n này được q u ân chủ hóa, m an g tước vương, m ộ t biểu h iện tô n vinh p h ù hợp với yêu cầu của q uần chúng, đ ồng thời, trê n m ột phương diện nào đó cũng phù hợp với y êu cầu của tầ n g lớp trên, vì tô n trọ n g T h àn h hoàng làng - ông v u a tin h th ầ n của làng xóm cũng đ ồng n h ấ t với việc tôn trọ n g ông vua đương nhiệm , người "cao" hơn cả T hành hoàng làng vì có q u y ền ban sắc phong tước cho th ầ n linh ở các địa phương Có th ể thấy, tro n g xã hội nông n g h iệp có sự p hân hóa

xã hội không cao n h ư ở nước ta, th ì sự p hong vương cho T hành

h o àn g làng không đơn giản chỉ là sự chuyển đổi th à n h p h ần có tín h c h ấ t giai cấp, th ự c ra trong th â m tâm của người dân, việc làm đó th ư ờ n g chỉ là sự đề cao, san g hóa, v in h q u an g hóa vị th ầ n của họ m à thôi

T rên lĩnh vực kiến trú c, b ắ t đầu người ta đã nghĩ đ ến sự bền vững, chắc chắn hơn, n ê n c h ấ t liệu của bộ k h u n g đình hầu

n h ư đ ã th a y đổi, từ việc sử d ụ n g gỗ m ít chuyển san g sử d ụng loại gỗ rắ n chắc, n h ư gỗ lim hoặc m ột vài loại gỗ khác Kết cấu

bộ k h u n g được sửa đổi th eo hư ớng làm giảm n h ẹ tín h "áp chế"

từ bộ m ái, bàn g cách đư a h ệ th ố n g "tầu m ái" vào k ết cấu bộ

k h u n g để tạo n ê n góc m ái cong lên hơn, m à trước đó h iện tượng cong này (nếu có) chỉ đ ặ t ra với n h ữ n g con giống hoặc p h ần đắp

th ê m m à thôi N ếu trước đây, ”bộ m ái cũ" n h ư bị h ú t xuống, đè

n ặ n g lên tâ m h ồn của người dân khi tiế p cận với ngôi đình, thì nay bốn góc cong ấy lại có xu hướng kéo cả bộ m ái bay lên, tạo cho ngôi đ ìn h m ộ t d áng vẻ uyển chuyển, trữ tình, êm ấm , gần gũi T ừ đó, ngôi đ ìn h với bộ m ái to lớn n h ấ t tro n g số các kiến trú c tru y ề n th ố n g đã có khả n ă n g hòa vào tru y ề n th ố n g văn hóa,

Trang 40

n g h ệ th u ậ t củ a d ân tộc và đây là m ộ t sán g kiến lớn tr ê n bước

đ ư ờng p h á t triể n củ a n g h ệ th u ậ t kiến trú c đình làn g Đ ồng thời,

h ìn h th ứ c đó cũ n g là sự m ở đầu của việc chuyển tả i n é t duyên

d án g vào các loại h ìn h kiến trú c khác Tuy n h iên , m ộ t t r á trê u

c ủ a lịch sử là, m u ố n tạo ra k ết cấu góc m ái cong, người đời sau

đ ã sẵn sà n g xâm p h ạm tới k ết cấu của thời trước, ch ẳ n g h ạ n n h ư

ở đ ìn h Tây Đ ằng, tầ u m ái được lắp mới đ ã làm m ấ t đầu n h ữ n g con lân hay làm c ụ t n h ữ n g h ìn h h o a trê n các bức p h ù điêu ở đầu

b ẩy m ộ t cách không th ư ơ n g tiếc

S áng kiến "góc m ái cong" tro n g k ết cấu bộ k h u n g n h ư tạo

ra sự "náo nức" củ a n h ữ n g di tích đ ìn h làng ở giữ a v à cuối th ế kỷ XVII Từ góc độ lịch sử và n g h ệ th u ậ t, ta có th ể nói rằn g , đình làn g ở cuối th ế kỷ XVII đ ã đ ạ t đ ế n m ột đ ỉn h cao n h ấ t củ a kiến trú c và tạo h ìn h d ân tộc, m ộ t biểu h iện rõ n é t củ a tâ m hồn• • 9 • •

"m u ô n đời m u ô n th u ở " Việt Tuy nhiên, dù góc m ái có tạo sự

"bay" cao lên, d ẫn tới cảm giác n h ẹ n h àn g , n h ư n g xu hướng

c h u n g v ẫn ch ư a p h ả n á n h được ý th ứ c đư a kiến trú c vươn theo chiều cao Tỷ lệ giữa m ái với th â n tu y vẫn còn r ấ t lớn, so n g các

cộ t đ ã cao hcm, lòng đình có p h ần rộng ra, th o á n g đãng, và hầu

n h ư ch ư a th ấ y phổ b iến dấu v ế t tư ờ n g bao, tấ t cả n h ữ n g điều đó

n h ư để th ể h iệ n về m ộ t tâm h ồ n m ở của kiến trú c d â n tộc

Vào th ế kỷ XVIII, m ột d ạn g k ế t cấu m ộng k iểu khác cũng

đ ã d ầ n d ầ n nẩy sinh, h iện tư ợ ng xẻ đầu cột n h iều hơn, ngôi đinh

có vẻ cao hơn, n h ư n g sự "náo nứ c" tro n g n g h ệ th u ậ t bị h ạ n chế,

tấ t cả đ iều đó n h ư được quy đ ịn h bởi h o àn cả n h lịch sử, đó là

th ờ i kỳ n ề n kinh tế tư n h ân p h á t triể n m ạ n h hơn v à n ề n kinh tế

tậ p th ể làn g x ã bị cạn m òn Ở th ờ i kỳ trư ớc có v ẻ n h ư sự đóng góp cho kiến trú c củ a đ ìn h (tuy có quy định) so n g v ẫn lấy tự

n g u y ệ n làm trọ n g , từ đây sự đóng góp đã có p h ầ n ép buộc vói

d â n đinh

38

Ngày đăng: 28/05/2022, 21:32

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w